******Trang tiếng Việt  ******Thư Mục Tổng Quát ******Trang tiếng Anh ******

 

 

 

 

Luận văn tốt nghiệp

 

 

DỤC LẠC VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐOẠN TRỪ

Thích Nữ Quảng Lộc

 

DẪN NHẬP

Dục lạc và phương pháp thoát ly dục lạc là đề tài được nói đến rất nhiều trong kinh tạng Pàli. Rất nhiều bản kinh, đoạn kinh và câu kinh thuộc kinh tạng Pàli đề cập vấn đề này. Đức Phật từng nếm trải lạc thú thế gian, hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của nó nên dục lạc và phương pháp thoát ly dục lạc là đề tài mà ngài rất quan tâm giảng dạy cho các học trò mình. Một thông tin từ bản kinh Xà dụ cho biết: “Thế Tôn đã dùng nhiều phương tiện thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như khúc xương... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như một miếng thịt... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như bó đuốc cỏ khô... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như hố than hừng... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như cơn mộng... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như vật dụng cho mượn... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như trái cây... Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như lò thịt... Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như gậy nhọn... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít khổ nhiều, não nhiều và do vậy, nguy hiểm càng nhiều hơn.”

Về phương pháp thoát ly dục lạc, đức Phật cũng cho thấy một kinh nghiệm rất thiết thực. Trong Tiểu kinh Khổ uẩn, Ngài đã nói rõ về kinh nghiệm ấy: “Này Mahànàma, thuở xưa, khi Ta còn là Bồ-tát, chưa chứng được Bồ-đề, chưa thành Chánh Đẳng Chánh Giác, Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: ‘Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn,’ dầu Ta có thấy với như thật chánh trí tuệ như vậy, nhưng Ta chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn. Và như vậy Ta biết rằng, Ta chưa khỏi bị các dục chi phối. Và này Mahànàma, khi nào Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ: ‘Các dục, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại nhiều hơn,’ và Ta chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như vậy Ta khỏi bị các dục chi phối.”

Như vậy, ngoài việc hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly, hành thiền hay điều phục tâm là phương pháp thoát ly dục lạc, con đường thực hiện hạnh phúc an lạc ngay giữa cuộc đời đầy biến động bởi động cơ dục vọng. Đức Phật đã chứng thực điều này và nêu rõ:

“Tâm hoảng hốt dao động,

  Theo các dục quay cuồng;

  Lành thay điều phục tâm,

  Tâm điều, an lạc đến.”

Bản luận văn này, “Dục lạc và Phương pháp đoạn trừ,”  sẽ tập trung làm rõ các định nghĩa và minh họa của đức Phật xoay quanh vấn đề dục lạc, song song với việc xem xét các định nghĩa và mô tả về con đường thiền định của ngài như là giải pháp thiết thực cho việc thoát ly dục lạc, thực nghiệm an lạc giải thoát.

2. Lý do chọn đề tài:

Nhằm khẳng định lối đi của mình trên hành trình thánh đạo, người viết chọn khảo sát và nghiên cứu đề tài này. Ngoài ra, người viết cũng muốn, qua đề tài này, giới thiệu sự đóng góp của Đạo Phật cho con người và cuộc đời, bằng cách chứng minh rằng dục lạc hay thú vui giác quan là thực tế nhưng không phải hoàn toàn quan trọng đối với con người, bởi, ngoài dục lạc hay thú vui giác quan, con người có thể thừa hưởng nhiều niềm vui khác siêu việt dục lạc, một giải pháp tuyệt đối cần thiết nhằm nâng cao phẩm giá con người và hạn chế tối đa mọi khủng hoảng ô nhiễm hiện tại của thế giới cơ bản do lòng tham không đáy của con người gây ra.

3. Tài liệu nghiên cứu:

 Vấn đề dục lạc và thiền được bàn đến rất rộng rãi trong các tạng Kinh, Luật, Luận. Tuy nhiên, để thực hiện tập luận văn này người viết chủ yếu dựa vào các tài liệu kinh tạng Nikàya đã được Hoà thượng Thích Minh Châu chuyên ngữ thành tiếng Việt. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu Nikàya liên quan đến hai vấn đề này cũng được người viết tham cứu khá kỹ.

4. Phạm vi đề tài:

Chẳng phải tất cả dục (ham muốn) đều được coi là bất thiện mà ý nghĩa của nó tùy theo sở dụng và lãnh vực mà được hiểu là thiện hay bất thiện. Chẳng hạn, dục trong “dục như ý túc” thuộc ba mươi bảy phẩm trợ đạo là nhân tố thiện để tiến tới bậc thánh. Trong phạm vi đề tài này, chúng ta chỉ đề cập dục lạc như  là sự ham muốn giác quan thuộc mắt, tai, mũi, lưỡi, thân mà kinh tạng Nikaya đã nói đến và phương pháp đoạn trừ được thảo luận ở đây là pháp thiền Tứ Niệm Xứ hay còn gọi là Như Lai Thiền.

Đi vào vấn đề con người và phương pháp giải thoát là một việc làm đòi hỏi khả năng chuyên sâu về mặt học thuật và công phu sâu dày về thực hành tự nội. Với hành trang kiến thức non kém và sự thực tập sơ cơ, công trình này chắc chắn không tránh khỏi các sai sót lỗi lầm. Kính mong chư tôn đức và quý đồng phạm hạnh từ bi chỉ bảo thêm cho. Người viết xin thành kính niệm ân.

 

CHƯƠNG 1 :DỤC LẠC

1.1. QUAN NIỆM CỦA ĐỨC PHẬT VỀ DỤC LẠC:

Cách đây 25 thế kỷ, thời Đức Phật còn tại thế, ở Ấn Độ xuất hiện nhiều trường phái triết học, các triết gia thi nhau xiển dương giáo nghĩa học thuyết của mình trong đó họ có bàn về vấn đề DỤC LẠC. Đức đạo sư Gotama, vị đạo sư khai sinh ra Đạo Phật, cũng thừa nhận rằng Dục lạc là một sự thật có mặt ở thế gian, dục lạc ấy cũng đem đến hạnh phúc, đem đến sự khả ái, khả lạc, sự thỏa mãn cho con người. Nghĩa là Ngài cũng thừa nhận niềm vui của dục, công nhận nó có vị ngọt, làm quyến rũ con người. Nói khác đi, Ngài vẫn thấy rằng sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc êm dịu có vị ngọt làm say đắm lòng người. Nhưng đó chỉ mới là một mặt của dục lạc. Mặt khác, Đức Đạo sư Gotama đã thấy rõ nó không chỉ có vị ngọt hấp dẫn mà bên cạnh đó còn có mặt đối lập: Sự nguy hiểm bởi vô thường, tức nó sẽ dẫn đến khổ đau. Ham thích một cái gì đó và tìm cầu đạt được cũng sẽ dẫn đến khổ đau vì nó còn có sự nguy hiểm, sắc đẹp, tiếng hay … đều bị thời gian, vô thường biến đổi. Như vậy, với vấn đề dục lạc đối với đời sống và sự hưởng thụ những khoái lạc giác quan, Đức Phật đã rất thực tế và khách quan khi nói đến sự hiểu biết hoàn toàn về dục lạc, nó được tóm tắt theo ba điều:

1.  Sự lôi cuốn hay vị ngọt (assàda)

2.  Hậu quả xấu, nguy hiểm, sự bất mãn (adinava)

 3.  Sự giải thoát hay xuất ly (nissarana)

Những mục sau đây là sự trình bày rõ ràng về 3 vấn đề trên của Dục Lạc.

1.2. ĐỊNH NGHĨA DỤC LẠC:

1.2.1. Giới thiệu sơ về các lạc:

Trong phần trình bày 4 sự thật của cuộc đời tại Vườn Nai, Đức Thế Tôn đã nêu ra 4 phạm trù về Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Điều này không có nghĩa Ngài phủ nhận hạnh phúc trong cuộc sống khi bảo sống là khổ đau. Trái lại Ngài chấp nhận có những hình thái khác nhau về hạnh phúc cả vật chất và tinh thần, cả cho người thế tục và cho người xuất thế. Kinh tạng Nikàya có đề cập đến các loại lạc (sukha) khác nhau tùy theo cảnh giới hay tâm trạng của con người:

-           Dục lạc (kàmasukha/nandi): Niềm vui giác quan thuộc cõi dục.

-           Thiên lạc (Devasukha/rati): Niềm vui cõi trời.

        -  Thiền lạc (samàdi-sukha/pìti): Niềm vui thiền định hay lắng tâm.

         - Giải thoát lạc (vimuttasukha/ Nibbàna-sukha): Niềm vui chứng đắc viễn ly, thoát khỏi mọi trói buộc bởi tham ái hay chấp chủ.

Trong phạm vi đề tài này, chúng ta chỉ xem xét về Dục Lạc.

1 .2.2. Định nghĩa Dục Lạc(kàmasukha):

Dục lạc là danh từ được dịch ra từ tiếng Pàli trong Kinh tạng Nikàya là “kàmasukha”. “Kàma” là dục, hay sự ham muốn thuộc giác quan. “Sukha” là lạc, niềm vui. Kàmasukha là những thú vui giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân khi tiếp xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc vừa ý, đáng yêu. Tức niềm vui về sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc êm dịu. Dục lạc như vậy thuộc về ái, ái sắc, ái thanh, ái hương, ái vị, ái xúc hay còn gọi là dục ái, là một trong những nguyên nhân làm chúng sanh trôi lăn trong vòng sanh tử, luân hồi. Các dục chi phối hầu như toàn bộ đời sống của con người, vì con người sống và làm việc đều để đạt được hạnh phúc thế gian, hạnh phúc ấy chính là dục lạc.

1.2.3. Các từ ngữ liên quan đến dục lạc:

Nói đến dục lạc người ta thường nghĩ  đến các từ ngữ liên quan với nó như khát ái, tham vọng, tham lam, dục tình …

         a) Khát ái(tanha): Trước hết, khát ái là những khát khao yêu thương nắm giữ, là trạng thái gần như bức bách, đòi hỏi mong muốn để đạt được mục đích ham thích bản thân. Trong rất nhiều bản Kinh nguyên thủy, “khát ái” được định nghĩa như sau: “Chính ái (tanhà) này đưa đến tái sanh đồng khởi với hỷ và tham, tìm cầu lạc thú chỗ này chỗ khác”. Tanhà gồm có 3 thứ như đã nêu ở mục 1.2, (1)khát ái đối với khoái lạc giác quan ( dục ái – kàmatanhà), (2)khát ái hiện hữu và trở thành hiện hữu (hữu ái-Bhavatanha), (3) khát ái đừng hiện hữu (phi hữu ái – diệt ái – vibbàvatanhà)[12-75]

        b) Tham vọng: Là sự ham muốn, tìm cầu, mong ước một điều gì chưa có trong hiện  tại, thường dùng để chỉ sự tìm cầu về mặt danh vọng, quyền thế, địa vị… sự say mê theo đuổi để đạt được những mục đích trên. tham vọng làm cho con người không muốn dừng lại ở vị trí của mình. Đây cũng là một thứ liên quan đến dục lạc vì nó cũng chỉ đáp ứng nhu cầu ham thích danh vọng của bản thân. Tham vọng thường chỉ sự mong muốn phi vật chất như đã nêu trên.

        c) Tham lam: Đây là một trong 5 triền cái cản lối tu tập bao gồm cả sự ham muốn vật chất lẫn tinh thần, tất cả những gì đưa đến thỏa mãn hạnh phúc cá nhân, những ham muốn hoặc tốt, hoặc xấu,  những ham muốn thuộc về dục giới đều gọi là tham. Về pháp này Đức Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo, ta không thấy có một pháp nào khác mạnh mẽ như thế làm cho các tâm bất thiện chưa sanh được sanh khởi và các thiện tâm đã sanh bị đoạn tận như lòng tham lam. Với người có lòng tham lam, các tâm bất thiện chưa sanh nhất định sanh khởi và các thiện tâm đã sanh nhất định bị đoạn tận”[18-144] Tham lam như vậy có sức mạnh thôi thúc thỏa mãn dục lạc, nó là cửa nẻo của bất thiện pháp phát sinh, là phạm trù tất yếu liên quan đến dục lạc.

          d) Dục tình: Đây là vấn đề quan trọng và chính yếu nhất thuộc về dục lạc. Dục tình là sự lôi cuốn, thu hút của hai con người khác giới tính ngang qua năm thứ sắc, thanh, hương, vị, xúc. Dục tình là yếu tố căn bản làm chúng sanh lăn lộn trong sanh tử  luân hồi. Sau đây là đoạn Kinh trích dẫn về dục tính thuộc về dục lạc:

“Này các tỳ kheo, ta không thấy có một sắc nào khác do nó mà tâm người đàn ông trở nên rất nô lệ như là bị nô lệ bởi “sắc” của người đàn bà. Này các tỳ kheo sắc của người đàn bà ám ảnh tâm của người đàn ông. Này các tỳ kheo, ta không thấy một thinh nào khác . . . ta không thấy một hương nào khác . . . ta không thấy một vị nào khác. . . ta không thấy có một xúc nào khác do nó mà tâm người đàn ông trở nên rất nô lệ như là bị nô lệ bởi xúc của người đàn bà. Này các tỳ kheo, xúc của người đàn bà ám ảnh tâm của người đàn ông”.

“Này các tỳ kheo, ta không thấy có một sắc (thanh, hương, vị, xúc ) nào khác do nó mà tâm người đàn bà trở nên rất nô lệ như là bị nô lệ bởi sắc (thinh, hương, vị, xúc) của người đàn ông. Này các tỳ kheo, tâm người đàn bà bị ám ảnh bởi thứ đó”.[8-9]

Trong tất cả các lạc thú thuộc về dục lạc, chế ngự và xa lìa dục tình là yếu tố quan trọng quyết định căn bản đến phạm hạnh của người xuất gia và tánh hạnh của người xuất gia. Kinh Khởi Thế Nhân Bổn (chúng tôi sẽ trình bày ở chương sau) cho rằng dục tình là nhân tố chính để hình thành chúng sanh và thế giới ngũ dục này.

1.3. VỊ NGỌT CỦA DỤC LẠC:

Những mong muốn tìm cầu được thỏa mãn là vị ngọt, thích một thứ âm thanh, một loại nhạc nào đó mà nghe được nó là thỏa mãn, sự thỏa mãn đó chính là vị ngọt của dục lạc, là cái đã đáp ứng được cho lòng ham muốn, làm cho người ta cảm thấy hạnh phúc khi vừa mới đạt được. Có thể chia vị ngọt của dục lạc ra làm hai phần thuộc thân và thuộc tâm.

1.3.1. Vị ngọt dục lạc thuộc thân:

Thân ở đây chỉ cho các giác quan về mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Vị ngọt thuộc thân là sự thỏa mãn về các quan năng này. Sau đây là đoạn Kinh trích dẫn về vị ngọt đó.

“Này các Tỳ kheo, thế nào là vị ngọt về các dục? Này các Tỳ kheo, có năm pháp tăng trưởng dục này: Các pháp do nhãn căn nhận thức khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ tương ứng với dục, hấp dẫn. Các tiếng do nhĩ căn nhận thức . . ., các hương do tỷ căn nhận thức . . ., các vị do thiệt căn nhận thức . . ., các xúc do thân căn nhận thức khả ý, khả hỷ tướng ứng với dục, hấp dẫn. Này các Tỳ kheo, y cứ vào năm pháp tăng trưởng dục này có lạc hỷ khởi lên, như vậy là vị ngọt các dục.” [4-196]

1.3.2. Vị ngọt dục lạc thuộc ngoài thân:

Bên cạnh những vị ngọt  thuộc về thân, về các quan năng thuộc thân thì còn có vị ngọt ngoài thân, phi vật thể, là một phần không thể thiếu của dục lạc. Theo một số Kinh điển đây là phần thuộc “danh” ngoài nhừng phần thuộc “sắc”.

Con người không chỉ hạnh phúc do có nhà cao cửa rộng, cơm ngon áo tốt, vợ đẹp con xinh . . . có những thứ vật chất tiện nghi đầy đủ mà bên cạnh đó, người ta cũng cần có danh dự, tiếng tăm, quyền uy, địa vị.... Ở thời nào cũng vậy, con người luôn bị cuốn hút bởi những vị ngọt này, những thứ mà con người gọi là văn hoá, văn minh, phát triển, tiến bộ để tách biệt mình với những sinh vật khác trong thế giới . Đặc biệt trong xã hội hiện nay, khi mà cơm áo gạo tiền không còn là gánh nặng chính yếu nữa, người ta lại muốn đi xa hơn khi đã đủ các thứ ấy. Người ta học tập, nghiên cứu, phát minh, cố nắm bắt, theo đuổi những học hàm, học vị, những chức danh, phẩm vị cao dần lên. Vị ngọt của những tiếng tăm này luôn thúc đẩy con người đuổi bắt, chạy đua từ đích này đến đích khác, nó quyến rũ đến độ con người không thể dừng cho đến cuối đời không còn theo kịp nữa thì thôi. Con người luôn vui thích, hạnh phúc, thỏa mãn với những thứ đó. Đó là những hạnh phúc thỏa mãn dục lạc thuộc ngoài thân, phi vật chất.

Có một điều mà chúng ta cần lưu ý, vị ngọt của dục lạc là sự thỏa mãn, thế nhưng có một điều ngược lại: Dục lạc lại chưa bao giờ được thỏa mãn. Từ ham muốn này đến ham muốn khác, con người chưa bao giờ dừng lại ở cái gọi là hạnh phúc. Vì khi sự khao khát mong muốn vừa mới đạt được, vừa mới chớm thấy hạnh phúc, con người lại thấy tham muốn cái khác, cái cao hơn và cao hơn nữa. Chưa bao giờ lòng dục, lòng tham về dục lạc có một điểm dừng. Đó là vấn đề căn bản của dục lạc. Dục lạc vì vậy mà tạo nên một trạng thái bức bách, khát khao không bao giờ được bình yên.

1.4. SỰ NGUY HIỂM CỦA DỤC LẠC:

Trong một số bản Kinh thuộc Kinh tạng Nikàya, Đức phật đã trình bày rõ sự nguy hiểm của dục lạc, có thể tóm tắt qua mấy điểm sau:

1.4.1. Sự nguy hiểm do tìm cầu:

Đại Kinh Khổ uẩn có đề cập đến sự nguy hiểm của Dục do tìm cầu:

Muốn đạt được hạnh phúc, thỏa mãn dục lạc, con người phải ra sức tìm cầu, phải tạo dựng để gặt hái kết quả. Con người cần có nhà đẹp, xe tốt, nhiều tiền . . . nên phải cố gắng làm lụng vất vã, chịu đủ sự khổ nhọc đến với bản thân như ốm đau bệnh tật, chịu đựng nắng gió, mưa lạnh và vô số chướng ngại khác để đạt được mục tiêu, có khi còn phương hại đến cả tính mạng. Vì lý do này hay lý do khác, con người không ngừng cố công tìm cầu nhằm thỏa mãn cái mà người ta gọi là “giá trị của cuộc sống”. Nhưng cuộc sống thì không đứng yên, giá trị cuộc sống mà con người quan niệm thay đổi trong từng phút giây. Cái hôm qua ta cho là giá trị thì hôm nay đã bị thay thế bằng một cái khác, giá trị hơn. Cuộc tìm cầu “giá trị của cuộc sống” xem ra không bến đổ.

1.4.2. Sự nguy hiểm do vô thường:

Ai cũng biết, các pháp thế gian này đều có mẫu số chung là quy luật vô thường của nó. Tuy nhiên không mấy ai bình tĩnh chấp nhận nhìn nó mất đi, khi tài sản, hạnh phúc tan rã, cuộc sống gặp trắc trở rủi ro, người ta thường khóc than buồn rầu, than trời, trách đất, trách tất cả đã quay lưng với mình và thái độ đó chỉ mang lại cho bản thân khổ đau vướng mắc. Sau đây là bản kinh trình bày về sự mất mát vô thường làm người ta đau khổ:

“Này các Tỳ kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy mà tài sản ấy không đến tay mình, vị ấy than vãn, buồn phiền khóc than, đấm ngực mê man bất tĩnh: ‘ôi!sự nỗ lực của ta thật sự vô ích, sự tinh cần của ta thật sự không có kết quả’. Này các tỳ kheo, như vậy là sự nguy hiểm của các dục”.[4-197]

1.4.3. Do cố tìm cách bảo vệ:

Như trên đã nói, các pháp vốn vô thường, có rồi mất, đến rồi đi, hợp rồi tan. Thế nhưng con người khi đã có đựơc tài sản rồi, đã đạt được hạnh phúc và thỏa mãn rồi thì cố tìm cách nắm giữ bảo vệ, bằng bất cứ giá nào cũng không cho nó vuột khỏi tầm tay. Trong khi đó, sự vô thường đang rình rập, lòng ham muốn sở hữu thúc dục người ta tranh đoạt của cải của nhau, như vậy là có chiến tranh, có máu lửa, có sự xung đột đi đến mất cả tài sản lẫn thân mạng. Một đoạn kinh trong đại Kinh Khổ Uẩn – Trung Bộ I đã miêu tả rõ điều này:

“Này các Tỳ kheo, vị thiện nam ấy nỗ lực như vậy… và các tài sản ấy được đến tay mình, vì phải hộ trì các tài sản ấy, vị ấy cảm thấy đau khổ ưu tư: “Làm sao các vua chúa khỏi cướp đoạt chúng, làm sao lửa khỏi đốt cháy, nước khỏi cuốn trôi, hay các kẻ thừa tự không xứng đáng khỏi cướp đoạt chúng?” Dù hộ trì như vậy, giữ gìn như vậy, vua chúa vẫn cướp đoạt các tài sản ấy, trộm cướp vẫn cướp đoạt, lửa vẫn đốt cháy, nước vẫn cuốn trôi, hay các kẽ thừa tự không xứng đáng vẫn cướp đoạt chúng. Vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tĩnh “cái đã thuộc của ta nay không còn nữa”. Này các Tỳ kheo, như vậy là sự nguy hiểm của các dục”.[4-197]

1.4.4. Do vô ngã và vô ngã sở hữu:

Đoạn kinh vừa rồi có đề cập đến cái ta và cái thuộc của ta. Con người sở hữu được một cái gì rồi thì cố nắm giữ, chưa có thì ráng sức tìm cầu để có cho mình. trong khi đó Đức Phật dạy: Con người hay cái ta là một hợp thể có mặt khi nhiều yếu tố khác nhau có mặt. Hợp thể đó cũng chỉ tồn tại được khi có các hợp thể khác ở chung quanh cùng tồn tại. Đó là đặc tính duyên sinh, tất cả các pháp (dhamma) hay hiện tượng (sankhàrà) đều dựa vào nhau mà tồn tại. Như  vậy, cảm giác cái tôi có mặt ngay tại đây hay bây giờ vẫn không thể trường tồn vĩnh cửu được. Cái tôi đã không có thì làm gì có cái của tôi, tài vật của tôi, người yêu thương của tôi…mà phải cố công bảo vệ giữ gìn? Đã không có cái tôi thì có ai đâu để hưởng thụ, tạo tác, giữ gìn sở hữu? Đã không có cái của tôi thì tạo cái gì, hưởng cái gì, tất cả chỉ là một trò huyễn hoá! Thế nhưng con người luôn chạy theo ảo ảnh, nắm bắt ảo ảnh, cho rằng cuộc đời là thật và bị chi phối hoàn toàn bởi ảo ảnh. Không có cái tôi mà vẫn tìm cho tôi, giữ cho tôi; không có cái của tôi mà vẫn nắm giữ, chấp chặt để rồi dẫn đến buồn rầu đau khổ. Đó là một điều nguy hiểm.

1.4.5. Mất tự do, phải làm nô lệ:

Dục lạc có vị ngọt như đã trình bày ở mục 1.3, chính vị ngọt này đã sai sử con người, khống chế và tác động đến con người, bắt con người phải chạy theo để đáp ứng cho được sự ham muốn. Thật ra, cái mà con người cho là tự do thì chẳng phải tự do tí nào mà chính là sự thuận chiều của lòng ham muốn, chiều chuộng những ham thích giác quan.

Tự do bị đánh mất ở đây là đồng nghĩa với sự không rãnh rang tâm hồn, bị lệ thuộc, bị gò bó, bị sai sử bởi “sở hữu”. Con người sở hữu được một thứ  thì đã làm cho mình mất tự do: “sở hữu” như vậy đã sinh ra ràng buộc. Bạn thích một cây đàn với tiếng nhạc du dương, muốn tận hưởng nó không những bạn phải có tiền để mua, có nó rồi phải bảo vệ giữ gìn, nó sai sử bạn đủ điều. Bên cạnh đó, khi bạn đã đáp ứng được điều ưa thích, tận hưởng những hạnh phúc từ nó, tâm hồn bạn phải luôn chạy theo nó, dừng lại ở nó, nó là của bạn, bạn là của nó, thiếu nó thì bạn thấy trống vắng, buồn buồn. Bạn đã bị cây đàn chi phối.

Như thế, cái được gọi là “tự do”, tự do theo sở thích của mình thật ra không đem lại tự do, không đem lại sự rảnh rang tự tại cho con người. Trên đây đã nói về sự nô lệ về tài vật, sau đây là đoạn kinh Đức Phật nêu rõ sự nô lệ về sắc, thanh, hương, vị, xúc của người đối với từng đối tượng: “ Này các Tỳ Kheo, Ta không thấy có một sắc nào khác do nó mà tâm người đàn ông trở nên rất nô lệ như là bị nô lệ bởi “sắc” của người đàn bà. Này các Tỳ Kheo, sắc của người đàn bà ám ảnh tâm của người đàn ông. Này các Tỳ kheo, ta không thấy có một thinh, hương, vị, xúc nào khác do nó mà tâm người đàn ông bị nô lệ như là bị nô lệ bởi xúc của người đàn bà. Này các Tỳ Kheo, xúc của người đàn bà ám ảnh tâm của người đàn ông”.

“Này các Tỳ Kheo, Ta không thấy có một sắc ( thinh, hương, vị, xúc) nào do nó mà tâm người đàn bà trở nên rất nô lệ như là bị nô lệ bởi sắc ( thinh, hương, vị, xúc) của người đàn ông. Này các Tỳ Kheo, tâm người đàn bà bị ám ảnh bởi các thứ ấy”.[8-9]

Như vậy, cuộc sống con người đang sống ở đây đã là nô lệ, ràng buộc nhau, đánh mất tự do.Vấn đề nêu ra ở đây là để xác định rõ ràng một sự thật về dục lạc. Đây không phải là lăng kính của sự chán đời, yếm thế. Vấn đề được đặt ra là con người phải chọn cách sống như thế nào, sở hữu sự vật như thế  nào, cần có phong thái như thế nào để không bị chi phối bởi dục lạc, được tự do, không ảnh hưởng đến tánh hạnh, đó là điều sẽ được bàn đến ở những phần sau.

1.4.6. Tâm đuổi bắt không thể dừng:

Một chi phần, một đặc tính của dục lạc nữa là dục vọng như đã nêu ở phần định nghĩa. Con người luôn luôn ham muốn, đuổi bắt chưa hề dừng lại ở một điểm nào, có cái này rồi người ta lại muốn có thêm cái kia. Tuy nhiên, ít ai nhận ra rằng mình đang bị thúc đẩy bởi một động lực không thể cưỡng đó là tham vọng sở hữu, là khát vọng chinh phục, sở hữu và chinh phục những gì? – người ta đi tìm lẽ sống, đó là hạnh phúc về tình yêu, về tài sản, danh vọng và địa vị, cái mà người ta cho là lẽ sống của cuộc đời này để cuối cùng chỉ thấy ảo ảnh, phù du. “Dù nhìn từ gốc độ nào, dù tiến theo hướng nào; chúng ta như những trẻ nít đuổi bắt cánh bướm. Khi đã nắm được xác bướm trong lòng bàn tay, ít ai tự hỏi chinh phục và chiến thắng này có ý nghĩa gì ? và ta vẫn mãi miết đuổi theo những cánh bướm này rồi đến những cánh bướm khác” [15-5]. Ngược dòng lịch sử hơn hai ngàn năm về trước, có một con người khi đã đạt đến đỉnh cao của danh vọng và quyền lực, Ông vẫn không dừng lại. Vó ngựa của Ông chinh phạt nhiều nơi, thống lĩnh nhiều nơi, chinh phục cho mình một vương quốc và thần dân rộng lớn, nhưng sau trận toàn thắng ông chống gươm nhìn lại, đây có phải là trận chiến thắng không? Đây có phải là điểm dừng của sự thỏa mãn và hạnh phúc không?  Ông đã thấy mình sai lầm và bỗng dưng câu nói “Chiến thắng vạn quân không bằng tự chiến thắng mình, chiến thắng mình là chiến công oanh liệt nhất” [10-33] trở nên vô cùng ý nghĩa với ông. Ông đã chiến thắng hay đã chiến bại? ông đã bị động lực “khát vọng” chinh phục, trong khi ông chiến thắng được đại quân ở sa trường thì ông đã bị lòng tham hạ gục và sai sử. Đó chính là trường hợp của đại đế Ásoka.

Con người vẫn mãi miết đuổi bắt và đuổi bắt không lúc nào dừng, đuổi bắt những gì người ta cho là tinh hoa của lẽ sống, và đến cuối đời họ vẫn không thấy được ta là ai trong cái thế giới hơn sáu tỷ người này, danh vọng và địa vị đó sẽ là gì trong cái thế giới sai biệt biến chuyển, cái không gian bao la vô cùng và thời gian vô tận này?

1.4.7. Tương lai quả báo đau khổ:

Người xưa có câu nói: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị, dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả thị”. Nghĩa là, muốn biết đời trước ta đã làm gì  thì hãy xem hiện tại ta đang có gì; muốn biết ngày sau ta như thế nào hãy xem hiện tại ta đang làm gì.

Hạnh phúc thế gian là một niềm vui nhưng thọ hưởng niềm vui đó chính ngay trong hiện tại đã bất an, đã không bền lâu, là một cuộc chạy theo, đuổi bắt, tìm cầu không ngừng nghỉ, là một trạng thái bức bách. Chỉ ngay trong hiện tại khi thọ dụng đã không thật sự hạnh phúc thì làm sao duy trì được hạnh phúc cho tương lai. Hiện tại sống trong sự khát khao, thiếu thốn, không tự đầy đủ thì tương lai chắc chắn cũng không thấy thỏa mãn, hạnh phúc. Tiểu Kinh Pháp hành, Trung bộ I giới thiệu có 4 pháp hành mang lại quả báo trong tương lai:

1.    Hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ

2.     Hiện tại khổ, tương lai quả báo khổ

3.    Hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc

4.    Hiện tại lạc, tương lai quả báo lạc

Trong 4 pháp hành này, pháp hành thứ ba và thứ tư là pháp hành của các bậc tu hành không có thiện duyên và có nhiều thiện duyên trong hiện tại, tu hành theo thánh đạo sẽ có quả báo an lạc trong tương lai. Pháp hành thứ hai chỉ cho những vị tu theo hạnh ép xác cực đoan, không đúng thánh đạo, tuy chịu khổ nhọc nhưng qủa báo cũng không có gì sáng sủa. Pháp thứ nhất “hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ”, hiện tại lạc là do hưởng thụ, đắm mình trong dục lạc, hoan lạc với tà kiến cho rằng “không có lỗi trong các dục”. Dù hiện tại hưởng thọ các dục, cảm thấy hoan lạc, thỏa mãn nhưng cảm giác ấy gắn với vô thường khổ đau. Bởi hiện tại sống đắm chìm trong cảm giác hoan lạc xác thân, khi ra khỏi cảm giác ấy, vẫn còn đeo đuổi, vẫn còn nhớ đến; cảm giác ham muốn này thiêu đốt người ấy trong hiện tại cho đến ngày sau, đời sau.

1.5. CÁC VÍ DỤ VỀ TÍNH CHẤT TRỐNG RỖNG TẠM BỢ VÀ NGUY HIỂM CỦA DỤC LẠC:

Dùng ngôn ngữ ẩn dụ để làm rõ nghĩa của pháp đã giảng là một biệt tài của Đức Thế tôn trong lãnh vực giáo dục. Khi nói về đặc tính vui ít,  khổ nhiều, não nhiều của dục lạc, đức Thế Tôn cũng đã dùng ẩn dụ cho vấn đề này.

1.5.1. Thọ dụng các dục ví như chó đói gặm khúc xương:

Con chó đói lã suy nhược, sau khi đến một lò thịt, ở đây người giết bò thiện xảo quăng cho nó một khúc xương đã lóc hết thịt chỉ còn dính máu. Con chó ấy gặm khúc xương phút chốc đầu tiên thấy thỏa mãn, hạnh phúc nhưng nó không thấy no, gặm khúc xương chẳng còn gì như vậy chỉ tăng thêm sự thèm muốn và khao khát, khơi dậy sự thèm ăn của nó. Thèm ăn và đang ăn nhưng không thấy thỏa mãn, không thấy no, đó là một mâu thuẫn, một sự khó chịu bức bách.

Các dục được ví như khúc xương vì nó không đem đến cho con người hạnh phúc thỏa mãn thật sự, con người cố công để đạt được cái mà họ cho là hạnh phúc nhưng thật ra khi chạm đến điều này họ vẫn không thấy hạnh phúc, mấy ai cảm thấy hạnh phúc như thế nào là vừa đủ, họ vẫn luôn thấy thiếu thốn, khát khao và bức bách, điều này dễ dẫn đến sân tâm và như vậy thọ dụng dục lạc sẽ dẫn đến sự có mặt đầy đủ của tham, sân, si.

Dục lạc có thật hay không? Bản chất của nó có phải là hạnh phúc không? Chẳng mấy ai quan tâm điều này để buông bỏ đúng pháp, vì cũng như sự tham lam chấp thủ một miếng xương, không thể giải quyết bụng đói nhưng không thể quăng đi, con người ta không thể buông bỏ dục lạc mặc dù nó không hề đáp ứng một cách thỏa mãn cho con người.

1.5.2. Như miếng thịt:

Một con chim dành được miếng thịt liền bay bổng lên không trung, trong khi những con chim khác cũng đang cố tìm mồi, vì vậy chúng đuổi theo để giành giựt miếng thịt, chúng đánh nhau, cấu xé lẫn nhau, để được miếng mồi. Trong tất cả chúng, khi lòng tham miếng thịt đã lớn mạnh rồi thì chẳng con nào chịu nhường con nào và như vậy dẫn đến đánh nhau và có thể dẫn đến tử vong.

Chiến tranh xãy ra cho loài người cũng bắt nguồn từ lòng tham, sự chinh phục, giành giựt và theo đuổi, quyền lực và sở hữu. Con người cố tìm kiếm cố, tạo dựng hạnh phúc cho mình từ cái gì khác ở bên ngoài, trong khi những người khác cũng có mục tiêu như vậy, họ vô tình hoặc cố ý quên hay không cần hiểu rằng khi cố giành lại cái gì cho mình thì nhất định người khác sẽ bị mất đi. Họ không biết rằng hạnh phúc đích thực chính là cái mà tất cả mọi người đều có, nó không thuộc sở hữu của ai mà là của tất cả, nó đã vốn có trong tất cả mọi người. Vì sự tự kỷ mà con người xung đột với nhau, chiến tranh và chết chóc không ngừng xảy ra trên cuộc đời này. Đây là điều tất yếu khi con người còn khát vọng chiếm hữu sai lầm về hạnh phúc.

Hoà bình chỉ có mặt trên thế giới này khi và chỉ khi con người vứt bỏ được sai lầm về hạnh phúc, vứt bỏ được những nhu cầu thái quá thuộc ham muốn cá nhân, cũng như con chim chỉ được yên thân khi nó vứt bỏ được miếng mồi oan trái kia, đó là thông điệp của bậc đạo sư  Gotama qua ẩn dụ nầy.

1.5.3. Như bó đuốc cỏ khô:

Một người cầm bó đuốc cỏ đang cháy rực đi ngược gió, lửa cỏ khô cháy mạnh, người cầm đuốc đã không thấy được sự nguy hiểm, lại không có trí tuệ để hiểu rằng đi ngược gió thì lửa sẽ tạt vào phía mình và người ấy đã bị cháy tay, cháy mặt và các phần khác, vị ấy sẽ đau khổ vì bỏng nặng và có thể dẫn đến tử vong.

1.5.4. Như hố than hồng:

Một hố than hồng sâu hơn thân người, có một người bị bệnh cùi thân thể lở lói, các loài trùng đục khoét các vết thương, để khỏi bị ngứa, người này nên dùng thuốc men y khoa để chữa trị, thay vì vậy ông ta hơ đốt thân mình trên hố than hừng cháy, người này cảm thấy dễ chịu, thỏa thích, đả ngứa. Tuy nhiên vì nguyên nhân ấy mà các vết thương càng đau nhức, càng lở lói và không thể nào lành được, bệnh tình người ấy sẽ trở nên trầm trọng suýt chết và cũng có thể dẫn đến cái chết. Sự thỏa thích dễ chịu nhờ hố than hồng như vậy đã đồng nghĩa với sự hiểm nguy.

 

1.5.5. Như người nằm mộng:

“Này gia chủ, ví như có người nằm mộng, thấy vườn khả ái, rừng núi khả ái, đất đai khả ái, ao hồ khả ái; khi tỉnh dậy người ấy không thấy gì cả, cũng vậy, này gia chủ, vị thánh đệ tử suy nghĩ  như sau: “ Thế Tôn đã nói dục được ví như cơn mộng, khổ nhiều não nhiều, tai hoạ ở đây càng nhiều hơn”.[10-51]

Cảnh vật thực tại không bao giờ giống như trong giấc mơ, cho dù giấc mơ ấy tái hiện lại những gì đã xảy ra nó vẫn không thể nào giống được, huống nữa là một giấc mơ “chỉ là mơ”. Người ta cho rằng nó đã mất, nhưng có đâu mà mất, cái đẹp trong mộng thực ra chỉ do chủ quan tâm thức của con người mà thôi. Con người ham mê các thú vui trên đời này, theo đuổi những cái được coi là hạnh phúc trong thế giới này. Họ cảm thấy vừa ý, cuộc đời là đáng yêu, đáng hưởng thụ. Tuy nhiên, đến một lúc nào đó chợt sực tỉnh và tự hỏi nó thật sự được hạnh phúc hay không, thật sự thỏa mãn hay không? họ cảm thấy tất cả đều không như họ tưởng chút nào.

Chẳng mấy ai trên đời thật sự tỉnh giác, tỉnh rồi mê, mê rồi tỉnh, mộng rồi thực, thực đến mộng, vì vậy mà con người vẫn cứ say, vẫn cứ yêu, vẫn cứ đam mê, ham thích rất nhiều thứ trên đời mà chưa hề thật sự tỉnh giấc. Như khi sực tỉnh thấy giấc mơ thật sự không phải hạnh phúc, một người thức tỉnh thật sự sẽ nhận thấy được rằng những hạnh phúc mà họ lăn xả để tìm cầu, để chạy theo đó để rồi mất đó chỉ là ảo ảnh, thức tỉnh thấy được ảo ảnh thì nhất định sẽ tìm thấy một con đường vượt lên trên, con đường đưa đến chân hạnh phúc. Hạnh phúc như trong mơ chỉ là bất hạnh vì nó làm con người nuối tiếc bức rứt, “khổ nhiều, não nhiều”, đó là những gì đức Thế Tôn muốn gửi gắm lại nơi ví dụ này.

1.5.6. Như tài vật mượn của người khác:

Một người ưa sang trọng nhưng tự mình nghèo không có đồ trang sức, người ấy đi mượn của người khác để dùng, khi đến đám đông mọi người thấy vị đó sang trọng nên rất nể phục, anh ta lấy đó làm hãnh diện, vui sướng hạnh phúc, nhưng được một lát sau hay một thời gian không lâu nào đó người cho mượn đồ ấy lấy lại mọi thứ, và vị này không còn gì để hãnh diện hạnh phúc, vị ấy xấu hỗ, đau khổ. Thật là một sai lầm, của cải của chính ta đây còn  chưa phải là thật, có đó rồi mất đó huống gì là đồ vay mượn!

1.5.7. Như cây nhiều trái:

Trong khu rừng kia có một cây nhiều trái chín, người trong làng thấy vậy bèn đến hái ăn, họ leo lên cây để ăn cho thỏa thích, trong khi những người khác cũng đến hái trái cây này, và hơn người đi trước, họ mang theo rựa, chặt luôn cả cây để hái được nhiều trái. Người đến trước do vì mãi mê ăn trên cây mà không hay biết, anh ta ngã xuống theo cây mà bị tổn thương thậm chí có thể chết. Ham muốn sở hữu nhiều trái cây như vậy thật chẳng an ổn chút nào.

Con người có nhiều khát vọng, ai cũng muốn chinh phục một cái gì đó để sở hữu cho mình, để tạo niềm hạnh phúc cho mình, nhưng những hạnh phúc trong cuộc đời này quá nguy hiểm và tầm thường, quá giới hạn và mọi người đều muốn sở hữu, dẫn đến tiêu diệt nhau, thật chẳng có bình an chút nào. Thế giới còn đầy chiến tranh và giành giựt nguy hiểm khi con người còn đắm mình trong dục lạc cá nhân, đó là thông điệp của đức đạo sư Gotama qua dụ trái cây này.

1.5.8. Như đầu rắn:

Một người nông dân tìm bắt con rắn nước, do không bắt ở đầu mà bắt ở đuôi hay ở thân giữa nên bị con rắn nước cắn lại người đó đến nỗi bị thương, và có thể nguy hiểm đến tính mạng. Chính vì bắt rắn không đúng phương pháp mà dẫn đến điều đáng tiếc trên. Dụ này dùng để chỉ cho việc thọ dụng dục lạc cần phải có một lập trường, một phong thái, một phương pháp đúng đắn mới không bị dục lạc làm phản tác dụng trở lại hại mình.

Trong một phạm vi, một chừng mực nào đó dục lạc đóng vai trò là nhu cầu của cuộc sống như ăn uống, ngủ nghỉ, giải trí… tuy nhiên không nên quá lạm dụng, quá đam mê, quá chiều chuộng biến nhu cầu thành ham muốn. Đức Thế Tôn dạy: “ Tỳ kheo  thọ dụng thức ăn này không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình mà chỉ để thân này  được sống lâu và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh”. “Tỳ kheo thọ dụng y phục chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn  ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự trần  truồng”.[4-25]

Thọ dụng như vậy, các nhu cầu không mang tính dục lạc, không phục vụ lòng ham muốn, đam mê. Nói khác đi thọ dụng một pháp gì cũng cần đặt ra một mục đích hợp lý, mục đích hướng thượng để tránh sự trỗi dậy của lòng tham đang rình rập. Trích dẫn trên đây là một điển hình về quan điểm của Đức Phật về thọ dụng. Tuy nhiên, pháp ngài giảng tuỳ theo từng đối tượng hoặc xuất gia, hoặc tại gia, tùy trường hợp mà áp dụng đúng pháp khi thọ dụng để dục lạc khỏi mang lại hiểm nguy, để khỏi bị nó áp đặt, sai khiến, để khỏi đưa đến phản tác dụng. Cũng như bắt rắn phải đúng cách thức, đúng quy trình để rắn khỏi quay đầu lại cắn tay người bắt, đó là nội dung của ví dụ này.

Trên đây là một vài ví dụ được rút ra từ Kinh Xà Dụ, Kinh Potaliya, Kinh magandiya, thuộc Trung Bộkinh. Các ví dụ đã cho ta thấy Đức Phật không hề phủ nhận dục lạc thế gian, nói khác đi, ngài vẫn công nhận nó là một nhu cầu cho con người, chúng có mang lại niềm vui đấy nhưng vui ít khổ nhiều.

Nhận thức được dục lạc, vị ngọt, sự nguy hiểm là bước đi quan trọng, nhưng phải tìm ra một con đường một phương pháp để giải quyết chúng mới là mục đích của việc nghiên cứu này. Nếu chỉ dừng lại ở đó mà không tìm ra phương pháp xả ly thì cũng giống như kẽ thất tình “giác ngộ” tình yêu là tạm bợ, anh ta vừa ra khỏi nỗi khổ dày vò của tình yêu nhưng rồi lại cứ tiếp tục lao vào các cuộc tình khác. Trong những cuộc truy tìm hạnh phúc ấy, đâu là thật, đâu là giả? Anh ta đã chạy theo ảo ảnh của nhận thức sai lầm.

Đức Phật đã giới thiệu một con đường xả ly dục lạc hay nói đúng hơn con đường hướng dẫn người ta thoát khỏi sự chi phối của dục lạc, làm chủ và biết cách sử dụng nó. Phần tiếp theo sẽ nói rõ nội dung này.

1.6. PHƯƠNG PHÁP CHẾ NGỰ VÀ ĐOẠN TRỪ DỤC LẠC:

1.6.1. Chứng minh dục lạc có thể đoạn trừ qua kinh Khởi thế nhân bổn:

Nguồn gốc của dục lạc là không có đầu mối, nó thật sự chỉ do duyên sinh, phát xuất từ vô minh sai lầm và rút cuộc cũng không có điểm dừng, dục lạc chỉ có mặt khi con người còn có mê mờ chấp ngã, nhưng ngã vốn là không nên dục lạc cũng không. Trong kinh Trường Bộ, khi nói về sự khởi nguyên và hình thành thế giới đức Phật đã chỉ rõ ra sự khởi đầu của lãnh vực này. Người viết chỉ xin tóm lược bài kinh với nội dung như sau:

      Các chúng sanh ở Quan Âm Thiên nuôi sống bằng tự hỷ, sau khi chết tái sinh vào thế giới này cũng nuôi sống bằng tự hỷ, thân chói ánh sáng, bay đi tự tại…

    Mặt đất thời kỳ ấy chỉ có nước, chưa có phân biệt nam nữ. Rồi sau đó xuất hiện lớp mỏng phủ trên nước, với màu sắc của bơ và vị ngọt của mật, những chúng sanh có lòng tham nếm các vị ấy, lòng tham ái bắt đầu dấy lên trong tâm của họ,  họ mất ánh sáng và dung sắc trở nên xấu đi.

    Mặt đất bắt đầu mọc những thứ nấm, rồi lúa cũng tự mọc, con người từ lòng tham ái lớn mạnh  dần dần muốn sở hữu lúa gạo để dành ăn

     Con người trở nên thô xấu, nam nữ xuất hiện và tất nhiên đời sống tính dục cũng xuất hiện, con người bắt đầu xây dựng nhà cửa để che dấu các sinh hoạt và cất dấu của cải.

      Rồi chuyện trộm cắp tài vật sở hữu, nói dối các thứ xuất hiện….

Như vậy, thời khởi nguyên con người nuôi sống bằng hỷ lạc nơi tâm, sinh ra do hạnh nghiệp và không có vấn đề tham dục. Lòng tham xuất hiện khi họ muốn nếm vị đất, từ sự ham muốn này dẫn đến những ham muốn khác, tham ái nhục dục cũng xuất hiện và sau đó là sự tư hữu tài vật, tội lỗi trộm cắp, nói dối cũng phát sinh từ đó. Khi con người còn thanh tịnh, chưa bị uế nhiễm cũng đồng nghĩa rằng dục lạc chưa có mặt, sự ham muốn khoái lạc chỉ có mặt nơi con người khi những ham muốn này được thỏa mãn. Vì vậy ham muốn dục lạc vốn dĩ không là bản chất, không phải là bản năng của con người như con người đã từng ngộ nhận, lập luận này cũng cho ta thấy được rằng con người có thể tồn tại mà không cần có mặt của dục lạc, như vậy thì con người sẽ hoàn thiện hơn. Có thể hình dung sự có mặt của dục lạc dưới cung cách sự khoái lạc đê mê của người sử dụng ma tuý. Khi anh ta còn là một người bình thường chưa sử dụng ma túy thì không có sự khoái lạc. Khi tập tành chất trắng ấy rồi, dần dà thành thói quen, anh ta sẽ thấy không có thuốc, không có sự khoái lạc ấy là sự sống cũng như không có, ma tuý trở thành một chất liệu không thể thiếu trong cơ thể con người anh ta, thiếu ma túy đối với anh ta là không thành sự sống trên cuộc đời này. Từ một thứ bên ngoài đã đi vào chiếm giữ vị trí quan trọng trong đời sống con người anh ta, trở thành cái “bản chất” của cuộc sống anh ta vậy.

Sự ham thích thỏa mãn các giác quan vốn không hề có mặt nơi một con người thuần tịnh, hay nói cách khác bản chất của con người không có những thứ này, sự khoái lạc đó không phải là bản năng bắt buộc phải có nơi con người mà đó chỉ là sự đòi hỏi, sự ham  thích mà con người không cưỡng lại được do không đủ bản lĩnh về mặt đạo đức thuần tịnh.

Như vậy, bản chất con người vốn thanh tịnh không có sự đòi hỏi ham muốn, khi không có những ham muốn tức đó là trạng thái vắng lặng bình yên mà Đạo Phật gọi đó là Nibbàna tức Niết bàn, giải thoát. Mục tiêu của đạo phật là giúp con người cởi bỏ dục vọng, cởi bỏ được sự ràng buộc của ưa thích, ham muốn và chấp thủ, khi đã rũ sạch được những điều này tức vị ấy được xem là người thanh tịnh, người giải thoát xa lìa được sự ràng buộc. Với mục đích trên, đạo Phật đã đưa ra nhiều phương pháp khác nhau để con người thực tập. Sau đây là sự giới thiệu sơ lược một vài phương pháp được tìm thấy trong kinh tạng Nikàya

1.6.2. Phương pháp quán duyên sinh:

Theo quan niệm của Phật giáo thì các pháp trong vũ trụ này kể cả sắc pháp và tâm pháp, không có pháp nào có thể tồn tại một cách độc lập, mọi thứ đều dựa vào nhau mà hiện hữu và tồn tại. Thuật ngữ Phật học gọi quy luật ấy là “duyên sinh” hay “trùng trùng duyên khởi”. Được tóm tắt như sau:.

Do cái này có mặt nên cái kia có mặt

Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt

Do cái này sinh nên cái kia sinh                           

Do cái này diệt nên cái kia diệt.

Lòng ham muốn có mặt, lớn lên và đạt được khoái lạc không phải tự nhiên mà có, chúng nương nhau mà hình thành. Một niệm ham muốn vừa mới khởi lên nếu không có sự đóng góp của nhân tố khác như vọng tưởng, vô minh… sẽ không tồn tại và không dẫn đến việc thụ hưởng dục lạc.

 Ví dụ: bạn vừa khởi lên một ý niệm thích một chiếc xe hơi, liền sau đó với sự góp mặt của vọng tưởng, bạn sẽ mơ về một ngày mai ngồi trên chiếc xe đi du ngoạn đây đó với bạn bè…,  thích thú đó cuốn theo đà vọng tưởng ấy mà lớn dần, bên cạnh đó bạn quyết tâm có được xe nên đã cần mẫn kiếm tiền và cuối cùng bạn thỏa mãn được ham muốn đó vì bạn đã có một chiếc xe. Giả sử một ý niệm thích ban đầu vừa mới khởi lên bạn đã thấy nó với sự góp mặt của chánh niệm trong hiện tại, bạn thấy rằng nó là một phương tiện chưa thật sự cần thiết và như vậy niệm ban đầu của bạn sẽ không có cơ sở để đưa đến kết quả.

Áp dụng nguyên lý này vào cuộc sống, muốn đoạn trừ sự ham muốn, bạn chỉ cần cắt đứt một yếu tố trong những yếu tố đưa đến sự hình thành của nó. Bởi vì “cái này có mặt khi cái kia có mặt, cái này sẽ không có mặt khi không có cái kia”. Sự thỏa mãn dục lạc sẽ không có mặt khi vắng mặt sự ham muốn. Nguyên lý duyên khởi này có thể được ứng dụng để quán triệt các thứ dục lạc thuộc thân và ngoài thân. Đây là pháp môn hữu hiệu mang tính truyền thống mà Đức Phật đã phát hiện ra, không phải chỉ để giải quyết dục lạc mà còn là sự giải đáp cho mọi thứ khác.

1.6.3. Phương pháp giới định tuệ:

Giới – Định – Tuệ là ba môn vô lậu học rất quan trọng trong hệ thống giáo dục Phật giáo. Do tầm quan trọng của nó, giới định tuệ là pháp môn căn bản trong quá trình tu tập giải thoát, và do đó đóng vai trò quan trọng trong việc chế ngự và đoạn trừ dục lạc.

Giới (Paratimokha): Nghĩa là biệt giải thoát giới tức giữ được giới nào thì giải thoát được giới đó, giải thoát từng phần. Giới cũng là sự ngăn che, là ranh giới để ngăn ngừa giữa cái thiện và cái bất thiện, giữa cái đúng và cái sai lầm.

Định (samàdhi): Tức sự tập trung tâm ý vào một đối tượng, tu tập bằng phương pháp suy nghiệm. Định được chia làm hai loại là chánh định và tà định.

Tuệ(panna): Tức sự rõ biết về bốn sự thật của cuộc đời( khổ, tập, diệt, đạo) về khổ, về nguyên nhân của khổ, về sự xa lìa, về con đường dẫn đến lìa khổ. Tuệ như vậy là trái nghĩa với vô minh. Đứng về mặt thực hành, tuệ được chia làm ba loại.

-           Văn tuệ: Tuệ do nghe âm thanh ( tức do học, thảo luận, nghe kinh, đọc sách mà phát sinh).

-           Tư tuệ: Tuệ phát sinh nhờ suy nghĩ, tìm tòi mà rõ được nghĩa lý, hiểu được sự thật.

-           Tu tuệ: Tuệ phát sinh nhờ tu hành thể nghiệm và thể nhập chân lý mà giác ngộ, chứng đạt sự thật.

Tu tập Giới Định Tuệ để đoạn trừ những ham muốn dục lạc cá nhân là phương pháp rất quen thuộc của Phật giáo

Về phương diện đoạn trừ dục lạc, vì giới là sự ngăn che, là ranh giới cho những cái thiện và cái bất thiện nên dĩ nhiên Giới có công năng đoạn trừ dục lạc. Giới luật của Phật chế ra cho hai chúng tại gia và xuất gia là để giữ gìn nếp sống bình an và hạnh phúc cho gia đình và xã hội, để thanh tĩnh đạo tâm và bồi dưỡng nếp sống tâm linh của con người, lấy điển hình là giới dâm, một trong năm giới cấm căn bản đầu tiên của Phật chế định, để giữ gìn nền tảng đạo đức và hạnh phúc bình an cho xã hội, người tại gia khô