ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ VIỆT NAM
Thích Nữ Liên Hòa
I .DẪN NHẬP
Bất luận một tôn giáo nào dù cho xuất hiện sớm hay muộn, sản
sinh cho đời nhiều học thuyết về nhân sinh vũ
trụ, hay đạo lý mà không thể hiện được bản sắc
của dân tộc mình, gần gũi thực tiễn khoa học áp
dụng được cho mọi tầng lớp trong xã hội thì tôn
giáo ấy không thể đứng vững trong lòng dân tộc
và không có sức lan toả rộng lớn. Vì lẽ đó
Đạo Phật nói chung và Hệ Phái Khất Sĩ Việt Nam
nói riêng, ra đời đáp ứng tâm tư, nguyện vọng
của thời duyên, phát huy bản sắc dân tộc, tạo
được thế đứng vững chắc trong lòng dân tộc làm
nền tảng tinh thần trong cuộc sống qua phương
châm: “Đạo Pháp Dân Tộc – Chủ nghĩa xã
hội.
Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam xuất hiện tại Việt Nam từ thập niên
1940 giữa thế kỷ 20, bắt nguồn từ hai Hệ Phái
lớn Nam Tông và Bắc TôngPG, đươc ỉchắc lọc tinh
hoa từ hai hệ Phái chính truyền của PG và hình
thành nên một hệ tư tưởng mang đậm tính dân tộc
sâu sắc bởi hình thức tu học, phương pháp hành
trì, kiến trúc Đạo tràng thờ phượng … tất cả đều
thuần một bản chất của người Việt Nam, thể hiện
được tính phổ biến, gần gũi và dễ hiểu, dễ học,
dễ hành trì của người dân tộc việt. Thế
cho nên mặc dù ra đời sau hai Hệ Phái lớn nhưng
không non kém về hình thức, phương pháp tu tập
Vì sự lợi ích thiết thực ấy đã có sức lan toả
rộng lớn ra mọi nơi, mọi chốn, làm nền tảng đạo
đức trong cuộc sống của người Việt Nam, bổ sung
một phần không thể thiếu trong đời sống, để gia
đình và xã hội, vật chất và tinh thần được cân
bằng, quân bình, rồi từ đó trở thành một đòn bẩy
đưa Phật Giáo nói chung và Đạo Phật Khất Sĩ Việt
Nam nói riêng thành một Tôn Giáo thực tiễn
và rất khoa học, mang dấu ấn, ảnh hưởng
sâu đậỉm tính dân tộc mà chỉ có ở Việt Nam. Đặc
điểm nổi bật nữa là trong thập niên 1940 -1950
Phật Giáo Việt nam đang trong thời kỳ – từng
bước chuyển mình chấn hưng Phật Giáo nước nhà Tổ
Sư Minh Đăng Quang người khai sáng Đạo Phật Khất
Sĩ đã thích nghi vận dụng kết hợp hài hoà được
hai truyền thống lâu đời của Phật Giáo thế giới
và bản xứ mà hình thành một hệ tư tưởng xác lập
tính đặc thù của dân tộc với chí nguyện “ nối
truyền thích ca chánh pháp Đạo Phật Khất Sĩ Việt
Nam”
Với bổn nguyện độ sanh, bắt nguồn bởi lòng từ bi, vị tha,
bác ái, thúc giục ngài không một phút ngừng
nghỉ, Ngài hành đạo, mở mang mối đạo, mưa pháp
xối chan lợi lạc biết bao nhiêu chúng sanh và
bởi lối tu tịnh hạnh giải thoát ấy mà bóng y
vàng khắp nơi tỏ rạng chẳng khác chi vừng thái
dương ló dạng đã xoá tan đi bóng đêm trùm khắp
nhân gian. Cũng vì thế mà ánh đạo vàng đã lan
toả, làm chuyển đổũi cuộc đời này, đưa con người
rời xa sông mê trở về bến giác nên
vắng đi thân ngũ uẩn nhưng bóng pháp thân thanh
tịnh vẫn hiện hữu. Dù trãi qua thăng trầm, sự
nghiệp hoằụng dương chánh pháp của Ngài từng
thời kỳ càng thêm khởi sắc, càng được nảy nở
thêm, các giáo đoàn Tăng Ni, sau thời gian trụ
xứ để tự tu trì, trong giai đoạn đất nước đang
chuyển mình đổi mới cũng đã từng bước hội
nhập trong lòng đạo pháp, cùng lãnh đạo giáo hội
tham gia vào ban vận động Tăng Ni Phật Giáo Việt
Nam và là thành viên Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam. Giờ đây bao thăng trầm đã đi qua, nước non
cuối cùng đã thu về một mối tinh thần dân tộc
được ổn định, bản sắc văn hoá vẫn còn giữ gìn
phần lớn là sức mạnh đoàn kết của toàn dân,
trong đó Tôn Giáo đóng vai trò chủ đạo nối kết
mọi tư tưởng, tinh thần dân tộc, bằng tấm lòng
xả kỷ lợi tha, hơn thế nữa đã và đang tiếp tục
là nòng cốt, tiên phong trong cuộc sống xây dựng
và phát triển đất nước.
Ngày nay trong xã hội kinh tế thị trường, xu hướng công
nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước thì mọi hoạt
động, tư duy nghiên cứu, sống và làm việc
v…v…tất cả đều mang tính khoa học rất cao, nó
phải chứa đựng tầm nhìn lớn lao trong mọi lãnh
vực, phải tồn tại lâu dài trên mặt không gian,
phải áp dụng được thực tiễn trong cuộc sống, cải
tiến được xã hội,đưa xã hội và con người đi dần
lên đến đỉnh cao của thế giới chân thiện mỹ. Bộ
chơn lý của Tổ Sư Minh Đăng Quang, Người Thầy
khai sáng Hệ Phái Khất Sĩ Việt Nam đã khẳng định
được điều này, trình bày một cách đúng đắn, khoa
học, hợp lý về nguồn gốc con người, triết lý con
người và thiên nhiên về đời sống đạo đức xây
dựng một xã hội an lành hạnh phúc cho khắp nhân
gian này.
Nói đến vị Thầy Khai Sáng Hệ Phái Khất Sĩ Việt Nam thì không
thể không nhắc đến bộ Chơn Lý mà người đã dày
công thân chứng nói ra. Thật là một công trình
vĩ đại của một bậc chân tu, một vị Bồ Tát nay đủ
hạnh nguyện lợi tha. Nội dung bộ chơn lý đã
khẳng định được trí huệ, tu chứng của Ngài hết
sức thâm hậu, cao niên, mang tầm cỡ của bậc đại
trí, đa văn, xây dựng xã hội xây dựng con người
vượt qua đêm tối vô minh, lạc hậu không đi theo
huyễn hoặc, siêu hình, tìm hạnh phúc chân thật
từ chính cuộc sống này, từ con người này từ xã
hội này, tạo nên mắc xích giữa con người và xã
hội, con người với thế giới tự nhiên, con
người với con người.
Lý do chọn đề tài :
Với sự nghiệp thiêng liêng của Tổ Thầy như vậy là lý do
để chúng con chọn đề tài đạo Phật Khất Sĩ Việt
Nam. Vì mục đích trước hết là để kiến giải cho
mình, những thắc mắc, những thiếu sót của tự
thân về tiền đồ của hệ Phái, là hàng hậu
học vẫn còn rất nhiều ưu tư, băn khoăn
trăn trở về sự nghiệp của Tổ Thầy, làm sao cho
ngọn đèn ấy ngày mỗi sáng lên lan toả rộng ra
làm lợi ích cho khắp vũ trụ, nhân loài.Vì Đạo
Phật Khất Sĩ đã và đang là một tôn giáo dân tộc,
trong lòng dân tộc, cho nên nhận thức được điều
này tự thân đã mạnh dạn cầm bút lên tìm tòi,
nghiên cứu, chắc lọc những tinh hoa, đặc sắc,
biệt truyền của hệ phái, hầu nhân đôi sức mạnh
của niềm tin chánh pháp cho mình và cho hết thảy
mọi tín đồ, pháp hữu gần xa về một hệ phái của
dân tộc.
Lý do thứ hai: của mục đích chọn đề tài là để đáp ứng nhu cầu học hiểu
tu tập về phương pháp hành trì truyền thống của
hệ phái do số đông phật tử hữu duyên ở vùng xa
đã thôi thúc người viết mạnh dạn thỉnh ý kiến
của giáo sư hướng dẫn và bắt tay vào sự nghiên
cứu tìm tòi học hỏi thêm.
Lý do thứ ba : Vì tự thân xét thấy hạnh nguyện nối truyền Thích Ca
Chánh Pháp của Tổ Sư là một hạnh nguyện thiêng
liêng tối thượng, một sự nghiệp lớn lao sâu dày
của bao thế hệ tiền bối đã và đang nối tiếp
truyền thừa. Vì thế ôn lại và làm sáng ngời sự
nghiệp ấy chính là đền đáp công ơn của Tổ Thầy
trong muôn một.
Có được ngọn đèn chánh pháp toả sáng đúng nghĩa ngày hôm nay là
đã trãi qua biết bao thăng trầm gian truân, dày
công khai sáng vun đắp. Ý thức được đều này hàng
hậu học luôn luôn tâm nguyện ghi nhớ công ơn và
sẽ giữ gìn ngọn đèn ấy sáng mãi trên thế gian .
Phương Pháp thực hiện:
Đứng trước một di sản quý báu người viết tự thấy mình
phải có một ý thức giữ gìn tôn tạo vì vậy phương
pháp nghiên cứu có khoa học, có độ chính
xác là một công việc không thể thiếu trong khi
thực hiện đề tài, đồng thời chắc lọc tinh
hoa từ nguồn sử liệu sử lý tài liệu, hình ảnh và
đánh giá, nhận xét giá trị tài liệu, sử liệu ấy.
Cho nên phạm vi giới hạn đề tài người viết không
nói lại những gì bậc đi trước đã nghiên cứu, có
thể sử dụng một số sử liệu có nhân chứng, thực
chứng. Ngoài ra mục đích chính của người viết là
giới thiệu giá trị, ý nghĩa sự – lý viên dung mà
Sư Tổ đã kết hợp hài hoà độc đáo nhuần nhuyễn
trong lối kiến trúc thờ phật, nội dung tu tập và
phương pháp hành trì của Hệ Phái vào trong giáo
lý phật đà vì thế người viết chỉ nghiên cứu đạo
Phật KSVN do Sư Tổ sáng lập mà không tìm hiểu
rộng những Hệ Phái Khất Sĩ khác và vì đây là một
luận văn mục đích tạo thêm niềm tin chánh pháp
cho mình và cho người.
Phạm Vi Giới Hạn: Người viết không nói lại những gì bậc đi trước đã
nghiên cứu, có thể sẽ dùng một số sử liệu, nhân
chứng, thực chứng đã có được. Ngoài ra mục đích
chính của người viết là giới thiệu giá trị, ý
nghĩa sự- lý viên dung mà Sư Tổ đã kết hợp hài
hoà độc đáo, quyện chặt, nhuần nhuyễn trong lối
kiến trúc thờ phượng, nội dung tu tập và phương
pháp hành trì của Hệ Phái vào trong giáo lý Phật
Đà. Vì thế người viết chỉ nghiên cứu đạo phật
Khất Sĩ Việt Nam do Sư Tổ sáng lập.
II . NỘI DUNG :
Chương 1 : Vài nét về Tổ sư Minh - Đăng – Quang và hệ phái Khất Sĩ
1.1 Thân thế thời niên thiếu :
Đức Tôn Sư Minh – Đăng – Quang thế danh là Nguyễn Thành Đạt Tự
Lý Hườn, sinh ra đời lúc 10 giờ tối ngày Tân Tỵ
26 tháng 9 năm Quý Hợi 1923, tại làng Phú Hậu-
Tỉnh Bình Phú, quận Tam Bình(Tĩnh Cữu Long ngày
nay )
Thân phụ ngài là cụ ông Nguyễn Tồn Hiếu thân mẫu là cụ bà Phạm Thị
Nhàn, từ bao đời gia đình song thân vốn có nền
nếp ăn ở theo đạoThánh hiền, tu nhân tích đức
được người đương thời khen ngợi là gia đình hiền
lương nhân nghĩa. Gia đình ông bà cụ có tất cả
năm người con, Ngài là út, trước Ngài có bốn
anh chị, cụ bà đều thọ thai sinh nở bình thường
nhưng đến Ngài thì cụ bà mang thai đến 12 tháng
mới khai hoa. Mười tháng sau ngày 25 tháng 7 năm
giáp Tý 1924, cụ bà bệnh nặng hưởng dương 32
tuổi. Từ đó về sau Ngài được thân phụ và kế mẫu
Hà Thi Song nuôi dưỡng đến ngày trưởng thành. Cụ
ông mất ngày mùng 5 tháng giêng năm mậu thân
1968 thọ 75 tuổi.[6, 7 - 17]
Thuở nhỏ tuy sinh trưởng ở một làng quê nhưng Ngài có trí thông minh
khác thường, ngoài giờ học ở trường, ở nhà những
lịch sử các danh nhân những kinh sám, truyện, sự
tích được Ngài chú ý xem coi, xem đến đâu thì
nhớ hết cùng luận giải phê phán, có phương pháp
và rõ rệt, sự phát tâm thương người từ lúc nhỏ,
nên Ngài cũng ăn chay theo cha, cũng niệm hương
cúng Phật mỗi tối. Thế là lòng từ bi thương
người vật và lòng kính ngưỡng Đạo Phật từ đó
phát hiện rõ rệt.
Cây lành sanh trái ngọt, vốn được hấp thụ nề nếp đạo đức nho
phong, nên ngài thường tới lui các nhà trưởng
thượng đương thời để tham vấn đạo lý, tìm tòi
những điều còn huyền bí trong vũ trụ bao la, suy
tư quán chiếu lại nội tâm, nhận biết cuộc đời là
huyễn ảo, Ngài có tạo phía sau nhà một cái thất
nhỏ để hàng ngày tiện bề tu tập tham thiền. Với
tinh thần hướng thượng sẵn có nhiều đêm suy nghĩ
Ngài tự nhủ kiếp phù sinh cứ mãi lăn xoay trong
vòng sanh già bệnh chết…. Cuối cùng Ngài quyết
tâm dõng mãnh cất bước ra đi cắt đứt tình thân.
“Thôi thì thôi, thế thì thôi
Vẹn nguyền xin chịu lỗi nghì với cha
Thiếu niên ngày nọ lìa nhà
Vượt biên giới Việt, Miên xa dặm ngàn
Lên non tìm động hoa vàng
Tầm sư học đạo chốn Nam Vang thành .”
(Ánh Minh Quang- TT Giác Toàn )
1.2Tầm đạo tu tập và thân chứng :
Do chủng tử nhiều đời, căn cơ sâu dày, cộng thêm tư tưởng
của một thanh niên có học vấn, nhìn cuộc
đời thông thoáng hướng thượng. Cuộc sống thường
tình giả tạm không làm cho người cảm thấy an ổn
vui vẻ. Mà cuộc sống của bậc xuất trần thượng
sĩ, đem lại an lạc cho tất cả nhân sinh đó mơí
là đích thực là niềm vui vĩnh cữu. Năm 1938
Người đã đi Nam Vang tìm đến xứ cao Miên tầm
thầy học đạo và tu theo Phật Giáo Nam Tông. Tu
thân cực nhẫn với cuộc sống xứ người, làm mọi
công việc để nghiệp mòn sinh phước, giúp cho
người có nhiều tiến bộ có nhiều kinh nghiệm
nhưng con đường tìm đạo quả giác ngộ giải thoát
cho mình đầy chông gai thử thách, để đạt được
đạo quả sâu dày không thể chỉ một thời gian tu
tập ngắn mà thành tựu được. Khi quyết tâm đi tìm
cho mình con đường xuất thế xa lìa
mọi sự hưởng thụ của ngũ dục lục trần thì cũng
là lúc đương đầu với oan khiên của qúa khứ, mà
người đi tầâm đạo tu tập giải thoát là người đi
ngược dòng nước và thanh niên Nguyễn Thành Đạt
thật phi thường chấp nhận đi ngược dòng
đời đối đầu với nghiệp lực của bản thân.
Nghiệp lực đầu tiên người thanh niên ấy
phải trả đó là Cô gái vì ân nghĩa cứu tử đã tình
nguyện theo nâng khăn sửa túi để đáp nghĩa cho
họ Nguyễn này, Cô tên Kim Huê là con gái nuôi
của Hội Đồng Nhiều người tỉnh Chợ Lớn .
Một mái ấm gia đình hạnh phúc đã hình thành có thể nói như vườn
hoa tươi nở buổi rạng đông đượm thắm sương mai
và hãnh diện khoe màu cùng tia nắng sớm, thế
nhưng cuộc đời có ai muốn mình đau khổ và
có ai không muốn mình được hạnh phúc. Nhưng hạnh
phúc trọn vẹn như mình ước mơ thì ít ai đạt được
trên thế gian này :
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”
(Truyện Kiều-Nguyễn Du)
Người bạn đời sau khi sanh một gái đặt tên là Nguyễn Kim Liên
thì đã lìa trần để lại cho người một nỗi đau
trần thế và nỗi đau này chồng chất nỗi đau ngay
sau đó, đứa con thơ 1 tuổi cũng vĩnh viễn ra đi.
Bài học vô thường biến đổi, hiện rõ quá nhanh
giúp Ngài tăng thêm nỗi niềm suy quán hằng ngày
Người thường trầm lắng ưu tư, thường dõi mắt đăm
chiêu nơi tận chân trời xa, như khẩn cầu, như
bày tỏ tâm tư :
“Mùi thiền đã bén muối dưa
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sòng
Sự đời đã tắt lửa lòng
Còn chen vào đám bụi hồng làm chi
Dở dang nào có hay gì
Đã tu tu trót kiếp thì thì thôi”
(Truyện Kiều)
Một ý chí đanh thép bùng cháy trong Người, lòng Bồ Tát quyết chí ra đi
tầm đạo quả chơn lý hạnh phúc của con người. Vào
một buổi chiều Ngài ngộ đạo ngay sau khi thấy
những chiếc thuyền đánh cá bấp bênh trên mặt
nước làn sóng biển dồn dập tựu tán Ngài đạt lý
vô thường khổ não vô ngã, cảnh khổ trầm luân
xoay tròn, như Sa Môn Gotama sau 49 ngày ngồi
dưới gốc cây Bồ Đề thiền định quán chiếu và
chứng đạt chân lý Tứ Đế là bài pháp đầu tiên
,cũng vậy Ngài cũng nói lên bài pháp đầu tiên
đó là Thuyền Bát Nhã làm tiêu chuẩn cho nền đạo
pháp của Ngài.
Mỗi vị giáo chủ đều có những thuyết do mình ngộ đạo đề xướng và
làm căn bản cho sự truyền đạo.
1.3. Thành lập Đạo Phật Khất Sĩ Việt nam :
Những lần qua CamPuChia, nhiều lần sống ở miền
nam, Tổ Sư Minh Đăng Quang đã có cái nhìn
về hai hệ phái Bắc truyền Nam truyền và các đạo
giáo mới, cộng với yếu tố thấu đạt lý đạo, chính
đây là yếu tố quan trọng góp phần dẫn đến sự ra
đời của Hệ Phái Khất Sĩ. Vì Hệ Phái Khất Sĩ ra
đời hình thành và phát triển đều dựa trên nền
tảng bối cảnh lịch sử chính trị, kinh tế, văn
hoá, địa lý, xã hội của Nam bộ đương thời.“Lúc
bây giờ về mặt chánh trị, đất nước Việt nam năm
1945 đã bị thực dân Pháp đặt quyền cai trị,
riêng ở nam kỳ Pháp đã chiếm giữ sớm nhất. Năm
1862 triều Nguyễn cắt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ
cho Pháp, đến 1867 triều Nguyễn tiếp tục cắt ba
tỉnh Miền Tây Nam Kỳ cho Pháp. Đặt biệt đến 1884
khi triều Nguyễn cúi đầu ký hiệp ước patenote tư
cách độc lập của triều Nguyễn mới hoàn toàn bị
thủ tiêu” [148 – 21]
Do cuộc chiến tranh đánh phá miền Bắc và miền Trung, tạm
chiếm miền Nam của thực dân Pháp nên Phật giáo
miền Nam cũng có sự khác biệt hơn Phật giáo ở
hai miền trên, cụ thể là sự ra đời mới mẻ của
đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam.
Về địa lý Nam bộ được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu ôn hoà
ít thiên tai con người miền Nam hài hoà cởi mở,
dễ tánh ngay thẳng chất phác xung quanh có phù
sa hai con sông Tiền và sông Hậu bồi đắp vừa có núi vừa có biển ( như ở Hà
Tiên ). Từ điều kiện địa lý như trên đã góp phần
tạo nên sự thuận lợi cho việc hình thành Đạo
Phật Khất Sĩ Việt Nam.
Về tôn giáo do Nam bộ nằm ở vị trí ngã tư giao lưu văn
hoá giữa hai nền văn minh lớn là văn minh Ấn Độ
và văn minh Trung Quốc. Nên ở đây tôn giáo
rất phong phú, về hệ phái Nam truyền thì có Phật
giáo Nam Tông của người Khmer vốn đã có từ lâu.
Đến 1938 ra đời Phật giáo Nam truyền của người
Việt Nam do Ngài Hộ Tông thành lập, đối với Phật
giáo Bắc truyền cũng có du nhập vào vùng đất này
từ thời triều Nguyễn [35 - 10]
Nhìn chung đây là thời kỳ phát sanh ra nhiều mối
đạo mới .Phần lớn mang tính chất của phật
giáo như đạo Bửu sơn kỳ hương, đạo Tứ ân hiếu
nghĩa, Đạo cao Đài, Đạo Phật Giáo Hoà Hảo chủ
yếu dạy lớp người cư sĩ, về mặt cơ bản ăn chay,
tin luật nhân quả, trong bối cảnh lịch sử
Tôn Giáo như thế, Hệ Phái Khất Sĩ đã có nhân
duyên ra đời dựa trên cơ sở chấn hưng Phật Giáo
bằng con đường nối truyền Thích Ca Chánh Pháp,
nâng cao hơn về trình độ tu tập, giải thoát văn
hoá:
Sự xuất hiện những yếu tố văn hoá mới trên nền của những yếu tố văn
hoá truyền thống, đan xen vớinhững yếu tố văn
hóa truyền thống có thể thấy kiểu cư trú và quan
hệ cộng động của người việt miền Nam. Người Việt
miền Nam cư trú thành làng xã, mọi làng xã của
người Việt, Nam bộ, không có tính chất khép
kín, nhà ở thông thoáng mát mẻ, cửa theo nhiều
hướng để đón gió thiên nhiên, mô hình bát giác
có nhiều cửa lớn, đi vào bên trong chánh điện,
cùng xuất phát từ truyền thốngvăn hóa PG kết hợp
nền văn hoá Nam bộ . Về y phục truyền thống
nhuộm màu nâu vì màu chàm của người dân miền Bắc
và miền Trung. [317 – 10] và y phục này thuở ban
đầu hành đạo, nhà sư Minh Đăng Quang cũng đã
khoát lên mình tấm vải nâu sòng để hòa mình cùng
với người dân ,một bình bát đi khất thực muôn
nhà đủ ăn, không chất chứa, không dư dả để như
bà con nông dân cuộc sống vừa đủ ăn ,đủ mặc ,làm
ruộng phước để cho chúng sanh gieo hạt giống bố
thí cúng dường.Ngài đi hóa duyên ban rãi ánh
sáng từ bi, ánh sáng trí tuệ, đem hình bóng đạo
đức mô phạm cho nhân gian này. Tính cách người
Nam bộ đã sẵn thẳng thắn, bộc trực trọng nghĩa
quên mình trọng thực tế hơn lý thuyết, trọng đạo
lý hơn giàu sang, ghét sự tính toán hơn thiệt
317 - 10 cho nên dễ tiếp nhận giáo lý đạo Phật
Khất Sĩ Việt Nam, dễ hiểu gần gũi và phù hợp
truyền thống và đạo đức của người Việt Nam. Và
đây là một phần tạo nên sự hình thành đạo Phật
Khất Sĩ Việt Nam. Như vậy với nền đạo mới ra đời
ở Phú Mỹ tỉnh Mỹ Tho, với mệnh danh “nối truyền
Thích Ca Chánh Pháp, Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam”
do Tổ Sư Minh Đăng Quang khai sáng, chính thức
thành lập giáo hội vào năm 1946, thuộc khu vực
đồng bằng sông Cữu Long ở Nam bộ.
Chương 2 : Quá trình hình thành, phát triển và
hội nhập trong lòng Đạo Pháp dân tộc
Đạo Phật Khất Sĩ VN với tâm nguyện “ Nối truyền Thích Ca chánh
pháp” buổi đầu do Tổ Sư Minh Đăng Quang trực
tiếp khai lập, dần dần hình thành Tăng đoàn Tổ
thu nhận Tăng Ni xuất gia Tổ hướng dẫn đi hành
đạo khoảng từ năm ( 1947 – 1954khi giáo đoàn,
giáo đoàn Ni được hình thành, Tổ vắng bóng. Từ
đó đến nay giáo pháp Đạo Phật Khất Sĩ VN
trải qua bốn giai đoạn như sau:
2.1.Từ năm 1944-1954 là thời gian vừa tròn 10 năm, 10 năm cho
một tiền đồ hệ phái thì đấy là một công
trình vĩ đại và đáng trân trọng giữ gìn
nếu không là 1ụ hệ phái nối truyền thì không thể
có được sự hình thành và sự lan toả rộng trong
lòng dân tộc như vậy, Vì đã có nguồn gốc có
người khai sáng, Sư Tổ là người dày công khơi
vẹt mở mang mối đạo cho rộng thêm cho nên dù gặp
nhiều gian nan bước đầu nhưng không có dấu hiệu
của sự lu mờ mà sự hành đạo rộng ra khắp các
miền từ miền Tây lan dần đến miền Đông và
ra tới miền Trung xa xôi. 64 ngôi Tinh Xá là vật
chứng để đánh dấu sự hành đạo của Sư Tổ, trong
suốt 10 năm cho đến ngày vắng bóng hàng đệ tử
đã nhân đôi sự phát triển. Đó là nguyên nhân nảy
nở các giáo đoàn tăng ni.
2.2. Từ năm 1955 – 1975 đây là thời kỳ phát triển
đã lên đến 100 tăng ni nên Giáo Hội đã hoạch
định đường hướng phát triển cho việc phân giáo
đoàn và dưạ trên tính thống nhất có một giáo hội
trung ương như trong Luật Nghi Khất Sĩ có
quy định về phân giáo đoàn: “người xuất gia mới
nhập đạo phải theo Thầy ở chung trong giáo hội 2
năm, kế đi tách riêng 1 mình 2 năm nữa, trên 4
năm được thâu 1 người tập sự, trên 6 năm mới
thâu nhận 1 người đệ tử và một người tập
sự, được trên 12 năm tách ra đi lập đạo riêng,
dạy số đông” [39 – 40,14].
Về tinh thần thống nhất có một giáo hội trung ương như
trong 114 điều luật ở quyển LNKS có ghi. “Cấm
không đặng thiếu sót sự hành đạo của tăng mỗi
chổ phải do giáo hội chứng minh và các giáo hội
nhánh mỗi kỳ 3 tháng phải trình bày về trung
ương một lần về sự tu học” [83 – 238,14]
Tăng ni hệ phái Khất Sĩ có 2 giáo đoàn: giáo đoàn tăng
và giáo đoàn ni. Giáo đoàn tăng gồm có 6, giáo
đoàn ni gồm có 3. Bắt đầu từ năm 1956 TT Giác
Chánh dẫn đoàn hành đạo ra miền Trung… và giáo
hội đặt tên cho những giáo đoàn thứ tự như sau:
Giáo đoàn Tăng gồm có 6:
Giáo đoàn 1: Do TT Giác Chánh và TL Giác Như
lãnh đạo
Giáo đoàn 2: Do TL Giác Tánh và TL Giác Tịnh
Giáo đoàn 3: Do TL Giác An lãnh đạo
Giáo đoàn 4: Do TT Giác Nhiên lãnh đạo
Giáo đoàn 5: Do TL Giác Lý lãnh đạo
Giáo đoàn 6 :Do TT Giác Huệ và TT Giác Đức lãnh
đạo.
Giáo đoàn Ni gồm có 3:
Giáo đoàn của Ni Trưởng Huỳnh Liên
Giáo đoàn của Ni Trưởng Ngân Liên
Giáo đoàn của Ni Trưởng Trí Liên.
Tuy là chia ra 9 giáo đoàn nhưng điều có sự hợp nhất về Pháp
lý, lấy TX Trung Tâm làm tổ đình bên Tăng
và TX Ngọc Phương là tổ đình bên Ni.
2.3. Từ năm 1976 – 1980 là giai đoạn hội nhập trong lòng đạo pháp và
dân tộc khi nước nhà đã thống nhất hoà bình độc
lập hoàn toàn, ĐPKSVN đã nhiệt tình đóng góp vào
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đóng góp
vào nền hoà bình và trong giáo hội PGVN. Trong
số đệ tử của Tổ Sư bên tăng có Cố HT Giác Nhu và
TT Giác Toàn là những bậc có công trong việc đưa
GHKS hội nhập vào trong lòng dân tộc, bên Ni có
cố NT Huỳnh Liên và NT Ngoạt Liên. Phái đoàn
PGVN đi dự đại hội tôn giáo thế giới vì hoà bình
về vấn đề giải trừ quân bị, chống chiến tranh
hạt nhân, tổ chức tại Maxco va( từ ngày 6 – 10
tháng 6 năm 1977 trong không khí thân mật tình
đoàn kết gắn bó keo sơn giữa các nước anh em, NT
Huỳnh Liên đã cảm tác một bài thơ
“Bỗng dưng mình lại hoá thành tiên
Lướt gió tung mây gặp bạn hiền
Dự tiệc bàn đào tiên nữ đãi
Hoà bình đạo ấm nghĩa đào tiên”
( NT Huỳnh Liên – Sen nở đầy hồ )
Và hệ phái còn tham gia trong MTTQTPHCM, trong Ủy Ban bảo vệ
hoà bình thế giới TPHCM.
2.4Từ năm 1980 đến 2004 là thời kỳ trụ xứ bên cạnh đó cũng tham
gia ban vận đông thống nhất PGVN, đến 1981 tham
gia đại hội thống nhất PGVN cả nước tổ chức tại
Chùa Quán Xứ Thủ Đô Hà Nội và là thành viên
trong GHPGVN.
Do tình hình thống nhất đất nước cho nên đạo Phật cũng phải
thống nhất, vào năm 1981 đại hội PG thống nhất
tất cả 9 hệ phái trong đó có hệ phái Khất Sĩ là
một thành viên của giáo hội PGVN [27 - 20]
Về trụ xứ: Theo truyền thống của GHTGKSVN hành đạo theo đoàn du tăng,
số còn lại ở Tinh Xá nhưng phải đổi chỗ trong
thời gian 3 tháng hoặc 6 tháng có sự hành đạo
chủ yếu đi khất thực. Trong tình hình chung của
xã hội đang lúc giao thời, theo hệ thống quản lý
hành chánh của chính quyền hiện giờ người tu
phải có hộ khẩu thường trú ở TX hoặc giấy tờ tạm
vắng do đó việc giấy tờ thủ tục hành chánh cần
phải có, khi có nhu cầu tạm vắng tạm trú. Đây là
một điểm mơi so với trước kia thế nên tăng ni
giờ đây đã có đăng ký hộ khẩu, khởi điểm bắt đầu
cho thời kỳ có đời sống tu học trú xứ ( sđd tr
27 )
Chương 3 : Nội dung tu tập phương pháp hành
trì.
3.1 Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp ĐPKSVN : giữ gìn Y Bát chơn
truyền
Đời sống của một Tỳ Kheo chơn chánh thì tài sản chỉ có 3 Y và bình
Bát. Đức Thế Tôn là hình ảnh gương mẫu cho tinh
thần này, trở thành người vô sản ngay từ khi
quyết định ra đi tìm con đường giải thoát cho
nhân loại. Một mình một bóng, Ngài dấn thân vào
kiếp sống tu hành khổ hạnh giữa chốn rừng già,
Ngài biết rằng cung vàng địện ngọc vợ đẹp con
xinh uy quyền thế lực là chất men nồng cao độ nó
sẽ làm đê mê say cuồng và có thể giết chết một
ông Hoàng giữa vòng tục lụy, cũng như bao nhiêu
khách trần khác, ròng rã hơn mười năm con người
ấy đã thật sự thoát ly những khổ đau trói buộc
của phàm tình, đầu tiên trên bước lữ hành ôm bát
hoá duyên theo hạnh xưa của ba đời chư Phật,
ngày trở về thành để thăm Hoàng tộc, Ngài đã
dùng hình ảnh này để hóa độ Hoàng thân quốc
Thích. Thử hỏi, còn hình ảnh nào cao đẹp hơn và
hạnh phúc hơn người đã cát ái ly gia chỉ xem vật
chất là thứ yếu nêu cao tinh thần thiểu dục tri
túc để hoà nhập san xẻ cùng với tất cả chúng
sanh để hoá độ chúng sanh không còn khổ đau trói
buộc trong cuộc đời giả tạm vô thường. Một cuộc
đời nhẹ nhàng giải thoát không tham cầu ước
muốn, thì như cánh chim trời lộng gió bay khắp
muôn phương đem tình thương cho khắp mọi loại.
Một hình bóng chỉ có duy nhất ở Đạo Phật mà
không có ở đạo giáo khác.
Ba Y gồm Y Thượng, Y Hạ, Y Trung. Bát phải được làm bằng đất
nung đỏ vuốt tròn đốt đen có lăn sáp bên ngoài
để không còn có giá trị sang trọng, 1 cái nắp
đậy bát bằng nhôm trắng nhẹ, 1 cái túi vải tròn
vừa với bát có nắp phủ, có quai mang choàng vào
vai. Y tượng trưng cho bầu trời, Bát tượng trưng
cho vũ trụ càn khôn, Bát là ruột Y là da luôn
luôn gìn giữ trân quý. Tấm Y đãõõđược giáo pháp
của Phật ba đời truyền trao khi thực sự đứng vào
hàng trưởngũ tử của Đức Như lai thì Y Bát
là một pháp khí thiêng liêng đánh dấu sự
trưởng thành đầy đủ giới đức trang nghiêm xứng
đáng đứng vào hàng ngũ của tăng đoàn. Vì
vậy Y Bát đã được Tổ Sư truyền thừa sau
Đức Phật nhập diệt, không có y Bát hành giả như
chim mất cánh như cây lìa cành vì Y Bát là đôi
cánh cho hành giả hướng đến một phương trời cao
rộng, vượt thoát ấm ma, làm bậc xuất trần thượng
sĩ, làm lợi lạc quần sanh, tạo Niết Bàn
tịnh lạc ngay cõi trần gian này. Người Khất Sĩ
đã tiếp nối truyền thống Thích Ca, xây dựng
chánh pháp tại thế gian này qua hình ảnh tiêu
biểu:
“Y vàng nhẹ buớc vân du
Bát nung nặng mối tình thu muôn ngàn.”
Đấy là hình bóng của Tổ Sư Minh Đăng Quang đầu tiên hành đạo ở
làng Phú Mỹ ngày xưa, Ngài đã nối truyền Thích
ca chánh pháp lập nên ĐPKSVN với y bát chơn
truyền đi khắp đó đây để:
“Trên xin giáo pháp Phật Đà
Dưới xin cơm áo để mà nuôi thân”
Ngài đã nối hạnh Phật xưa ôm Bát hoá duyên hoá độ chúng sanh lập nên
hệ phái biệt truyền với ý nghĩa nhiệm mầu của
đoàn du tăng Việt nam, với chí nguyện thiêng
liêng cao cả ĐPKSVN đã làm rạng ngời giáo pháp
Tổ thầy.
“Một bát cơm ngàn nhà
Thân đi muôn dặm xa
Mắt xanh xem trần thế
Mây trắng hỏi đường qua.”
Y bát đã làm lợi lạc cho muôn loài, cho tất cả cho nhân loại,
đem tinh thần xả kỷ lợi tha, giáo hoá chúng sanh
cang cường dị độ, lấy hạnh từ bi bình đẳng để
đến với muôn người, không phân biệt nghèo giàu.
Tấm y có năng lực Bố ma Phá ác ngăn ngừa mọi lỗi
lầm có thể xảy ra, “bởi khất cái với khất sĩ
cũng tương tự in nhau, vì kẻ gian manh muốn sắm
áo bát bao nhiêu cũng được người khất sĩ phải là
có thật học phải đủ đức hạnh, phải có chơn tu
mới được gọi đúng danh từ Khất Sĩ ( tr 303 – Y
bát chơn truyền) và tạo nên miếng ruộng Phước
điền cho người gieo hạt giống bồ đề, chiếc bát
có công dụng diệt trừ tham sân si tăng trưởng
tinh thần thiểu dục tri túc của người xuất gia.
Cụ túc hạnh tứ y pháp :
Tứ y pháp là bốn điều khuyên dạy của Đức Thế Tôn cho hàng
tỳ kheo khi đã thọ cụ túc giới phải hành
trì suốt đời với mục đích làm thanh tịnh
hàng ngũ tăng chúng xa lánh hai cực đoan giải
thoát mọi sự ràng buộc của vật chất đời thường
sống hạnh thiểu dục tri túc bỏ đời sống cao sang
để thực hành nếp sống thanh bần đạm bạc của một
nhà sư phạm hạnh nâng cao đời sống tinh thần làm
mô phạm cho nhơn thiên và loài người trên thế
gian này.
Tứ y pháp gồm :
1.Nhà sư Khất Thực phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo
nhưng có ai cúng vải thì được nhận .
2.Nhà sư Khất Thực chỉ ăn đồ xin mà thôi nhưng ngày hội thuyết
pháp đọc giới bổn, thuyết pháp thì được ăn tại
chùa.
3.Nhà sư Khất Thực phải nghỉ dưới cội cây nhưng có ai cúng liều
am nhỏ thì được ở.
4.Nhà sư Khất Thực phải lượm phân uế của bò mà làm thuốc trong
khi đau, nhưng có ai cúng thuốc dầu đường thì
được dùng.
Gót chân hành đạo của nhà tu Khất Sĩ bước lần rộng ra từ phạm vi làng
này đến làng khác mình mang choàng vàng tay ôm
bình bát đi Khất Thực không nhà cửa, chẳng vợ
con gia đình quyến thuộc, không cất giữ chứa
chấp món gì, không ở một nơi nào nhất định không
cất tiền bạc v…v… Sư Trưởng Minh Đăng Quang đã
hành đúng theo luật giới Tỳ Kheo cụ túc hạnh và
tứ y pháp. Đây là nền móng xây giáo lý và Giáo
hội Tăng Già Khất Sĩ Việt nam.Người đã giác ngộ
lý nhơn duyên tột lẽ:
“Trời cũng không đất lại cũng không
Người đời phái phái ở nơi không
Nhựt cũng không mà nguyệt cũng không
Đông lên Tây lặn chẳng cần công
Vườn cũng không,ruộng lại cũng không
Thác rồi nào đặng ở tay trong
Vợ cũng không con lại cũng không
Huỳnh tuyền đường nọ chẳng tương phùng
Sớm qua tây tối lại sang đông
Người đời tỷ thí tợ con ong
Hễ đặng trăm bông trên mật đó
Rốt đời đến thác cũng hoàn tay không”.
[32-33,12]
Ngài phát nguyện “ Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp” Lập ra Đạo Phật
Khất Sĩ Việt Nam. Thực ỉ hành tứ y pháp của
Phật.
Lượm vải bỏ ở đống rác bên đường còn gọi là y phấn tảo.
Phấn tảo tiếng phạn là pamsukula nghĩa là bụi
bặm. Bụi bặm ở nghĩa địa hay ở đống phân,đem về
giặt sạch phơi khô và khâu lại thành áo, vì muốn
thực hành hạnh khổ hạnh, để diệt trừ lòng ham
thích, thoả thích về cái đẹp, cái sở hữu của ta,
tạo đời sống thanh cao nhẹ nhàng không cất giữ
chất chứa, tâm hồn thảnh thơi, rỗng không để
tiếp nhận nguồn trí tuệ phát sanh từ trong giáo
lý Phật Đà và cũng để hoà mình giáo hoá chúng
sanh, khuyên người dư dả bớt se sua chưng dọn và
an ủi kẻ thiếu rách nghèo nàn, làm gương tiết
kiệm cho chúng sanh không phân biệt kẻ giàu
người nghèo.
Trong Thanh Tịnh Đạo Luận nói về lợi ích của hạnh mặc y
phấn tảo “ vị này không đau khổ do phải giữ gìn
y phục, sống không tuỳ thuộc vào người khác,
không sợ trộm cướp, không có sự thèm muốn đối
với y phục. Vì những vải ấy dễ kiếm, ít giá trị,
nhờ đó sẽ phát sinh kết quả ít muốn biết đủ và
tinh tấn tu tập” [32 – 15]
Nhà Sư Khất Sĩ đầu đội trời chân đạp đất, đi khắp đó đây để giáo hoá
chúng sanh, tự lợi và lợi tha, vũ trụ là nhà
chúng sanh là thân bằng quyến thuộc Ngài đi giáo
hoá, gieo duyên phật pháp với tất cả muôn loài,
đêm về tĩnh toạ dưới gốc cây, lấy trời làm màn
lấy đất làm chiếu, không gì của ta tâm thảnh
thơi giải thoát, không lo lắng buồn phiền. Trong
Thanh Tịnh Đạo Luận trang 36 có mô tả về hạnh ở
gốc cây “ Người theo hạnh này phát nguyện Tôi
theo khổ hạnh ở gốc cây hoặc tôi từ chối một mái
nhà có 3 cấp bậc: cấp thượng là không được phép
quét dọn sạch sẽ gốc cây đã chọn, cấp trung có
thể nhờ người nào đó quét dọn gốc cây, cấp hạ
là có thể sai những chú tiểu trong chùa quét dọn
sạch sẽ trải cát bằng phẳng xung quanh gốc cây”.
Ngồi dưới gốc cây thấy lá cây rơi rụng quán chiếu được sự vô thường biến
đổi, hợp tan, ly biệt, tụ tán, hoại không mà
đoạn trừ được lòng tham, vì mục đích cao thượng
ấy người du tăng Khất Sĩ đã chọn cho mình lý
tưởng thoát trần này để làm mục tiêu cho chí
nguyện xuất gia với tinh thần lục hoà được Tôn
sư Minh Đăng Quang đề cao “Nên tập sống chung tu
học”
“ Trên xin giáo pháp Phật Đà
Dưới xin cơm áo để mà nuôi thân”.
Đó là hạnh nguyện độ tha của du tăng Khất Sĩ khi chọn cho
mình pháp môn thực hành Khất Thực ôm bát
hoá duyên không nấu nướng để nuôi dưỡng lòng từ
không bận rộn để dành thời gian tham
thiền nhập định, không cất giữ của riêng đồ ăn
uống để tâm trí rảnh rang cất chứa giáo lý Phật
Đà, làm tài sản để ban phát cho tất cả chúng
sanh làm hành trang cho mình đi về bến bờ
giác ngộ. Trong Thanh Tịnh Đạo Luận nói có
3 cấp bực về hạnh Khất Thực. Cấp thượng là nhận
đồ ăn do người ta đem đến trước mặt và sau lưng
( đi qua rồi thí chủ mới chạy theo
cúng ) cấp trung có thể ngồi chờ người ta mang
đồ ăn đến. Cấp hạ là có thể ăn đồ ăn được hứa
mang đến hôm sau và hôm sau nữa [33 – 15]
Sự sống không lệ thuộc vào kẻ khác được tự tại an
nhàn, hạnh phúc trong thiểu dục tri túc,
sự phóng dật được trừ khử, không buông lung đi
đúng với chánh pháp, mạng sống thanh tịnh thực
hành được các học pháp dễ dàng đạt được kết quả
từ bỏ sự quyến luyến đối với các gia đình có
lòng từ mẫn một cách bình đẳng tránh được sự
ràng buộc bởi một gia đình.
Nhà Sư Khất Thực chỉ dùng phân bò làm thuốc trong khi đau. Đó
là một cách chữa bệnh của người dân Ấn Độ
thời Đức Phật còn tại thế. Theo thời đó bò là
con vật linh thiêng được người dân tôn
thờ, là con vật duy nhất đem sự sống đến
cho con người nên người dân Ấn Độ có tục thờ bò
thần và hơn nữa bò chỉ ăn cỏ lá non mọc ở trên
mặt đất hay đồng ruộng luôn luôn có những vị
thuốc quý hiếm trị được nhiều bệnh mà bò đã ăn
vào, đó là một lý giải. Và một lý giải thứ hai
cho rằng một trong tứ y pháp này là Đức
Phật dạy tỳ kheo dùng thuốc hủ lạn, thuốc hủ lạn
là những vị thuốc được bào chế ít tốn công
phu rẻ tiền tuy phản ứng chậm trong cơ thể nhưng
vẫn chữa lành bệnh. Đức Phật muốn đệ tử
mình kiểm đức, không nên vì những việc nhỏ nhặt
mà làm hao tốn tiền của thí chủ nên khuyên
dùng thuốc hủ lạn, thứ thuốc mà người thế
gian những kẻ giàu có ít ai dùng đến [16 -
67]
Ngày nay với khoa học phát triển, sự thông thương giao
lưu kinh tế văn hoá v..v… giữa các nước với
nhau, thì sự điều trị chữa bệnh, hàng tiêu dùng
… đều mang chất lượng rất cao, có
thể trị dứt các bệnh khó trị, ngày nay khí
hậu và môi trường làm cho con người yếu đuối
bệnh hoạn nếu chấp thủ vào tứ y pháp của
đạo Phật chỉ dùng phân uế của bò hay thuốc
hủ lạn làm sao cho giữ được thân thể khoẻ mạnh
để phát sanh trí tuệ chèo lái con thuyền Phật
Pháp trong những giai đoạn cuối cùng. Như thế là
chúng ta đã hiểu sai ý của đạo phật. Tham sân si
mơi là ba chứng bệnh lớn, chúng ta đã được Phật
Tổ trao truyền phương thuốc trị liệu, lấy bố thí
trị san tham, lấy từ bi để diệt hận thù
lấy trì giới nhẫn nhục độ si mê làm phương
châm để chữa trị cho mình và cho người,
đem kinh nghiệm ấy truyền đạt cho chúng sanh.
Mỗi chúng ta đều có một căn bệnh trầm kha mới
chịu đoạ đày trầm luân trong sanh tử. Nhưng điều
quan trọng phải tự nhìn nhận chứng bệnh của
riêng mình để có được một phương thuốc thích
hợp, chúng ta hãy nhìn xa ba cõi sáu đường
mà nhắc nhở nhau từ bỏ những tư lợi tầm thường
để xây dựng một hàng Tăng Bảo mô phạm giải thoát
cho vạn loại hàm linh.[16 - 68]
3.2 Thực hành hạnh khất thực – giáo hoá độ sanh
Hạnh khất thực là phương tiện là bản hoài của chư phật ba đời
để giáo hoá chúng sanh, ngày xưa Đức Phật Thích
ca mâu Ni cũng như vậy và đệ tử Ngài cũng như
thế . Hình ảnh tăng đoàn ôm bát hoá duyên đã trở
thành một nếp sống sinh hoạt quen thuộc của
người dân Ấn, phương pháp Khất thực là phương
pháp thiết thực nhất để đem đạo vào đời bởi
không gì khó khăn hơn là tự hạ thân mình để đi
xin từng nhà, người thế gian sẽ không làm được,
nhưng đệ tử Phật hàng tỳ kheo đã làm được vì
thấm nhuần giáo pháp của Ngài vì không gì cao
lớn hơn cái tự ngã của mình, làm chướng duyên
trên bước đường giải thoát giác ngộ, vì vậy để
dẹp bỏ cái ngã đồ sộ ấy không gì hơn là phải đi
xin, vừa lợi mình vừa lợi người vừa tự độ và độ
tha, khơi dậy thói quen biết tu tạo phước đức có
lòng bố thí cúng dường của chúng sanh, giúp
chúng sanh diệt trừ lòng ích kỷ bỏn sẻn, đem đến
miếng ruộng phước tươi tốt cho chúng sanh gieo
hạt. Về sự đi khất thực của hệ phái như sau :
a) Phép đi khất thực chỉ từ 1 đến 2 người mà thôi trừ khi nào đến xứ
lạ, 1,2 ngày đầu đi chung cho biết đường sá, đi
từ người cách khoảng 2 thước.
b) Khi đi lấy cơm hoặc đi trai tăng tại nhà cư sĩ thì đươc di chung,
đi 1 hàng 1 cách nhau 2 thước tây ai lớn tuổi
đạo đi trước tập sự đi sau.
c) Tại TX có ban cư sĩ hộ pháp, hoặc có nhiều người xin cùng dường luân
phiên giáp 30 ngày trong mỗi tháng thì giáo hội
nếu đông chia ra: Phân nữa tăng đi khất thực,
phân nữa tăng nhận cúng dường trọn bữa ăn.
d) Tốt hơn là mỗi người hằng ngày đều phải đi bát, ban hộ pháp chỉ hộ
thêm sau khi đi về .
đ ) Khi đi khất thực nếu ai về không kịp ngọ lỡ quá trưa thì phải độ nơi
chỗ vắng, gốc cây xa đường lộ, phố xá chợ đông.
Phải tránh những chỗ dơ dáy bụi bặm cấu trược
ồn ào vì thế sẽ làm nhẹ thể pháp phật.
e) Đi bát không được vô chợ, hoặc đứng phía góc chợ hoặc chen lấn chỗ
đám đông. Nên phải đi vào trong xóm và các đường
lộ xa chợ.
f) Mỗi đường có thể đi 3 ngày, đi xa không quá 3 ngàn thước.
g) Bận đi phải đi luôn bận về nếu thiếu thì đứng trước cửa từ nhà (
ngoài đường chớ không dược vào thềm ) mỗi nhà
đứng năm ba phút theo thứ tự.
h) Khi bát còn lưng thì ôm qua tay trái gần trước bụng, lúc đầy rồi
phải để vào túi phủ nắp lại quảy phía tay mặt
không nhận nữa
i) Không nhận lãnh đồ vật để trong túi ngoài bát hoặc trên nắp bát.
k) Không được nhận tiền, gạo, không nhận đồ ăn mặn, khi người đem đến
cúng mình có thể hỏi xem chay mặn, đó là gương
dạy thiện cho người.
l) Không được đi vào nhà ai, khi đi khất thực. Nếu phải đi viếng ai
hoặc có việc của giáo hội sai, thì đi lại ngay
nhà người ta trước, bát mang chứ không ôm, bận
về mới ôm ra đi xin mà trở về.
m) Không được dừng lại uống nước, hay đại tiểu khi đi khất thực
n)Bát nếu ôm trần thì được nhận, bát mang trong túi cấm thâu nhận.
o)Không được ngó mặt thí chủ, hoặc nói chuyện quá năm sáu câu.
ô)Ai có hỏi đạo giữa đường thì kiếm gốc cây ngồi nói, hoặc hẹn sau
khi độ cơm rồi sẽ nói hoặc mời người đến ngay
chỗ trụ hoặc để ngày khác người thỉnh cúng dường
tại nhà có tăng đông có cư sĩ nhiều sẽ nói .
ơ ) Khi đi khất thực ai muốn cúng và thí gì tự ý, bao giờ người hỏi sẽ
chỉ dạy , bằng không thì thôi chớ chê khen bắt
lỗi ép buộc người ta.
p) Nếu biết cơm có dính lỡ đồ ăn mặn, thì khi về phải cho người khác,
chớ không được dùng bằng khi túng ngặt phai gụt
rữa sạch mới được dùng.
q) Khi đi khất thực phải trang nghiêm hoà hưỡn ngó ngay xuống ngó xa 2
thước chớ ngó liếc 2 bên chớ tìm lóng nghe
chuyện người nói tâm phải niệm phật.
r ) Đừng vừa đi vừa nói chuyện chỉ chỏ, muốn qua đường quẹo phải đứng
lại xây mình, chớ đừng đi tắt xéo.
s) Mỗi khi có chuyện gì thì phải đứng lại, có ai cúng thì chỉ lại người
sau cho để bát trước.
t ) Ngày nào ai đi bát đường nào phải sắp đặt trước tại chùa chớ đừng
ra đường lộn xộn.
u ) Khi đi khất thực ngoài món ăn ra không nhận món chi ai gởi hết hãy
bảo người đem lại các chùa kia.
Ai gởi cúng Phật thì không được nhận hãy nói “ Tăng chỉ là người tu đi
xin ăn mà thôi”
ư )Ăn rồi đồ nếu còn dư phải cho hết không được để dành.
v )Đồ khất thực trước phải độ trước. Đồ cúng dường sau phải độ sau.
x )Khi đi khất thực không được chống gậy che dù… phải mặc áo chừa
cánh tay mặc đầu trần chân không, phải mặc quấn
thượng y trùm kín. [14 -57]
“Xin là để khắc sâu tình vạn loại”
Ngày xưa tỳ kheo Mã Thắng từ hình ảnh này đã chuyển được tâm của vị
giáo chủ của 1500 đệ tử theo đạo thờ lửa về
với đạo Phật, về với con đường chánh kiến, trở
thành bậc trí tuệ đệ nhất trong giáo đoàn, đó là
ngài Xá Lợi Phất. Ngài cùng tăng đoàn thực hành
hạnh khất thực, mỗi nhà tăng đoàn đều dừng chân,
dù nghèo hay giàu Ngài cũng đều dừng chân để
gieo duyên giáo hóa, nhờ vậy vật thực có hay
không các ngài vẫn đi, đi vì bản hoài của các
ngài .
Tôn sư MĐQ cũng thế ngài đã nối truyền TCCP. Ngài được chư Phật 3 đời
hộ trì, hình thành nên hệ phái Khất Sĩ là hệ
phái giữ nguyên nếp sống đạo hạnh thanh bần của
thời Đức Phật không chấp chứa không tham đắm
cuộc sống thật sự giải thoát, thời khắc buổi
sáng là thời khắc dành để giáo hoá độ sanh, thời
khắc chiều tối là thời khắc dành riêng tu tập.
1)Chiều 5giờ đến 7giờ sáng tu tịnh ngủ
nghỉ, hoặc gốc cây vườn rừng hoặc chùa am cốc
tuỳ theo phương tiện .
2)Sáng mai 8 đến 9 giờ khất thực theo
đường dài hoặc nơi xóm làng thành thị.
3)Giờ trưa 11 đến 12 giờ độ cơm
4)Chiều 3 đến 4 giờ thuyết pháp.
5)6 đến 7 giờ thiền định.
6)12giờ đến 1 giờ khuya thiền định.
Du tăng khất thực bước đầu hành đạo tại các tỉnh miền tây từ Mỹ Tho
trở ra phất phới bóng huỳnh y buổi sáng đã làm
cho dân chúng có một sự kính trọng muốn hộ trì,
từ đó mối đạo cũng được mở mang. Lần lên miền
Đông nơi mảnh đất phồn hoa đô hội của sài gòn,
hệ phái Khất Sĩ có mặt ở Miền Trung, nơi mảnh
đất khô khan khổ cực nhưng đoàn du tăng của Ngài
đã thổi vào nơi này một luồng sinh khí mới đem
ánh sáng của đạo giải thoát đến cho mọi người,
thay đổi được cuộc đời của người dân nơi này
biết quy y tam bảo biết bố thí cúng dường, biết
trì trai giữ giới, dần dần ĐPKSVN đã trở thành
chỗ nương tựa tinh thần vững chắc cho đa số
người dân nơi này.
Ngày nay Miền Trung là nơi vẫn tiếp nối truyền thống này giáo
hoá độ sanh, Miền Tây, Miền Đông bảo tồn truyền
thống của chư Phật 3 đời, quyết không để cho mọi
thành phần khác lợi dụng hình thức y bát
để làm mất đi niềm tin vào tam Bảo của tín đồ,
đã đổi phương cách giáo hoá nhưng đã đem lại
lòng tín ngưỡng, sự tôn kính của Phật Tử vaò hệ
phái.
Cơm áo gạo tiền là huyết mạch nuôi sống con người nếu
không thì cuộc sống không được duy trì nhưng
người khất sỉ không duy trì mạng sống bằng con
đường giết hại đến vạn vật chúng sanh, chỉ xin ở
lòng từ hoà rộng mở quý đạo chơn chánh mà cúng
dường tịnh vật chay lạc để nuôi thân này. Aáy
vậy tiếng chay lạc là sự trong sạch hiền lành để
trau tâm hay cũng vì tâm đã hiền lành trong sạch
mà đã ăn như vậy, chứ không thể nuôi sống bằng
cách ác hay cấu trược được. Nên gọi rằng miếng
ăn của tâm chay, hay miếng ăn chay là của tâm
trong sạch hiền lành [336 – 13]
Từ ngày quyết chí lập tu theo hạnh xưa của phật Ngài thực hành
pháp hạnh khất thực không nhà cửa không bếp lửa
du hoá ta bà nhận cơm từ lòng tịnh tín trong
sạch mà nuôi thân chớ không nhận thức ăn bất
tịnh vì miếng ăn mà người khóc người than miếng
ăn mà người thù người oan, ăn đầu ăn sọ người
ta, ăn óc ăn tủy người ta, ăn phá hại nhà cửa ăn
xác thân quần áo của người ta, miếng ăn độc ác
bất nhân ăn thịt chúng sanh vô nhân phi nhân có
đâu là phải lẽ cho loài người, mà sao chúng ta
lại không chừa bỏ ? ăn là để sống thì ăn thiện
mới sống yên, chứ ăn ác độc thì làm sao mà sống
được, quên cái gì cũng được chớ cái tội ác của
chúng ta sao lại đi nỡ quên, mà hại người mãi
mãi [13 – 352]
Thức ăn thanh tịnh trong sạch làm cho lòng mình nhẹ nhàng
tâm trí yên ổn bình tỉnh không vọng động
không nóng nảy máu huyết điều hoà cơ thể khoẻ
mạnh khiến cho tinh thần minh mẫn sáng suốt là
nền tảng cho sự phát triển thiền định, quán
chiếu soi rọi tâm linh, quán chiếu hơi thở, điều
chỉnh thân tâm đạt đến thân an tâm lạc tháo gỡ
mọi vướng mắc kiến chấp, xã niệm lạc trú thành
tựu quả vị vô ưu đó là nấc thang cuối cùng
cho người xuất gia đứng trên mảnh đất thân chứng
đạo quả.
3.3Tu tập, nhiếp phục ba nghiệp thân khẩu ý .
Niềm hạnh phúc và nỗi khổ đau của nhân loại trên thế gian này
đều xuất phát từ chỗ biết và không biết và không
biết nhiếp phục thân khẩu ý. Chính vì vậy giới
luật của Đức Phật ra đời chỉ cho nhân loại thấy
được nguyên nhân của khổ đau và phương pháp đi
đến an lạc giải thoát khổ đau, trong Trưỡng Lão
Tăng, Trưỡng Lão Ni kệ và tiểu bộ kinh ghi rằng:
Đức Phật đã dạy các vị Tăng, Ni bằng nhiều cách
khác nhau để giúp các vị đoạn trừ lậu
hoặc. Sư việc này nói lên ý nghĩa của giáo dục
cá nhân: Mỗi người có một nghiệp riêng, như thế
họ cần có cách riêng để xoá bỏ nghiệp ấy. Nói
khác đi mỗi cá nhân suy nghĩ với khối óc của
mình và đi với đôi chân của mình, Đức Phật đòi
hỏi con người không tuỳ thuộc vào Ngài hay vào
một quyền năng nào ở
bên ngoài Ngài dạy: “Hãy tự mình là chủ tể của mình, ai khác có thể là
chủ thể ? với sự tự điều phục, con người tìm
thấy đấng chủ tể khó có” [160 – 3]
Trong Luật Nghi Khất Sĩ Sư Tổ cũng có phương pháp cho Tăng Ni
tu tập nhiếp phục ba nghiệp ở điều, 37, 39, 40,
41, 42, 43, 44 như sau: Cấm nói chuyện người,
cấm nói xiên xỏ qua lại, cấm nói phạm thượng,
cấm cải cọ lớn tiếng, cấm vô lễ bất kỉnh
với bậc bề trên, cấm nói lời thô lổ cọc cằn, cấm
nói lời vô ích với Sư Trưỡng. Ý căn rất quan
trọng và vô cùng vi tế thân khẩu là tướng thô có
thể nhìn thấy, có thể nhiếp phục còn ý nghiệp
được ẩn tàng trong tiềm thức, trong suy nghĩ
khó có thể ngăn chặn từ ban đầu nếu tự hành giả
không chịu nhiếp phục vì thế Sư Tổ đã có những
điều luật để ngăn ngừa cho ý không phát sanh.
Ở điều 32 cấm cố ý muốn đòi hỏi kêu xin sái luật, điều 64 cấm viết
giấy thư từ mà nói chuyện hoặc gởi cho người
thân quen biết mà không xin phép, điều 70 cấm
người xuất gia mà còn tham lam sân giận si mê,
điều 74 cấm đem lòng phiền giận khi có ai chỉ
dùm chổ lỗi, điều 86 cấm cố ý bất hoà và sau mỗi
việc không hoà, điều 88 cấm Tăng Sư khinh bỉ ra
lệnh thị nạc Ni Cô, điều 90 cấm Tăng Sư kêu đòi
Ni Cô đến riêng nói chuyện, và điều 113 cấm hay
kiếm chuyện này chuyện kia làm phiền trong giáo
hội.
3.4Thiền định – quán chiếu, sổ tức quán : đạt đến thân chứng
Định là chánh, Thể của định là vũ trụ bao la vô cực ,
Tướng của định là chơn như không vọng động Dụng