CÁI ĐẸP CỦA PHẬT GIÁO TRONG THỜI LÝ TRẦN
Thích Nữ Hạnh Thuận
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nói đến Phật giáo chúng
ta không thể không nói đến Phật giáo thời Lý –
Trần. Đây là thời kỳ mà có thể cho là cục thịnh
nhất trong quá trình Phật giáo tồn tại ở Việt
Nam. Song song với sự phát triển của Phật giáo
thời bấy giờ, nền văn học Việt Nam cũng được
khơi nguồn từ đó.
Toàn bộ những tác phẩm
văn thơ Lý – Trần đều toát lên một sự giải thoát
tự tại, chứa đựng những triết lý sâu xa nhưng
rất gần gũi với con người. Bằng những việc làm,
sự nhập thể tích cực của các vị thiền sư, các
vua quan là những Phật tử thuần thành đã đưa văn
thơ Lý – Trần vào lòng dân tộc. Qua những bài
thơ chúng ta thấy chính phong cách sống của quý
ngài đã tạo nên cái đẹp của Phật giáo với tinh
thần “nhập thế mà không trụ thế”. Bằng tư tưởng
bình đẳng, vô ngã, vị tha các vị đã góp nhặt và
thể hiện qua những áng văn thơ tuyệt đẹp. Ngoài
ra các ngài đã biết kết hợp chọn lọc và dung hoà
các hệ tư tưởng với nhau, tìm tòi những cái
riêng để tạo thành một cái chung cho dân tộc.
Đây chính là nét độc đáo mà chúng ta có thể tìm
thấy ở thời đại Lý – Trần mà không thể tìm thấy
ở một thời đại náo khác.
Đọc những tác phẩm văn
thơ Lý – Trần chúng ta cảm thấy có một cáo gì đó
rất thâm thuý nhưng cũng rất nhẹ nhàng. Tìm lại
nét đẹp trong thơ Lý – Trần chính là tìm lại
phong cách sống của các thiền sư, cái đẹp đó thể
hiện qua những bài thơ, những bài văn đã đi sâu
vào lòng dân tộc và đó cũng chính là lý do vì
sao người viết chọn đề tài này.
Nhưng vì kiến thức người
viết còn hạn hẹp cho nên không sao tránh khỏi
những sai sót trong khi viết, dù đã hết sức cố
gắng. Người viết mong được quý vị hoan hỷ và chỉ
bảo thêm.
2. Phương thức nghiên
cứu
Đây là một đề tài khá
rộng và nội dung chủ yếu là nói về cái đẹp của
Phật giáo qua những tác phẩm văn thơ Lý – Trần.
Cho nên khi viết người viết chỉ chú trọng đến
những tài liệu có liên quan đến cái đẹp. Tuy
nhiên cái đẹp đó đều được thể hiện qua các hành
động, phong cách sống của các vị Thiền sư, các
vị Vua thời Lý – Trần. Cho nên khi viết người
viết cũng có khái quát một đôi nét về tiểu sử
của các vị Vua và lịch sử đất nước Việt Nam
trong thời Lý – Trần. Tất cả những tài liệu mà
người viết sử dụng đều, không ngoài những phạm
vi những tác phẩm liên quan đến thời Lý – Trần.
3. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài “Cái đẹp của
Phật giáo trong thời Lý – Trần”. Cho nên người
viết trình bày nội dung gồm ba chương :
Chương I : Quá trình du
nhập của Phật giáo Việt Nam từ đầu Công nguyên
đến thế kỷ 14.
Chương II : Những nét
đẹp của Phật giáo Việt Nam được khơi nguồn qua
văn thơ Lý – Trần.
Chương III : Phật giáo
Lý – Trần với tinh thần dung hoà các hệ tư
tưởng.
Tuy nhiên vì đề tài có
liên quan đến cái đẹp cho nên người viết chỉ chú
trọng nhiều đến chương II và III. Đó là nội dung
chính của đề tài.
4. Ý nghĩa mục đích và
tính thực tiễn :
Cái đẹp luôn là mục tiêu
hướng tới của con người. Trong cuộc sống cái đẹp
của con người không phải là những hình thức bên
ngoài, mà cốt yếu là ở nhân cách đạo đức. Tuy
nhiên những cái đó rồi cũng mất dần thưo thời
gian. Với Phật giáo cái đẹp ở đây là sự trường
tồn, vĩnh cửu. Cho nên đề tài này có một ý nghĩa
rất thiết thực cho cuộc sống, bởi chính có những
cái đẹp được xây dựng trên tinh thần bình đẳng,
lợi tha, vô ngã … là cái đẹp vĩnh cửu nhất.
Khi viết đề tài này
người viết không ngoài mục đích là muốn khơi
nguồn lại một thời vàng son của Phật giáo Việt
Nam trong thời đại Lý – Trần và đồng thời giúp
người viết hiểu rõ hơn vè tư tưởng của các vị
Thiền sư. Qua những phong cách, những tư tưởng
đó cũng là lợi ích phần nào cho cuộc sống tu
tập.
DẪN NHẬP
Theo dòng thời gian
người Việt nam chúng ta càng ngày càng nhận thức
thấu đáo hơn về giá trị của văn hoá Phật giáo
trong nền văn hoá chung của dân tộc. Muốn hiểu
sâu về văn hoá dân tộc không thể không hiểu sâu
về văn hoá Phật giáo. Trong văn hoá Phật giáo có
văn học Phật giáo. Văn học Phật giáo là một bộ
phận cấu thành văn học Phật giáo dân tộc.
Phật giáo Việt nam
trãiqua nhiều biến thiên lịch sử, tồn tại trong
một quốc gia chịu nhiều tang tóc chinh chiến,
nhưng vẫn có những nét đặc thù riêng lẽ từ kiến
trúc hội hoạ, điêu khắc, nghệ thuật, văn chương
cho đến những câu hò điệu lý… đều xuất phát từ
tinh hoa Phật giáo. Đạo Phật đi vào lòng người ở
thời Lý Trần bằng tất cả sự nghiệp, tư tưởng,
lời nói, hành động của các vị Vua, Thiền sư.g
thời đại ấy đèu thấm nhuần giáo lý Phật giáo nên
họ đã hình thành một cuộc sống tốt đẹp đưa đ ất
nước đến đỉnh cao của sự phồn vinh, hạnh phúc.
Tuy nhiên lật lại những trang sử của những ngày
ấy chúng ta cũng thấy được lịch sử đất nước Việt
nam được hình thành như thế nào.
Lịch sử của Việt nam là
lịch sử của chiến tranh dựng nước và giữ nước.
Đó hẳn là tiếp nối của những tráng ca và bi ca.
Trên cơ sở văn minh sông Hồng và nền văn hoá
Đông Sơn, một nhà nước Việt nam được hình thành
trong phôi thai. Nhưng lịch sử Việt nam không
được viết lên trang đầu bằng sự phát triển kinh
tế mà trang đầu của nósớm vẽ lên những gươm đao
chống quân xâm lược nhà Hán, Trung Hoa. Kể từ
đó đất nước Việt Nam phải chịu ách đô hộ hàng
ngàn năm trải qua không biết bao nhiêu đau
thương tang tóc. Nhưng cũng từ mảnh đất hoang
tàn ấy dân tộc Đại Việt đã khôi phục mạnh mẽ,
hồi sinh những tiềm năng , làm thay đổi bộ mặt
đất nước. Một mặt khôi phục những giá trị tinh
thần truyền thống, mặt khác đón nhận những tinh
hoa, văn hoá nước ngoài, chuyển hoá nó, dung hoà
với cái vốn có của mình để làm thành một nền văn
hoá phong phú, đa dạng có bản sắc góp phần thúc
đẩy sự phát triển đất nước ngày một đi lên.
Đã qua rồi những giông
tố bão bùng, bầu trời lại trong xanh hơn. Đất
nước chúng ta đang chuyển mình vào thiên niên
kỷ mới, nhưng không vì thế mà chúng ta bỏ qua đi
thời đại vàng son .Và hơn bao giờ hết chúng ta
cần làm sống lại những dòng văn học cổ – Trung
đại, nền văn học Lý- Trần khơi lại một thời đại
Phật giáo thịnh hành.
Phật giáo Việt Nam qua
những tác phẩm thơ Lý- Trần đã tự hoàn thiện
.Thời đại mà con người và văn chương hợp thành
một. Xã hội đương đại và con người thời Lý- Trần
hoà quyện vào nhau. Thơ văn là quan điểm, là
hiện thân của nhân dân. Điều đáng nói nói ở đây
là Phật giáo là quốc giáo đã ho nhập vào lòng
dân tộc , đưa đất nước song song với đạo Phật đi
lên .
Để vượt qua những tín
ngưỡng thần bí siêu nhiên , những nhà Vua Thiền
Sư đã tiếp nhận và đemnhững điều hay, ý đẹp vun
đắp cho thực tại làm tăng thêm sức mạnh ý thức
đối lập tự lực, tự cường của dân tộc, đồng thời
giúp chúng sự đóng góp của Phật giáo đối với
việc xây dựng và phát triển đất nước.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : QUÁ TRÌNH DU
NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
1.1 Quá trình du nhập và
phát triển của Phật giáo Việt Nam từ đầu Công
nguyên đến thế kỷ thứ XIV.
Đạo Phật từ Aán Độ du
nhập vào Việt Nam từ rất sớm, vào khoảng thế kỷ
thứ II. Trong những năm đầu của Công nguyên các
thương nhân hàng hải ở Aán Độ qua miền Viễn Đông
để mua hàng hoá, gỗ, trầm hương, vàng... Đạo
Phật đã theo những đoàn khách buôn bằng đường
thuỷ băng qua Srilanka, Java, Indonesia, Aán Độ
và Trung Hoa. Ngay từ khi mới du nhập đạo Phật
đã được người Việt Nam đĩn nhận và trở thành một
nền văn hĩa đặc sắc của dân tộc.
Trong suốt hơn hai mươi
ngàn năm đất nước chúng ta chịu biết bao thống
khổ vớí bao đổi thay thăng trầm, nhưng đạo Phật
không vì vậy mà thay đổi. Luôn đồng cam cộng khổ
vớí vận mệnh thăng trầm của đất nước, vớí công
cuộc chống ngoại xâm cũng như sự nghiệp dựng
nước và giữ nước, mở mang bờ cõi. Trong mọi hoàn
cảnh nào Phật giáo luôn luôn có mặt trong sức
sống của nền văn hoá cũng như trong công cuộc
chống xâm lăng.
Về quá trình du nhập và
phát triển của Phật giáo từ đầu cơng nguyên đến
thế kỷ thứ XIV chúng ta cĩ thể khái quát qua các
giai đoạn sau:
Giai đoạn I: Từ giữa thế
kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III.
Có thể nói ở
giai đoạn này sự du nhập của Phật giáo như một
tôn giáo, mở ra hai con đường là Thiền tông và
Tịnh độ tông.
Giai đoạn II :Từ thế kỷ
thế VI đến thế kỷ thứ X
Đây là thời kỳ Phật giáo
đặt nền móng xây dựng và phát triển. Với hai
thiền phái chính là Tỳ Ni Đa Lưu Chi vàVô Ngôn
Thông đã khẳng định sự hiện hữu của Phật giáo
như là một tôn giáo không thể thiếu trong lòng
dân tộc. Phật giáo đưa con người hướng đến một
đời sống tâm linh thánh thiền , biết phân biệt
thiện , ác.
Giai đoạn III : Từ cuối
thế kỷ thứ X đến cuối thế kỷXIV( tức cuối đời
Trần)
Đây là thời kỳ
Phật giáo phát triển cực thịnh. Trong giai đoạn
này có thể xem Phật giáo như là một quốc giáo
của dân tộc Việt nam .Điểm đặc biệt của giai
đoạn này là sự thống nhất của các thiền phái và
lập nên các phái Thiền ở Trúc Lâm và Yên Tử. Với
sự nhiệt thành của Trần Thái Tơng và Tuệ Trung
Thượng Sỹ , khai sơn đệ nhất tổ là Thiền sư Hiện
Quang và tổ thứ hai là Thiền sư Viên Chứng hiệu
Trúc Lâm là vị thầy của vua Trần Nhân Tơng được
vua tơn xưng là Quốc Sư.
Đạo Phật có thể nói là
một tôn giáo rất dễ gần gũi, luôn uyển chuyển
trong mọi thời đại, mọi tình huống. Thế cho nên
các Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi , Vô Ngôn Thông
dù có mang màu sắc Phật giáo của Aán Độ hay
Trung Hoa ưng khi vào Việt Nam thì nhanh chóng
thể nhập, dung hoà gần gũi với đời sống dân tộc.
Đó cũng chính là đặc điểm nổi bật của Phật giáo
trong suốt quá trình du nhập v phát triển.Trần :
Nhờ sự phát
triển của mười thế kỷ trước, nên khi đất nước
được độc lập, Phật giáo Việt nam càng có điều
kiện phát triển mạnh mẽ hơn. Phật giáo lúc này
không chỉ ảnh hưởng lớn trong đời sống tâm linh,
đời sống văn hoá của dân tộc mà còn chi phối đến
chính trị, xã hội… Phật giáo có lúc chiếm vị trí
độc tôn ở các triều đại Ngô, Đinh, Tiền, Lê, Lý
và đầu đời Trần, và có lúc được coi như là một
quốc giáo, các vị vua, quan và dân hầu hết là
những Phật tử thuần thành đều đến chùa quy y,
tụng kinh sống một đời sống có giơí luật cho nên
nhân dân thời đại này được coi là thời đại
thái bình nhất. Tất cả đều thể hiện được tinh
thần bình đẳng, tương thân tương ái. Chính những
cái này đã làm cho Phật giáo Việt Nam phát triển
mạnh mẽ hơn. Và những nhân cách cao đẹp , những
tấm lòng vị tha đó mà triều đại Lý- Trần đã trị
vì đất nước trong gần 400 năm
1.2.1 Phật giáo thời nhà
Lý
Sau khi
thoát khỏi ách đô hộ Bắc thuộc đất nước Việt Nam
được độc lập, tự chủ tiến bước trên con đường
phát triển xã hội. Vào triều đại nhà Lý(
1010-1225)xã hội Việt Nam tiến tới ổn định hoàn
toàn. Bộ máy nhà nước Trung ương tập quyền được
củng cố vững chắc. Bộ Luật Hình Thư đầu tiên
được viết thành văn hồn chỉnh. Nền kinh tế
nông, công thương nghiệp được phát triển. Cuộc
kháng chiến chống quân xâm lược nhà
Tống(1075-1077) thắng lợi vẻ vang.
Song song với bước tiến
xã hội, Nho giáo cố vươn lên, tác động vào hệ tư
tưởng và đời sống tinh thần của nhân dân, tranh
giành ảnh hưởng vớí Phật giáo nhất là những
thập ky ũcuối đời Lý. Nhưng vớí tài ba lỗi lạc
của các Thiền Sư, lòng kính tin Phật pháp của
triều đình, quan lại và quần chúng, Phật giáo
vẫn tiếp tục phát triển và chiếm lĩnh đỉnh cao
trong thời đại nhà Lý.
Lý Thái Tổ
(1010-1225)
Lý Thái Tổ
tên huý là Lý Công Uẩn, con nuôi của sư Lý
Khánh Vân chùa Cổ Pháp. Thuở nhỏ thọ giáo với
Thiền sư Vạn Hạnh, lớn lên theo Thiền sư vào
Hoa Lư làm quan dưới triều Lê được giữ chức “ Tả
thân vệ điền tiền chỉ huy sứ “. Trị vì triều đại
này bấy giờ là vua Lê Long Đỉnh (Lê Ngoạ Triều)
nhưng vì vị vua này ăn chơi trác táng, hoang dâm
vô độ, suốt ngày chỉ lo hưởng những dục lạc
trong cung mà không lo đến đời sống dân chúng,
cho nên khi Lê Ngoạ Triều băng hà Lý Công Uẩn
được quan đại thần Đào Cam Mộc cùng với Thiền Sư
Vạn Hạnh suy tôn làm Hoàng đế lấy hiệu là Lý
Thái Tổ niên hiệu Thuận Thiên (1010) đóng đô ở
Thăng Long ( Hà Nội) . Xuất thân ở chốn thiền
môn và được sự huấn dục của Thiền Sư Vạn Hạnh
nên vua Lý Thái Tổ hết lòng sùng kính Phật
giáo.
Năm Thuận Thiên thứ 15
(1024) nhà vua tổ chức giảng dạy Phật pháp ngay
trong nội thành để tiện việc cho dân chúng lui
tớí nghe pháp và vua đã thỉnh Thiền Sư Vạn Hạnh
làm Quốc sư, suy tôn Phật giáo là quốc giáo.
Cũng trong giai đoạn này các Thiền Sư thuộc hai
thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông đã
thực sự dấn thân vào các lĩnh vực như kinh tế,
chính trị… đế góp phần xây dựng đất nước ngày
một phát triển.
Qua những sự kiện trên
chúng ta thấy rằng Phật giáo trong thời Lý rất
thịnh, trải qua 215 năm trị vì với tám đời vua,
triều đại Lý đã chỉnh đốn lại Phật giáo, xây
dựng rất nhiều chùa chiền, đóng một vai trò quan
trọng trong công cuộc xây dựng đạo pháp dân tộc.
Phật giáo đã chiếm vị trí độc tôn. Các lĩnh vực
văn hóa, học thuật, chính trị lúc bấy giờ đều
nằm trong Phật giáo.
1. 2.2 Phật giáo thời
nhà Trần (1226-1400 )
Vào đầu thế kỷ XIII, ba
thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và
Thảo Đường dần dần sát nhập thành một, do ảnh
hưởng lớn của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng
Sĩ đã đưa đến sự phát triển của Thiền phái Trúc
Lâm ở núi Yên Tử là thiền phái duy nhất của đời
Trần. Thời Trần được coi là Phật giáo Nhất Tông
tức là thời đại của một “ Phật Giáo Duy Nhất”.
Tông phái này xuất phát từ núi Yên Tử mà vị tổ
khai sơn là Thiền Sư Hiện Quang, Thiền Sư Viên
Chứng hiệu Trúc Lâm Thầy của Trần Thái Tông là
vị tổ thứ hai của phái Yên Tử được vua tôn xưng
là Quốc sư.
Trần Thái Tông
(1218-1277)
Trần Thái
Tông tên thật là Trần Cảnh, chồng Chiêu Thánh (
tức Lý Chiêu Hoàng), lên ngôi năm 8 tuổi lấy
hiệu là Trần Thánh Tông là vị khai sáng đời
Trần, vì còn nhỏ tuổi nên mọi việc đều do Trần
Thủ Độ đảm trách.
Năm 1327 khi Thái Tông
20 tuổi, Hoàng hậu Chiêu Thánh mớí 19 tuổi cả
hai chưa có con để nối dõi. Trần Thái Tông bị ép
bỏ Chiêu Thánh để lấy Thuận Thiên vợ của anh là
Trần Liễu( Thuận Thiên lúc đó đang mang thai)
lập Thuận Thiên làm Hoàng hậu để sau vài tháng
Thái Tông sẽ có con để nối dõi, vì bị ép bỏ
người yêu để lấy chị dâu, không hợp đạo lý Trần
Thái Tông buồn nản khổ đau cho nên vào lúc 10
giờ đêm mồng ba tháng tư năm Bính Thân vua trốn
lên núi Yên Tử.
Khi đến chùa Hoa Yên,
Vua vào báo yết Đại Sa Môn Trúc Lâm, với vẻ ung
dung mừng rỡ Đại Sa Môn nói với Trần Thái Tông :
“Lão tăng ở chốn sơn lâm lâu ngày, xương cứng
mắt gầy, ăn rau răm , nhai hạt dẻ, uống nước
suối, quen vui với cảnh núi rừng, lòng nhẹ như
đám mây nổi theo gió mà đến đây. Nay bệ hạ bỏ
địa vị nghĩ đến cảnh quê mùa, nuí rừng hẳn là
muốn tìm cầu gì mới khổ công đến đây ? “
Trần Thái Tông cảm động
nước mắt trào dâng, thưa : ”Trẫm còn thơ ấu đã
mất cha mẹ, chơ vơ đứng trên sĩ dân, không nơi
nương tựa. Trẫm thấy sự nghiệp đế vương đời
trứơc phế hưng không thường. Vì thế Trẫm vượt
suối , băng ngàn đến đâychẳng cầu gì khác, chỉ
muốn cầu thành Phật.”
Đại Sa Môn Trúc Lâm đáp
:
“Trong núi
vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm
vắng lặng, trí tuệ xuất hiện chính đó là Phật.
Nếu Bệ hạ giác ngộ được tâm đức khắc thành Phật
tại chỗ, chẳng cần khổ công tìm cầu bên ngoài.”
Trần Thủ Độ hay tin Thái
Tông đã lên núi Yên Tử đã đích thân dẫn các quan
và xa giáđi đón Vua về Kinh đô. Vua Thái Tông
nói: ‘Trẫm còn nhỏ tuổi chưa kham nổi sơn hà, xã
tắc to lớn. Vì thế Trẫm không dám ở ngôi
vua.Thái sư hãy chọn người tài ba lỗi lạc để
thay thế hầu khỏi nhục xã tắc.” Năn nỉ vài ba
lần không được, Trần Thủ Độ liền bảo các quan
:”Hoàng thượng ở đâu lập triều đình ở đó.”
Nói xong Trần Thủ Độ
truyền lệnh xây cung điện trong nú i Yên Tử.
Thấy tình thế không ổn Đại Sa Môn tâu với vua:”
Xin bệ hạ h ãy về Kinh gấp, chớ ở lại làm hại
núi rừng lão tăng”
(Đại Việt sử ký toàn thư)
Đại Sa Môn Trúc Lâm
tiến đến cầm tay vua nói tiếp:
“Phàm làm
đấng quân nhân, phải lấy ý muốn thiên hạ làm ý
muốn mình và lấy tâm thiên hạ làm tâm mình. Nay
thiên hạ muốn bệ hạ về bệ hạ khơng về sao
được?Tuy nhiên ngồi chính trị , bệ hạ chớ quên
nghiên cứu nội điển và tham thiền”
Trong tình cảnh bắt
buộc, và theo lời khuyên của Đại Sa Môn, Trần
Thái Tông bất đắc dĩ phải trở về kinh đô và lại
lên ngôi báu. Nhưng ngoài việc trị quốc an dân
suốt mười năm, khi nhàn rỗi Vua thưởng tập họp
các bậc kỳ đức tham khảo Thiền học. Nhà vua luôn
luôn nghiên cứu các kinh điển Phật giáo thuộc
các hệ phái chính, nhà vua còn tham học với các
thiền sư Tức Lư, Ứng Thuận , Đại Đăng và Thiên
Phong. Vua đã lập viện Tả Nhai và mời Thiên
Phong đến để tham vấn đạo Thiền. Vì thế Vua
chịu ảnh hưởng thiền Lâm Tế rất đậm.
CHƯƠNG 2
NHỮNG NÉT ĐẸP CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM ĐƯỢC
KHƠI NGUỒN QUA VĂN THƠ LÝ-TRẦN
2.1 Tinh thần nhập thế
của các vị Thiền Sư thời Lý –Trần
Có thể nói
tinh thần của các vị Thiền sư trong thời Lý
–Trần là một hành động tích cực . Nhập thế mà
không trụ thế. Hình ảnh con người có thể dung
nạp được mình để hòa đồng và vuii vẻ suốt ngày
với thiên nhiên là hình ảnh con người mang khát
vọng hòa nhập và chế ngự thiên nhiên được thể
hiện qua lời thơ thoát phàm bay bổng:”còn một
tiếng kêu vang, lạnh cả trời” . Có thể là một
tiếng reo của một người chứng ngộ, thoát khỏi
cảnh giới trần thế. Cái kêu vang lạnh ấy phải
chăng là tiếng kêu sảng khoái của một tâm hồn
khoáng đạt với tư tưởng phá chấp triệt để và với
một tinh thần thoái mái tột cùng, chứ không phải
là một người suốt ngày cứ câu nệ vaò tín điều
một cách cứng ngắc, khô khan. Tiếng kêu đó chính
là sự trực cảm tâm linh, là trạng thái chứng ngộ
của các Thiền sư. Sự nhập thế tích cực của các
Thiền sư thời Lý – Trần đã đưa Phật giáo đến
đỉnh cao của sự phồn vinh.
Các nhà sư là những
Thiền Sư đã chiếm một vị trí quan trọng trên
chính trường và trên nhiều lĩnh vực khác. Nền
văn học Việt Nam trong giai đoạn này là những
kho tàng quý báu. Những áng văn thơ của các
Thiền sư đã mở ra một cách nhìn mới mẻ, một
không khí lạc quan , yêu đời.
Những áng văn, thơ của
các Thiền Sư đã mang đầy chất liệu sống, bởi các
Ngài đã hiện hữu trong cuộc sống bằng tuệ đúc và
trả về cho chính bản thân cuộc sống bằng sự từ
bi. Thơ văn của các vị Thiền Sư mang chất liệu
Phật hoá đã len lõi và thấm sâu vào tâm thức của
đông đảo quần chúng nhân dân. Phong cách của các
Ngài luôn thể hiện bằng sự ung dung, tự tại. Vì
thế nên những áng văn của các Ngài rất sinh động
nội dung phong phú bao gồm nhiều lĩnh vực khác
nhau
2.1.1 Tự lợi
Thông thường chúng ta
hiểu tự lợi chỉ mang tính cách cá nhân, mang lại
lợi ích cho chính bản thân mình. Tuy nhiên ý
nghĩa tự lợi của các vị Thiền sư không phải dừng
lại ở nghĩa hẹp như vậy, mà điều muốn nói ở đây
chính là sự ngộ nhận chân lý của các Ngài. Các
Ngài đã nhận chân được sự vật một cách rốt ráo,
nhận rõ chân tướng sự vật bằng thể tánh tịch
tịnh vắng lặng. Các nhà sư, vua chúa, thần dân
lúc bấy giờ đều thấm nhuần giáo lý nhà Phật cho
nên khi đối cảnh thì vẫn sanh tình, nhưng tình ở
đây không phải là những tình cảm tầm thường mà
là cái đẹp cái hay mang tính thoát tục. Trần
Nhân Tông khi viếng cảnh Thiên Trường vào một
buổi hoàng hôn đã thốt lên:
Thôn hậu thôn tiền đạm tợ yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lý ngưu quy tận
Bạch lộ song song phi hạ điền
Dịch nghĩa:
Thôn trước thôn
sau tựa khói hồng
Bóng chiều như
có lại như không
Mục đồng thổi
sáo trâu về hết
Cò trắng từng
đôi liệng xuống đồng.
(TVLT- Tập 2- 464)
Với cái nhìn bằng đôi
mắt của một bậc giác ngộ, các Thiền sư đã xem
cuộc đời vốn là như huyễn, cho nên đối với sự
còn mất của vạn vật trong vũ trụ cũng là thường
tình. Như Ngài Huyền Quang đã xem sự nở tàn của
hoa cúc khoe sắc cùng sương gió bao năm vẫn thế:
Vương thân vương
thế dĩ đô vương
Toạ cửu tiên
nhiên nhất tháp lương
Tuế vãn sơn
trung vô lịch nhật
Cúc hoa khai xứ
túc trùng dương
Dịch nghĩa:
Qưên mình quên hết
cuộc tang thương
Ngồi lặng đìu hiu mát cả giường
Năm cuối trong rừng không có lịch
Thấy hoa cúc nở biết trùng dương
(Trích Thiền Sư Việt Nam – 362-
HT Thanh Từ)
Và cứ như thế Ngài đã
sống an lạc trong núi rừng vắng vẻlàm bạn với
trăng sao và Ngài cũng đã đánh tiếng chuông cảnh
tĩnh cho những ai còn đắm chìm trong trong mộng
để rồi mãi chìm đắm trong sự khổ đau của cuộc
đời. Đối với các Ngài phú quývinh hoa chỉ là giả
danh như cây cỏ có rồi lại không
Phú quý phù vân trì vị đáo
Quan âm lưu thuỷ cấp tương thôi
Hà như tiểu ẩn lâm tuyền hạ
Nhất tháp tùng phong trà nhất bôi
Dịch nghĩa
Phú quý mây
bay tự nẻo xa
Tháng ngày nước
chảy vội vàng qua
Chi bằng vui thú lâm tuyền ẩn
Giường cỏ thông reo một chén trà
(TVLT- Tập 2- 697)
Cũng như bao người khác,
với vẻ ung dung, với đời sống tự tại Trần Nhân
Tông đã nhận thức được chân tướng các pháp, của
vạn hữu vũ trụ, thấy rõ bộ mặt thật của chính
mình tất cả đều không ngoài tự ngã của mình khởi
sanh Đối với những người phàm phu bình thường
thì sự sanh diệt luôn làm cho mình lo âu sợ hãi,
cứ như thế tâm trạng khát khao lo lắng ấy cứ mãi
nung nấu trong tâm trí và theo họ mãi mãi. Nhưng
với các vị Thiền Sư thì không như vậy, hôm nay
và ngày mai chỉ là một hiện tiền sanh khởi, con
người sống hay chết đều có nguyên lý nhất định.
Thiền Sư Chân Không thì cho rằng
Xuân lai xuân khứ nghi xuân tận
Hoa lạc, hoa khai chỉ thị xuân
Dịch nghĩa:
Xuân đến xuân đi ngỡ xuân tàn
Hoa dù nở rụng tiết xuân vẫn là
(TVLT- Tập 1- 697)
Ngài Mãn Giác Thiền Sư
cũng biến cuộc đòi thành mùa xuân vĩnh cửu, vẫn
thấy xuân đến trăm hoa đua nở, xuân đi thì muôn
hoa đều rụng, nhưng thể tánh của hoa vẫn không
thay đổi. Hoa ở đây chỉ là cái tướng bên ngoài
vì thể tánh còn nên hoa vẫn nở, mặc dù tịch diệt
nhưng thể tánh chơn như vẫn còn:
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai
( Cáo tật
thị chúng- Mãn Giác Thiền Sư)
Thật vậy chân
lý chẳng ở đâu xa mà luôn hiện hữu trong cuộc
sống hiện tại, chân lý chỉ có một mà đường đi
đến chân lý thì muôn vạn nẽo. Nếu biết tĩnh giác
và lắng sâu thì chân lý hiển lộ như một vầng
trăng sáng, hiện hữu lấp lánh trên mặt nước
trong xanh yên tĩnh. Chân lý được thật sự hiển
bày chỉ khi nào chúng ta nhận chân được các pháp
một cách như thật.
Có thể nói tư tưởng của
các vị Thiền Sư trong thời Lý Trần là những tư
tưởng độc đáo. Các Ngài đã tự kiềm chế mình và
vượt ra ngoài lợi danh, tài sắc để hoà nhập vào
cuộc sống bằng hành động mang lợi ích đến cho
mọi người. Cho nên với Trần Thái Tông xem nhẹ
ngai vàng chỉ như một chiếc giày cỏ có thể vứt
bỏ khi nàocũng được, với Trần Nhân Tông cũng thế
Cư tràn lạc đạo thả tuỳ duyên
Cơ tắc sang hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh chi tâm mạc vấn Thiền
Dịch nghĩa
Ở đời vui đạo mặc tuỳ duyên
Hễ đói thì ăn mệt ngủ liền
Trong nhà sẵn ngọc tìm đâu nữa
Đối cảnh vô tâm hỏi chi thiền.
(TVLT- Tập 2- 504)
Ngay giữa chợ
đời mà tuỳ duyên đói ăn, mệt ngủ. Nguồn sống đó
chính là chân lý đích thực của cuộc sống chân
thặt. Phải chăng sự hiện hữu của những con người
mang tính tự giác siêu việt sẽ làm cho cuộc đời
tươi đẹp thêm và muôn loài được hạnh phúc hơn.
Đó chính là một trong những nét đẹp của Phật
giáo qua thơ văn Lý- Trần.
2.1.2 Lợi tha
Như chúng ta đã biết Đức
Phật ra đời với mục đích mang đến cho nhân loại
nièm an lạc , hạnh phúc .Vậy cho nên nhiệm vụ
của những người con Phật là thay Phật dẫn dắt ,
giáo hĩa chúng sanh đạt đến cuộc sống an vui,
giải thốt sau khi Ngài diệt độ.
Thế cho nên hành trang
của những người con Phật ở đây chính là trí tuệ
và từ bi. Với trí tuệ làm sự nghiệp những người
con Phật có thể lên đường đi đến bất cứ nơi nào.
Các Thiền sư trong thời Lý –Trần là tiêu biểu
cho những con người như vậy
Chính nhờ có trí tuệ
siêu việt như vậy mà các Thiền sư đã quán triệt
một cách thấu đáo những lời Đức Phật dạy để áp
dụng trong công việc trị nước an dân. Có thể nói
rằng trong suốt mấy trăm năm trị vì đất nước cả
hai triều đại này đã dùng phương pháp đức trị.
Phải chăng chính phưong pháp ấy đã nói lên sự
bền vững của hai triều đại
Phải nói rằng nhân dân
dươí hai triều đại này rất thái bình an lạc. Vơí
một tâm niệm là đem lại niềm vuicho muôn dân,
đặt vận mệnh đất nước lên hàng đầu, lấy ý dân
làm ý chung. Chính sự xả bỏ tự ngã đó cho nên
đất nước luôn sống trong cảnh giới hoà bình. Các
Ngài hiểu rõ nếu lấy đúc trị dân thì sẽ giải
phóng được ý tưởng phân biệt giai cấp, xoá bỏ
những thành kiến và tạo được một lối sống bình
đẳng trong xã hội.
Nhưng không dừng lại ở
việc trị nước an dân, các Thiền sư còn thể hiện
sự giải thoát của mình qua những vần thơ trong
sáng nhẹ nhàng tự tại. Một lần khi đưa sứ nhà
Tống sang sông lúc ngồi trên thuyền Lý Giác thấy
hai con ngỗng bơi liền cảm hứng ngâm:
Nga nga lưỡng nga nga
Ngưỡng diện hướng thiên nga
Dịch nghĩa :
Song song ngỗng một đôi
Ngữa mặt ngó lên trời
Lúc đó nhà Sư Đỗ Pháp
Thuận làm người chèo đò liền ứng khẩu
Bạch mai phô đầu thuỷ
Hồng trạo bãi thanh ba
Dịch nghĩa :
Lông trắng phơi dòng biếc
Sóng xanh chân hồng bơi
( TVLT- Tập
1- 202)
Chính sự thông thái văn
chương ấy đã làm cho sứ nhà Tống thán phục, qua
đó chúng ta cũng thấy rằng sự dấn thân đích thực
của các nhà sư vào cuộc sống nhưng mà không bị
cuộc đời ràng buộc. Trong thời đại Lý – Trần
Phật giáo đã gắn liền với sự thăng trầm nhục
vinh của đất nước. Sự đóng góp của Thiền sư Vạn
Hạnh dưới triều Lý đã thể hiện rõ truyền thống
yêu nước của Phật giáo Việt nam. Vua Lý Nhân
Tông đã khẳng định:
Vạn Hạnh dung tam tế
Chơn phù cổ sấm xưa
Hương quan danh cổ pháp
Trụ tích vấn vương kỳ
Dịch nghĩa :
Thiền
sư học rộng bao la
Giữ mình hợp pháp sấm ra ngoài lời
Quê hương Cổ pháp danh ngời
Tháp
bia đứng vững muôn đời Đế đô.
(Trích VNPG sử lược –121- HTMật Thể )
Cả cuộc đời
bảo vệ non sông đất nước Vạn Hạnh Thiền sư đã
cống hiến cho nền độc lập tự chủ của nước nhà.
Tư tưởng hành đạo của Ngài là phụng sự dân tộc
trong tinh thần từ bi và trí tuệ:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô
Dịch nghĩa :
Thân như ánh chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi thu não nùng
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi
Kia kìa ngọn cỏ giọt sương đông.
( VNPGsử lược- 121- HT Mật Thể)
Cầu giải thoát cho mình
nhưng các vị Thiền sư không bao giờ thờ ơ lãnh
đạm với xã hội. Thiền không chỉ suốt ngày bĩ gối
ngồi thiền ở chốn hang hiểm rừng sâu, mà ngay
trong cuộc đời này cũng đã thể hiện được phong
cách của quý Ngài.
Nhưng không chỉ dừng lại
ở các Thiền sư mà các vua quan hồi đó cũng đã đi
vào lòng dân một cách tận tình. Lý Thánh Tông
vào một năm trời rét lắm, bảo với các quan hầu
cận rằng: “ Trẫm ở trong cung ăn mặc như thế này
mà vẫn còn rét lắm, nghĩ những tù phải giam
trong ngục phải trói buộc, cơm không đủ ăn, áo
không đủ mặc, vả lại có người xét hỏi chưa xong,
gian ngay chưa rõ, lỡ rét quá mà chết thì thật
là thương lắm”( Việt nam Phật giáo sử lược- HT
Thích Mật Thể)
Nói rồi Ngài truyền lấy
chăn chiếu cho tù nhân nằm và cho ăn ngày hai
buổi đầy đủ.
Lại một hôm Thánh Tông
ra ngự ở điện Thiện Khánh xét án, lúc đó có Động
Thiên công chúa đứng hầu một bên. Ngài chỉ công
chúa mà bảo với các quan rằng “Lòng trẫm yêu dân
như yêu con trâm vậy, hiềm vì trăm họ ngu dại mà
làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm, vậy
từ nay về sau tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi (
Trích VNPGsử lược – Trần Trọng Kim)
Như trên đã nói mọi hành
vi, mọi ứng xử trong xã hội với mục đích là đem
lại cuộc sống an lạc cho muôn dân. Điều đó đã
thể hiện qua tinh thần nhập thế tích cực của các
nhà Sư và chính tinh thần đó đã thể hiện được
cái đẹp Phật giáo qua những tác phẩm văn thơ Lý
– Trần.
2.2 Nét đẹp
của Phật giáo được thể hiện qua các thi kệ của
những vị Thiền Sư
2.2.1 Ý nghĩa cái đẹp và
cái bi
Cái đẹp luôn gắn liền
với đời sống cá nhân vừa chịu ảnh hưởng sâu đậm
của văn hoá và sự phát triển của dân tộc. Cái
đẹp trong đời sống xã hội gắn bó chặt chẽvới cái
thiện về mặt đạo đức. Một hành động vô đạo đức
không thể gọi là đẹp. Trái lại một con người với
vẻ bên ngoài không đẹp nhưng cũng có thể coi là
một con người đẹp chân chính.
Thật ra thì sự hiện diện
của con người trên trái đất, trong cuộc sống đã
là một tác phẩm nghệ thuật tuỵêt đẹp rồi. Bởi
nếu không có con người aisẽ làm chủ trong cuộc
sống? Ai là người cảm thọ nghệ thuật? Ai là
người cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên? Cuộc
đời cần có những con người như vậy mới hưởng thụ
được hết những cái đẹp của sự sống.
Tuy nhiên theo quan điểm
của Phật giáo cái đẹp chỉ là những gì rất mong
manh. Đối vơí Phật giáo thì trước cái đẹp không
vui mừng hân hoan, trước cái bi không tỏ ra chán
nản.Con người vốn đã là đẹp rồi, đẹp cả tâm hồn
lẫn thể xác. Nhưng cái đẹp hoàn thiện nhất là
khi con người biết hoà quyện nhất là khi con
ngừơi biết hoà quyện giữa thể xác và tâm hồn vào
nhau.
Nhưng cuộc đời bao giờ
cũng vậy trong hạnh phúc luôn có mầm móng của sự
đau khổ. Cũng như giữa cái đẹp ấy vẫn có cái bi
ngự trị, nhưng cái bi ở đây không phải là bi
lụy, yến thế, không phải là những tấn bi kịch
của cuộc đời, cái bi ở đây thể hiện tư tưởng của
những cái đẹp.
Theo cái nhìn của Phật
giáo thì cái bi được thấy ở đây là “ khổ đế”.
Đây chính là một nét đặc sắc của Phật giáo, nó
vừa là một năng lực cảm nhận thể nghiệm tâm
linh, vừa là một năng lực tư tưởngvề sự giải
phóng nhân sinh. Thái tử Tất Đạt Đa tuy sống
trong cung vàng điện ngọc nhưng cũng đã cảm nhận
sự sa đoạ của chính tầng lớp thống trị. Chính
cái bi đó đã trở thành nghệ thuật chiến đấu cho
các phong trào. Nó đã phản ảnh được thực tại của
một xã hội tối tăm lúc bấy giờ. Không thể ngồi
nhìn cái bi phát triển, chúng ta phải chuyển
hoá, dung hoà cái bi ấy thành một tác phẩm nghệ
thuật tuyệt đẹp. Vì đằng sau cái ấy chính là
những cái gì đẹp đẽ nhất, cao thượng nhất. Có
như vậy mới đúng nghĩa với cái bi của Phật giáo.
2.2.2 Nét đẹp của Phật
giáo được thể hiện qua một số thi kệ của các
Thiền Sư
Thơ văn Lý – Trần đã tập
trung thể hiện caí đẹp của con người. Nó không
chỉ là sản phẩm tinh thần cuả một bộ phận nhà tu
hành theo giaó lý nhà Phật mà là sản phẩm tinh
thần của toàn xã hội bây giờ. Thơ văn thơì ấy đã
phản ánh sâu sắc và tập trung vào đời sống tâm
hồn của con người.
Có lẽ nét đặc trưng độc
đáo nhất của Phật giáo Việt nam mà Phật giáo
trên thế giới không thể có được đó là tinh thần
nhập thế của các vị Thiền sư, vừa một lúc mà
hoàn thành hai nhiệm vụ, có khi là một ông vua
trị nước an dân có khi là một Thiền sư phục vụ
cho đạo pháp dân tộc. Chính cái tư tưởng tự tại
ấy mà thơ văn của các vị Thiền sư toát lên một
cái gì đó rất giải thoát:
Thân như điện ảnh
hữu hoàn vô