PHƯƠNG PHÁP HÀNH TRÌ
GIÁO LÝ TỨ CHÁNH CẦN CỦA
NGƯỜI CON PHẬT
Thích Nữ Liên Lương
Phần dẫn nhập
1. Lý do chọn đề tài:
Thế giới con người là một hỗn hộp của
các bản chất không giống nhau có kẻ thích thụ
hưởng, có kẻ đam mê vật chất tiền tài, danh lợi,
nên có những hạnh nghiệp khác nhau tùy sở thích
của mỗi chúng sanh, Đạo Phật gọi là Thiện – Ác.
Thiện – Ác là hai thái cực luôn
luôn chóng trái nhau, nhưng khi gặp nhau chúng
không tác động qua lại như hai thái cực thường
hút nhau, mà Thiện – Ác thường để lại dấu vết
thật sự khó phai và được in dấu mãi mãi qua
nhiều đời kiếp.
Thiện - Ác chỉ là hai khái niệm về hai
vấn đề mà hầu như ai cũng biết nó là cái có thể
đưa con người đến Chân –Thiện – Mỹ, nó là như
vậy, như vậy… Nhưng để hiểu biết chúng một cách
tường tận, như thật, thường thì rất khó.
Xã hội loài người nói chung, Dân tộc
Việt Nam nói riêng bản chất vui vẽ, dễ hoà đồng,
thân thiện v.v… những bản chất nầy gọi chung là
“Thiện” như Khổng tử nói “Nhơn chi sơ tánh bổn
thiện” nghĩa là con người sanh ra vốn là thiện,
chữ “Thiện” hình như ai cũng biết, cũng hiểu,
nhưng mức độ hiểu biết mỗi người một khác, có
người dừng lại ở “không làm ác” nhưng chưa hẳn
hoàn toàn thiện, có người dừng lại ở giúp đỡ
người khác, phóng sanh, có người dừng lại ở bố
thí cúng dường v.v… Dù dừng lại ở bất cứ nơi đâu
thì khái niệm “Thiện” vẫn như những cái rễ cộc
chỉ có thể ăn sâu, và sâu mãi mãi vào lòng đất
sâu thẫm của tâm linh, bên cạnh đó cũng không ít
thói hư tật xấu (Ác) đã và đang tồn tại như một
cái gì đó hiển nhiên, được sinh ra và lớn lên
đồng thời với vạn vật cũng như con người.
Xã hội ngày nay là thời đại của siêu
điện tử, sức mạnh của điện tử tỉ lệ thuận với
dục vọng, với khác khao vô tận, con người không
phải tốn nhiều năng lực để lao động chân tay,
nữa mà chỉ sử dụng năng lực sẵn có từ thiên
nhiên nó không đi đôi với cái “thiện”, nghĩa là
vật chất càng đầy đủ, phương tiện thông tin càng
tiên tiến, thì dục vọng càng nâng cao, tức tinh
thần bị giảm dần. Minh chứng cho ý kiến nầy
chúng ta thấy khắp nơi, hàng loạt doanh nghiệp
tư nhân, doanh nghiệp tầm cỡ, về điện thoại máy
móc, xe hơi, vi tính với những kiểu dáng tối
tân, chỉ vì đáp ứng những nhu cầu cần thiết và
bức bách để có thể sánh ngang tầm với các nước
tiên tiến, mà thị hiếu của tham vọng là tiện,
lợi mà vật chất phải được bảo đảm thì qui luật
cung - cầu mới được thỏa mãn. Song song đó xuất
hiện không ít chất trắng độc hại, vô tình giết
người giết mầm xanh chỉ với tuổi thanh thiếu
niên, ở khắp nơi và hàng ngày khói bụi động cơ
nhả vào không gian hàng tấn khí độc, con người
bị đe dọa không những ở môi trường, sức khoẻ mà
còn ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày, hiện tại
như vậy tương lai sẽ ra sao?
Rải rác khắp nơi các mô hình nghệ thuật
không lành mạnh cũng đã và đang, hình thành góp
một phần không nhỏ vào việc giáo dục con em
hướng chúng đến một tương lai xuống dóc, như
những trò chơi trên vi tính (Xếp vào hạng đồ
trụỵ), những phim ảnh khiêu dâm, nhan nhản trước
mắt chúng những tội phạm ở mọi hình thức, lường
gạt, cướp giật, chém giết nhau, thanh toán nhau
bằng mọi phương tiện khác nhau, mà báo chí hàng
ngày đề cập thông tin nóng bỏng nầy.
Chính nền khoa học ngày càng phát triển
song song với nghệ thuật như vậy, nhân đây cái
thiện bị lãng quên, minh chứng cho ý kiến nầy,
chúng ta không thấy một mẫu quảng cáo nào nói về
từ thiện, mà từ thiện xuất phát từ các nhà hảo
tâm đống góp một phần công sức không đáng kể
nhằm san sẻ phần đau khổ, mất mát trong nỗi đau
chung, mà các nhà hảo tâm nầy là những doanh
nghiệp tư nhân, những chi nhánh đầu tư ở các ban
ngành thuộc liên doanh quốc tế nhưng số nầy rất
nhỏ, đa phần thể hiện trọn vẹn, hòa nhập với đau
đớn cùng cực trong tiếng khóc tuổi hờn, trong
tiếng van xin khẩn cấp, trong sự chờ đợi tuyệt
vọng chung với nỗi đau riêng mình là Tôn giáo,
những người luôn đặt lợi ích chung lên trên hạnh
phúc riêng mình.
Đến một lúc nào đó con người bất chợt
nhận ra rằng mình đã bấy lâu nay, vô tình bỏ
quên chính mình, muốn tìm lại phút giây ấy có lẽ
rất khó, vì dục vọng tuy vô hình nhưng có một
sức mạnh tuyệt vời xiết chặt hơn đam mê, khác
khao của con người, đưa con người ngày càng lún
sâu hơn vào đọa lạc. Đức Phật thường ví chúng
như những khúc xương, bó củi khô, hố than hừng,
vừa có vị ngọt, vừa có sự nguy hiểm nên nó dễ
bốc cháy và khó ra, nguy hiểm từ thể xác đến
tinh thần càng ngày con người càng chấp nhận no,
tức chấp nhận cho mình cái khổ cái sanh, già,
đau, chết, hình như con người vẫn biết như vậy
nhưng không chấp nhận có sự dừng lại chỉ ở mức
độ tối thiểu của sự mong muốn nên vẫn chạy theo
những nhận thức mà mình cảm thọ, không muốn mình
khổ, không muốn mình chịu đựng nhưng vẫn luyến
tiếc những đoanh vây vô bổ ấy.
Dưới mắt thế gian Đạo Phật được xem là
yếm ly, là tuyệt vọng, là tiêu cực, thế gian có
câu “Mái chùa nơi chôn vùi tuổi trẻ, áo nâu sồng
chôn lấp mộng xuân xanh”, vì đạo Phật xuất hiẹân
giữa những đoanh vây, dục vọng để từ đây bước
lên những bước cao hơn “Đường chen lộn ngàn
đường tội lỗi, ta bước lên những bước thanh
cao”, nhằm chế ngự dục vọng, chế ngự cả những
ham muốn ích kỷ nhỏ nhen, chính vì vậy đạo Phật
thường khác hẳn thế gian, thế gian tranh đua,
hận thù, ích kỷ trong từng lời nói ở cay độc,
nhiếc móc, ở ánh mắt dọc ngang, ở đôi môi cong
cớn, ở tay chân dùng dằn… Những cái mà theo Đấng
Giác Ngộ nó không những chôn vùi con người ngày
càng xuống tận nơi đen tối nhất của cuộc đời là
địa ngục, ngạ quỉ, súc sanhv.v… mà cả ngàn kiếp
sau nữa.
“Thiện” - “Ác” như thế đó mấy ai nhìn
nhận một cách tận tường, trong hệ thống giáo lý
Đức Phật bàng bạc khắp nơi kêu gọi “Hành thiện”
“xả ly ác pháp” hơn thế nữa trong ba mươi bảy
phẩm trợ đạo có phẩm “Tứ Chánh Cần” đề cập bốn
cái tinh tấn rất lợi ích vì tính Thiện - Ác tồn
tại không giới hạn tu hay tục nó chế ngự trong
phẩm chất mỗi loài hữu tình.
Từ những bức bách về mặt tâm lý trên, từ
một xã hội không phân biệt như đề cập ở phía
trên và những hiện tượng hay tượng, những lối
sống tính toán, độc đoán cho riêng mình ở xung
quanh, tác giả thực sự thao thức, trăn trở lý
giải, làm sao vấn đề được sáng tỏ, rõ ràng, biết
đâu vô tình sẽ có sự ủng hộ cao độ để giáo lý
“Tứ Chánh Cần” tức Thiện - Ác được tu tập một
cách mạnh mẽ,õ và đây cũng là lý do để tác giả
chọn nó làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của
mình.
2. Lịch sử nghiên cứu:
Tứ Chánh Cần là bốn phẩm trong ba mươi
bảy phẩm trợ đạo, thuộc phần Đạo Thánh Đế, con
đường đưa đến đoạn tận khổ đau, con đuờng duy
nhất đưa đến quả giác ngộ hoàn toàn được Đức
Phật thuyết lần đầu tiên gọi là sơ chuyển pháp
luân, độ cho năm anh em ông Kiều Trần Như và kết
quả là cả năm đều chứng quả A la hán, bài pháp
được thuyết tại vườn Lộc Uyển còn gọi là vườn
Nai tại thành Ba La Nại, nội dung bài pháp nầy
trình bày bốn vấn đề chắc thật về Nhân sinh
quan, hay trình bày về khổ (Khổ thánh đế) là quả
thế gian.
“Do nhân ái dục đấm phù hoa
Do nhân ái dục mê đời sống
Ái dục triền miên bể ái hà”
Vô minh tham ái (Tập Thánh Đế) mà khổ
nầy được Đức Phật ví “Nước mắt chúng sanh nhiều
hơn nước biển” chỉ hai hình ảnh “nước mắt” và
“nước biển” thôi cũng đã diễn tả đầy đủ, trọn
vẹn khổ đau ở trần gian. Và nếu bất cứ ai nương
vào ba mươi bảy phẩm Trợ Đạo (Đạo Thánh Đế) gồm
bốn niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Như Ý, Năm Căn,
Năm Lực, Bảy phần Bồ Đề và Tám Thánh Đạo, con
đường diệt khổ một cách rốt ráo là nhân xuất thế
gian và sẽ đạt kết quả là, hoàn toàn giải thoát
đó là Alahán, Chánh Đẳng Giác (quả xuất thế
gian). Tứ Chánh Cần là:
1 - Tinh tấn ngăn ngừa điều ác chưa phát
sanh.
2 - Tinh tấn dứt trừ điều ác đã phát
sanh.
3 - Tinh tấn làm tăng trưởng điều thiện
đã phát sanh.
4 - Tinh tấn tăng trưởng điều thiện chưa
phát sanh được phát sanh.
3. Phương pháp thực hiện
Giới hạn ở ngăn ngừa và phát triển hai
khái niệm “Thiện” và “Ác” mới nghe qua tưởng
chừng rất gần gũi, đơn giản, và trong phẩm nầy
Đức Phật đề cập rất ít trong toàn bộ hệ thống
Giáo Lý của Đức Phật “Thiện” “Ác” hay Tứ Chánh
Cần xuất hiện khắp nơi từ Kinh, Luật, Luận tạng,
lý giải rất nhiều và nhiều hơn nữa tùy theo căn
cơ “Thiện” được giải thích ở góc độ thế nầy, với
chúng sanh khác “Thiện” lại trình bày ở góc độ
khác, “Ác” cũng vậy. Dựa vào tất cả các tài liệu
“Thiện, Ác” sẽ được mổ xẻ, chia chẻ và bình để
phù hợp giữa lý thuyết lẫn những kết quả ở ba
thời quá khứ, hiện tại và tương lai.
4. Phạm vi đề tài:
Mặt dù “Thiện, Aùc” mang nghĩa rộng
rãi, có mặt xuyên suốt trong cả Đại, Tiểu thừa
nhưng với giới hạn của Đề tài, ở đây chỉ đề cập
đến “Thiện, Ác” trong một giới hạn nhất định
trong những bài Kinh mà tác giả đã học, đọc và
nghiên cứu có tính chất học đường.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Tứ Chánh cần là bốn pháp tinh
taấn chơn chánh
“Ở đây nầy các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo đối với
các ác pháp bất thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn
cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm không cho
sanh khởi, đối với các pháp bất thiện đã sanh
khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì
tâm khiến chúng đoạn tận, đối với các pháp thiện
chưa sanh khởi lên ý muốn cố gắng tinh tấn, sách
tâm, trì tâm khiến chúng sanh khởi, đối với các
pháp thiện đã sanh, khởi lên ý muốn cố gắng cố
gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm, khiến chúng
được duy trì, không có lu mờ, được tăng trưởng,
được quảng đại, được tu tập, được thỏa mãn, nầy
các Tỷ kheo, để thắng tri tham bốn pháp nầy cần
được tu tập”[301,3]
Hoặc Tứ Chánh Cần còn được định nghĩa
như sau:
1.1. Tinh tấn ngăn ngừa điều ác chưa
phát sanh.
1.2. Tinh tấn dứt trừ điều ác đã phát
sanh.
1.3. Tinh tấn tăng trưởng điều thiện đã
phát sanh.
1.4. Tinh tấn làm cho điều thiện chưa
phát sanh được phát sanh.
Chương 2: Ba nghiệp Thân - Khẩu - ý với
những liên hệ thiện, ác nghiệp
2.1 - Những ác nghiệp liên hệ đến thân,
khẩu, ý.
“Ngẫm thay
muôn sự tại trời,
Trời kia đã
bắt làm người có thân,
Bắt phong trần
phải phong trần,
Cho thanh cao
mới được phần thanh cao…”
[tryện Kiều,7]
Đây là một vài dòng kết luận trong tác
phẩm nổi tiếng, và được xem như bất hủ trên thế
giới mà tác giả thiên tài Nguyễn Du đã được giới
văn nghệ sĩ tôn trọng và ngưỡng mộ, trong toàn
bộ tác phẩm ông đề cập thuyết nhân quả cũng
nhiều, thuyết nầy cũng là thuyết nhân quả của
nhà Phật nhưng kết thúc tác phẩm ông lại thiên
về Thiên mệnh “Trời kia đã bắt làm người có
thân” thật ra “Trời” không bắt ai cả, có thể
Nguyễn Du lúc ấy vừa thất vọng vừa chán chê xã
hội thời ấy vừa thương thân phận nhân vật của
ông, và cuối cùng quá tuyệt vọng ông lại đổ thừa
cho “Trời” bắt thế nầy thế no,ỉ và cũng là tiếng
thét của ông.
Đức Phật, Bâẻc Thiên Nhân Sư Ngài nói
“…Ta Tuệ tri rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ
cao sang, người đẹp dẽ, kẻ thô xấu, người may
mắn, kẻ bất hạnh đếu do nghiệp của họ, những
chúng sanh làm ác nghiệp về thân, ác hạnh về lời
nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo
tà kiến, tạo ác nghiệp theo tà kiến, những người
nầy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào
ác thú, đoạ xứ, địa ngục”[112,2] cũng vậy “…Nầy
Long Vương! Nhà ngươi có thấy trong hội nầy và
các loài trong đại hải, hình sắc chủng loại, mỗi
mỗi khác nhau không? Tất cả như thế ấy đều do
tâm tạo thiện hây bất thiện nơi thân, khẩu, ý
nghiệp mà gây ra” [227,18] qua hai đoạn Kinh
thân hình có khác nhau do nghiệp tạo tác khác
nhau.
Ví dụ: Tâm sân sẽ thọ quả Atula trong
tương lai, tâm tham sẽ không đủ lục cănv.v… cũng
vậy theo tâm tưởng, có người hạ liệt có người
thô sấu. Kiều cũng vậy có tướng tốt trang
nghiêm, nhưng về quả ác ở quá khứ, phải bị đoạ
đày bằng cách, mười lăm năm lưu lạc vào nơi
“Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, có phải
chăng “Do ác hạnh về thân, về lời và về ý” hoặc
do “Thiện hay bất thiện” về thân, khẩu, ý tạo
ra. Đức Phật dạy thân có ba điều đó là sát sanh,
trộm cấp và tà dâm mà sát sanh là gì?
2.1.1 Ác nghiệp của thân do:
- Sát sanh:
“Thú kia nó cũng là thân
Cũng xương, cũng thịt có phần như ta
Đánh đau chúng nó kêu ca
Tiếng kêu đứt ruột tiếng la sé lòng
Ta người muôn vật cũng đồng
Xuống tay bao nỡ đành lòng sau đang…”
[Sát ssanh,13]
Thật đúng như thế, hễ là loài hữu tình
đều tham sống sợ chết, ai đã từng chứng kiến một
chú chó Bi khi bị đòn bởi chủ, nó chạy đến sát
tường, nơi không còn chỗ để chạy nữa, để tự vệ
cho mạng sống, long nó dựng đứng lên, mắt long
lên vẽ đối đầu, miệng gầm gừ với đối phương là
chủ của nó, và cuối cùng chủ của nó phải buông
roi, hình ảnh cho ta thấy, bất cứ loài thú nào
cũng bảo vệ tự thân, vậy lý do nào, chúng ta
giết nó chỉ vì lợi dưỡng cho mình. Câu kệ trên
miêu tả với từ ngữ thật sát và đúng “Tiếng kêu
đứt ruột, tiếng la xé lòng”. Thử tưởng tượng xem
chỉ cần vô tình bị đứt nhẹ nơi đầu ngón tay,
hình như ta nghe đau cả trong tim, huống chi con
vật bị chặt đầu, cứa cổ, nỗi đau đến dường nào.
Chính nỗi đau nầy là duyên cho hận thù trong
tương lai, hành động sát sanh là hành động vô
đạo đức, là hành động tạo ác nghiệp trong hiện
tại, là cử chỉ không văn hoá, không giáo dục
theo Đạo Phật, bắt nguồn từ tâm sân và tham tâm
với hai tướng trạng đó là là sân hận từ nơi sâu
thẩm của tâm, đã mang tập khí sát, muốn sát, và
do ngoại cảnh tác động như thiếu thốn, khát khao
hoặc do tham ái dục lạc mà giết tất cả không
ngoài động lực bất thiện nơi thân - khẩu – ý mà
kết quả sẽ sanh vào ác thú trong tương lai:
“Đống xương dồn dập bấy lâu
Chắc cũng có Ông Bà cha mẹ,
Hoặn thân ta hoặc kẻ sanh ta
Luân hồi sanh tử, tử sanh,
Lục thân đời trươc bây giờ còn đây”
(Kinh Báo Hiếu)
Với tuệ quán như thật về sự luân hồi do
nhân quả hay do luyến ái, Đức Phật thuyết rất rõ
khi đời nầy ta là bà của nó, khi trở lại là con
cháu hay nô lệ chúng, chính vì vậy trong các
loài thú biết đâu có thân ta, có cả lục thân từ
nhiều kiếp, chúng ta giết nó khác nào giết tiền
thân ta, giết bà, con lục thân ta.
Ở một Tôn Giáo kia họ cho
rằng Trời sinh ra con vật là để nuôi con người.
Chúng ta thử quan sát một con vật nuôi trong nhà
xem sao, khi vắng chủ nó cũng buồn rủ rượi, khi
chủ nó đau nó cũng biết an ủi bằng ngôn ngữ
riêng của nó… vậy cuộc sống của chúng là một nữa
cuộc sống của con người, nên không một lý do nào
chứng minh rằng chúng sinh nhỏ bé kia sinh ra là
để phục vụ cho con người, chúng ta không một lý
do nào xâm phạm vào cuộc sống của chúng mà đoản
mạng chúng sanh, chúng nó vì vô minh, vì si mê
nên phải mang lông đội sừng, phải giữ nhà, phải
kéo cày đền tội tại sao chúng ta không san sẻ
lại còn hành hạ chúng thêm biết đâu trong số
chúng sanh ấy có lục thân chúng ta.
- Trộm cắp:
Nghĩa là lấy của không cho, trong luật
có răn: “Vật nhỏ như cây kim ngọn cỏ, người ta
không cho thì không được lấy” nếu cố lòng lấy
tức là trộm cắp, như vậy trộm cắp là việc làm
tổn hại cho người, đây cũng là ác nghiệp. Lộ
trình đưa đến hành động trộm là cả một quá trình
đấu tranh với chính mình và người. Có hai hình
tướng trộm, do tự thân và ngoại cảnh thúc giục.
Tự thân là quá trình nhân duyên xúc,
thọ, ái, thủ, và hữu. Khi các căn mắt tai, mũi,
lưỡi, thân tiếp xúc với vật chất (Sắc trần) là
sắc, thinh, hương, vị xúc, pháp gọi là xúc gây
cho chúng ta cảm giác thích thú (thọ), vì chúng
êm ái, dịu ngọt sinh luyến ái, muốn sở hữu của
mình là ái (ái thủ), bằng mọi phương tiện, mọi
thủ đoạn cuối cùng nó thuộc về mình là hữu “Lòng
tham là do vật ngoài quyến rũ, dục vọng là do ở
mình mà ra, người quân tử thích hiền tài nhưng
phải đạo mới lấy người quân tử lo đạo không lo
nghèo”[Sách Cảnh Lục,17]. Thật đúng như thế
những người được xem là quân tử họ thường xem
thường vật chất mang tính ràng buộc họ, ngay cả
công danh họ còn xả ly.
Ngoại cảnh là những vật chất, hay những
đối tượng khiến họ trộm cắp như lời xúi giục,
vật quí báu trước cảnh tượng như thế lòng tham
khó kiềm chế.
Tại sao nói trộm cắp là tổn hại? Khi
chúng ta bị mất vật chúng ta tức tối, nóng nảy,
nếu vật ấy đáng giá thì sự nóng nảy ấy càng tăng
thêm, có khi quá nóng người ta gây ác nghiệp
bằng cách văng tục, hơn nữa là nguyền rủa với
những lời ác khẩu, và thất vọng đến tội nghiệp.
Như vậy trộm cắp là một việc làm bất thiện gây
tổn hại không nhỏ cho người xung quanh và chính
bản thân mình cũng bị tổn hại nặng nề. Hành động
trộm cắp bắt nguồn từ lòng tham lam, ích kỷ,
chấp thủ. Hay tà kiến và không biết đủ, vì không
biết đủ nên cứ vơ vét cho đầy túi tham, mặc ai
đau khổ cứ thản nhiên.
Nguyên nhân dẫn đến trộm cắp là do sự
buông lung theo vật chất cám dỗ và ngoại duyên
tác động vào lục căn, lục căn không có cơ sở
kiểm soát khích khao nên sắc dễ bề chế ngự tâm ý
quên đi việc làm xấu xa. Trong Luật có trích dẫn
câu chuyện “Một chú tiểu ăn trộm của chúng Tăng
một cục đường phèn liền phải bị đoạ trong nhiều
kiếp”.
Người trộm cắp luôn luôn có thái độ
không bình thường, sợ hãi khi nghe ngưởi đề cập
đến tên mình và tự mình phiền não, nghi ngờ
chính mình và người, vì nghi ngờ, không tự quyết
đoán bất cứ chuyện gì cho chính mình.
Hình tướng trộm cắp không chỉ giới hạn ở
lấy của không cho, mà những tứớng như, buôn lậu,
tham nhũng, lừa đảo, lật lọng trong buôn bán để
tìm lời bất chánh hoặc lợi dụng chiếm đoạt của
công… “Ăn một miếng không cần ăn, tức đoạt phần
ăn đó của người khác”[Thánh Ganhdhi]. Hoặc“ Kẻ
nào gian dối trong việc nhỏ sẽ gian dối trong
việc lớn”. Thông thường người thế gian hiểu một
cách đơn giản là lấy của không cho mà vật lớn,
quí mới gọi là trộm, nên người đời thường tranh
đua làm giàu, trong gian lận, trong trốn thuế,
lậu đò.v.v…Tất cả những hành vi nầy thuộc về ác
hạnh, sức tổn hại thật vi tế đều phải bị chi
phối bởi nhân quả là phải chịu thác sanh vào ác
thú đoạ xứ cõi đời nầy.
Trộm cấp có rất nhiều hình thức nó tồn
tại ở nhiều hình vi, vi phạm nhưng bất cứ hành
vi nào đem lại lợi ích cho, mình hoặc tiền của
vật chất mà không gây tổn hại nhiều, ít thì đều
là trộm cắp, liền bị chi phối bởi quả báo tương
xứng với thân, khẩu, ý ấy.
- Tà dâm:
Theo từ điển Phật học “Dâm tức dâm
dục, sa ngã vào việc sắc dục, thoả các sở dục về
xác thịt” Dâm cũng có nghĩa là: “Tham dục; như
dâm nộ si” (tức tham, sân, si). Theo từ điển của
cụ Đào Duy Anh Dâm dục là lòng tà dâm; theo hai
định nghĩa nầy dâm dục xuất phát từ ái, từ yêu,
từ tiếc, tiếc mới thoả mãn nhục dục.
Theo tinh thần NiKaya Ái là nguyên nhân
của khổ Đế là Đế thứ hai (Tập Đế) trong bốn
Thánh Đế là sự khát ái nên mới khổ vì thương yêu
xa lìa khổ, vì oán ghét gặp gỡ khổ, vì cầu không
được toại nguyện, Ái là chi phần thứ tám trong
mười hai chi phần nhân duyên dần đến sầu, bi,
khổ, ưu, não, và sanh, lão, tử. Ái là đầu mối
của sự sanh khởi năm thủ uẩn. Nói khác hơn, Ái
là lòng dâm dục là tà dâm hay mặt trái của tham,
sân, si.
Với hàng tại gia Đức Phật chỉ giới hạn ở
tà dâm hay tà hạnh có nghĩa là bất cứ vợ hoặc
chồng mà còn quyến rủ, dụ dỗ vợ, chồng người
khác, cô gái khác, chàng trai khác đưa đến việc
thông dâm đều thuộc về tà hạnh tại sao vậy? Vì
chính tà hạnh là nguyên nhân dẫn đến gia đình
tan nát, cha mẹ, con cái chia lìa, vì bất cứ vợ
hoặc chồng nào cũng vậy họ không muốn chia sẽ
tình cảm của mình cho vợ hoặc chồng cho người
thứ ba, nếu việc nầy thật sự xảy ra cả ba người
đều bị tổn hại mà mức độ đau khổ không kém nhau,
đáng tiếc thay cho kẻ vô tội mà bị ảnh hưởng
trực tiếp đóù là những mái đầu xanh chính là con
họ, không chỉ ở hiện tại mà tương lai của chúng
sẽ bất ổn trong việc học tập, tâm lý, có khi nỗi
buồn chán cực độ chúng lao vào những trò chơi
bất chính, như cướp phá, hút chích, chúng bắt
đầu trở thàh mối nguy hiểm cho xã hội. Nên nhà
Phật khi đề cập tới giới tại gia Đức Phật chỉ
cấm tà dâm, Hoặc “Khi tôi từ núi Gijjihakùta
bước xuống thấy một phụ nữ bị lột da đang đi
giữa hư không, những con chim kên, những con
quạ, những con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt
xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu
đau đớn” Đức Phật bèn bảo “ Người phụ nữ ấy nầy
các tỳ kheo là một người gian phụ ở Rajjagaha
nầy” [453,6] trên đây là những quả báo của sự
thông dâm, gian dâm đối với người thế gian.
Với người xuất gia, mệnh danh là xuất
thế tục gia, thì không thể là tà dâm, mà phải
đoạn hẳn dâm dục, việc dâm dục sẽ làm chướng
ngại quả Thánh. Ái dục được ví như trạng thái
đói khát, thèm thuồng, người đói khát luôn tìm
kiếm khắp nơi, chỗ nầy chỗ nọ, sự hỷ lạc của
thức ăn, cũng là sự hỷ lạc của ái dục. Tức “Tập
Đế”
Mà Tập Đế là gì? “Ái nầy đưa đến tái
sanh câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ
nầy, chỗ nọ” [425,2] theo định nghĩa nầy nguyên
nhân để ái phát sanh chính là tham và hỷ lạc đối
với những phù du trong cuộc đời, sự tập khởi của
ái cũng chímh là sự tập khởi của năm thủ uẩn,
năm thủ uẩn càng phát triển là điều kiện trở lại
nuôi dưỡng ái dục, đoạn diệt ái dục, vì lẽ này
chính ái dục ngăn che cũng như làm muội dần ánh
sáng của thiền quán mà nó chỉ phát huy hôn trầm,
trạo hối và cuối cùng là ái dục cứ hiện hành và
càng mạnh mẽ hơn.
Nơi đâu còn ngũ thủ uẩn, nơi đó vẫn còn
tham dục cũng như ái dục. Báo “Hạnh Phúc Gia
Đình” ra ngày 10-1-03 có đoạn “Nền văn minh ngày
nay chỉ có thể được nhờ xây trên nền móng dục
vọng, không biết mõi của con người… Và chính ái
dục đủ mạnh làm nên nền văn minh của con người,
thì cũng quá đà để xây nên những thanh lâu,
những quán “Hương đồng, cỏ nội”, và còn mạnh
hơn, khi muốn phá tường những tổ ấm để chui ra
ngoài…”. Thật đúng như thế, ái dục là cội gốc để
thế giới tồn tại, và phát triển, ái dục là
nguyên nhân là động cơ cho các nhà khoa học
nghiên cứu để cung cấp vừa và đủ những thị hiếu,
nói khác hơn phục vụ ái dục, chỉ khi nào ái dục
được giải quyết một cách thích hợp, kịp thời thì
lúc ấy con người mới thấy vừa và đủ. Cũng như
thế những khổ đau, những sầu, bi, khổ, ưu, não,
phát triển đến một lúc nào đó con người mới,
thật sự nhận chân được sự nguy hiểm cũng như tai
hại do vị ngọt mà sắc, thinh, hương, vị, súc,
pháp, hay sắc, thọ, tưởng, hành thức mang đến
cho họ, nguyên nhhân để con người tiếp nhận một
cách hoan hỷ, hân hoan là dno vô minh, do vô
minh mới có hành, duyên hành nên mới có thức, và
như vậy tạo nên thế giới hỗn loạn, chấp nhận
sinh, lão, tử v.v… trong vòng vô minh luân hồi.
Đề cập đến khát ái lòng trong ấy là đề cập đến
sân và si vì sân là bề trái của khát ái hay dâm
dục, mà khát ái là bản chất của si tại sao vậy?
Nếu chúng ta chấp nhận tướng đẹp nghĩa là chối
bỏ tướng xấu hay nói khác hơn ta không chấp nhận
tướng xấu, sự không chấp nhận tướng xấu là đồng
thời với
2.1.2 - Ác nghiệp của khẩu
do:
Thế gian có câu ví von nhưng rất đúng
“Con ếch chết vì cái miệng” Tại sao vậy? Những
người soi ếch họ rất khó để tìm thấy nó, mà
người ta chỉ cần lần theo tiếng ộp oạp sau con
mưa, thế là những chú ếch lần lần bị bắt vào giỏ
nên “Cái miệng kiện cái thân” là như thế.
Cũng vậy nếu hàng ngày vênh vang với
nhũng lời vô bổ thì cũng như những chú ếch kia
vậy, thế nào là lời vô bổ? Lời nói không ích lợi
cho mình cho người, cho cả hai nghĩa là lời nói
không dựa trên chân lý. Đức Phật liệt kê những
lời vô ích có bốn: 1- Nói dối, 2- Nói ác khẩu,
3- Nói ỷ ngữ, 4- Nói lưỡng thiệt; Bốn cách nói
nầy là bốn loại ác khẩu xuất phát từ tâm tham,
tâm sân và tâm si, với khẩu bất thiện kèm theo
nó là quả báo dữ trong tương lai “Thuốc hay đắng
miệng, nhưng lợi cho người bịnh, lời hay trái
tai nhưng lợi cho công việc” [ Tiêu Ha,17ụ] Thật
thế lời ôn tồn chân thật là niềm tin là nụ cười
của mọi người và ngược lại ác khẩu luôn luôn bị
trách mắng, xa lánh, chê cười và ghét bỏ. Thế
gian tồn tại trong lịch sử, trong thơ văn hai
loại ngôn ngữ ác và thiện, những lời hay, ý đẹp,
những lời rút từ kinh nghiệm sống đó là danh
ngôn, những lời liên quan đến tự hại, hại người
là lời dùng để làm gương chung.
- Nói dối: là nói lời không chân thật,
việc có nói không, việc không nói có, là lời nói
khiến người khác đau buồn, là lời nói đem lợi
lạc cho mình. Có hình ảnh về chậu nước. Hình ảnh
đầu tiên “Trong chậu nước chỉ có ít nước còn lại
“Đức Thế Tôn dụ cho hạnh Sa môn “cũng ít vậy của
những người nào biết mà nói dối, không có tàm
quí; Hình ảnh thứ hai “Thế Tôn đổ ít nước còn
lại đi Ngài ví như, hạnh Sa môn cũng bị đổ đi”
của nhũng người nào biết mà nói láo, không có
tàm quí; Hình ảnh thứ ba “Thế Tôn lật úp chậu
nước ấy lại được ví như “Hạnh Sa Môn, cũng bị
lật úp vậy của những người nào biết mà nói láo,
không có tàm quí” Thế Tôn lật ngữa trở lại chậu
nước được ví như “Hạnh Sa Môn cũng trống không
vậy của những người nào biết mà nói láo, không
có tàm quí”. Rồi Thế Tôn kết luận “Nầy Rahula,
đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quí,
thời Ta nói rằng người ấy không việc ác gì mà
không làm. Do vậy nầy Rahula Ta quyết không nói
láo dầu nói để mà chơi,nầy Rahula, ông phải học
tập như vậy”.[171.2]
Nói dối có nhiều hình tướng, cố ý và
không cố ý, với vô ý cũng có quả vô tình, cuộc
sống hàng ngày, người ta xem lời nói nhẹ nhàng,
thoảng qua, nên người ta tự do muốn nói chi cũng
được mà không cần biết hậu quả của nó ra sao.
“Nạn tai vì miệng mà nên
Bịnh căn vì miệng mà truyền
vào thân”
[Khẩu,13]
Khi trẻ biếng ăn bà mẹ nói “Ăn ngoan đi
mẹ sẽ cho đi chơi” nhưng sau đó không đi, khi
trẻ lớn thêm một tí, người mẹ lại nói “Con đi
học cho ngoan, mẹ sẽ cho con nhiều bánh, nhiều
đồ chơi”. Dù những lời nói ấy với mục đích tốt
cho trẻ, nhưng vô tình để lại cho trẻ một ấn
tượng xấu là, muốn làm gì thì nói dối không sao
cả, nói chỉ vì lợi cho mình mà không hại ai nó
trở lại dối mình. Lời nói dối nầy là hại cho cả
hai “Rảnh rang phải cẩn thận lời nói, chớ xem
thường nói không hại gì mà sẽ gặp hại đó”[ông
Thiệu Khang Tiết]. Thực tế như thế cũng vì không
hại gì người cứ nói cho thỏa mãn, nhưng tai hại
vô cùng những lời nói tưởng chừng như vô hại,
lại có một hậu quả không lường, có một tình
huống xảy ra, nói “Cám ơn! Tôi ăn cơm rồi” Hoặc
“Tôi no rồi” thực tế vị ấy đang đói, dù lịch sự
nhưng vẫn không nên nói, vì nó là nền tảng, là
nấc thang đầu tiên cho các nấc thang còn lại để
hình thành cách nói dối lớn hơn, mà không có cơ
hội dừng lại, ví như tên trộm đầu tiên chỉ là
cắp vặt, sau đó là những vụ đâm thuê chém mướn,
về sau nữa sẽ trở thành trùm trong các tay trùm,
mà tiểu sử của trùm Năm Cam đăng nhan nhãn trên
các báo đài, từ công an cho đến toà án.
Như trên đã đề cập bài Kinh Giáo Giới La
Hầu La, “nói láo không có tàm quí, thời ta nói
rằng, người ấy không việc ác gì mà không làm”.
Có lời nói dối xuất phát từ tự ngã, khi nói tới
tự ngã người ta nghĩ ngay đến những gì liên quan
tới ngã, ngã sở, như danh lợi, chấp ngã, lợi
dưỡng, với người có ý thức, họ rất lấy làm ân
hận, xấu hổ (Tàm quí) với lời nói dối của mình,
với người không ý thức họ cứ tiếp tục nói dối vì
họ không nhận thấy rằng, xung quanh họ những mối
quan hệ thưa dần, có khi lại sợ hãi, chính vì
thế Đức Phật ví thái độ của người nói dối không
tàm quí là hạnh “của chậu nước có nước dơ chỉ
một ít, đổ đi, lật úp, trống không” nghĩa là
hạnh Sa Môn không có.
- Thế nào là nói lời đôi chiều? :
Tức đến người nầy nói xấu người kia, đến
người kia nói xấu người nầy mục đích là chia rẽ
nhằm đứng giữa hưởng lợi mà hai bên đau khổ mình
lại vô can “Đem chuyện chỗ nầy đi chỗ khác nói,
là hạng đức bỏ đi” [Khổng Tử] nói như vậy sẽ có
người hỏi “Lỗi nhẹ vậy mà sao nói “ Đức bỏ đi”,
nghĩa là lời nói đôi chiều không phù hợp với đạo
đức, nói đến cái đức là đề cập đến những việc
làm mà việc đó có lợi lạc cho số đông liên quan
đến sự tu dưỡng, những đức tính tốt như hiếu
thảo, chân thật, thương người muốn giúp đỡ, nên
những gì liên quan đến đạo đức “Có tài mà không
có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài
thì làm việc gì cũng khó” [Bác Hồ] và “Đức trọng
quỉ thần kính, đức bạc quỉ thần khinh” [Minh
Đăng Quang]. Vậy người không có đức chính la
người hay nói lưỡi đôi chiều, huống chi huynh đệ
đồng song nghĩ thế nào về việc làm của mình? Tuy
họ không trực tiếp nặng nhẹ, nhưng sau lưng là
cả một nỗi kinh hoàng và đề phòng. Khi người ấy
biết việc làm của mình, nếu chúng ta ở ngay nơi
hoàn cảnh đó chúng ta có tàm quí với chính chúng
ta không? “Không sợ máy móc bên ngoài mà chỉ sợ
máy móc chính mình” và “Một ngày không nghĩ đến
điều thiện thì những điều ác sẽ nảy ra” [Trang
Tử]. Qua câu nói nầy chúng ta có thể khẳng định
người đem chuyện người nầy nói xấu với người
kia, đem chuyện xấu của người kia nói xấu với
người nầy (tức nhiều chuyện- theo thế gian) luôn
làm việc ác hay không lúc nào nghĩ đến việc
“Thiện” người ấy không có chánh niệm, tức tà
niệm nghĩa là niệm việc xấu, niệm chia rẽ, niệm
bất hòa với nhau, với tà niệm nghĩa là tư duy
không chơn chánh, tư duy làm sao để có cơ sở để
đối phương tin mình, với ác tư duy dẫn đến tà
nghiệp và tà ngữ.
Quá trình hình thành lời hai lưỡi là quá
trình sáng kiến cho ý nghĩ ác, là quá trình ngụy
biện cho một ý nghĩ sai lầm “Atirika là vô tàm
như sau” [A tì đàm]. Vô tàm là không biết hổ
thẹn khi làm các điều ác, xấu xa. “Anottapa là
vô quí, chữ Anottapa=Na+ava+tapa là bị đau khổ,
bứt rứt, người không có quí là người không bị
đau khổ khi làm điều ác. [36,4]
Nói hai lưỡi được hình thành bằng ngã ái
và chấp thủ chính ngã ái là tạo dựng nên một thế
giới hỗn loạn, không có mặt của sự thông cảm,
hoan hỷ của từ bi mà chỉ có mặt của hiềm thù của
sầu não, đây là nhân là duyên chính của ác thú,
đọa xứ, địa ngục, một người đã không biết dừng
lại phạm vi nhất định nghĩa là chấp nhận cho
mình những cuộc tranh cãi, những cuộc đánh nhau
tưởng gần như chết
- Ỷ ngữ: “Vị phù ngôn xảo ngữ” [Thích
Thiện Nhơn-Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư], tức
lời khéo léo (xảo trá), lừa dối người, nói dối
để quyến rủ, xảo trá còn có nghĩa là xảo quyệt,
xảo nguyêt, tức khéo léo gian giảo, gian giảo có
nghĩa là gian trá, là xảo quyệt… hay tà ngữ một
người với ý nghĩ thiện thì lời nói sẽ là chánh
ngữ, chỉ khi nào mục đích của họ là hại người,
hại mình, hại cả hai thì ngay lúc ấy lời nói sẽ
là ỷ ngữ, hại mình ở đây không phải là hại trực
tiếp cho mình, mà lời nói ỷ ngữ thường có lợi
cho mình trước hậu quả sẽ rất đáng thương trong
tương lai đây là hại mình. Lời ỷ ngữ được hình
thành là khi tà kiến, tà tư duy, tà niệm, được
hình thành, lời xảo trá không bao giờ được tồn
tại với một tư duy chơn chánh, nghĩa là tư duy
lường gạt tài sản vật chất, tư duy gian dối
trong của công hầu chiếm đoạt địa vị danh giá.
Tư duy gian trá nhằm quyến rủ người vào việc bất
chánh phạm pháp luật, phạm giới cấm, song song
với những tư duy nầy là những lời phù phiếm, lời
ỷ ngữ để đạt được lợi ích riêng mình.
Quanh ta ngoài xã hội hàng ngày xảy ra
không ít những tình huống đau lòng như thế. Báo
“Phụ nữ chủ nhật” đăng câu chuyện trích từ tòa
án “Cô Lan có gia đình hẳn hòi, có một tiệm tạp
hóa, tiền bạc tương đối, không đến nỗi túng
thiếu, vì giấu chồng căn bệnh của mình, bèn tâm
sự với cô Phương, lòng tham thức dậy cô Phương
liền doạ “nếu không ra nước ngoài trị bệnh kịp
thời bịnh nầy sẽ nguy hại đến tính mạng”, với
lời ngon ngọt xảo trá của cô Phương, cô Lan hoàn
toàn tinh tưởng, nhờ cô Phương giúp mình trong
việc làm thủ tục trị bệnh, nhưng cô Phương lại
lấy tên của những người đã chết thay vì tên cô
Lan, sự việc bại lộ, cô Lan vừa bị bắt, vừa mất
tiền, mà gia tình lại ly tán.
Hình tướng của lời ỷ ngữ tồn tại nhiều
dạng khác nhau: Như nói lời phù phiếm, nói quá,
nói điêu ngoa, nói với mục đích xấu…
Nguyên nhân dẫn đến lời ỷ ngữ chính là
tham, sân, và si, câu chuyện vừa nêu trên là lời
ỷ ngữ bắt đầu từ lòng tham, từ dục vọng đê hèn
không biết chán.
- Nói hung ác hay ác khẩu: Là miệng nói
lời chưởi rủa, ác độc “Ác khẩu là lời chưởi thề,
lời làm cho người ta buồn rầu, đau đớn, sanh tức
giận là ác khẩu” [Từ điển Phật học Hán
Việt-1994]hoặc “Như ai phỉ báng người thì bị tội
báo rất lớn, tất cà những lời ác độc, mắng nhiếc
phỉ báng đều bắc nguồn từ lòng sân hận”. Muốn
tiêu diệt đối tượng muốn trừ khử đối tượn v.v…
thậm chí cảm thấy vui khi thấy đối tượng bị phỉ
báng.
“Dùng lời thô ác cùng người
Cùng ta người cũng dùng lời
ác thô
Những lời nóng giận hồ đồ
Khác nào gậy bổ tựa hồ gươm
đâm”
[pháp cú,5]
Trong nhà trường lời chưởi thề được xem
là lời vô đạo đức, dù ở lứa tuổi học sinh nào,
thầy cô giáo, những người làm nhiệm vụ trồng
người cũng không cho phép học sinh của mình nói
lời chưỡi thề, vì chính những lời chưởi thề khi
còn rất nhỏ là nhân, là duyên cho lời ác độc hôm
nay và ngày mai. Qua giao tiếp ngay khi ở lứa
tuổi thiếu niên người nghe sẽ tiên đoán tương
lai của nó sau nầy như thế nào, huống chi đã ý
thức mà xem nhẹ lời chưởi thề lại càng nguy hiểm
hơn.
Hình tướng của lời nói ác không giới hạn
ở lời chưởi thề, văng tục v.v… mà lời nói ác bao
gồm những lời làm tổn hại đến người khác ví dụ:
có người nói “Hạng người nầy không xứng đáng để
cho tôi suốt đời nói nữa lời…”. Ở tình huống nào
đi nữa, tức giận đến bao nhiêu là người xuất gia
không có quyền nói, vì lời nói nầy chính là lời
xúc phạm đến nhân cách, đến tự trọng của người
kia rất nhiều, và lời nói nầy bắt nguồn từ lòng
sân hận. Nói sợ người kia chưa đau, nên lựa
những lời đau cho cùng cực, cho đã giận mình,
chỉ sợ giá trị của người ấy chưa mất, chỉ sợ
người ấy chưa mất uy tính “Cụm từ hạng người
nầy, hạng người kia”, với người bình thường nghe
qua cũng không có gì nghĩ ngợi, nhưng với người
trong cuộc ảnh hưởng rất nặng nề, sức tổn hại
rất lớn cho cả hai, với người có trí sau khi
nghe lời nói nầy họ sẽ đánh giá người nói về mặt
giá trị, cũng thế giá trị của người nói theo lời
nói nầy bị giảm thiểu đến mức tối đa.
“Điều ác nhỏ chớ khinh
Tưởng quả chẳng đến mình
Kẻ ngu ác dồn chứa
Như nước nhỏ đầy bình”.
[112,5]
nói được một lời ác tức nói được nhiều
lời ác, một lần nói ác, nhiều lời ác sẽ thành
thục.
Bàng bạc khắp nơi trong các bộ Kinh,
Luật, Luận đều đề cao giá trị của sự chân thật
cũng như chân, thiện, mỹ, nghĩa là nơi đâu cũng
khuyến khích đoạn tận ác pháp ngay trong đương
niệm “Nhất niệm tham sân khởi, bá vạn chướng môn
khai”.
Trong Lương Hoàng Sám trang 203 có trích
câu chuyện quả báo của “con cá lớn, một thân
trăm đầu, mỗi đầu một khác bị Sa vào lưới” Nhân
đây Đức Thế Tôn nhập định quan sát Ngài nói “Lúc
Phật Ca Diếp ra đời, con cá to lớn nầy làm vị
Tam Tạng Tỷ Kheo, vì ác khẩu, nên chịu quả báo
nhiều đầu…” [204,8] Cũng vậy “Năm pháp đưa đến
không hờn giận nhau, là chỉ chấp nhận ở người
kia những gì thanh tịnh, ví dụ: “Thân không
thanh tịnh, khẩu không thanh tịnh nhưng với tâm
chỉ được một chút thanh tịnh thì, chỉ được chấp
nhận chút ít thanh tịnh của người ấy, mà không
được nhìn thân hoặc khẩu không thanh tịnh của
người ấy”. [Trung A Hàm]
Còn rất nhiều dạng nói ác khác nữa, tác
giả liệt kê nơi đây một vài ví dụ minh hoạ dẫn
chứng mà chính tác giả tai nghe, mắt thấy trong
cuôc sống thường nhật, Đức Phật bảo Anan: “Người
sanh thế gian, tai hoạ sanh từ miệng, nên phải
giữ miệng hơn phòng lửa dử, lửa dữ đốt cháy của
cải thế gian, lửa dử đất cháy của bảy báu của
bậc Thánh, tatá cả chúng sanh hoạ từ miệng sanh
ra, nên biết miệng là dao búa, giết thân vậy”.
Lại có đoạn “Nói ác, mắng chưỡi, kiêu mạn khinh
người, các điều ác ấy khởi ra từ ganh ghét, oán
hận sanh ngay.bỏ oán nhẫn ác là ganh ghét, oán
hận tự dứt, là người sanh ở đời búa tại trong
miệng sở dĩ giết thân là do lời nói dữ”.
2.1.3 - Ác nghiệp của ý do:
“Con người ý vọng gồm hai
Khi mừng khi giận đổi thay
khôn lường
Vội vàng khi ghét khi thương
Khi vui vui ngất, khi buồn
buồn thiu
Muốn ưa tạo sắm đủ điều
Rồi khi chê chán bỏ liều như
chơi…”
[Ý,13]
Đức Phật ví “ý” như “Vượn
chuyền cây, như ngựa rong chơi ngoài thành nội”.
Cũng như khi vui, khi buồn chính chúng ta còn
không lường, cũng như khi thiện. khi ác khó mà
hàng phục được, nhưng vì còn là một chúng sanh,
nên ác chế ngự chúng ta nhiều hơn thiện, Theo từ
Điển Phật học của viện nghiên cứu Phật Học Hà
Nội- 1994 định nghĩa “Ý là Mana dịch âm là mạc
na, tính toán suy nghĩ về sự việc gọi là ý”, Duy
Thức luận quyển năm “Đức Thế Tôn (Bạc Già Phạm)
nhiều chỗ trong Kinh nói đến ba nghĩa riêng
(Biệt nghĩa) của tâm ý và thức, tập khởi gọi là
Tâm, suy nghĩ gọi là Ý, hữu biệt gọi là Thức. Đó
là ba nghĩa riêng”, Lại nữa lấy “tâm của ý niệm
trước làm chỗ dựa sinh ra tâm ý…” Ý có rất nhiều
như ý căn, ý an lạc hành, ý học v.v... Trong vô
số ý đó có ý địa chính là thức thứ sáu, là nơi
chi phối toàn thân, và là nơi sinh ra vạn vật,
nên goị là Địa, như nói tâm địa. Về chữ tâm theo
vô số loại kinh có vô số nghĩa về tâm trong đó
có Duy thức thuật ký Quyển 3 trong Kinh Lục
Quyển 4 có tư lường tâm: Tên Phạn là Mạc na,
dịch nghĩa là Ý có nghĩa là tư lự, là tên riêng
của thức thứ bảy. Qua ba định nghĩa trên chúng
ta có thể kết luận rằng Tâm là nền tảng cho ý và
ngược lại, ý là tinh thần là phần sau, phần
quyết định của tâm, vậy tâm và ý tuy hai nhưng
mà một. Khi nói là một thì chưa đúng, Tâm, Ý
Thức là ba yếu tố để sáng tạo nên một sản phẩm
mới đó là Thiện và ác, ba yếu tố nầy hướng dẫn
tâm thân, khẩu, ngày càng thanh tịnh hay ô
nhiễm.
Tâm có sáu loại chia theo cảnh giới
trong sáu loại đó có:
Bất Thiện tâm gồm có 12 chia ra thành
tám tâm câu hữu với tham, hai tâm câu hữu với
sân, và hai tâm câu hữu với si. Còn thiện tâm có
chính, là kết quả của tâm, do tu tập bất thiện
mà có, quá trình tu tập để chuyển hoá từ bất
thiện tâm thành thiện tâm, là quá trình hoạt
động đấu tranh kiên cố giữa tâm ý và thức.
“Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ ý tạo”
[1,5]
Vì chức năng của ý là tư duy,
tư lự mọi việc có câu hữu với tham, sân, và si
tương ưng với tà kiến, dẫn đến hành động là hợp
pháp hay không hợp pháp Tham - Sân - Si và tà
kiến có tác hại thế nào đối với đời sống phạm
hạnh
- Tham: Theo từ điển Hán Việt quyển hai
của Phân Viện nghiên cứu Phật Học (Hà Nội 1994)
Tham là (Thuật ngữ) Raga tiếng Phạn là La - nga,
nghĩa là rơi vào vòng ngũ dục, không rời ra
được; thường nói tham ái tham dục, Du già luận
ký quyển bảy “Tham và ái là tên gọi tuy khác
nhau nhưng nội dung thì như nhau”. Cũng theoTừ
điển nầy Tham dục là sự cuốn hút vào vòng trần
cảnh thuận tình mà không biết chán gọi là tham
dục, tức tham muốn sắc dục, của cải thế gian mà
không biết chán, đắm đuối trong vòng trần tục ;
còn tham ái là không thể xa rời ngũ dục (năm
điều thèm muốn) tham và ái tuy chữ khác nhau
nhưng nội dung ý nghĩa như nhau.
Như phần mở bài đã nói ái dục tạo ra
muôn vạn chủng loại vật chất, của cải, những thứ
ấy trở lại phục vụ cho ái dục, cứ xoay vần như
thế mà không biết chán, cuộc sống càng tiện
lợi, ái dục càng cao, cái dục đòi hỏi chất lượng
của vật chất, để thỏa mãn nhu cầu tương đối, tạm
bợ của con người, con người trở lại nuôi lớn ái
dục, mà muốn có vật chất đầy đủ, con người phải
lao vầo tất cả các cuộc hơn thua, tranh giành
nhau, chiếm đoạt nhau chỉ vì cung và cầu đuợc
thoả mãn Cuộc sống cứ xoay quanh như thế như một
trục xoay không biết mõi, càng xoay , càng đắm
tức là tham dục là người thích cuộc sống bình
thường không cần sự thăng tiến tức chịu luân hồi
sanh tử.
Tham ái là không thể xa rời năm món dục
như tài sắc, danh, thực, thùy, nguyên nhân dẩ
đến tham tức là ái.
Tham tài: có hai nội tài và ngoại tài:
-Ngoại tài là của cải vật chất, tức tham
dục bao gồm những gì có giá trị như tiền của,
vàng bạc v..v... mà tiền là yếu tố quan trọng.
- Nội tài gồm ba nghiệp và sáu căn.
Đức Phật dạy “Nhân thân nan đắc, Phật
pháp nan văn” tức thân người khó được, Phật pháp
khó nghe, chỉ cần quan sát con vật nuôi trong
nhà cũng đủ khẳng định tại sao Đức Phật dạy như
thế. Khi ăn biết chọn món ngon, khi nói biết
diễn tả trọn vẹn tình cảm của mình (hỷ, nộ, ái
,ố, ai, bi, dục) qua các căn, có đủ các thức
biết phân biệt rõ ràng, con vật bị giới hạn rất
nhiều mặt thật là tội nghiệp làm sao, chính là
sự ngu si mang đến cho chúng. Con người hơn
chúng mà tham nội tài luôn trau chuốt thân mà
không biết nương vào thân để làm tất cả các điều
thiện, thì tương lai sẽ không thọ thân tướng con
người nữa mà là thân súc sanh, đau khổ như chúng
vật vậy.
- Tham sắc:
Là những gì có hình sắc, như trắng, đen,
vàng, hay vuông, tròn, dài, ngắn, những gì các
căn tiếp xúc được, sờ mó được.
Sắc là biến hoại, chất ngại; chướng ngại
là có hình sắc, và gây chướng ngại lẫn nhau, sắc
là vô thường, biến đổi thế mà con người lại chấp
sắc ấy là ta là của ta, là tự ngã của ta.
“con tôi, tài sản tôi
Người ngu sanh ưu não,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu”
[62,5]
Tham sắc tức tham những thứ tạm bợ, vô
thường hay nhận khổ đau về mình “Vật vô thường
khổ vui?”; “Bạch Phật vật ấy khổ”
- Tham danh:
“Danh là thanh danh” theo cụ Đào Duy Anh
tức danh lợi và danh vọng là tiếng tâm tốt là
lợi lộc”
- Tham thực:
Thức ăn là phương tiện, giúp thân thể
cường tráng, khỏe mạnh mới đạt được mục đích
cuối cùng, tùy con người muốn, với mục đích giải
thoát không thể đạt được an lạc khi một thân
thể bạc nhược.
Có khi vì thức ăn dẫn đến tranh cãi,
đánh nhau, hiềm hận nhau mà xã hội thường diễn
ra những tình huống thật sót xa và đáng tiếc dẫn
đến, cân non, đong thiếu, gian lận,” tôi” Đây là
tôi, đây là của tôi , đây là tự ngã của
- Tham thùy:
Tham thùy là một trong năm triền cái làm
chướng ngại thiền quán, hay hôn trtầm là ác
pháp, làm ngưng trệ chánh niệm tức không có
chánh tư duy.
Người đời thường lấy việc ngủ nghĩ làm
cứu cánh, dân gian có câu “Ăn được ngủ được là
tiên”. Chính vì vậy họ mất rất nhiều thời gian
cho nó, vì giấc ngủ họ có thể sân giận, bức
bách, chưởi nhau, xâu xé nhau bằng ác khẩu đến
tội nghiệp, vì giấc ngủ họ đầu tư nhiều của lảng
phí v.v... mà không biết dùng lại. Vậy tham
thùy là một ác pháp, sự bất thiện nầy là nhân
của si mê tức địa ngục.
- Sân: “Tiếng phạn (Krodha) còn gọi là
sân khuể là một trong ba độc (Tham, sân, si)
tiếng Phạn là thất-la-đ&agra