HẠNH PHỔ HIỀN BỒ
TÁT KHUYẾN PHÁP TRONG KINH PHÁP HOA
Thích Nữ Liên Hiệp
Phần dẫn
nhập
Mục đích tối thượng của
người phát tâm xuất gia là đạt thành Phật qủa.
Song, muốn thành tựu qủa Vô Thượng Giác, dù đi
trên bất cứ lộ trình nào nhưng giai đoạn cuối
tất yếu hành giả phải trải qua quá trình hành Bồ
Tát đạo theo kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Kinh pháp
hoa là một Đại Sự của Chư Phật, là yếu môn của
Bồ Tát, là Chân Như Bình Đẳng của Như Lai. Kinh
chứa đựng tư tưởng Liễu nghĩa tối thượng thừa
Phật giáo, chỉ có Phật cùng Phật mới hiểu mà
thôi. Hàng chúng sanh phải đầy đủ niềm tin và
căn lành mới có thể hội nhập được Lý Kinh phát
tâm tinh tấn tu hành theo Bồ Tát đạo trải qua
hằng hà sa a tăng kỳ kiếp không hề lui sụt mới
mong đạt thành Chánh Giác.
Bồ Tát đạo theo tinh
thần Kinh Pháp Hoa không phải là những con đường
đầy hoa thơm cỏ lạ, có giếng nước trong, có tàng
cây râm mát, có thảm cỏ xanh mơn mỡn cho lữ hành
dừng bước nghỉ ngơi; mà lộ trình ấy chỉ toàn là
gai chông, sỏi đá, những thác nước gập ghềnh,
những vực sâu thăm thẳm luôn chực hờ những kẻ sa
chân. Vì thế, những ai thiếu niềm tin, không đủ
nghị lực chắc chắn không thể nào vượt qua những
chặng đường nguy hiểm đó mà trong Kinh diễn tả
từ lộ trình phàm phu đến thế giới Phật phải trải
qua năm trăm do tuần đường hiểm. Do nhìn thấy
chúng sanh chịu bó tay trước những khó khăn như
thế mà phải vình viễn đau khổ trầm luân, đong
đưa thân phận trên dòng cuồng lưu của sanh tử
luân hồi; Chư Phật, hàng Bồ tát vận lòng bi mẫn
không an hưởng trong thế giới Hoa – Tạng của Qúi
Ngài mà bước chân vào dòng đời ngũ trược cùng
làm bạn, làm thầy, làm người hỗ trợ… để sách
tấn, khuyên răn, giúp đỡ nhau… đồng đi đến chân
trời Tuệ giác.
Ngài Phổ Hiền Bồ Tát là
một vị Cổ Phật đã nhiều đời nhiều kiếp tu nhân
hạnh Bồ tát, đã từng gần gũi vô số Chư phật đề
thừa sự cúng dường…, từng trải thân nơi cõi ta
bà để làm lợi ích cho quần sanh. Với lòng từ bi
vô lượng, Ngài mang tất cả nguyện lực gia bị cho
mọi hành giả đã và đang phát tâm tu, học và hành
Diệu Pháp. Ngài sẵn sàng hiện thân khích lệ cho
tất cả những ai chưa phát tâm sẽ phát tâm dõng
mãnh thực hành Bồ tát đạo hầu đạt đến cứu cánh
an vui.
Bao giờ còn chúng sanh
đau khổ là Ngài còn lưu gót chân hành hoá trên
mọi nẻo đường đề tuyên giảng pháp mầu tối thượng
cũng như âm thầm mật tá cho những hành giả Pháp
Hoa được an lành tiến dần lên bờ giác. Chính
thế, mà dòng sinh mệnh của Pháp Hoa dù trải qua
hơn hai mươi lăm thế kỷ vẫn trường tồn, bất biến
với thời gian. Và dòng sinh mệnh ấy sẽ trôi chảy
miên viễn nếu trên cõi đời này vẫn còn những
người mang tâm hạnh lợi tha, vượt muôn vạn khó
khăn đem Pháp Hoa chan hoà trong cuộc sống.
Nhớ lại, từ thuở nhỏ,
con đã yêu cảnh núi rừng, thích vui với trăng
thanh, bạn cùng với chim muông và cỏ lá. Tình
yếu ấy cứ lớn dần theo năm tháng và theo tôi đến
tận chốn Không Môn. Thuở ấy, con còn là một chú
Sa Di ni, được học hạnh “Viễn Ly” qua bài Kinh
Di giáo, đến câu:”…Dục cầu tịch tịnh vô vi an
lạc, đương ly hội náo độc xứ nhàn cư …:”. Với
trí tuệ thiển cận và tầm nhìn còn non dại, tuy
học nhưng chưa thấu hiểu hết áo nghĩa và tôn chỉ
của lời kinh; cho nên khế hợp với bẩm tánh của
riêng mình và do vậy mà con thích ẩn tu trong
thiền thất trên núi rừng hoang dã. Đến khi “
dòng suối Pháp Hoa” được Thầy tuyên giảng, con
mới cảm nhận rằng từ lâu mình đã vô tình cô phụ
hoài bão cao xa của Chư Phật, dẫm đạp lên niềm
tin và ước vọng của Tôn Sư. Con thấy mình có lỗi
với Qúi Ngài và không làm tròn bổn phận với quần
sanh. Cũng từ đó, con nguyện mình sẽ đi trên lộ
trình Pháp Hoa mà Chư Phật – Chư Bồ Tát và vị
Thầy khả kính đã và đang dấn bước. Lộ trình tuy
khó và hạnh nguyện của Ngài Phồ Hiền Bồ Tát vừa
cao xa vừa đa dạng, nhưng nhìn lại thực trạng
đau khổ của chúng sanh, người cuộc sống tuy cao
sang sung mãn nhưng tâm linh luôn đau khổ bất
an, kẻ xó chợ đầu đường chịu cảnh màn trời chiếu
đất, miếng cơm không có ăn, manh áo không đủ mặc
thì thử hỏi nội tâm đau khổ biết chừng nào! Vả
lại, mục đích của người xuất tục vi Tăng phải
trên cầu Phật đạo, dưới hoá độ chúng sanh. Do
vậy, dù còn nhỏ, Phật học chưa thâm, nghị lực
chưa dũng, trí tuệ chưa thành, lòng từ bi chưa
trọn vẹn nhưng tôi nguyện cố gắng ngay từ khi
còn ngồi trên ghế nhà trường sẽ tu, học, noi
theo Hạnh nguyện của Qúi Ngài dù chỉ trên lý
thuyết và thiểu phần trong thưc tập hầu gieo
duyên để mai này lấy đó là tư lương cho qúa
trình tự tịnh hoá bản tâm và cùng giúp chúng
sanh đồng tiến về Bảo Sở. Phải chăng, đây là tất
cả tâm nguyện thiết tha để con viết lên tập Luận
văn này.
Vấn đề tài liệu thì quả
là một khó khăn cho bài viết. Kinh Pháp Hoa là
một trong những bộ kinh Đại thừa được phiên
dịch, lưu truyền và phổ biến trên khắp thế giới,
đã có nhiều công trình nghiên cứu về lập trường
của nó. Tuy nhiên. Phần lớn các công trình ấy
còn nằm nguyên ở Hán ngữ, Nhật ngữ, và Anh ngữ …
chỉ có một số rất ít được dịch ra Việt ngữ. Như
cuốn “ Kinh Pháp Hoa” do Học giả Đoàn Trung còn
so sánh với hai bản Pháp và Hán mà dịch ra vào
năm 1947, đặc biệt là cuốn Kinh “ Diệu Pháp Liên
Hoa” của Hoà Thượng Thích Trí Tịnh dịch vào
khoảng năm 1917 từ bản Hán “Diệu Pháp Liên Hoa
Kinh” của Ngài Cưu Ma La Thập dịch từ Phạn bản
(Saddharma-punrika sutra) gồm 07 quyển, 28 phẩm
là phổ biến hơn cả. Ngoài ra, cũng còn một số
công trình nghiên cứu lẻ tẻ như “ Đại ý Kinh
Pháp Hoa” của Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, “
Pháp Hoa Thâm Nghĩa Đề Cương” của Hòa Thượng
Thích Từ Thông, “Lược giải nghĩa kinh Pháp Hoa”
của Hòa thượng Thích Trí Quảng và “Pháp Hoa
Huyền Nghĩa” của Cư Sĩ Mai Thọ Truyền … Như trên
đã trình bày, vấn đề tài liệu nghiên cứu của
Kinh Pháp Hoa tuy nhiều, nhưng vẫn còn mặt hạn
chế về tài liệu bằng Việt ngữ. Hơn nữa, với tài
liệu riêng nói về “ Hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ
Hiền” trong phẩm ‘Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát”
thì ít có vị nào giảng giải, chỉ có vài bài luận
ngắn của Hoà Thượng Thích Trí Quảng mà thôi. Tuy
nhiên, với những tài liệu thu thập được cùng
với sự học tập nơi Hoà Thượng giáo Sư hướng dẫn
bộ môn khả kính và chút ít tư lương mà thuở nhỏ
Thầy đã dày công truyền thụ, tôi xin lấy đó làm
nguồn tài liệu để diễn giải, trích dẫn trong
tập luận này.
Đây là bài Luận văn tốt
nghiệp, dẫu sao cũng là sự đánh dấu quan trọng
đối với thành qủa tu học trong bốn năm dưới mái
Trường CCPHVN. Chính vì vậy, con xin thành kính
dâng lên niềm tri ân sâu xa đối với Hòa Thượng
Hiệu trưởng Thích Minh Châu, Chư Tôn Đức và Qúi
Liệt vị trong Ban Giám Hiệu, chư Hòa Thượng, chư
Thượng Toạ, Chư Giáo Sư trong Ban Giảng Huấn đã
vì tiền dồ Phật pháp, bất từ bi quyện, không
quản tuổi cao sức yếu đã truyền trao kiến thức
và kinh nghiệm tu học của Qúi ngài cho chúng con
từng bước đem Đạo vào đời. Đặc biệt, con xin tri
ân tấm lòng của bậc Aân Sư khả kính: Hoà Thượng
Giáo Sư Tiến Sĩ Thích Trí Quảng-Trưởng Ban Hoằng
Pháp Trung ương đã đôn hậu tận tụy giúp đỡ hướng
dẫn con hoàn thành tập luận văn này. Sau cùng,
xin trân trọng ghi ân tác giả của những tác phẩm
đã cung cấp nhiều tư liệu biên khảo giá trị cho
bài Tiểu luận.
Vì đây là lần đầu tiên
trong việc nghiên cứu đề hình thành tiểu luận,
với kiến thức còn cạn hẹp chắc chắn luận văn này
sẽ không tránh khỏi những vụn về thiếu sót.
Ngường mong chư Tôn Đức, chư Giáo sư, chư Pháp
lữ niệm tình hoan hỷ chỉ bảo thêm.
NỘI DUNG
Chương 1:
I.KHÁI QUÁT VỀ KINH PHÁP HOA
1.1 /Ý nghĩa đề kinh:
Tựa đề kinh gồm có năm
chữ “ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” được gọi tắt là
kinh Pháp Hoa, nói cho đủ là “ Diệu Pháp Liên
Hoa giáo Bồ Tát pháp Phật hộ niệm”, hay còn gọi
là “Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”.
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh,
là tên được Ngài Cưu Ma La Thập dịch lại từ bộ
kinh mang tên tiếng Phạn là Saddharma
Pundarikasutra. Hai chữ Diệu Pháp là chỉ cho
Pháp tức là chỉ cho tri kiến Phật, hay nói một
cách khác là thể tánh mầu nhiệm vốn có của chúng
sanh, tánh trong sáng thanh tịnh ở thánh không
tăng, ở phàm không giảm, không phải đợi đến lúc
thành Phật mới có, mà nó vốn sẵn có trong mỗi
chúng sanh. Do vô minh phiền não che lấp nên
không thể hiển lộ, còn nói một cách khác Diệu
Pháp là pháp vi diệu, khó nghĩ và khó bàn, bởi
vì chúng ta nói đến tri kiến Phật, là tâm thể
thanh tịnh của chúng sanh là” nhất chân thật
tướng pháp giới, cũng gọi là Diệu Pháp có ba
nghĩa.
a)Thật tướng bình
đẳng:
Là tướng chân thật của
tất cả vạn pháp, tướng này không nhơ, không
sạch, không thêm, không bớt, không sanh, không
diệt, không thường, cũng không đoạn.Thật tướng
là vô tướng và cũng vì nó là vô tướng nên hình
thành tất cả tướng. Như nước vốn không có tướng
vuông tròn, dài, ngắn, nên gọi là vô tướng,
tướng vuông thì ở trong thùng vuông, tướng tròn
thì ở trong thùng tròn, nếu như nước không có
sẵn tướng tròn hay vuông nhất định, thì sẽ không
thành ra các tướng khác, dù có khác tướng mà
nước vẫn vô tướng, mà đã là vô tướng thì nhất
như bình đẳng.
b) Đại Huệ bình
đẳng:
Khi chúng ta nhận thức
được và ngộ nhập được thật tướng bình đẳng vô
tướng đó hay còn gọi là bình đẳng Đại Huệ, Đại
Huệ bình đẳng hay còn gọi một cách khác là Phật
tánh, Phật tri kiến Đại Huệ bình đẳng chúng sanh
đều có, nó mầu nhiệm nên gọi là Diệu Pháp “Thậm
thâm vi diệu pháp”.
c) Khai quyền hiển
thật, hội tam quy nhất:
Trong hội Pháp Hoa, Phật
khai quyền hiển thật, hội Tam quy nhất mà đưa
những pháp môn từ trước đồng về nhất thừa, vì
trước đó Ngài phân ra pháp môn của Thanh Văn,
Duyên giác, Bồ Tát đến hội Pháp Hoa Phật nói đó
chỉ là phương tiện, “Thập phương Phật độ trung,
duy hữu nhất thừa pháp, vô nhị diệc vô tam, trừ
Phật phương tiện thuyết”.
Liên Hoa dụ cho tri kiến
của Phật, Liên Hoa tiếng Việt gọi là Hoa sen, là
một loài hoa từ vũng bùn vươn lên nhưng sắc
hương của nó luôn nhẹ nhàng thanh khiết và bao
gồm những đặc tính cao qúy mà ở các loài hoa
khác không thể có được. Cho nên kinh Diệu Pháp
Liên Hoa lấy Hoa sen làm biểu tượng, vì hoa sen
có nhiều đặc điểm.
Hoa sen ở trong bùn lầy
nhơ nhớp mà vẫn không bị hôi tanh, vẫn đẹp thơm
tinh khiết, cũng vậy trong thân Ngũ uẩn ô uế này
luôn hằng hữu một pháp thân thanh tịnh hay kinh
Pháp Hoa còn gọi là tri kiến Phật.
Hoa sen còn có nghĩa là
nhân qủa bình đẳng, trong Hoa sen đã có quả, khi
chưa nở đã có quả rồi, nên gọi là hoa qủa đồng
thời, khi hoa nở thì quả cũng hiển bày, như vậy
đại huệ bình đẳng, thật tướng bình đẳng từ trong
nhân đã có quả và từ trong quả đã có nhân, nhân
quả đồng thời.
Như chúng ta đã biết,
Đức Phật đã sanh ra giữa cõi đời mà không bì
nhiễm mùi đời, mà Ngài đã thoát lên tất cả những
gì ô nhiễm của đời và đem lại sự an lạc và độ
thoát cho chúng sanh, Ngài là Hoa sen không
nhiễm mùi bùn mà còn tỏa hương cho đời.
Như vậy sự hiển lộ đồng
thời của cánh, nhụy, gương, hạt đã tượng trưng
đầy đủ ý nghĩa nhân quả đồng thời một cách trọn
vẹn. Căn cứ cào sự hiển lộ đồng thời của nhân
quả nhằm khẳng định cho chúng ta rằng: chúng
sanh mặc dù đang rong ruổi theo trần lao nhơ
nhớp nhưng tri kiến Phật đã tự tròn đầy trong
sáng từ vô thủy vô chung.
Tuy hoa có nhiều loại
khác nhau và nở có nhanh có chậm, nhưng nó đều
mang một tánh đồng nhất, đó là hoa nào cũng đầy
đủ gương hạt, cánh cũng vậy, còn chúng sanh tuy
căn tánh bất đồng, tuy bị vô minh tham ái chấp
thủ, làm lu mờ tâm tánh nhưng bản thể chơn
thường kia vẫn không hề mai một, dù trong thân
ngũ ấm kia, luôn bị thiêu đốt bởi lửa tham - sân
- si, phiền não luôn bị ngập chìm trong ái dục
vọng, nhưng không vì vậy mà Phật tánh kia bị mất
đi hay nhiễm theo pháp bất thiện ấy, mà kỳ thật
nó luôn tìm ẩn trong chúng sanh, như Hoa sen kia
tuy trong bùn nhơ nước đọng nhưng vẫn hiển hiện
sự thanh khiết. Cho nên Ngộ Aán thiền sư có nói:
“ Diệu tánh rỗng không
chẳng dễ tin
Tươi nhuần sắc ngọc
trong núi cháy
Lò lửa Hoa sen nở thật
xinh”
Chính vì những đặc tính
đáng qúy đó mà Đức Phật đã mượn Hoa sen để đặc
cho tên kinh.
Kinh là những lời dạy
của Đức Phật đã nói khi còn tại thế, là những gì
Ngài đã thực tu, thực chứng, nhưng quá trình
thực nghiệm tâm linh và Ngài đã dạy cho chúng
sanh nhằm giúp cho con người diệt trừ phiền não
khổ đau đạt đến an lạc giải thoát.
Như vậy Đại thừa Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh là bộ kinh thuộc hệ tư tưởng
tối thượng thừa, đây là giáo lý tối thượng dạy
cho con người có một cuộc sống đúng theo chân
lý, không bị điên đảo vì ảo tưởng trong khi sống
trong cỏi Ta bà này, nếu ai hành trì kinh này
thì sẽ đem lại lợi ích cho mình cho người, và
cho xã hội nhân loại, và có khả năng nhận biết
mình có thể thành Phật, thì Đức Phật mới đem sự
thật này ra chỉ bày, chơn lý là lẽ thật của vạn
pháp thành, trụ, hoại, diệt, không là chân lý,
vì trên bình đẳng môn thì mọi người đều có tâm
thanh tịnh như nhau, nhưng vấn đề thành Phật sớm
hay muộn đều do mỗi con người gạt bỏ vô minh,
bao nhiêu thì tri kiến ấy hiển bày bấy nhiêu mà
gọi là chứng đắc thành Phật. Thành Phật là gì?
Chúng ta chỉ tạm mượn ngôn từ để diễn tả qua một
quá trình đấu tranh liên tục và phát triển về
mặ giải thoát giác ngộ cãi tạo, những tư tưởng
hắc ám vô minh, những tâm lý có tinh si mê ích
kỷ và trở thành tư tưởng trong sáng cao đẹp, vị
tha, thành Phật tức là ngày trở về bản nguyên
của mình, là liễu nhân Phật tánh, còn vấn đề tu
hành chỉ là việc lau bụi của gương, chùi keo của
vàng, bụi và keo hết thì gương và vàng tự hiện.
“Mộc trung
nguyên hữu hỏa
Nguyên hoả
phục hoàn sanh
Nhược vị mộc
vô hoả
Toàn toại hà
vô manh”
Điều này xác định lập
trường của kinh Pháp Hoa rằng mọi người sẽ thành
Phật, tức trong tâm của mỗi người chúng ta đã có
sẳn “Phật tánh” cũng như trong gỗ có sẳn lửa rồi
vậy.
1.2/ Xuất sứ và sự
truyền dịch kinh Pháp Hoa:
a) Xuất xứ:
Đối với kinh Pháp Hoa,
tri thức không thể đi sâu vào đạo, hay nói khác
dùng tri thức để hiểu kinh thì hoàn toàn mù tịt,
vì kinh này từ hàng Bồ Tát trở xuống không thể
hiểu nổi, chỉ có “Duy Phật dữ Phật nãi năng kiến
tận chư pháp thực tướng”. (Chỉ có Phật vời Phật
mới có thể hiểu được thật tướng của vạn pháp).
Nhưng dùng niềm tin để đi vào đạo thì sẽ nhận
được cái gọi là “Bất khả tư nghì” như vậy, đứng
từ góc độ “niềm tin” thì dòng lịch sử kinh Pháp
Hoa được khởi điểm từ phẩm “Như Lai Thọ Lượng
thứ 16” từ ngũ bách ức trần điểm về trước cho
đến nay, đây là lịch sử siêu hình, còn về lịch
sử hiện thực tức lấy khởi điểm từ Đức Phật Thích
Ca thuyết Pháp Hoa kinh ở non Linh Thứu tại
thành Vương Xá nước Ma Kiệt Đà cho đến ngày nay.
Song, trên chỉ là lịch sử truyền thừa kinh Pháp
Hoa về mặt ngôn ngữ chứ chưa diễn đạt bằng văn
tự, mãi cho đến thời kỳ Đại thừa Phật giáo thành
lập do sự bất thiết của lịch sử cần có tiếng nói
“Nhập thế tích cực” và cần có một bộ kinh có
quan điểm “ nhất thừa” có khả năng dung hòa lớn,
hầu thống nhất các bộ phái về mặt giáo lý mà từ
đó bộ Kinh Pháp hoa được hình thành. Xét về niên
đại thành lập của Kinh Pháp Hoa, quả thật là khó
đưa ra một niên biểu chính xác. Các tài liệu sử
chỉ đề cập một cách chung chung là Kinh Pháp Hoa
chắc chắn được thành lập trước thời kỳ Ngài Long
Thọ. Tuy nhiên, nhiều Sử gia về lịch sử của kinh
điển đại Thừa thì tất cả đều nhất trí rằng: “
Kinh Pháp Hoa có sớm nhất là vào khoảng 100 năm
trước CN, ứng với thời kỳ đầu của lịch sử thành
lập Kinh diển Đại thừa Phật giáo.
b) Sự truyền dịch
Kinh Pháp Hoa:
Phiên dịch:
Kinh Pháp Hoa là một
trong những bộ Kinh được truyền dịch ra nhiều
thứ tiếng, đồng thời được lưu truyền sâu rộng
trên toàn thế giới.
Sự nghiệp dịch Kinh
Pháp Hoa, ở Hán dịch. Người đầu tiên dịch Kinh
này là Ngài Chi Khiêm, Cư sĩ nước Ngô, thời đại
Tam Quốc (225-253TL) dịch riêng phẩm Thí Dụ gọi
là “Phật dĩ Tam Xa hoán kinh”, một quyển. Sau
đó, sáu bản khác nhau nữa được dịch trong sáu
lần nhưng hiện tại chỉ còn ba bản được lưu hành,
ba bản đã bị thất lạc nên gọi là “Lục dịch tam
tồn”. Sáu bản đó là:
+”Pháp Hoa Tam Muội Kinh
06 quyển, Ngài Cương Lương Tiếp (Kalasivi) dịch
năm Ngũ Phượng thứ 2 (255 TL), đời Tôn Lượng.
+ “Tát vân phần Đà lị
Kinh” (Saddharma punrika sutra) 06 quyển, Ngài
Pháp Hộ (Dharma saksa) dịch lần đầu, ở năm đầu
Tần Thủy 265 TL, đời Tây Tấn.
+ “Chính Pháp Hoa Kinh”
10 quyển, cũng Ngài Pháp Hộ dịch lần cuối năm
thứ 7, niên hiệu Thái Khang (286 TL), đời Tây
Tấn.
+ “Phương đẳng Pháp Hoa
Kinh” 05 quyển, Ngài Chi Đạo căn dịch, năm đầu
Hàm Thanh (335 TL), đời Đông Tấn.
+ “Diệu Pháp Liên Hoa
Kinh” 07 quyển , sau đổi thành 08 quyển, Ngài
Cưu La Ma Thập (Kumarajiva) dịch năm Hoằng Thủy
thứ 8 (406 TL), đời Diêu Tần.
+ “Thiêm phẩm Diệu Pháp
Liên Hoa Kinh” 07 quyển, Ngài Xà La Hốt Đa
(Jnanagupta) và Đạt Ma Cấp Đa (Dharmagapta) cùng
dịch ở năm đầu Nhân Thọ (601 TL), đời Tùy.
Ba bản hiện đang lưu
hành ấy là:
a) Chính Pháp Hoa Kinh
b) Diệu Pháp Liên Hoa Kinh
c) Thiêm phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh
Ngoài Hán dịch ra, các nhà học giả về Phạn ngữ
của Âu Tây cũng thiên về nghiên cứu và phiên
dịch Kinh Pháp Hoa. Năm 1852, ông Burnory nhà
Phạn ngữ đầu tiên của Pháp đã phiên dịch Kinh
Pháp Hoa từ chữ Phạn ra chữ Pháp gọi là “Le
lotus de la Bonne toi”. Tiếp theo, năm 1884, nhà
Thạc học -Kern - người Hà Lan dịch Kinh Pháp Hoa
từ chữ Phạn ra tiếng Anh gọi là “The lotus of
the True Law”. Năm 1913, Kern cùng với Nam Điều
Văn Hùng (Nanjo Fumio) Nhật Bản đem các Phạn bản
cũ và các phiến Phạn bản mới khai quật được ở
các nước so sánh, đối chiếu soạn thành “Phạn văn
Pháp Hoa “ …Ngoài ra, lại còn các bản ngữ dịch
của Mông Cổ, Mãn Châu, Cao Ly, Nhật Bản và Việt
Nam.
Ở Việt nam, vào thời kỳ
chữ Hán, bộ Kinh Pháp Hoa 06 quyển đã được dịch
tại Giao Châu, nơi có Trung tâm Luy Lâu nổi
tiếng vào năm 256. Bộ Kinh Pháp Hoa bằng chữ Nôm
hiện vẫn còn lưu giữ tại Đông Phương Văn khố
Tokyo. Đến thời kỳ Quốc ngữ, bộ Kinh Pháp Hoa đã
được học giả Đoàn trung còn dịch vào năm 1937 từ
hai bản Pháp và Hán. Mười năm sau, bộ Kinh Diệu
Pháp Liên Hoa đã được Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
phiên dịch ra. Đó là bộ Kinh phổ thông nhất
trong Tăng Ni và tín đồ Phật tử Việt Nam và từ
lâu đã trở thành Kinh Nhựt tụng.
Nguyên bản:
Vào khoảng đầu TK 19,
Công sứ người Anh là ông Hamilton tìm thấy ở
Népal một bộ Kinh Pháp Hoa bằng chữ Phạn viết
trên lá bối. Sau đó, có 19 bản Pháp Hoa khác
chép tay bằng Phạn ngữ được phái đoàn người
Nhật, Anh, Pháp (Đức tìm thấy. Về sau, bốn phái
đoàn thám hiểm Nhật, Anh, Đức, Nga tìm thêm được
ở vùng Kotan sáu bộ Kinh Pháp Hoa bằng Phạn ngữ
và một bộ kinh ở Kucha (quê của ngài Cưu Ma La
Thập). Đến năm 1932, một bộ Kinh Pháp Hoa cổ
nhất được tìm thấy ở vùng Kashmir nối liền với
Afganistan. Bộ kinh này gồm 2/3 bằng chữ Phạn và
một phần ba bằng chữ Magadhi là loại chữ cổ nhất
của nước Ma Kiệt Đà. Gần đây, nhà học giả
Hodgson đã phât hiện được nguyên bản Phạn ngữ
Kinh Pháp Hoa trong phạn ngữ Phật điển ở Népal.
1. 3/ Tích môn và bản
môn:
Từ xưa đã có nhiều nhà
tri thức Phật giáo nghiên cứu về bản văn Phật
điển, mỗi nhà đưa ra một phương pháp riêng,
trong đó phải kể đến cách chia khoa văn của ngài
Thiên Thai Trí giả đại sư là khúc chiếc, rõ
ràng, dể hiểu. Người đọc, người nghe dể nắm bắt
được yếu chỉ kinh Pháp Hoa. Theo Ngài thì toàn
bộ kinh chia hai phần:
14 phẩm đầu là Tích môn.
14 phẩm sau là Bản môn.
1.3.1 Tích môn:
Tích môn nói đủ là “Tích
môn tích hoá “Tích là dấu tích, môn là phương
tiện. Tích môn là phương tiện thị hiện ra nơi
đời hoá độ chúng sanh của Đức Phật thích Ca Mâu
Ni, nhân vật lịch sử cách đây hợn 25 thế kỷ.
Tích môn chia làm
03 phần như sau:
Tự phần :
Phẩm tựa: giới thiệu tổng quan.
Chính tông
phần: từ phẩm phương tiện đến nửa phẩm pháp sư:
trong phần này được chia 03 phần gọi là “ Tam
châu thuyết pháp”.
*/ Pháp thuyết châu
(phẩm phương tiện): Đức Phật giảng nói về tri
kiến Phật. Đây là vần đề thâm sâu khó hiểu, chỉ
có bậc đại căn đại trí mới lãnh hội được.
*/ Dụ thuyết Châu: Từ
phẩm 3 (Thí dụ) đến phẩm 6 (Thọ ký) : trong khi
nói pháp vẫn có người chưa thể hiểu được tri
kiến Phật. Phật dùng vô số phương tiện thí dụ
giảng giải cho họ hiểu hơn về tri kiến Phật.
*/ Nhân duyên thuyết
Châu: Từ phẩm 7 (Hoá thành dụ) đến phẩm 9 (Thọ
học vô học nhơn ký): vì hàng tiểu cơ nói nhân
duyên đời quá khứ họ đã từng gặp Phật, phát tâm
cầu Đại thừa. Nhưng vì cách ấm không thể nhớ
được quá khứ, nay Phật nhắc lại khiến họ phát
tâm lòng tin nơi khả năng thành Phật của mình.
Trong Tam chu thuyết
pháp mỗi chu có 04 đoạn:
- Chính
thuyết: Đức Phật nêu lên vấn đề (Phật tri kiến).
- Lĩnh giải :
Vần đề ấy đước thính chúng hiểu.
- Thuật thành:
Phật ấn chứng thính chúng đã hiểu vấn đề.
- Thọ ký: Phật
dự đón tương lai các đệ tử sẽ thành Phật.
Lưu thông phần: Từ phẩm
nửa sau của phầm 10 (pháp sư) đến phẩm 14 (An
Lạc Hạnh) phần này nói về khả năng thành Phật
của chúng sanh và điều kiện để hiểu và nói Pháp
Hoa.
Nhìn chung phần Tích môn
nổi rỏ 04 vấn đề:
a. Khai hiển: Phật vì
căn cơ chúng sanh bất đồng nói ra ba thừa: Thanh
văn, Duyên giác, Bồ tát nhưng cuối cùng đưa về
nhất Phật thừa. Gọi là ‘ Khai tam hiển nhất
“hay” Khai quyền hiển thật”.
b. Phật tri kiến : Phật
tri kiến là sự thấy biết toàn diện của Phật,
không có ngã tính và rơi vào thiên chấp nào,
nhìn sự vật một cách như thật. Đây cũng chính là
trí tuệ của Phật.
c. Chư pháp Phật tướng:
trên mặt hiện tượng thì vcác pháp là do duyên
sanh nên chịu sự chi phối của định luật vô
thường, các pháp đó không tồn tại độc lập nên
không có ngã tính. Nên nói “ Chư hành vô thường,
chư pháp vô ngã” là thật tướng của các pháp biểu
hiện qua kinh văn là Thập Như Thị.
d. Thọ ký thành Phật:
bậc thượng trung hạ căn cho đến nhất siển đề như
Đề Bà- Đạt - Đa, loại súc sanh như Long nữ (rồng
cái) hế thảy bậc hữu thọ vô học tất cả chúng
sanh Phật đều ấn chứng sau này sẽ thành Phật.
1.3.2 Bản môn:
Bản môn nói đủ là Bản
môn bản hoá.
Phật thị hiện ra các
tướng như Đản sanh, thành đạo, Niết bàn… đều
xuất pháp từ bản Phật, Bản môn siêu việt không
gian thời gian, nếu còn tư duy nhị nguyên thì
không thể nào hiều được Bản môn là bản địa xa
xưa của Đức Phật và các hàng đệ tử… còn gọi là
“Cửu viễn thực thành”
Bản môn có 03 phần:
Tự phần: nửa đầu phẩm
Tùng Địa Dũng Xuất.
Chính tông phần: từ nửa
sau phẩm Tùng Địa Dũng Xuất đến nửa đầu phẩm
Phân Biệt Công Đức.
Trong phần này nói về
tuổi thọ của Phật là vô lượng, điểu này biểu thị
sức thần thông bí mật của Như Lai không thể nào
suy lường. Nên Phật phải lấy thí dụ “ Ngũ bách
trần điểm kiếp” cho hiểu và làm sáng tỏ ý tưởng
“ Cửu viễn thực hành” của Đức Thích Ca Mâu Ni
Phật và như vậy đủ biết sự nghiệp giáo hoá chúng
sanh không thể nào tính đếm suy lường được, vượt
cả không gian và thời gian. Từ “ Cửu viễn thực
thành” cũng nói lên bản thể chơn thật trong tất
cả chúng sanh, thật tướng không hư vọng của vạn
pháp.
Phẩm phân biệt công đức
nói về công đức của người dã tin hiểu ý nghĩa:
“Cửu viễn thực thành” của Như Lai và Chúng sanh.
Lưu thông phần: từ nửa
sau phẩm Phân biệt công đức đến phẩm Phổ Hiền:
tuy là phần lưu thông nhưng cũng nói rỏ thêm cho
phần chính tông. Người lãnh ngộ, tin hiểu, tùy
hỷ, lễ bái, đọc tụng, thọ tri kinh Pháp Hoa được
nhiều công đức và lợi ích, nên khuyên mọi người
tu tập thục hành kinh Pháp Hoa để đạt tri kiến
Phật.
1.3.3 c)
Tích bản bất nhị:
Bản Phật là Phật “ Cửu
viễn thực thành” thị hiện ra nơi đời đó là “
Tích Phật. Bản phật là Phật tôn giáo vượt khỏi
chi phối không gian và thời gian. Tích Phật là
Phật trong thế giới tương đối chịu ảnh hưởng của
không gian và thời gian.
+ Trong phẩm tựa thứ
nhất quá khứ Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh và Ngài
Diệu Quang Bồ tát nói kinh Đại Thừa “ Diệp Pháp
Liên Hoa giáo Bồ tát pháp Phật sở hộ niệm “ trải
60 tiểu kiếp.
+ Phẩm Hiện Bửu Tháp
(11) quá khứ Đa bảo Phật ở nước Bảo Tích cách
đây vô lượng nghìn muôn ức vô số cõi nước ở
phương Đông đến nghe kinh, chứng minh và tán
thán kinh Pháp Hoa.
+Phẩm Đề-bà-đạc-đa (12)
tiền thân Phật l2 vị vua cầu pháp Đại thừa được
vị tiên nhơn (tiền thân Đề-bà-đạc-đa) nói kinh
Diệu Pháp Liên Hoa.
+Phẩm Thường Bất kinh
(20) tiền thân Phật là Thường Bất Kinh Bồ Tát
lúc lâm chung được nghe 20.000 muôn ức bài kệ
được sáu căn thanh tịnh, sống thêm 200 muôn ức
na do tha tuổi, giáo hóa nghìn muôn ức chứng
kiến trụ vào trong vô thượng chánh đẳng giác.
+Phẩm Dược Vương Bồ tát
bổn sự (23) quá khứ Phật Nhựt Nguyệt Tịnh Minh
Đức Như Lai, vì Ngài nhất thiết chúng sanh hỷ
kiến Bồ tát cùng và chúng thanh văn nói kinh
Pháp Hoa.
+Phẩn Diệu Trang Nghiêm
Vương bổn sự (27) quá khứ Phật Vân Lôi Aâm Tú
Vương Hoa Trí Phật có vua Diệu Trang Nghiêm xuất
gia, tám muôn bốn nghìn năm tinh tấn tu hành
kinh Pháp Hoa được “Nhứt thiết tịnh công đức
trang nghiêm tam muội”.
Qua đó ta thấy kinh Diệu
Pháp Liên Hoa từ qúa khứ vô lượng vô số ức a
tăngkỳ kiếp chư Phật, chư Bồ tát đã tu rồi. Như
vậy, Phật thành chánh giác từ quá khứ pháp của
Phật nói ra được Ngài chứng từ quá khứ, chúng
hội nơi Ngài thuyết pháp cũng có nhân duyên từ
đời trước. Từ đây toát ra ý nghĩa kinh Diệu Pháp
Liên Hoa không phải là bộ kinh theo lịch sử tri
thức con người, mà nó là một dòng trí tuệ trôi
chảy miên viễn bất tận từ thời Phật Oai Aâm
Vương cho đến ngày nay và mãi mãi (Phật Oai Aâm
Vương là thời Phật mà trước đó chưa có tên Phật
và tên chúng sanh), đây chính là sức sống của
Phật giáo Đại thừa đi vào tâm linh của con người
có lòng tin nơi Phật Pháp. Mà trong kinh Hoa
nghiêm nói “ Lòng tin là mẹ của các công đức”,
còn đại thừa khởi tín thì nói “Biển Phật pháp
mênh mông nhưng có tín căn thì vào được”. Trong
ngũ căn thì tín căn đứng đầu, nhờ tín căn mà
phát ra tín lực tạo nên một sức mạnh cho hành
giả phát tâm tu hành không lui sụt.
Đức Phật lịch sử biểu
hiện trí tuệ của Phật trong nhân gian, Đức Phật
tôn giáo biểu hiện lòng từ bi theo tín ngưỡng.
Nhưng từ bi và trí tuệ là hai mặt của bản thể
Phật có trí tuệ thì có từ bi và ngược lại. Nếu
như chỉ có một Thái tử Tất Đạt Đa tu hành thành
chánh giác mả không có lịch sử của cổ Phật xa
xưa thì đạo Phật không sống động như ngày nay.
Nếu chỉ có Phật “Cửu viễn thực thành” mà không
có một Thích ca Mâu Ni Phật, cách đây 25 thế kỷ
thì cũng là chuyện hoang đường. Đức Phật lịch sử
và Đức Phật tôn giáo cùng thuyết minh một chủ đề
nhất quan là bản thể Phật bất diệt.
1.4/ Vị trí kinh Pháp
Hoa trong hệ thống giáo lý đại thừa:
Như chúng ta đã biết, tư
tưởng Đại thừa xuất hiện ngay từ thời Đức Phật
còn trụ thế, mãi cho đến sau này khi Kinh Pháp
Hoa ra đời thì đây chính là thời điểm hoàn thiện
nhất của nền tảng tư tưởng Đại thừa. Trong đó,
Kinh Pháp Hoa biểu thị một sắc thái rất độc đáo
với tư cách là một tổng hòa của tư tưởng Đại
thừa Phật giáo. Theo Ngài Thiên Thai Trí giả Đại
sư (538-598) Vị Tổ sáng lập tông Thiên Thai thì
sự hoá đạo của Đức Phật trong năm mươi năm được
chia làm năm thời là Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương
Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa và Niết Bàn. Song, bốn
thời trước, do căn tánh chúng sanh độn trược và
bất đồng nên Đức Phật mở bày phương tiện nhằm
giúp chúng sanh nương vào đó mà hướng thượng.
Sau bốn mươi năm tôi luyện, Đức Phật nhận thấy
căn lành của chúng hội đã thuần thục dung thông
nên Ngài mới nêu lên Diệu Pháp, nói rõ lý Nhứt
thừa của kinh Pháp Hoa. Đây là pháp chơn thật
giúp cho chúng sanh biết nơi quy thú để từng
bước hội nhập Phật thừa. Ngay từ đầu trong kinh
đã xác định sự ra đời của Đức Phật với mục
đích:”Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri
kiến” (Khai mở tâm huệ cho chúng sanh thấy rõ
Phật tính và trở về sống với tánh Phật sẵn có
của mình). Tư tưởng Nhất Phật thừa này có một
sức mạnh mãnh liệt để xoá bỏ mọi thiên chấp của
các bộ phái trong quá khứ về Phật đạo. Mặt khác,
chỉ có tư tưởng này mới có khả năng hệ thống hoá
mọi cấp độ tâm linh thể nghiệm Phật giáo trong
cuộc sống. Điều này thấy rõ qua hình ảnh của
những con người ác độc nhất cuồng si nhất nhưng
vẫn có khả năng thành Phật. Song song đó, Ngài
Cát Tạng, vị sáng lập ra “Tam Luận Tông” ra ba
giai đoạn “Phế quyền tồn thật”, chính là mục
tiêu tối hậu của Đức Phật, Lại nữa, với tên gọi
Pháp Hoa, ở đó đã biểu hiện những giá trị chuẩn
mực gồm cả chân đế và tục đế, cả lý tưởng và
thực tại. Như vậy, chính những điểm đặc thù trên
mà các nhà Đại Thừa cho đến các nhà nghiên cứu
Phật học đều suy tôn kinh Pháp Hoa lên ngôi vị
Pháp Vương “Chúng Kinh chi Vương” là vua của tất
cả các Kinh vậy.
CHƯƠNG 2
2.1 Nội
dung phẩm “Phổ Hiền Khuyến phát”:
Nội dung của phần kinh
này nói về Ngài Phổ hiền Bồ tát từ phương đông
lại, Khải thỉnh đức Như lai tuyên thuyết giáo
pháp, được Đức Phật trả lời sau khi Phật nhật
diệt muốn có kinh Pháp Hoa phải thành tựu được
bốn pháp.
a. Được chư Phật
hộ niệm.
b. Trồng cội
công đức.
c. Vào trong
chánh định.
d. Phát tâm cùng
tất cả chúng sanh.
Bốn pháp này hay là bốn
điều kiện là cửa mở cho hành giả thâm nhập vào
thế giới Pháp Hoa, còn nói một cách khác người
nào thực hiện được bốn điều này, người đó sẻ
thành Phật.
Điều kiện thứ nhất là
phải được chư Phật hộ niệm: Trước hết, Phật có
thể hiểu theo hai nghĩa, một là Đức Phật bên
ngoài để tâm giúp đỡ trợ lực cho hành giả khi
tâm hành giả tương ứng được với Ngài, sự tương
ưng này không ở trên vọng thức mà tương ưng trên
chơn tâm, Phật hiểu theo nghĩa thứ hai là thể
tánh sáng suốt hằng hữu nơi mỗi chúng sanh không
phải là Phật bên ngoài hộ niệm cho hành giả. Như
bậy, muốn được Chư Phật hộ niệm thì tâm hành giả
phải tương thông với tâm Ngài tức là hành giả
phải có niềm tin vững chắc nơi Đức Phật, tâm
nghĩ nhừng điều như Phật nghĩ, miệng nói những
lời như Phật nói, thân làm những việc như Phật
làm. Chư Phật vì bi nguyện độ khắp tất cả chúng
sanh. Qúy Ngài không an hưởng trong Niết Bàn tối
thượng mà để tâm quán khắp pháp giới, nơi nào có
chúng sanh đau khổ thì Qúy Ngài hiện thân trong
tất cả các hình thức chỉ mong sao đem lại lợi
lạc cho quần sanh. Hành giả noi gương Chư Phật
từng bước tu tập trau luyện ba nghiệp ngày càng
thuần tịnh để làm mô phạm giáo hóa chúng sanh.
Hay nói khác hành giả quay trở về sống với bản
thể thường hằng trong sáng của mình, lẽ đương
nhiên cảm ứng đạo giao, tất yếu hành giả sẽ được
Chư Phật hộ niệm. Theo Kinh thì điều kiện để
hành giã được Chư Phật hộ niệm được ghi rõ trong
kinh rằng ai theo Ngài Phổ Hiền tu sẽ được Đức
Thích Ca xoa đầu, trực tiếp nghe Đức Thích Ca
nói pháp. Được Phật hộ niệm là điều kiện chính
yếu để tu Pháp Hoa, vì không có Phật hộ niệm thì
hành giả khó vững bước trên lộ trình Diệu pháp.
Điều kiện thứ hai là sâu
trồng căn lành. Kinh dạy hành giả phải trồng căn
lành ở các Đức Phật. Trồng căn lành ở các Đức
Phật có thể hiểu theo hai nghĩa:
+ Nghĩa Thứ nhất: hành
giả trồng căn lành nơi các Đức Phật là hành giả
chí thành lễ bái cúng dường Chư Phật để tạo liên
hệ giữa hành giả và Qúy Ngài. Hiểu theo cấp bậc
cao hơn thì Phật là bậc sáng suốt giác ngộ đạt
quả vô thượng Bồ Đề, nên trồng căn lành có nghĩa
là hành giả vun bồi phát huy trí tuệ. Muốn có
trí tuệ hay Vô thượng Bồ đề, hành giả phải nổ
lực chân tu thực học, thường hành thiền định.
Mặt khác, theo Kinh Hoa Nghiêm thì: “Phục vụ
chúng sanh là tối thượng cúng dường Phật”. Như
vậy, trồng său căn lành nơi các Đức Phật cũng
tức là sâu trồng căn lành ở tâm niệm chúng sanh.
Hành giả sống tiếp cận với chúng sanh, thấy rõ
những khó khăn, thiếu thốn, vất cả của chúng
sanh trong cuộc sống, hiểu được những nỗi đau
thầm kín khiến chúng sanh phiền muộn bất an, để
từ đó hành giả đem tất cả tâm huyết của mình
giúp chúng sanh tìm về nguồn hạnh phúc chân
thật. Khi hành giả có căn lành, tâm hồn luôn
hướng về Đạo pháp, những thú vui trần tục không
còn mảy may tác động vào trong tâm niệm. Hành
giả nghe pháp, tư duy và vui sống trong Chánh
pháp. Cảm được ân đức Chư Phật, hành giả càng
vữõng vàng trong niềm tin và tiến nhanh trên lộ
trình giải thoát. Có Phật hộ niệm, hai điều kiện
này hỗ tương lẫn nhau tạo cho hành giả cảm nhận
được sư huyền diệu trong cuộc sống,từ đó thúc
đẩy hành giả hòa nhập trong dòng thác trí tuệ
của Như Lai. Tuy còn là thân phàm phu nhưng có
đức hạnh của Phật, do đó tâm hồn hành giả bao
dung cảm được hảo tướng giải thoát khiến tha
nhân nhìn vào sanh tâm kính trọng và đồng khởi
tâm trồng căn lành nơi các Đức Phật.
Điều kiện thứ ba: Được
Chư Phật hộ niệm, sâu trồng căn lành trong tâm
niệm chúng sanh nhưng nếu hành giả sống trong
vọng niệm thì Phật sự có thể biến thành ma sự.
Bởi vì thường hành giả yên tu trong bốn vách
tường của thiền môn, không dính liùu cuộc đời,
không liên hệ hệ với người, tâm hành giả dễ dàng
bình ổn. Khi hành giả phải trồng căn lành nghĩa
là phải thực hành Bồ tát đạo đi vào cuộc đời,
tiếp cận với người, giúp người thoát khổ. Khi
tiếp cận như vậy, chắc chắn tâm hành giả khởi
niệm buồn phiền không còn thanh tịnh vì chúng
sanh nghiệp chướng phiền não chướng sâu dày khó
chuyển. Tâm dao động buồn khổ thì không có Pháp
Hoa. Do đó, hành giả phải huân tu thiền định,
từng phút giây không để tâm chạy theo huyễn
trần. Tâm trụ định, hành giả mới quyết định
những vấn đề khó khăn một cách sáng suốt mà
người bình thường không giải quyết được. Dù đời
có vui buồn thăng trầm đến đâu chăng nữa, chúng
sanh có tệ ác khen chê cũng mặc, hành giả vẫn
giữ tâm hoàn toàn thanh thoát không dao động
theo từng bước chân an lạc và giải thoát của Chư
vị Thiền sư.
“ Thong thả nhàn du giữa núi xanh
Bước chân thoảng nhẹ lối kinh hành
Nghiêng tai, đâu thiết lời thương ghét
Ngoảnh mặt, màng chi tiếng lợi danh
Cũng có, cũng không cho hợp cảnh
Rằng phi, rằng thị để xuôi gành
Tức tâm, tức Phật, tâm là Phật
Thế giới Thường quang lộ bóng mành”.
(Trích “Lược giải kinh Hoa Nghiêm”, trang 227 Tập 1 –
TKN. Như Thanh)
Vì thế, hành giả cần
luôn luôn ghi nhớ vừa trồng căn lành vừa trụ
chánh định, tức sẽ được Chư Phật hộ niệm, ngược
lại nếu mất chánh định, căn lành cũng mất theo
và cũng không được Chư Phật hộ niệm.
Điều kiện thư tư là phải
thương tất cả chúng sanh là điều kiện cuối cùng
nhưng cũng là điều kiện tất yếu nhất, làm nền
tảng để thành tựu mỹ mãn ba điều kiện trên. Hành
giả có mở rộng vòng tay đón nhận và yêu thương
hết muôn loài thì khi ấy hành giả mới quyết tâm
tu hành tinh tấn, trụ đại thiền định để khi hòa
vào dòng đời làm lợi ích cho chúng sanh mà không
bị một mảy trần làm ô nhiễm, từ đó việc sâu
trồng căn lành nơi tâm niệm chúng sanh của hành
giả mới không bị thối thất dù bất cứ một trở lực
nào, trái lại ngày thêm tinh tấn và như vậy hành
giả luôn sống trong sự hộ niệm của Chư Phật.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh
(Hòa thượng Thích Minh Châu diỉch Viện Nghiên
cứu Phật học Việt nam ấn hành 1993 ở tập II
trang 327-328). Đức Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo,
thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong
thời gian dài này, lại không một lần đã làm mẹ…,
cha…, anh…, chị…, con trai…, con gái…”. Hay
trong quyển Development of the Divine States,
Hòa Thượng Balangolda Ananda Maitreya, một trong
những nhà Phật học nỗi tiếng nhất của thế kỷ này
đã phát biểu: “Người này, khi là mẹ tôi trong
một kiếp quá khứ đã cưu mang tôi trong bụng gần
mười tháng và khi tôi còn thơ, người đã dọn rửa
nước tiểu, nước dãi, nước mũi, phân của tôi, tất
cả, mà không hề nhờm tởm. Mẹ vui đùa với tôi.
Lúc ôm tôi vào lòng, nuôi dưỡng tôi, bồng bế tôi
với đôi tay của người. Mẹ đã dưỡng nuôi tôi với
tình thương sâu đậm như thế. Khi người này là
cha tôi trong kiếp trước, ông liều mình vì tôi,
tần tảo theo nghề buôn bán hay làm ruộng hoặc
làm lụng khó nhọc chỉ mong kiếm tiền của cho
tôi. Khi người sinh ra là anh, chị, con trai hay
con gái của tôi, anh ấy (chị ấy)… cũng mong cầu
hạnh phúc cho tôi. Vì vậy, thật là bất công khi
tôi nuôi dưỡng sân hận đối với họ chỉ vì một vài
nghịch ý họ đã gây cho tôi trong kiếy này”.
(Trích trong” Lòng Từ trong Đạo Phật”- Trần
Phương Lan hiệu đính và chú giải trang 91).
Quả thật vậy, chúng sanh
trong pháp giới đều đã từng là cha, là mẹ, là
quyến thuộc của ta trong nhiều đời nhiều kiếp,
Do đó, đối với tất cả chúng sanh chúng ta đều
thọ ân sâu dầy. Hiện tại, tuy không phải là
huyết thống, là tình thân thuộc nhưng chúng ta
vẫn phải đem tình thương trang trải đồng đẳng
đến tất cả mọi loài, không phân biệt thân sơ,
dòng giống, giai cấp. Tất cả những ai đau khổ
chúng ta đều đến giúp đỡ, an ủi cho họ bớt khổ,
an vui. Chúng ta phải tập yêu thương tất cả
chúng sanh dù thuận hay nghịch, dù thương hay
ghét… như tình thương của Đức Phật đối với muôn
loài hơn cả tình thương của mẹ hiền thương con
đỏ. Tình thương ấy điểm cho đời. Dù người có
màng đến hay chăng thì trăng (vẫn) soi và hoa
(vẫn) nở chẳng thể khác được:
“Hoa nở không phân nhà
đói khổ
Trăng soi đồng sáng khắp
non sông”.
Đó là bản chất của tình
thương, luôn luôn cho mà không đòi nhận, luôn
luôn vì tha nhân mà quên mình. Tình thương như
thế mới đưa chúng ta đến điểm đích cuối cùng
viên mãn lộ trình Bồ tát đạo. Như vậy, muồn có
kinh Pháp Hoa sau khi Phật nhập diệt hay nói
khác muốn dòng sinh mệnh Pháp Hoa được cửu trụ
nơi thế gian thì hành giả phải thành tựu bốn
điều kiện trên, biết dung hợp một cách uyển
chuyển bốn điều kiện ấy trong lộ trình tự hành
hóa tha của mình.
2.2/ Ý nghĩa “Phổ Hiền
Bồ Tát khuyến phát”:
“ Phổ Hiền Bồ Tát”
Samantabhadra Visvabhadra dịch theo âm là Tam
Mạn Đa Bạt Đà La Bồ tát, Tam Mạn Đa Bồ tát… còn
gọi là Biến Cát Bồ tát…
Phổ Hiền Bồ tát và Văn
Thù Bồ tát là hai vị Bồ tát thường tùy của Phật.
Ngài Phổ Hiền cưỡi voi trắng sáu ngà tượng trưng
cho hạnh nguyện rộng khắp, hầu bên phải của Đức
Phật. Ngài Văn Thù cưỡi sư tử xanh tượng trưng
cho trí tuệ tuyệt vời, hầu bên trái của Như Lai.
Cả hai Ngài Phổ Hiền và Văn Thù đều là bậc
Thượng thủ trong hàng Bồ tát, thường trợ hóa cho
Như Lai. Thân tướng của Ngài Phổ Hiền hiện hữu
khắp mọi nới và công đức bao trùm khắp vạn loại
một cách thuần thiện và mầu nhiệm.
Lại nói về nghĩa
“khuyến phát” là nhằm bày tỏ chớ lấy trí nhõ cho
là tự đủ, phải phát khởi tiến lên, cầu đạo Bồ Đề
Vô thượng. Nghĩa là dù đã sạch hết năm ấm, vượt
ngoài năm trược, thoát khỏi ba cõi, thức tâm
tròn sáng, nhưng vẫn chưa phải là tâm rốt ráo,
Diệu qủa Bồ Đề, nên cần phải khuyến phát Bồ Đề
tâm tu hạnh Phổ Hiền trọn thành Phật quả. Như
vậy, “Phổ Hiền Bồ tát khuyến phát” có nghĩa là
Ngài Phồ Hiền khuyên hành giả Pháp Hoa phát khởi
theo hạnh của Ngài mới cầu thành quả Phật.”
Ngài Phổ Hiền đã tu tập
những công hạnh gì và công hạnh ấy có một diệu
năng như thế nào mà quả Vô thượng Bồ Đề nếu
không trải qua những công hạnh ấy thì khó bề đạt
được.
2.3/ Nhân hạnh của Phổ
Hiền Bồ Tát:
Ngài Phổ Hiền Bồ Tát
xuất hiện trong phẩm “Phồ Hiền Bồ tát khuyến
phát” với tư cách của một vị Đại Bồ tát thượng
thủ đầy đủ uy lực, quả đức vô song, Sở dĩ Ngài
có được một quả đức siêu tuyệt không thể nghĩ
bàn như thế là do Ngài đã từng phát nguyện trải
thân tu nhân hạnh Bồ Tát từ vô lượng kiếp cho
đến ngày nay. Nhân hạnh ấy được biểu trưng cụ
thể qua mười điều nguyện lớn của Ngài trong kinh
Hoa Nghiêm ở phẩm Nhập Pháp Giới Phổ Hiền Hạnh
Nguyện.
Chư Phật, các Ngài đã
trãi qua vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp thị
hiện trong tất cả chủng loại, trong từng quốc
độ, trong mọi thời gian… Các Ngài đã vượt muôn
ngàn gian khó đến với chúng sanh chỉ nhằm mục
đích giúp cho chúng sanh thoát khổ và đi đến
chân trời giải thoát an vui. Với ân đức thâm sâu
cao dày đó, Phổ Hiền Bồ tát – Ngài đã nguyện đem
thâm tâm tín giải, nơi ba nghiệp, thân khẩu ý
thanh tịnh, mỗi thân hiện ra vô biên thân, ở
trước vô lượng Phật trong khắp pháp giới mà tôn
trọng lễ kính, cũng như Ngài dùng lưỡi vi diệu
hơn lưỡi của Biện Tài Thiên Nữ mà ca ngợi tán
dương, lại đem tất cả đồ cúng dường thượng diệu
như các thứ mây hoa, … các thứ hương ở cõi trời,
các thứ đèn thượng hảo mà dâng kính. Song, dù
các thứ cúng dường trên là thượng diệu nhưng đối
với các Như Lai thì chỉ có “Pháp cúng dường” là
tối thắng. Với “Như Pháp cúng dường” Ngài đã tu
hành đúng theo lời Phật dạy, trãi thân mình
trong hằng hà sa số kiếp làm lợi ích cho quần
sanh, chịu khổ thế cho chúng sanh, nhiếp thọ hết
muôn loài, một lòng siêng năng tu tập không rời
hạnh Bồ tát, chẳng bỏ tâm Bồ Đề, phút giây nào
cũng nghĩ đến sự an nguy của vạn loại.
Bậc Bồ tát khi chưa
thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác hay ngay
cả khi đạt được mục đích cứu cánh đều luôn quán
chiếu nội tâm, không cho ba nghiệp dấy khởi dù
một lỗi nhỏ như vi trần. Ngài luôn trọn đem
thân, khẩu, ý thanh tịnh đối trước các Đức Như
Lai và chúng Bồ tát khắp cõi nước trong pháp
giới và thành tâm sám hối tất cả những tội lỗi
đã tạo ở quá khứ do tham, sân, si dẫn dắt. Còn
đối với bao nhiêu căn lành từ khi mới phát tâm
vì muốn chứng Nhứt thiết trí mà siêng tu cội
phước chẳng tiếc thân mạng, trải qua số kiếp như
số cực vi trần trong bất khả thuyết cõi Phật…
đến trọn nên quả Vô thượng Bồ đề của chư Phật,
hay bao nhiêu công đức dù nhỏ như mây trần của
tứ sanh lục đạo cũng như của mười phương ba đời
tất cả Chư vị Thanh Văn, Bích chi Phật, những
hạnh cần khổ khó làm của các bậc Bồ tát, ngài
đều phát tâm tùy hỷ. Để chúng sanh được mãi mãi
đượm nhuần suối pháp, cho tâm thức vạn loài gột
sạch những cấu uế nhiễm ô, ngài đã ân cần khuyến
thỉnh ba đời mười phương chư Phật luôn vận hành
Chánh pháp. Cũng như tự thân, ngài luôn bắt buộc
chính mình phải tinh tấn đem ánh sáng Chánh pháp
soi rọi khắp mọi nơi, cho nhân sinh tìm về bền
bờ an vui giải thoát. Ngài thỉnh Phật trụ mãi
thế gian để làm suối nguồn an lạc cho chúng sanh
hết khổ. Nhưng thị hiện sanh thân thì cũng phải
thị hiện Niết Bàn, bởi lẽ Đức Phật hiện thân
cũng là một người bằng xường bằng thịt lẽ tất
yếu phải tuân theo định luật vô thường. Điều này
mang ý nghĩa Ngài mong muốn chúng sanh trụ mãi
trong Phật tánh của mình, như thế mỗi bước chân,
mỗi lời nói, mỗi tư duy đều là thể hiện hạnh
nguyện “thỉnh Phật trụ thế”.
Đấng Tỳ Lô Giá Na Phật
ở cõi Ta Bà, từ khi mới phát tâm tinh tấn không
hề lui sụt, đem bất khả thuyết thân mạng ra mà
bố thí, lột da làm giây, chẻ xương làm viết,
chích máu làm mực dùng biên chép kinh điển chất
cao như núi Tu Di, vì tôn trọng Chánh pháp nên
Phật không tiếc thân mạng, huống là ngôi vua,
thành ấp, cung điện, vườn rừng… cùng thực hành
bao nhiêu hạnh khó làm khác, nhẫn đến ngồi dưới
gốc cấy thành quả Đại Bồ Đề, thị hiện các thứ
thần thông… hay ở trong các đạo tràng, chúng hội
tùy theo căn tánh của mỗi hạng mà giáo hóa cho
chúng sanh đều đuợc thành thục, nhẫn đến thị
hiện nhập Niết Bàn… cả thảy hạnh đức của tất cả
Chư Phật Ngài đều noi theo học tập. Bao nhiêu
chúng sanh sai khác trong tất cả cõi ở mười
phương pháp giới, hư không giới là những loài
noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh… Ngài
đều tùy thuận tất cả mà thực hành các sự vâng
thờ, cúng dường như kính cha mẹ, như thờ bậc
Thầy cùng A La hán, nhẫn đến Như Lai đồng nhau
không khác. Trong các loài ấy, nếu là kẻ có
bệnh, Ngài vì họ làm lương y, nếu ai bị lạc
đường thì Ngài vì họ mà chỉ cho con đường chánh,
nơi đêm tối Ngài vì họ mà làm ngọn đuốc sáng,
người nghèo thiếu Ngài vì họ làm cho được của
báu. Ngài là bậc Bồ Tát bình đẳng làm lợi ích
cho chúng sanh. Tôn trọng, tùy thuận, thừa sự
chúng sanh cũng chính là tôn trọng, thừa sự cúng
dường các Đức Phật. Vì chư Phật dùng tâm đại bi
mà phát tâm