Ý NGHĨA ĐỘC ĐẠO
TRONG THIỀN QUÁN TỨ NIỆM XỨ
Thích Nữ Hữu
Liên
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 :
Nội dung kinh Niệm Xứ (Satipatthànasutta)
Để việc tu hành đạt đến
lợi lạc cao nhất, điều quan trọng nhất, hành giả
phải học thông hiểu rành nội dung của bài kinh,
và phải xem đây là một công thức tối cần không
thể thiếu đối với việc hành thiền Phật giáo, vì
tất cả những lời chỉ dẫn trực tiếp hay gián tiếp
của Đức Thế Tôn về việc hành thiền quán đều được
ghi lại một cách khúc chiết rõ ràng và giản dị,
ai học rồi cũng có thể hiểu được và hành theo.
Những gì là nội dung của kinh?
1.1. Duyên khởi:
Kinh Niệm xứ do Đức Phật
thuyết giảng cho các Tỳ kheo tại đô thị
Kammàssadhamma, xứ Kuru, nay là thủ đô Delhi của
Ấn Độ.
1.2. Chánh kinh:
Bài kinh tập trung về
bốn nền tảng hay cơ sở thực hành quán niệm (Tứ
Niệm Xứ) gồm thân (kàya) thọ (vedanà) tâm
(citta) pháp (dhamma), được Đức Phật gọi là con
đường độc nhất (ekàyana-magga) đưa đến thanh
tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ
khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết Bàn.
Bốn cơ sở quán niệm gồm:
1/ Quán thân trên thân.
2/ Quán thọ trên các cảm thọ.
3/ Quán tâm trên tâm.
4/ Quán pháp trên các pháp.
1.2.1. Quán thân trên
thân : (kàye kàyanupassanà)
Đề mục quán thân trên
thân bao gồm sáu phương pháp quán niệm :
1.2.1.1. Quán niệm hơi thở : Vị
hành giả tìm nơi thanh vắng như khu rừng, gốc
cây, ngôi nhà trống … ngồi kiết già, lưng thẳng,
an trú niệm trước mặt, tỉnh giác quán niệm hơi
thở vào ra.
- Thở : vô dài, tuệ tri
“tôi thở vô dài” : thở ra dài, tuệ tri “ tôi thở
ra dài”
- Thở : vô ngắn, tuệ tri
“ tôi thở vô ngắn” thở ra ngắn, tuệ tri “ tôi
thở ra ngắn”
- “Cảm giác toàn thân”
tôi sẽ thở vô; “Cảm giác toàn thân” tôi sẽ thở
ra.
- “An tịnh thân hành”
tôi sẽ thở vô; “An tịnh thân hành” tôi sẽ thở
ra.
Khi thực hành pháp quán
niệm trên, vị hành giả cần tuệ tri hay chú tâm
nhận biết về hoạt động của hơi thở ; giống như
người thợ quay, khi quay dài biết rõ mình đang
quay dài ; hay quay ngắn biết rõ mình đang quay
ngắn. Vị hành giả thực hành như vậy, thì được
gọi là sống quán thân trên nội thân ; hay sống
quán thân trên ngoại thân ; hay sống quán thân
trên nội, ngoại thân; hay sống quán tánh sanh
khởi trên thân, hay sống quán tánh diệt tận trên
thân, hay sống quán tánh sanh diệt trên thân.
“Có thân đây” vị ấy an trú chánh niệm như vậy
với hy vọng hướng đến chánh trí chánh niệm. Và
vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước bất
kỳ vật gì trên đời.
1.2.1.2. Quán niệm các
oai nghi cử chỉ của thân : Vị hành giả khi đi,
biết rõ: “tôi đi” hay khi đứng, biết rõ: “tôi
đứng”; hay khi ngồi, biết rõ: “tôi ngồi”; hay
khi nằm, biết rõ : “ tôi nằm”. Thân thể được sử
dụng như thế nào, vị ấy biết rõ như thế ấy.
1.2.1.3. Quán các hành
tướng: Vị hành giả khi bước tới bước lui, biết
rõ việc mình đang làm ; khi ngó tới ngó lui,
biết rõ việc mình đang làm ; khi mang áo Tăng
già lê ( sanghàti ), mang y bát , ăn uống , nhai
nếm, đại tiện, tiểu tiện, đi, đứng, nằm, ngồi,
ngủ, thức, nói năng, hay im lặng đều biết rõ
việc mình đang làm.
1.2.1.4. Quán niệm các
thân phần: Vị hành giả chánh niệm quán sát thân
gồm 32 vật bất tịnh – tóc, lông móng, răng, da,
thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, não, hoành,
cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, phân,
mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da,
nước miếng, nước khớp xương, nước tiểu. Khi thực
hành pháp này, vị hành giả cần phải tuệ trí hay
biết rõ từng thân phần của cơ thể, tựa như một
người phân biệt rõ các loại ngủ cốc được trộn
lẫn với nhau trong một cái túi.
1.2.1.5. Quán niệm vị trí các
giới hay các yếu tố (dhàtu) trên thân: Vị hành
giả quán sát vị trí thuộc địa, thủy, hỏa, phong
và sự sắp đặt của chúng trên thân. Vị ấy phân
biệt rõ vị trí và sự sắp đặt của bốn yếu tố đất,
nước, lửa, gió trong thân thể tựa như người đồ
tể thiện xảo phân biệt rõ từng phần thân thể con
bò bị xẻ thịt.
1.2.1.6. Quán niệm các giai đoạn
phân hủy của tử thi : Vị hành giả quán niệm về
tám giai đoạn phân hủy của thi thể, biết rõ tính
chất, biết rõ bản chất không thể khác của thân
thể:
(a). Thi thể bị quăng bỏ trong
nghĩa địa một, hai, ba ngày, trương phồng lên,
xanh đen lại, thối nát ra.
(b). Thi thể bị các loại quạ,
diều hâu, kênh kênh, chó, giả can, côn trùng ăn.
(c).Thi thể với bộ xương còn
liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, được
các đường gân cột lại.
(d).Thi thể với bộ xương còn
liên kết với nhau, không còn dính thịt, nhưng
còn dính máu được các đường gân cột lại.
(e).Thi thể chỉ còn xương nằm
rải rác chổ này chổ kia.
(f).Thi thể chỉ còn toàn xương
trắng như vỏ ốc.
(g).Thi thể chỉ còn là một đống
xương lâu hơn một năm.
(h).Thi thể chỉ còn xương tan
thành tro bụi.
1.2.2. Quán thọ trên các
cảm thọ :(vedanàsu_vedanànupassanà)
Vị hành giả tập trung
quán niệm và biết rõ ba cảm thọ : lạc thọ
(Sukhavedanà) khổ thọ ( Dukkhavedanà) bất khổ
bất lạc thọ( adukkha_m_ asukhavedanà) về ba cảm
thọ đấy là thuộc về vật chất hay không thuộc về
vật chất : ví dụ khi cảm giác lạc thọ, khổ thọ,
hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy biết rõ từng loại
cảm thọ mình đang cảm nhận. Tương tự, khi cảm
giác lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ,
liên hệ đến vật chất hay không liên hệ đến vật
chất ; vị ấy biết rõ từng loại cảm thọ của mình
đang cảm nhận. Vị hành giả thực hành như vậy thì
được gọi là sống quán thọ trên các nội thọỉ; hay
sống quán thọ trên các ngoại thọ; hay sống quán
thọ trên các nội, ngoại thọỉ; hay sống quán tánh
diệt tận trên các thọ; hay sống quán tánh sanh
khởi trên các thọ hay sống quán tánh sanh diệt
trên các thọ; “Có thọ đây”, vị ấy an trú chánh
niệâm như vậy, với hy vọng đạt đến chánh trí,
chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa không
chấp trước bất cứ một vật gì trên đời.
1.2.3. Quán tâm trên
tâm : ( citte_cittanupassanà)
Vị hành giả tập trung
theo dõi và biết rõ 16 loại tâm qua tám cặp :
(1). Tâm có tham hay tâm không
có tham.
(3). Tâm có sân hay tâm không có
sân.
(5). Tâm có si hay tâm không có
si.
(7). Tâm có tập trung hay tâm
tán loạn.
(9). Tâm quảng đại hay tâm không
quảng đại.
(11). Tâm giới hạn hay tâm vô
thượng.
(13). Tâm có định hay tâm không
có định.
(15). Tâm giải thoát hay tâm
không giải thoát.
Vị hành giả tập trung
theo dõi và biết rõ về 16 loại tâm như thế thì
được gọi là quán tâm trên nội tâm ; hay sống
quán tâm trên ngoại tâm ; hay sống quán tâm trên
nội, ngoại tâm ; hay sống quán tánh sanh khởi
trên tâm ; hay sống quán tánh diệt tận trên tâm
; hay sống quán tánh sanh diệt trên tâm. “Có tâm
đây”, vị ấy an trú chánh niệm như vậy với hy
vọng đạt được chánh trí, chánh niệm và vị ấy
sống không nương tựa, không chấp trước bất cứ
một thứ gì trên đời.
1.2.4/ Quán pháp trên
các pháp: (dhammesu_dhammanupassanà)
Đề mục này bao gồm các
pháp quán niệm như sau:
1.2.4.1/ Quán niệm về
năm triền cái (pãnca nìvaranas) : Vị hành giả
phải xét xem tâm mình, nếu có ái dục (
kàmacchanda) ; biết rõ nội tâm tôi có ái dục,
không có ái dục, biết rõ nội tâm tôi không có ái
dục ; đối với ái dục chưa sanh nay sanh khởi hay
ái dục đã sanh nay được đoạn diệt, hay ái dục đã
được đoạn diệt, tương lai không sanh khởi nữa,
vị ấy biết rõ như vậy. Đối với các triền cái còn
lại như : sân hận (byapàda/ pàtigha), hôn trầm
thụy miên (thìnamiddha), trạo hối
(uddhaccakkucca), nghi (vicikicchà). Vị hành
giả thực hành quán niệm trên thì được gọi là
sống quán pháp trên các nội pháp ; hay sống quán
pháp trên các ngoại pháp ; hay sống quán pháp
trên các nội ngoại pháp ; hay sống quán tánh
sanh khởi trên các pháp ; hay sống quán tánh
diệt tận trên các pháp ; hay sống quán tánh sanh
diệt trên các pháp. “Có pháp đây”, vị ấy an trú
chánh niệm như vậy với hy vọng đạt được chánh
trí, chánh niệm và vị ấy sống không nương tựa,
không chấp trước bất cứ một vật gì trên đời.
1.2.4.2. Quán niệm về
năm thủ uẩn ( pãnca_upàdanakkhandhas): Vị hành
giả tập trung suy tư, biết rõ về năm thủ uẩn :
sắc, thọ, tưởng, hành, thức, sự tập khởi và sự
đoạn diệt của chúng.
1.2.4.3. Quán niệm về
sáu nội ngoại xứ (cha_ajjhattikababra_àyatanas)
: Vị hành giả quán niệm và biết rất rõ mắt
(cakkhu) và các sắc (rùpa), biết rõ do duyên mắt
và các sắc, kiết sử (samyojana) sanh khởi ; đối
với kiết sử chưa sanh nay sanh khởi ; hay kiết
sử đã sanh nay được đoạn diệt ; hay kiết sử đã
được đoạn diệt tương lai không sanh khởi nữa, vị
ấy biết rõ như vậy. Vị ấy thực hành và biết rõ
như trên đối với các nội và ngoại xứ còn lại,
tức là, tai (sota) và tiếng (sadda), mũi (ghàna)
và hương (gandha) , lưỡi (jivhà) và vị (rasa),
thân (kàya) và cảm xúc (photthabba), ý (mana) và
pháp (dhamma).
1.2.4.4. Quán niệm bảy
giác chi ( satta_sambhojjhangà) : Vị hành giả
xem xét tâm mình, nếu có niệm giác chi
(sati_sambhojjhangà) biết rõ “nội tâm tôi có
niệm giác chi”; hay không có niệm giác chi biết
rõ “nội tâm tôi không có niệm giác chi”, đối với
niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, hay niệm
giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành, vị
ấy biết rõ như vậy. Vị ấy thực hành xem xét như
vậy đối với các giác chi còn lại nghĩa là trạch
pháp giác chi ( dhamma vicaya sambhojjhangà),
tinh tấn giác chi (viriya samghojjhangà), hỷ
giác chi ( pìti sambhojjhanmà), khinh an giác
chi (passadhi sambhojjhangà), định giác chi
(samàdhi sambhojjhangà), xả giác chi (upekkhà
sambhojjhangà).
1.2.4.5. Quán niệm về
bốn sự thật : ( cattàri ariyasaccani ) : Vị hành
giả xem xét và biết rõ như thật về khổ (dukkha),
khổ tập (dukkhasamudaya), khổ diệt
(dukkhanirodha) và con đường đưa đến khổ diệt
(dukkhanirodhagàminì-magga).
1.3. Kết luận: Thành quả
sự tu tập Tứ Niệm Xứ :
Đức Phật kết thúc bài
kinh bằng lời tuyên bố rằng tuỳ thuộc ý chí và
nỗ lực, vị nào thực hành bốn Niệm Xứ này trong
thời gian bảy năm… bảy tháng … thậm chí trong
bảy ngày, có thể đạt được hai quả vị : chánh trí
ngay trong hiện tại ( ditthadhamme annà) hay quả
bất hoàn (anàgàmita), nếu còn hữu dư y (
upàdisesa). Các Tỳ kheo hoan hỷ tín tín thọ lời
thế tôn dạy.
1.4. Những lời dạy của
Đức Thế Tôn liên hệ Tứ Niệm Xứ:
Ngoài bản kinh này, Đức
Thế Tôn còn có những lời dạy căn bản về pháp môn
Tứ Niệm Xứ này như sau : “Này các Tỳ kheo, con
đường để diệt trừ dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu,
con đường để diệt trừ dục ái, hữu ái, vô minh ái
đó chính là Tứ Niệm Xứ”ù[5-296]. Nhưng chúng ta
ai cũng biết chính dục ái, hữu ái, vô minh ái,
hoặc dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, thuộc về tập
đế trong tứ thánh đế và cũng là toàn bộ nguyên
nhân sanh tử, khổ đau. Để đoạn trừ chúng chính
là Tứ Niệm Xứ.”
Một lời dạy về Tứ Niệm
Xứ “Này các Tỳ kheo cho đến khi nào các người tu
tập giới khéo thanh tịnh, trên cơ sở giới khéo
thanh tịnh này các ông hành trì Tứ Niệm Xứ theo
ba phương diện là: nhiệt tâm tỉnh giác, chánh
niệm để nhiếp phục tham ưu ở đời”. [5 – 222]
Và hơn thế nữa,
Sàriputta hoàn toàn tin rằng Tứ Niệm Xứ là
truyền thống và chứng đắc Phật quả của ba đời
chư Phật. “Bạch Đức Thế Tôn, phàm có những bậc
Alahán , Chánh Đẳng Chánh Giác nào trong quá
khứ, tất cả bậc Đức Thế Tôn ấy, sau khi đoạn tận
năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm tâm, làm
yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú tâm trên Tứ
Niệm Xứ, sau khi như thật tu tập bảy giác chi đã
chứng ngộ chánh đẳng chánh giác. Bạch Thế Tôn,
phàm có những bậc Alahán Chánh Đẳng Chánh Giác
nào thời vị lai, tất cả các BậcThế Tôn ấy sau
khi đoạn tận năm triền cái, các pháp làm uế
nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, sau khi khéo an
trú tâm trên bốn Niệm xứ, sau khi như thật tu
tập bảy giác chi sẽ chứng ngộ vô thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác. Còn Đức Thế Tôn, Bạch Thế Tôn
là bậc A_la_hán Chánh Đẳng Chánh Giác, sau khi
đoạn tận năm triền cái, những pháp làm uế nhiễm
tâm, làm yếu kém trí tuệ, sau khi khéo an trú
tâm trên Tứ Niệm Xứ, sau khi như thật tu tập bảy
giác chi chứng ngộ vô thượng chánh đẳng chánh
giác” [5_251-252].
Và một lời dạy khác nữa
về Tứ Niệm Xứ là : “Tứ niệm xứ này, này các Tỳ
kheo, nếu được tu tập, được làm cho sung mãn,
đưa đến nhứt hướng nhàm chán, ly tham, đoạn
tuyệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết Bàn”
[5_280].
Do vậy, điều này đã được
nói lên : “ Đây là con đường độc nhất, này các
Tỳ kheo, để thanh tịnh hóa chúng sanh, để nhiếp
phục sầu bi, để đoạn tận khổ đau, để thành đạt
chánh đạo, để chứng đắc Niết bàn, đó là Tứ Niệm
Xứ”.
Hay nói khác đi, Tứ Niệm
Xứ là con đường duy nhất để đi đến giải thoát và
nói đến đạo Phật là nói đến Tứ Niệm Xứ, hễ nói
đến giải thoát là nói đến Tứ Niệm Xứ, phi Tứ
Niệm Xứ không tìm thấy giải thoát. Giả như có ai
đó nói rằng . “ có thể có một con đường khác để
có thể đi đến giải thoát” thì tôi đảm bảo con
đường đó, bước chân đầu tiên đặt vào giải thoát
cũng phải bước qua Tứ Niệm Xứ. Để sáng tỏ ý này,
chúng ta bước vào những chương sau.
CHƯƠNG 2 :
Giải thích tính độc đạo
2.1. Theo bản sớ giải
Kinh Trung Bộ :
Theo bản này giải thích
cụm từ Ekàyanamagga như là con đường độc nhất,
không phân nhánh, con đường mà người ta phải
bước đi một mình, không có người đồng hành, con
đường dẫn đến một mucỉ tiêu duy nhất là Niết
bàn.
2.2. Theo Thiền Sư
Usìlananda :
_ Thiền Sư này được một
vị Thiền Sư lỗi lạc bậc nhất tại Myanmar là Ngài
MAHÀSI SAYADAW lựa chọn đi hoằng pháp tại các
nước khác, bằng kiến thức thâm sâu về Phật pháp
cộng với kinh nghiệm thực chứng ngài giải nghĩa
ekàyana như sau “eka là một, àyana là con
đường”. Nhưng con đường này được hiểu với năm
nghĩa sau :[11, 11-12]
+ Đây là con đường đơn độc không
có ngả rẽ, vì không có ngả rẽ nên khi đi trên
con đường này, bạn được bảo đảm từ lúc bắt đầu
đi cho đến lúc giải thoát.
+ Phải đi “một mình” trên con
đường này, nghĩa là trong lúc hành thiền bạn
phải thực hiện một cách đơn độc, không người
đồng hành, cho dù bạn đang sống trong một tập
thể, nhưng sự thật bạn đang đi con đường riêng
của mình, bạn đơn độc không ai đi cùng với bạn,
và không ai có thể ban tặng cho bạn định tâm và
trí tuệ, chỉ có hành thiền một mình. Do đó, đây
là con đường “duy nhất”, con đường bạn phải đi
một mình.
+ Đây là con đường của một đấng
cao thượng, con đường do đức Phật tìm ra.
+ Gọi là độc đạo vì con đường
này đã dẫn đến một mục tiêu duy nhất là Niết
bàn.
+ Là con đường duy nhất chấm dứt
mọi đau khổ, hủy diệt mọi phiền não.
2.3. Theo kinh Tứ Niệm Xứ:
Đây được gọi là “độc
đạo” vì chính là đạo của Đức Thế Tôn “Phật
Đạo”. Đức Thế Tôn là vị làm sinh khởi con đường
chưa được sinh khởi, con đường ấy chỉ có trong
Pháp và Luật này chứ không có nơi nào khác. Tại
sao “Niệm xứ” được gọi là đạo? Vì con đường bát
thánh đạo ngoài Niệm xứ ra còn có các chi phần
khác như chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn,
chánh định. Song chánh niệm là trung tâm giáo lý
của Đạo Phật. Chính tứ chánh cần là bốn sự nỗ
lực để thực hành Tứ Niệm Xứ, vì nội dung của nó
là đoạn trừ tham, sân, si, là mục tiêu, là công
việc của Tứ Niệm Xứ…
Nói đến Thất giác chi
Đức Phật dạy rằng: “ chỉ cần tu tập trọn vẹn một
giác chi trong thất giác chi thì hành giả đã
thành tựu trọn vẹn thất giác chi”. Cũng thế, nếu
tu tập trọn vẹn giáo lý Tứ Niệm Xứ thì hành giả
thành tựu trọn vẹn đạo đế.
Như vậy nếu phân tích
kỹ, chúng ta thấy rằng giáo lý Tứ Niệm Xứ là nội
dung của chi phần chánh niệm trong bát chánh
đạo, cũng là nội dung của niệm căn, niệm lực
trong ngũ căn ngũ lực, cũng là niệm giác chi
trong thất giác chi. Do vậy điều này đã được nói
lên : Đây là con đường độc nhất đi đến giải
thoát. Và đây chính là toàn bộ con đường thiền
định của Phật Giáo.
Nói đến thiền định Phật
Giáo gồm có thiền chỉ và thiền quán. Thiền quán
chính là thiền Tứ Niệm Xứ ( Satipatthàna) chỉ
duy nhất hướng đến mục tiêu tối hậu Niết Bàn.
Trong khi đó thiền chỉ được thành tựu ngang qua
các thiền chứng (jhànas) và các phạm trú (
brahmavihàras). Theo Bodhi, các thiền chứng (
jhànas) và các phạm trú ( brahmavihàras) có thể
dẫn đến Niết Bàn nhưng cũng có thể dẫn đến các
mục tiêu “ ngoại biên” . Mặc dù Bodhi không chỉ
rõ điều ông gọi các mục tiêu “ngoại biên” của
các thiền chứng và các phạm trú, ta có thể hiểu
rằng : ý ông muốn ám chỉ kết quả sanh thiên của
Jhànas vàBrahmavihàras và điều này chúng ta dễ
nhận thấy trong Kinh tạng Pàli khi đề cập đến sự
kiện tái sanh các cõi trời dục giới hay sắc giới
của sự thực hành các Jhànas và các cõi
Brahmavihàras của việc tu tập tâm Từ (mettà), Bi
(karunà), Hỷ (mudita), Xả (upekkhà) trong trường
hợp người thực hành chưa đoạn tận các lậu hoặc
(àsavas). Các kết quả này có thể được xem là “
ngoại biên” hay “tạm thời” của jhànas và
Brahmavihàras bên cạnh mục tiêu chính của chúng
ta là tạo điều kiện hay dọn đường cho người thực
hành đạt đến mục tiêu tối hậu là Niết Bàn hay
giải thoát khổ đau. Nếu vậy, nhận xét của Bodhi
hoàn toàn có cơ sở.
Kinh Tứ Niệm Xứ không
nói gì đến mục tiêu “ ngoại biên” hay “tạm thời”
nào ngoài việc nhấn mạnh sự thực hành Niệm xứ
nhằm hoàn thiện chánh trí (nõàna) và chánh niệm
(sati) nhờ đó vị hành giả sống không nương tựa,
không chấp trước một thứ gì trên đời. Nói khác
đi, mục tiêu của Niệm xứ là hướng thẳng đến giải
thoát khổ đau hay là Niết bàn, mà trong văn cảnh
bài văn gọi là “ sống không nương tựa, không
chấp trước một thứ gì trên đời”, do tham ái và
chấp thủ được dập tắt nhờ công năng chánh trí và
chánh niệm. Bài kinh thông báo cho chúng ta hai
mục tiêu mà vị hành giả thực hành Tứ Niệm Xứ có
thể kỳ vọng là đạt được chánh trí trong hiện tại
( ditthadhammannà ) hay ít ra cũng đạt quả Bất
hoàn ( anàgamità ). Chánh trí ở đây đồng nghĩa
với quả vị Alahán (Arahattaphala) hay giải thoát
khổ đau ngay trong đời này. Bất hoàn hay còn gọi
là Bất lai ( anàgàmità), có nghĩa
là hành giả không còn trở lại trạng thái sinh tử
khổ đau khi thành tựu mục tiêu hay quả vị này.
Có lẻ vì ý nghĩa và tầm quan trọng của nó, nghĩa
là mục tiêu hướng thẳng đến Niết Bàn như đã đề
cập mà Tứ Niệm xứ luôn luôn được nhấn mạnh và đề
cao trong số các pháp tu của đạo Phật.
Điều tuyệt vời của bản
kinh này không nằm ở mặt lý thuyết, chúng chỉ
xuất hiện ở mặt hành trì mà thôi. Và khi đi vào
hành trì mới chứng minh được “Tứ Niệm xứ là con
đường độc nhất (ekàyana_magga) đưa đến thanh
tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ
khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết
Bàn”.
2.4. Ứng dụng trong đời
sống thường nhật :
Một lý do khác khiến
cho Tứ Niệm xứ được nhấn mạnh, được đề cao ấy là
bởi pháp môn này thâu tóm hầu như toàn bộ các tư
tưởng và phương pháp thực hành căn bản của Đạo
Phật. Điều này được thể hiện rõ trong việc ứng
dụng hành trì Tứ Niệm Xứ.
2.4.1. Hành trì Tứ
Niệm Xứ :
2.4.1.1. Đi vào pháp
quán thân trên thân :
Ở đây bao hàm hai pháp
môn căn bản của Đạo Phật là niệm hơi thở vào hơi
thở ra ( ànàpànasati) và niệm thân(
kàyagatasati) mà ý nghĩa và sự vận dụng của
chúng được mô tả đầy đủ trong hai bản kinh
ànàpànasati và kàyagasati của Kinh Trung Bộ.
Phổ quát tính của Tứ
Niệm xứ so với pháp môn Niệm hơi thở vô - hơi
thở ra có thể được thấy qua câu nói của Đức Thế
Tôn : “ Này các Tỳ kheo, niệm hơi thở vô hơi thở
ra được tu tập, được làm cho sung mãn, khiến bốn
Niệm xứ được viên mãn [ 4_ 465]. Câu nói này cho
thấy niệm hơi thở là căn bản của Tứ Niệm xứ, hay
cũng là pháp môn mở đường và bổsung cho Tứ Niệm
xứ.
Vì sao chỉ đơn giản tìm
nơi trống vắng như khu rừng hoặc gốc cây, hoặc
ngôi nhà trống, ngồi kiết già lưng thẳng an trú
niệm trước mặt chú tâm vào hơi thở ra vào như
thế nào ghi nhận như thế ấy, mà Đức Thế Tôn bảo
là con đường độc nhất ?.
Chúng ta không ai không
biết về hơi thở, nghĩa là hơi thở nó có tầm quan
trọng đối với sự sống còn của một sinh mạng, vì
vậy không cần định nghĩa thì ai cũng nhận ra nó
một cách dễ dàng, điều này ai cũng làm được,
không đòi hỏi trình độ học vấn ra sao, con của
dòng họ nào, không đòi hỏi tuổi tác, giới tính
chi cả, nghĩa là nó rất là phổ thông nhưng lại
rất quan trọng đối với con người nên ai cũng có
thể hành theo một cách dễ dàng.
Cái diệu của pháp này ở
chỗ, chúng ta chỉ cần tập trung sự chú ý vào hơi
thở, ngắn biết ngắn, dài biết dài, không phản
ứng gì cả, giữ tâm một cách vô tư, tỉnh táo, cứ
như vậy tập đi tập lại nhiều lần mới tạo được
thói quen. Khi ấy ra nhìn đời cũng vậy, đến đây,
vị hành giả có được một nghệ thuật sống, thấy
mọi việc xảy ra xung quanh mình như thế nào là
ghi nhận như thế ấy, chúng ta không bị dao động
trước những biến động của cuộc đời, phải giữ tâm
bình thản, chỉ tập sơ như vậy mà đã được sự khôn
ngoan trong cuộc sống. Từ đây, cuộc đời này sẽ
không bao giờ làm bạn rối loạn, dẫu nó là thác
loạn, nó thường xuyên biến động như vũ bão,
nhưng chúng ta đủ tỉnh táo để vượt qua, nghĩa là
đến đây bạn đã có sức mạnh tâm lý rồi.Và cũng từ
đây chúng ta nên nhìn sâu vào hơi thở, và ở chỗ
này có nhiều việc để làm. Đức Phật dạy là vậy,
nhưng khi ngồi lại thì tâm lý phiền muộn khởi
lên, hôn trầm khởi lên, trạo hối khởi lên, tham
công tiếc việc khởi lên… Chúng ta phải nhiếp
phục tất cả bằng cách ghi nhận chúng rồi bám
chặt vào hơi thở, chúng sinh biết chúng sinh,
chúng hiện hữu biết chúng hiện hữu, chúng diệt
biết chúng diệt, rồi cứ bám sâu vào hơi thở, như
em bé ôm chặt vú mẹ không để cho rời. Giữ như
vậy tạo thành sức mạnh tâm lý, và năng lực nhiếp
phục là định. Như vậy thì sự vật không còn chi
phối, hạnh phúc có ngay. Nhưng đây không phải là
chỗ dừng chân của hành giả mà phải bước tiếp. Từ
tâm lý ổn định đó, bắt đầu thấy rõ mọi chuyện từ
hơi thở nói lên : nó vốn là giả có, không thật,
cái mà gọi là hơi thở vốn chẳng qua do các duyên
như : sự vận chuyển của không khí, cùng với sự
co bóp của phổi nhờ có sự hoạt động của con
người. Cái gọi là mình là ta nó mong manh lắm,
nó vô thường lắm, nó huyễn, nó giả có như hơi
thở vậy, một khi hơi thở ra mà không vào hoặc
vào mà không ra, thì thân ấy hóa ra người thiên
cổ, nếu để lâu vài bữa thì sình chướng, dòi rúc,
thối hôi, khi ấy có ai dám nhận là mình, là cái
của mình, hay là tự ngã mình nữa chăng: tỉnh
ngay.
Đi vào niệm thân cũng
vậy, thân này là kết quả tinh khí khi bà mẹ có
thai, được nuôi lớn bằng máu của mẹ, thai đó tồn
tại lớn lên như thế nào hoàn toàn ngoài sự kiểm
soát của bà mẹ cũng như tự bản thân thai nhi.
Khi ra đời cũng thế, phải nhờ sự nuôi dưỡng của
cha mẹ, bầu bạn, lớn lên quay lại yêu mình, rồi
lại ôm bao nhiêu thứ cho cái thân này, rồi đi mê
mải cái hoàn toàn không ai làm chủ được, hợp
thành bởi nhiều nhân, nhiều duyên. Rõ ràng cái
không tên tuổi, không mặt mũi, không thật mà
mình chấp ngay là mình chưa kể gặp phải cơn gió
độc, hoặc tai biến hoặc ăn nhằm trái dại thì ôi
thôi không còn gì để nói nữa. Với cái nhìn như
vậy, tự tâm thức rời khỏi chấp ngã, thì tham ái
không khởi, sân không khởi , giải thoát đến hoàn
toàn trọn vẹn, Niết bàn đến hiện tại, pháp tự
động như vậy, hễ một khi thấy sự thật là huyễn,
là giả là không thật có thì tất cả tham, sân,
si, tự nó rơi rụng giống như mình đi ra khỏi
giấc mơ trong buổi tối thì tự động không giận
người trong mộng, không yêu người trong mộng,
cũng như tự động biết đây là cục than hồng nóng
tự động không nắm nó thôi, chứ không cần nỗ lực
gì cả. Cũng vậy, khi thấy cái ngã cuộc đời này
đã hư rồi, đã giả dối rồi thì tự động không
tham, tự động không sân, dĩ nhiên là giải thoát
đến. Quán đến đây cho ta thấy nội dung của Kinh
Kim Cương cũng dạy chỉ chừng ấy thôi, điều này
thể hiện rõ qua bài kệ bốn câu sau:
“Nhứt thiết
hữu vi pháp
Như mộng
huyễn bào ảnh
Như lộ diệc
như điện
Ưng tác như
thị quán”.
Rõ ràng tư tưởng Kinh
Kim Cương dạy chúng ta có thái độ nhìn ngắm vạn
vật vũ trụ thì phải nhìn sao cho thấy rõ được
thật tướng của vạn pháp vốn là giả có không
thật, nó như mộng như huyễn, như bọt nước như
sương trên đầu ngọn cỏ, chúng quá mong manh và
tạm bợ, không phải điều này ai cũng dễ dàng nhận
ra đâu. Nó đòi hỏi những người phải có thói quen
tư duy bình tĩnh, tỉnh táo mới thấy được, chính
điều này đã dạy cho chúng ta không khởi tâm trú
trước bất cứ một thứ gì trên đời, quả là một
trạng thái sung sướng hạnh phúc, sống trong trần
mà chẳng nhiễm trần.
Nói “không trú trước” là
đồng nghĩa với câu “vô thủ trước Niết bàn” của
bên Đại Thừa, lại tương tự với câu “ưng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm”. Rõ ràng tư tưởng Tứ Niệm
xứ bàng bạc trong tất cả các kinh Đại Thừa.
Nhưng cái diệu cái dụng nhất không phải ở hơi
thở, không phải cảnh giới bên ngoài, cũng không
phải ở thân mình, mà ở ngay nơi tâm mình, nên
đến đây hành giả phải nhiếp tâm hơn thế nữa, làm
thế nào để yêu hơi thở như cái tối thượng đáng
yêu nhất trong cuộc đời này, rồi hãy bám sát nó
đừng rời nó, phải làm công việc này như là sự
nghiệp của mình, nên lúc nào cũng phải giữ niệm
trên đối tượng đó và cái niệm đó đã rời khỏi
tham, sân, si. Trong việc hành trì đó đã nhắc
nhở chúng ta nhớ hoài các pháp hoàn toàn vô
thường, vô ngã, không có thật nên đừng có tham
luyến nữa, đừng có tham ái nó nữa và chỗ này là
tuệ, là Phật tử. Nội dung của kinh Pháp Hoa cũng
chừng ấy thôi. Cũng vì “khai thị cho chúng sanh
ngộ nhập Phật tri kiến”, nghĩa là mở bày cho
chúng sanh có được Phật trí và đây chính là việc
làm của Tứ Niệm xứ vậy.
+ Ở niệm thân, còn có
quán về tứ oai nghi, ấy là việc làm quá quen
thuộc, lại đơn giản không cầu kỳ chỉ việc đi,
đứng, nằm, ngồi, biết mình đang đi, đứng, nằm,
ngồi, nhưng cái tối diệu là ở chỗ giữ tâm chánh
niệm tất cả oai nghi đi, đứng, nằm như vậy để
làm lắng được vọng tâm. Một khi vọng tâm lắng
chìm rồi thì chân tâm hiển hiện . Và việc làm
của kinh Kim Cương cũng chỉ dừng lại ở chỗ hàng
phục vọng tâm để đạt được chân tâm, và đây lại
là việc làm của Tứ Niệm xứ.
+ Còn quán về tứ đại,
và quán về ba mươi hai yếu tố trong cơ thể cũng
vậy. Điều quan trọng của pháp môn này là đừng
chán nản cứ nhìn hoài, tự động pháp ấy nói cho
mình chân tướng, thật tứơng của các pháp là
huyễn, là duyên sinh nên vô thường, vô ngã. Từ
ấy mọi tham ái chấp trước rơi rụng, an lạc khởi
ngay. Đến đây hành giả mở rộng ra, nhìn mọi vật
xung quanh cũng thế, thấy rõ chúng là duyên sinh
vô ngã nên tự động sống không chấp trước bất cứ
thứ gì trên đời, tự động thấy yêu đời, yêu
người, yêu cuộc sống vô cùng, vì họ không hiểu
chút gì về pháp Phật nên họ mãi đua tranh, cấu
xé nhau, dằn vặt lẫn nhau, gây khổ cho nhau thật
là tội nghiệp, thật là đáng thương. Chính đó cho
chúng ta nhận định, quả nhiên pháp Phật lợi lạc
vô cùng, có sống đúng, có hành đúng với pháp
Phật mới thấy được cái linh, cái diệu, cái tuyệt
đối của Pháp : Quả không có con đường nào khác,
ngoài con đường hành trì Tứ Niệm xứ trong việc
đoạn tận khổ đau để đạt cứu cánh Niết Bàn.
Ấy chỉ là bước hành trì thô mà
kết quả đạt được quả là tối diệu huống chi chúng
ta đi vào thực hành tế hơn ấy là quán thọ trên
các cảm thọ:
2.4.1.2. Tu tập quán thọ
trên các cảm thọ:
Nói tế hơn ở thân là hẳn nhiên
rồi, vì những gì thuộc về thân là thuộc về sắc
chất ai cũng nhìn thấy được. Về thọ lại thuộc
danh nên không thể nhìn thấy mà chỉ cảm nhận
được, biết được những trạng thái nóng, lạnh,
vui, buồn, dễ chịu, khó chịu… Công việc của pháp
quán này là: chúng ta không nên phản ứng lại khi
có bất kỳ trạng thái nào khởi lên, hay đang tồn
tại, hay đang mất đi, mà chúng ta chỉ làm một
việc duy nhất là ghi nhận chúng như chúng đang
là, cứ làm như vậy, đến một ngày nào đó công phu
đó tự cho mình thấy được thực tướng cảm thọ nó
tức cười lắm, nó chỉ có khi các căn tiếp xúc với
các trần có ra cảm thọ, rồi mình bị nô lệ bởi
tất cả các cảm thọ. Dường như cả cuộc đời này,
con người luôn đi tìm kiếm cảm thọ, ưng giàu
sang phú quí cũng là cảm thọ, luôn đi tìm cái
xứng ý vừa lòng cũng là cảm thọ. Quả là tất cả
đều không thực, khi đó mới tỉnh, ôi cuộc đời
mình, tổ tiên mình, ôi đang đi lang thang trong
vùng không thật có rồi tham khởi, sân khởi, si
khởi, ái dục khởi, hữu khởi, thủ khởi, sầu bi
khổ ưu não khởi, chính cảm thọ mà lại chấp tất
cả đó là của mình rồi bao nhiêu phiền toái của
cuộc đời từ đây mà có, thật là khủng khiếp, thật
là đáng sợ. Nhìn một hai lần còn dao động còn lo
sợ, còn hồi hộp chứ nhìn nhiều lần và nhiều lần
thì tỉnh táo lắm, vì đã biết cảm thọ sinh không
gốc gác, các cảm thọ diệt cũng không gốc không
gác. Cái không gốc, không gác chi cả mà mình cứ
yêu, cứ đắm, cứ say ; chuyện này là chuyện buồn
cười thật, lúc bấy giờ mình tỉnh táo lắm, liền
đứng qua một bên độc lập với các cảm thọ, không
bị các cảm thọ khống chế nữa. Hay nói khác đi,
đến đây, mình là chủ nhân để phán xét tất cả các
cảm thọ, thì làm gì mà có chuyện bị cảm thọ cuốn
trôi, nhận chìm. Mình đứng ngoài giống như bậc
hiền triết đứng trên bờ suối nhìn nước chảy thản
nhiên tự tại. Cũng thế, người thực hành pháp
quán này cũng có thái độ trầm tĩnh, an lạc để
nhìn dòng thác cảm thọ tuôn trào, nó vô thường
kinh khủng lắm. Vớùi cái nhìn này đi vào đời
chẳng khác nào như hoa sen sống trong bùn mà
chẳng hôi tanh mùi bùn, nghĩa là hành giả thản
nhiên nhìn được mọi thứ xung quanh, tuy có vui
chút chút nhưng nguy hiểm vô cùng, tự động tâm
lý tỉnh táo nhẹ nhàng thanh thản, phiền muộn tự
tiêu tan, đây là con đường thực hành có làm mới
thấy. Và việc làm này có thể hành trì trong mọi
nơi, mọi lúc trong đời, vì đây là việc làm của
tự thân vận động, tự thân biết, bên ngoài không
ai biết gì và chỉ có đời mới cung cấp cho chúng
ta những cơ hội và những thử thách cần thiết bổ
sung cho sự thực hành được sâu sắc và thực tiễn.
2.4.1.3. Bước kế
chúng ta đi vào quán tâm trên tâm:
So với hai pháp quán
trên thì quán tâm là tế hơn, mặc dù tâm cũng
thuộc về danh nhưng so với thọ tâm tế hơn nhiều
vì không thể nhận biết qua cảm giác, mà phải
tỉnh giác biết tâm gì đang khởi lên ; cái lỗi
lớn nhất của chúng ta là luôn đồng hóa mình với
tâm mình nên khó nhận biết, nên cấp độ quán đòi
hỏi chúng ta phải đủ tỉnh táo, đủ giác tỉnh để
ghi nhận tâm ta đang khởi là gì ? Là tham hay là
sân hay là si hoặc ngược lại ; hay nó thuộc về
vật chất hay phi vật chất, chỉ việc làm đơn giản
là ghi nhận chúng như chúng đang là, chỉ cần
nhắc như vậy là tỉnh ngay, vọng tâm dừng ngay.
Một khi tập trung theo dõi sâu rồi, chúng ta có
thể theo dõi tâm xem động cơ nào làm cho tâm
khởi lên, và chìm xuống như thế nào, chừng ấy
mới biết rõ nó gồm nhiều yếu tố bên trong và
nhiều yếu tố bên ngoài sinh ra, nó không thuộc
của ai, nó sinh ra không gốc gác, nó diệt đi
không gốc gác, khi tự nó đã không có rồi thì
mình không thể nhận nó là tâm mình được, thường
thì chúng ta luôn bỏ chân tâm, đi trôi nổi theo
vọng tâm, chẳng khác nào gả cùng tử trong Kinh
Pháp Hoa. Kết quả là trôi nổi xứ người, cũng như
mình nổi trôi trong sinh tử luân hồi, vì vậy
muốn chấm dứt gốc gác luân hồi, phải theo sát
tâm và phải chấm dứt ngay từ nơi tâm, nghĩa là
bất cứ tâm gì khởi lên, chúng ta chỉ việc ghi
nhận và phải quả quyết : “ tâm này không phải là
tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của
tôi”. Phải nhìn tâm mình với một thái độ như
nhìn mây trôi trên trời , không vướng bận chi
cả, mình vẫn thản nhiên, tự tại. Cũng vậy, với
tâm đến hay đi là việc làm của nó, mình thản
nhiên không phản ứng gì, chỉ ghi nhận biết là
vậy. Đây là kỹ thuật, là kinh nghiệm đi tìm chân
tâm. Khi ghi nhận biết như vậy, thì tự động
chúng vắng mặt không hoạt động nũa, và đây là
việc làm của những ai còn đủ trẻ đủ khỏe. Với
người cao tuổi, yếu sức chỉ nên làm một việc ,
bất cứ niệm nào khởi lên thì thầm nhủ “ không
phải là ta, của ta hay tự ngã của ta”. Dầu chưa
đạt được giác ngộ nhưng đã đạt được trạng thái
vô thủ trước rồi, đến đây là “thỏng tay vào chợ”
như kinh Đại Thừa thường nói. Vì một khi mình
làm chủ thái độ tâm lý của mình đối với mọi sự
biến dịch của sự vật bên trong cũng như bên
ngoài, thì chúng ta thấy sống an lạc, nhẹ nhàng,
nhìn mọi vật như gió thổi mây bay. Việc làm này
tuy đơn giản, nhưng Đức Thế Tôn luôn dạy chúng
ta phải hành trì với nhiệt tâm tinh cần, chánh
niệm, tỉnh giác vì bởi lẻ đây là con đường tự
mình hiểu, tự mình trách nhiệm lấy mình, là con
đường độc lập tự do tâm lý, con đường tự tri, tự
giác, nếu thiếu tâm lý trên mình dễ bị nản chí,
thối tâm trước những khó khăn ở bước đầu, vì
giai đoạn đầu toàn đối diện với vọng tâm quá
nhiều làm rối.
Đến đây, chúng ta đã
biết thân mình cấu tạo như thế nào, biết hơi thở
như thế nào, biết cảm thọ như thế nào, biết tâm
lý lên xuống sinh diệt ra sao, biết luôn cả thái
độ đối trị chúng nữa. Tất cả như huyễn, không có
thật, là do trùng trùng duyên khởi, và do duyên
diệt. Như vậy từ pháp môn này chúng ta đã nhận
chân được giáo lý duyên khởi. Giáo lý này được
xem là giáo lý chỉ có trong Đạo Phật, không có ở
đạo khác và đây là giáo lý chỉ đạo cho tư tưởng
Đại thừa và đức Phật đã từng nói “ thấy được
giáo lý duyên khởi tức là thấy được pháp thấy
được pháp, tức là thấy Như Lai”. Quả là giáo lý
duyên khởi cao siêu, huyền diệu quá nhưng chúng
chỉ xuất hiện trong thân một tầm tay này. Tức
trong thân một tầm tay này mà Đức Thế Tôn tuyên
bố “ tất cả”. Và thân một tâm này chính là thân,
thọ, tâm, pháp, chính là Tứ Niệm xứ mà có ra tất
cả. Quả là, giáo lý Tứ Niệm xứ là giáo lý độc
nhất vô nhị, nhưng phải hành, và phải sống mới
thấy cũng như người uống nước “nóng lạnh tự
tri”.
2.4.1.4. Quán pháp trên pháp:
Tuy nhiên phổ quát tính
của Tứ Niệm xứ hay sự dung nhiếp của pháp môn
này thể hiện rõ nét ở đề mục quán pháp trên các
pháp ; nơi mà các tư tưởng và giáo nghĩa căn bản
của Đạo Phật được sử dụng làm đối tượng cho sự
nuôi dưỡng chánh niệm và phát triển trí tuệ.
Trong số các ứng dụng thuộc đề mục này chúng ta
thấy có:
Phương pháp xem xét về
năm triền cái : tham dục, sân hận, hôn trầm thùy
miên, trạo hối, nghi. Đây chính là thức ăn giúp
cho vô minh tồn tại và phát triển. Để vô minh
không tồn tại và phát triển nữa chỉ cần hủy diệt
thức ăn của nó, tức là diệt ngũ triền cái bằng
cách chúng khởi lên chỗ nào là chúng ta ghi nhận
chỗ ấy. Đồng thời phải tỉnh giác rằng ngũ triền
cái là đống tội lỗi, là cái đẻ ra những rối loạn
trong con người ngay cuộc đời này, và chính nó
là thức ăn của vô minh, nên chúng ta phải đánh
một trận chiến với chúng trước, nên chúng ta
phải nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác
để thấy chúng hiện lên như thế nào, thấy luôn sự
nguy hiểm của chúng, liền khởi tâm đi thoắt qua
liền. Chính đây là con đường độc nhất đi đến
giải thoát, không còn con đường nào nữa, ngoài
cái việc duy nhất là mình phải hành mà thôi.
Tiếp là phương pháp quán
niệm về năm thủ uẩn : là sắc, thọ, tưởng, hành,
thức; quán niệm về mười hai xứ gồm : mắt và sắc,
tai và tiếng, mũi và hương, lưỡi và vị, thân và
xúc, ý và các pháp ; quán niệm về Tứ Đế gồm :
khổ, tập, diệt, đạo ; quán niệm về bảy giác chi
gồm: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an,
định và xả. Trong tất cả các pháp trên có cùng
một cách hành : nghĩa là phải nhiệt tâm tinh
cần, chánh niệm tỉnh giác, và phải hiểu pháp mới
đi vào suy tư pháp, mến pháp, hành pháp, có hành
pháp thì pháp ấy mới nói lên tất cả vô lượng
nghĩa, vô lượng từ, tức là trong đó thấy được
pháp duyên sinh, pháp vô ngã, pháp vô thường và
thấy luôn sự nguy hiểm của vô thường. Từ đây
khởi tâm ly tham, giải thoát khởi, chỗ này là
chỗ vô sinh, vô diệt, là Niết Bàn, thoát ly mọi
sự trói buộc của nhân duyên.
Qua tất cả các đối tượng quán ở
đề mục pháp cho chúng ta thấy phạm vi ứng dụng
rất rộng của Tứ Niệm Xứ và pháp môn này bao hàm
nhiều nền tảng giáo lý và phương pháp thực hành
quan trọng của đạo Phật. Điều này được thể hiện
bàng bạc ở tất cả các kinh văn thuộc hệ tư tưởng
Đại Thừa.
2.4.2. Tứ niệm xứ qua
lăng kính kinh Hệ phát triển:
+ Nói đến kinh Lăng
Nghiêm tức là nói đi vào đại định, trước phải
sửa soạn cái tâm cho rỗng rang bằng cách khai
tâm là tâm không có trong, không có ngoài cũng
không có trong ngoài, điều này đồng nghĩa với
việc xây dựng chánh kiến, tức là phải có cái
nhìn về sự vật như thật tướng mà nó đang là.
Tiếp bước nữa là lập đàn tràng tụng chú ăn chay,
nghĩa là sửa soạn một quyết tâm tu, có quyết tâm
thì hành mới được, việc làm này là cách nói khác
của nhiệt tâm bên Tứ Niệm xứ . Rồi bắt đầu trì
giới. Sau cùng đi vào thiền quán sáu căn, sáu
trần, sáu thức tức là quán thập bát giới. Vậy
nội dung kinh này nặng về thiền quán thập bát
giới là cách nói khác của ngũ uẩn, và đây chỉ là
một phần ở đối tượng quán pháp của Tứ Niệm Xứ mà
thôi. Nếu nói theo ngôn ngữ toán học : kinh Thủ
Lăng Nghiêm chỉ là tập hợp con của nội dung kinh
Tứ Niệm Xứ.
+ Đi vào kinh Kim
Cương, chúng ta thấy rõ một điều : vì người đời
nặng về chấp thủ làm ngăn cản sự thành đạo đắc
quả, để thức tỉnh họ nên nội dung của kinh này
dạy phải rời chấp thủ, tất cả những gì đã khởi
lên đều nằm một trong bốn chấp : chấp ngả tướng,
chấp nhân tướng, chấp chúng sanh tướng, chấp thọ
giả tướng, phải chú tâm vào chánh niệm phải khởi
chánh kiến, công việc này chỉ là tạo chánh niệm
chỉ là một chi phần trong Tứ Niệm Xứ.
+ Đến với kinh Viên
Giác : bước đầu cũng phải sửa soạn cho có chánh
kiến, cho có chánh niệm, tự nhiên giác tỉnh biết
thực tướng là gì, sau đó đi vào chỉ quán, lại là
công việc của Tứ Niệm Xứ.
+ Đến với Duy Thức :
chúng ta quen đi vào ba mươi bài tụng đúng
không, nội dung của hai mươi lăm bài tụng đầu
chỉ rõ sự có mặt sự hình thành của trăm pháp,
năm bài kệ sau dạy về quán duy thức để nhận thấy
biến kế là vô ngã, biến y tha vô ngã, biến duyên
thành thật là vô ngã, hay nói cách khác là quán
tâm, tâm sở là vô thường, không thật có, là vô
ngã. Đây là quán ba pháp ấn, cũng là một phần
quán pháp của Tứ Niệm Xứ.
+ Đối với pháp môn niệm
Phật thì sao ?
Khi tiếp cận với hệ tư
tưởng Đại Thừa Phật giáo, chúng ta không quên
nhắc đến pháp “ niệm Phật” hay “ trì chú”. Đây
là những pháp thoại được xưng tụng trong giờ
tịnh độ, nên rất quen thuộc với những ai theo hệ
Bắc tông hay Khất Sĩ. Hành pháp này không cầu
kỳ, rất đơn giản, chỉ cần truyền miệng năm ba
phút là có thể làm theo được liền, và ai cũng có
thể thực hành được. Và đây là một trong bốn mươi
đề mục thiền định, nghĩa là dùng nó làm đề mục
để loại trừ mọi tư tưởng xấu, quấy, ác. Nói như
vậy nghĩa là chúng ta “ niệm Phật” hay” trì chú”
là lúc chúng ta niệm lời chơn, không nói điều
sằn bậy, còn ý đang tập trung vào lời niệm nên
không nghĩ bậy, thì thân không có lý do gì mà
làm việc xấu ác. Nhờ đó ba nghiệp tham, sân, si
lắng xuống, dịu xuống mà thôi, và đây lại là
việc làm của Tứ Niệm Xứ, ở bước đầu là giai đoạn
“ngồi lại an trú niệm trước mặt.”
Hơn thế nữa, “niệm Phật”
hay “ trì chú” chỉ là một trong bốn mươi đề mục
thiền định, chỉ thuộc phần tu định, chưa phải tu
tuệ nên quả đạt đựơc không phải đạt đến mục tiêu
tối hậu là cứu cánh Niết Bàn. Có lẻ một phần “do
tính cách sâu xa của những đức tính đặc biệt của
đấng Giác Ngộ, hoặc vì hành giả bận tâm tưởng
niệm những đức tính đặt biệt thuộc nhiều loại,
cho nên chỉ đạt được định cận hành, không đạt
đến định an chỉ”, [1, 361 ], đây không phải là
bước dừng chân của bậc phạm hạnh mà phải bước
tiếp theo vào tu tập tuệ nên phải đi sâu vào
pháp “ quán Niệm xứ”.
Hiện nay, thiền quán Tứ
Niệm Xứ được gọi là thiền Minh Sát (Vipassanà)
được trân trọng gìn giữ và hành trì rộng khắp
tại Miến Điện và các nước Phật giáo Nam tông như
Tích Lan,Thái Lan, Campuchia … cũng như đang dần
ảnh hưởng ra các nước phương Tây trên thế giới.
Các trung tâm Thiền được thiết kế xây dựng với
tầm vóc qui mô ở Miến Điện bởi nhiều trường phái
nổi tiếng khác nhau như:
_ Trường phái Mahàsi
_ Trường phái Shwe-Oa-Min
_ Trường phái của U Bakhin mà
hậu duệ là Goenka. Các trường phái thiền này
hành trì trên nền tảng kinh Tứ Niệm Xứ của Phật
với những nét đặc trưng riêng. Hiện nay trường
phái niệm thọ của U Bakhin đã được đệ tử là
Goenka phát triển rộng khắp sang Ấn Độ và nhiều
nước khác trên thế giới.
Như vậy, Tứ Niệm Xứ đã dung
nhiếp toàn bộ giáo lý của nhà Phật, chỉ
cần làu thông hiểu rành, hành cho lão luyện Tứ
Niệm Xứ tự động mọi pháp khác hiển bày.
Quả là giáo lý của Đức Phật luôn được trình bày
một cách nhất quán : “Một là tất cả, tất cả là
một”.
CHƯƠNG 3 :
Lợi ích đạt được khi hành trì Tứ Niệm Xứ
3.1. Theo Kinh Tạng để lại :
Một khi chúng ta thành
thục pháp Tứ Niệm Xứ rồi, thì những bức tường
của cái ngã tự động sụp đổ, lòng tham dục tự
tiêu, thái độ bảo thủ và ngoan cố sẽ không còn
nữa, chúng ta trở nên cởi mở hơn, linh động hơn
và có thể lấy bất cứ cái gì trên đời làm áng xứ
tu tập đều được cả; mọi sự trên đời luôn là bước
tiến của chúng ta. Vâng, pháp này quá tuyệt, quá
diệu, vì lẻ ấy mà trước khi sắp nhập Niết Bàn
Đức Thế Tôn không quên nhắc lại nếp sống tối
thắng của một Tỳ kheo, nên tu thiền định, thiền
quán: “Và nầy Ananda, Tỳ kheo quán thân trên
thân… quán thọ trên thọ … quán tâm trên tâm ,
quán pháp trên pháp nhiệt tâm tỉnh giác, chánh
niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy , này
Ananda, Tỳ kheo là ngọn đèn cho chính mình, tự
mình y tựa chính mình, không y tựa người khác,
dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp
làm chỗ nương tựa, không nương tựa vật gì khác.
Những vị ấy , này Ananda, là những vị tối thượng
trong hàng Tỳ kheo của chúng ta” [ 5_ 255-256].
Luận đề này được Đức Thế
Tôn nêâu ra nhằm nhấn mạnh pháp môn Tứ Niệm Xứ
và kêu gọi môn đệ của mình tập trung vào vịêc
thực hành mới thấy được diệu quả ngay trong hiện
tại và diệu quả ấy được đề cập như sau :
Ngoài hai mục tiêu được
đề cập trong bài kinh Niệm xứ là đạt chánh trí
ngay hiện tại, tương ứng với quả vị Alahán hay
sự đoạn tận kiết sử và lậu hoặc và quả Bất lai,
tương ứng với sự diệt trừ năm hạ phần kiết sử.
Tứ Niệm xứ còn chứng minh khả năng đặc biệt ở
pháp môn này trong việc dọn đường cho mục tiêu
tối hậu là có khả năng loại sạch các pháp ô
nhiễm được kinh Tăng Chi Bộ trình bày như sau :
+ Năm nghiệp phiền não :
sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các
dục, nói láo, đắm say rượu men…
+ Năm dục trưởng dưỡng :
ham muốn sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị
ngon, cảm xúc êm dịu…
+ Năm xan tham : xan
tham gia đình, xan tham lợi dưỡng, xan tham dung
sắc, xan tham pháp…
+ Năm triền cái : dục
tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi…
+ Năm sanh thú : địa
ngục, loài bàng sanh, cõi ngạ quỉ, loài người,
chư thiên…
+ Năm tâm hoang vu :
nghi ngờ, do dự, không quyết đoán, không có tự
tin đối với bậc đạo sư, nghi ngờ đối với Pháp,
nghi ngờ đối với chúng tăng, nghi ngờ đối với
học pháp, tức giận đối với các vị đồng phạm
hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành tâm
hoang vu.
+ Năm tâm triền phược :
tâm không ly tham, không ly dục, không ly ái
nhiễm đối với các dục tâm, không ly tham đối với
thân, không ly tham đối với sắc, ăn quá sức bao
tử có thể chịu nổi, hưởng thọ sung sướng về
giường nằm, sung sướng về thụy miên, sống đời
sống phạm hạnh với hy vọng mong được thành một
loại chư thiên.
+ Năm thủ uẩn : sắc thủ
uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn,
thức thủ uẩn.
+ Năm hạ phần kiết sử :
sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh… [6 –
225 – 230].
3.2. Theo chư thiền sư
đã và đang hành trì :
Bên cạnh lợi lạc mà kinh
điển để lại, chư thiền sư đương thời cho ta biết
rằng : pháp môn Tứ Niệm xứ là một pháp môn thiền
quán cổ mà mầu nhiệm, giúp chúng ta lọc bỏ đi
những sai lầm và giả dối, vén lên tấm màn che
phủ thực tại, để ta có thể trực tiếp tiếp xúc
với sự vô thường của cuộc sống, sự khổ đau kiếp
người, và sự thật không có cái tôi cố định và
riêng lẽ. Từ đó ý thức rằng mọi tham ái, nắm
bắt, ghét bỏ của mình là vô nghĩa lý và hoàn
toàn vô ích, tự động lòng ái dục tắt hẳn và gánh
nặng được buông xuống. Đây là cả một quá trình
hoán chuyển và thoát xác cực kỳ quan trọng trong
đời sống phạm hạnh của chúng ta. Chính nhờ vậy
chúng ta thấy được hàng loạt lợi lạc như sau :
_ Trạng thái tâm trong sáng.
_ Tâm quân bình và ổn định.
_ Chữa lành một số bệnh.
_ Tăng trưởng trí tuệ.
_ Đạt được điều chúng ta mong
mỏi là thoát khỏi bốn đường ác đạo.
_ Chứng ngộ giáo pháp cao
thượng.
_ Hơn thế nữa, thiền quán Tứ
Niệm xứ còn được gọi thiền Minh Sát hay
Vipassanà, là Thiền Tuệ, một khi thành thục quán
tuệ thì “có hàng trăm lợi ích không thể nào nói
cho xiết, nhưng vắn tắt là những điều này : tẩy
trừ các cấu uế đủ loại, nếm vị ngọt của thánh
quả, có khả năng đạt đến diệt tận định và xứng
đáng được cúng dường” [1- 1159].
Như vậy, từ các thông
tin và khảo sát trên, chúng ta có thể hiểu được
ý nghĩa câu : “Con đường duy nhất đưa đến thanh
tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi phiền não, diệt
trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết
Bàn” dùng để nói về Tứ Niệm Xứ và lý do pháp môn
này được nhấn mạnh và đề cao trong đạo Phật.
KẾT LUẬN