TINH
THẦN NHẬP THẾ CỦA CÁC VỊ THIỀN SƯ THỜI LÝ – TRẦN
Thích Nữ Nguyên Hiếu
DẪN NHẬP
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH
NGHIÊN CỨU.
Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời vì
một đại sự nhân duyên “KHAI THỊ NGỘ NHẬP PHẬT
TRI KIẾN CHO CHÚNG SANH” – Ngọn đuốc trí tuệ đó
Đức Phật đã thắp lên từ hơn 25 thế kỷ qua vẫn
tiếp tục soi sáng cho chúng ta ngày nay. Để tiếp
nối hạnh nguyện cao cả của Đức Phật, các Thiền
sư thời Lý – Trần đã sống và hành động theo lời
dạy của Đức Phật:
“ Này chư Tỳ Kheo ! Hãy du hành vì
lợi ích, vì an lạc, vì hạnh phúc cho chư thiên
và loài người”. Đồng thời, các Thiền sư đã cụ
thể hóa lời dạy của Đức Phật trong đời sống. Các
Ngài đã đến với cuộc đời một cách tự tại, vì lợi
ích cho đất nước, cho con người, không vì vụ lợi
riêng tư mà bằng tinh thần “Vô ngã vị tha”, kết
hợp với tinh thần nhân bản, bằng giáo lý tư,ụ
bi, hỷ, xả, hài hoà tinh thần yêu nước chống
ngoại xâm của dân tộc, làm nên một tư tưởng sống
“phụng sự” đạo pháp – dân tộc và chúng sanh.
Ngày nay, cách buổi đầu Thời Lý –
Trần hàng ngàn năm, bài học khách quan lịch sử
đã khắc họa đậm nét hình ảnh nhập thế của các vị
Thiền sư thời Lý – Trần, những hình ảnh đó không
còn hạn cuộc bởi không gian, thời gian. Tất cả
đã trở thành “những ngôi sao sáng” trong lịch sử
Phật giáo Việt Nam, trong lòng con người Việt
Nam đã qua, hiện tại và mãi về sau.
Vì vậy, bất cứ người Việt nào, khi
đọc lại những trang sử nước nhà, không ai không
tự hào về đất nước mình – đất nước đã sản sinh
ra những vị Thiền sư, hy sinh lợi ích cá nhân,
hòa nhập vào lợi ích chung của đất nước, sẵn
sàng xả thân khi đất nước lâm nguy. Và khi xong
việc, các Ngài thong dong tự tại quay gót trở về
với núi rừng sơn thủy, chọn am tranh làm chốn tu
hành. Song, ở nơi đây, những con người ấy không
chỉ chuyên lo tu Thiền mà lại một lần nữa các vị
đã đóng góp rất nhiều cho nền văn học Việt Nam,
với những áng thơ Thiền bất hủ. Vì thế, có thể
nói mỗi Thiền sư là một thi nhân. Thông qua tác
phẩm của mình, các vị đã gởi gấm tâm tư, những
trải nghiệm qúy báu trong qúa trình tu tập.
Hình ảnh các vị Thiền sư đi vào đời,
đi vào lòng người thể hiện trọn vẹn tinh thần
“VÔ NGÃ – TÙY DUYÊN – HÒA QUANG ĐỒNG TRẦN” như
những đóa hoa sen thơm ngát giữa bùn lầy mà
không bị bùn nhơ làm ô nhiễm.
Bằng những nét phác họa đại cương
vừa nêu, người viết một lần nữa mong muốn được
ngưỡng vọng hình ảnh sáng ngời, không bao giờ
phai của các vị Thiền sư thời Lý – Trần. Đây
cũng là lý do, mục đích, người viết chọn đề tài
“TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA CÁC VỊ THIỀN SƯ THỜI LÝ
– TRẦN” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.
Các tác phẩm thơ văn Lý – Trần của
Viện văn học, Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam,
Lịch Sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thác,
Việt Nam Phật giáo Sử Luận của Nguyễn Lang,
Thiền Sư Việt Nam của HT.Thích Thanh Từ, Thiền
Học đời Trần của Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
Nam (in 1995)... đều ít nhiều có đề cập đến đời
sống tu tập, công hạnh hành đạo, phụng sự chúng
sanh, phục vụ dân tộc hoặc sáng tác thơ Thiền
của các Thiền sư. Tất cả những tác phẩm trên đều
giúp chúng ta biết qua hành trạng của các Thiền
sư. Đặc biệt là các Thiền sư có vị trí trong xã
hội và nổi tiếng trong giới thiền môn.
Ngoài ra, còn có một số giáo trình
lịch sử văn học của các trường Đại Học Tổng Hợp,
Đại Học Sư Phạm Hà Nội do Nhà Xuất Bản Giáo Dục
Ấn Hành để làm tài liệu giảng dạy tại các Trường
Đại Học có đề cập một số nét khái quát liên quan
đến thơ Thiền thời Lý – Trần và trong “Khảo sát
một số đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt
nam Thế Kỷ X – XIV” (Đoàn Thị Thu Vân – Trung
Tâm Nghiên Cứu Quốc Học và Nhà Xuất Bản Văn Học
– 1996), về mặt phương pháp nghiên cứu, tác giả
đã cung cấp cho chúng ta tài liệu để biết về
hành trạng, tinh thần nhập thế của các Thiền sư
Lý – Trần. Tài liệu này giúp người viết phát
hiện được cái độc đáo của Thiền Lý – Trần: “Đối
với Thiền, trước hết phải làm quen với cung
cách vô ngôn – tâm truyền – đốn ngộ của Thiền,
để sau đó dùng kinh nghiệm và cảm nhận tác phẩm
trước khi hệ thống hóa nó lại, để đi đến tìm ra
một số quy luật được xem như là chìa khóa giải
mã . . .” (Sđd).
Những ý kiến trên phần nào giúp
người viết nhận rõ hơn và quyết định đi vào
nghiên cứu. Đạo Phật là tôn giáo của niền tin,
nhưng không phải là niềm tin ở Thượng đế mà là
niềm tin ở con người, nên đạo Phật lấy con người
làm đối tượng nghiên cứu và phục vụ. Đặt sự tồn
tại của mình bằng trí tuệ biết phán xét phải
trái, bằng trái tim biết yêu thương đồng lọai,
bằng ý chí biết vươn tới cái đẹp và trong mối
tương quan mật thiết với sự tồn tại của xã hội
loài người. Hành trạng của các Thiền sư thời Lý
– Trần đã thể hiện trọn vẹn tinh thần nầy. Vì
thế, bản thân người viết nghĩ, mình là kẻ hậu
học phải có bổn phận đóng góp, dù một phần nhỏ
nhoi, khiêm tốn và chắc chắn còn nhiều hạn chế
về việc làm này.
3. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU.
Xét về mặt Lịch sử, người viết xin
đi vào nghiên cứu những tác phẩm đặc sắc của các
vị Thiền sư tiêu biểu thời Lý – Trần. Triều Lý
người viết sẽ đề cập đến những tác phẩm nói về
hành trạng của một số Thiền sư tiêu biểu như
Thiền sư Pháp Thuận (914 – 990), thuộc thế hệ
thứ 10 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Thiền sư Vạn
Hạnh (? – 1018), thuộc thế hệ thứ 12 dòng thiền
Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Thiền sư Ngô Chân Lưu (933 –
1011), thuộc thế hệ thứ 5 dòng Thiền Vô Ngôn
Thông. Đến Triều Trần, người viết xin nói về
tinh thần nhập thế của một số Thiền Sư như Trần
Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ
Trung Thượng Sĩ và kết thúc ở những tác phẩm của
Thiền sư Huyền Quang (1254 – 1334), Đệ Tam Tổ
Thiền Phái Trúc Lâm – một nhà thơ lớn trong giới
Thiền sư chẳng những thời Trần mà cho đến ngày
nay.
Thâm nhập tư tưởng Thiền, phong cách
sống của các vị Thiền sư luôn thể hiện những
hình ảnh siêu thoát. Vì vậy, tinh thần nhập thế
của các Ngài thể hiện trong nhiều lĩnh vực.
Song, trong khuôn khổ của một luận văn và trong
điều kiện bản thân, người viết không thể giới
thiệu hết những hành trạng của tất cả các Thiền
sư thời Lý – Trần. Do đó, người viết xin đề cập
đến những tác phẩm có giá trị tư tưởng và có
tính chất Thiền học – Phật học của các Thiền sư
tiêu biểu. Đáng quan tâm hơn là những giá trị tư
tưởng đó thể hiện tính tích cực nhằm phục vụ lợi
ích cho dân tộc và nhân loại.
Vì muốn tìm hiểu tinh thần nhập thế
của các Thiền sư thời Lý – Trần và để tìm cái
hay, cái đẹp, cái cao cả trong tinh thần nhập
thế của các Ngài đối với dân, với nước, người
viết sử dụng phương pháp khảo sát, so sánh, thi
pháp học, tìm hiểu một cách tổng quát những tác
phẩm mang đậm tư tưởng Thiền, cùng những bài Thi
kệ của các vị Thiền sư.
Tuy nhiên, với chủ đề qúa rộng lớn
mà số trang hạn hẹp và kiến thức còn thô thiển
nên người viết không thể nào trình bày hết những
đóng góp lớn lao của các vị Thiền sư thời Lý –
Trần. Chỉ xin góp phần nhỏ bé của mình vào vườn
hoa đạo lý, để cho hoa đạo Pháp luôn thơm mãi
cho đời.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT
NAM THỜI LÝ – TRẦN
1.1. PHẬT GIÁO THỜI DU NHẬP.
Đạo Phật truyền vào Việt Nam khoảng
đầu kỷ nguyên Tây Lịch. Như chúng ta biết: Việt
Nam nằm trong bán đảo Indochina (Đông Dương), là
cái gạch nối địa lý giữa hai nước Ấn Độ và Trung
Hoa. Vì thế, Việt Nam tất nhiên chịu ảnh hưởng
của hai nền văn minh cổ xưa Ấn Độ và Trung Hoa.
Từ thời xa xưa trước Công nguyên,
thương nhân Ấn Độ đã giao thương với các nước
Phương Tây và để có đủ hàng cung cấp cho họ,
thương nhân Ấn Độ giong thuyền theo gió mùa Tây
Nam đi về phía Đông Nam Á, đến Mã Lai, quần đảo
Nam Dương, vượt eo biển Malacca vào biển Đông,
đến Việt Nam rồi đến Trung Hoa, Nhật Bản.
Theo cuốn “Cổ sử các nước Ấn Độ hóa
ở Viễn Đông” ( Histoire ancienne des états
hindouisés d’Extrême Orient – 1944, p.23 của G.
GOEDES) và cuốn Roman coins found in INDIA –
1904 P. 559 – 683 của R. Sewedl, trong những năm
đầu của Công nguyên, các thương nhân của Ấn Độ
qua miền Viễn Đông để mua các thứ gia vị, hương
liệu, gỗ, trầm hương, vàng v.v…. Đạo Phật đã
theo những đoàn khách buôn, bằng ngã đường thủy
băng qua Srilanka, Java, Indonésia và Trung
Quốc. Ở những địa phương nào mà thương nhân ghé
lại, nơi thừa tự được thiết lập để nguyện cầu
bình an, may mắn. Từ đó, tư tưởng tôn giáo được
gieo rắc cho nhân dân địa phương. Như vậy, Phật
giáo Việt Nam đã có từ đầu kỷ nguyên Tây Lịch.
[35, 35]
Còn nhiều sử liệu khác cho biết đạo
Phật đã du nhập vào Việt Nam rất sớm, sớm hơn
Trung Quốc rất nhiều. Như theo Thiền Uyển Tập
Anh, một tác phẩm được hoàn thành vào đời Trần,
trong đó có Thiền sư Thông Biện viết về Thái Hậu
Linh Nhân (Ỷ Lan), mẹ vua Lý Nhân Tông có hỏi
Thiền sư về đạo Phật vào Việt Nam từ lúc nào?
Thiền sư tâu với Thái Hậu chuyện Đàm Thiên Pháp
sư, người Trung quốc, trả lời vua Tùy Cao Tổ là
Tùy Văn Đế về Phật giáo ở Giao Châu. Ngay từ khi
mới lên ngôi, nhà vua đã báo ân Phật bằng cách
hỗ trợ Tam Bảo khắp nơi. … Nhà vua đã xây tháp
thờ xá lợi Phật, với 49 tháp, xây 150 ngôi chùa.
Để thêm phước đức, lợi lạc quần sinh, nhà vua
ngỏ ý với Pháp sư Đàm Thiên, muốn làm chùa tháp
ở Giao Châu, nhưng qúa xa xôi. Vua nói rằng: “Xứ
Giao Châu tuy nội thuộc, nhưng chỉ là một xứ bị
ràng buộc mà thôi. Vậy ta nên chọn các Sa môn có
danh đức, sai sang để giảng hóa. May chi sẽ làm
cho tất cả nhân dân được phép Bồ Đề”. [9, 414]
Pháp sư bèn tâu với nhà vua là xứ Giao Châu có
đường thông với Thiên Trúc. Do đó, khi Phật pháp
đến Giang Đông chưa đầy đủ, thủ đô Giao Châu đã
có đến 20 ngôi chùa, có hơn 500 vị Tăng, kinh đã
dịch được 15 cuốn. Như thế cho thấy Phật giáo
truyền đến Giao Châu trước khi truyền đến Trung
Quốc.
Căn cứ vào các sách: “Hậu Hán Thư”;
“Pháp Vụ Thực Lục”; “Lý Hoặc Luận” đều cho thấy
sinh hoạt Phật giáo bắt đầu có ở Việt Nam từ đầu
kỷ nguyên Tây Lịch, do các khách buôn hàng hải
gieo rắc. Rồi thực sự có các nhà sư theo thuyền
buôn đến truyền đạo vào thế kỷ thứ II và đầu thế
kỷ thứ III, bằng cả hai con đường thủy và bộ.
Vào các thế kỷ đầu tại Giao Châu, Phật giáo đã
có một trung tâm lớn tại Luy Lâu, một trong ba
trung tâm lớn dưới thời Hậu Hán.
Ngoài ra, sự truyền bá Phật giáo đến
Việt Nam không phải xảy ra trong một lúc, mà là
liên tục trong nhiều thời điểm, từ đầu Công
nguyên cho đến các thế kỷ về sau. Công lao lúc
đầu là thuộc về người Ấn Độ và người Trung Á,
sau đó là người Trung Hoa và có cả người Việt
Nam đã sang Ấn Độ hoặc Trung Hoa học thêm đạo
Phật để về giảng lại cho người nước mình. Như
vậy người Việt Nam phải tự mình ra đi để tự mình
tìm đạo Phật về truyền lại cho chính dân tộc
mình, chứ đạo Phật mà người Ấn Độ, người Trung
Á, hay người Trung Hoa mang sang, chưa làm họ
hài lòng. Và hơn nữa, họ cũng muốn biết Phật
giáo ở đất Tổ ra sao, xã hội và con người dưới
tín ngưỡng Phật giáo thể hiện như thế nào. Họ
chú ý tìm hiểu, nghiên cứu, học tập và đã đạt
tới trình độ uyên thâm như Đại Thặng Đăng – Ông
này đã sáng tác bộ “Duyên Sinh Luận”. Tất cả
những người ra đi đều có ý thức đi là để trở về
quê hương, bản quán. Người nào trở về được thì
đã đem những kiến thức thu lượm được đàm đạo với
những Tăng Ni quen biết và những quần chúng Phật
tử gần mình. Việc đó đã làm cho người bản xứ có
cái nhìn rộng thoáng đối với đạo Phật, góp phần
tạo nên sắc thái riêng của bản xứ.
Song, sự truyền bá Phật giáo đến
Việt Nam còn được tiếp nối mãi về sau, còn diễn
ra ở cuối thời kỳ Bắc thuộc và cả thời kỳ độc
lập, chỉ có điều là hướng du nhập được thay đổi.
Hướng Tây Nam trực tiếp từ Ấn Độ sang trong buổi
đầu được thay thế bằng hướng Bắc xuống. Do đó
các Tông phái Thiền Tông ở Trung Quốc lần lượt
được đưa vào. Cuối thời kỳ Bắc thuộc là Thiền
phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông. Và đến
thời kỳ độc lập là các Thiền phái Thảo Đường,
Lâm Tế, Tào Động v.v… Hướng Ấn Độ sang không còn
vai trò nữa, vì xã hội Việt Nam sau này có những
nét chung với xã hội Trung Quốc nên dễ tiếp thu
nền văn hóa Trung Quốc, trong đó có tín ngưỡng.
Và cũng vì ở Ấn Độ sau này Ấn Độ giáo và Hồi
giáo thống trị .
Việc truyền bá với nhiều hướng khác
nhau, nhiều thời điểm khác nhau, nhiều Tông phái
khác nhau, tình hình đó đã để lại dấu ấn trong
các giai đoạn phát triển của Phật giáo Việt Nam.
Rõ ràng đó là một trong những cơ sở tạo nên đặc
thù của lịch sử Phật giáo Việt Nam. [13, 25-26]
Tóm lại, Phật giáo du nhập vào Việt
Nam đầu thế kỷ thứ I Tây Lịch, bằng con đường
thủy, do các vị sư Ấn Độ trực tiếp truyền vào.
Với nguồn giáo lý phong phú Phật giáo đi vào
nước Việt Nam như là nước đi vào đất khô hạn,
Phật, Bồ Tát đi vào trong dân tộc Việt Nam như
người cha hiền, mẹ hiền, thầy và bạn hiền; chùa
chiền hòa mình vào làng mạc, chợ búa, thành chùa
làng, chùa chợ,… “Đất vua, chùa làng, phong cảnh
Bụt”. [4, 21]
1.2. PHẬT GIÁO THỜI LÝ – TRẦN.
Phật giáo có mặt ở Việt Nam trong
hơn 20 thế kỷ qua đã có một vai trò, một vị trí
quan trọng nhất định trong lịch sử dân tộc. Nhất
là Phật giáo Lý – Trần đã thể hiện trí tuệ và từ
bi sâu sắc bằng sự nhập thế sinh động và đa dạng
qua tư tưởng, lời nói, hành động gắn bó với cuộc
sống an vui hạnh phúc của dân tộc. Cả hai triều
đại Lý – Trần Phật giáo đã trở thành quốc giáo.
Lúc bấy giờ, cả nước từ vua, quan đến thứ dân
đều theo Phật, đến chùa quy y, giữ giới, tụng
kinh, Thiền định nên mới có được một tinh thần
an lạc, hòa hợp và thuần từ.
Thâm nhập giáo lý nhà Phật qua chính
sách an dân trị nước nên các vua Lý – Trần đã
chinh phục trái tim, khối óc con người bằng đức
trị thay pháp trị. Đạo đức vô ngã đã tạo cho con
người một cuộc sống hòa hợp, giản dị nhưng tạo
lực tác động mạnh mẽ vô cùng. Vì thế cả hai
triều đại Lý – Trần đều tồn tại khá lâu. Triều
Lý hơn 200 năm (1010 – 1225) và Triều Trần gần
200 năm (1226 – 1400). Như vậy, hai triều đại Lý
– Trần tồn tại gần 400 năm. Có thể nói đây là
thời đại cực thịnh của Phật giáo Việt Nam mà
cũng là thời đại đất nước hùng mạnh nhất trong
trang sử nước nhà. Các vua thời đại Lý – Trần
được thừa hưởng những thành qủa tốt đẹp của thế
hệ trước, đồng thời biết phát huy những tinh hoa
gạn lọc được từ bên ngoài biến thể sao cho phù
hợp với quốc dân thủy thổ mà không đánh mất bản
sắc dân tộc. Thêm vào đó, họ đã thấm nhuần lời
chỉ bảo của Thiền sư Pháp Thuận:
Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô cư như điện các
Xứ xứ tức đao binh
Dịch:
Vận nước như giây quấn,
Trời Nam ôm thái bình.
Đạo đức ngự cung điện
Muôn xứ hết đao binh. [35, 192]
Muốn đất nước thái bình, thịnh trị.
Chính nơi bản thân các vua đã tự trau dồi bằng
đạo đức vị tha, triết lý sống nhập thế trên tinh
thần từ, bi, hỷ, xả của đạo Phật. Các vua không
ngừng học hỏi, tu tập cho đến khi thấu rõ giáo
lý Phật Đà, góp phần tạo một sức sống mạnh mẽ,
không khép kín mà phổ biến khắp nơi trong dân
chúng, khiến họ cùng học tập theo và sống đúng.
Một đời sống hướng thượng, hướng con người đến
chân – thiện – mỹ và đạt được chân lý ngay trong
đời sống thực tại này chứ không phải nơi một thế
giới xa xăm nào khác. Đạo Phật đã tạo cho dân
tộc Việt Nam đương thời một niềm tin mạnh mẽ vào
tự lực, vào khả năng trong sáng thuần khiết của
bản thân để sống đúng và sống đẹp theo tinh thần
Chánh kiến, Chánh tư duy và Chánh mạng. Đây
chính là nguyên nhân làm cho triều đại Lý – Trần
phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử với những
chiến công vẻ vang và sự thành tựu to lớn về
chính trị, kinh tế, văn hóa. … Chính đạo Phật đã
chan hòa vào lòng dân tộc góp phần hình thành
một quan niệm, một lối sống tích cực, hữu ích
cho con người và cho cuộc sống.
Lật lại trang sử nước nhà, vào năm
938, sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán
trên sông Bạch Đằng, dân ta thoát khỏi ách đô hộ
hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra một kỷ nguyên độc
lập cho dân tộc. Giành lại chủ quyền chưa được
bao lâu thì trong nước có loạn. Năm 968 Đinh
Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi hoàng
đế, thống nhất giang sơn thu về một mối, đặt
quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư.
Tuy tình hình trong nước lúc bấy giờ còn lộn
xộn, nhiều người quen thói lúc loạn không tuân
theo luật lệ. Vua quan bên trong lo dập tắt các
mầm loạn, bên ngoài lo bang giao với nhà Tống
thì đâu có thời gian xây dựng đất nước. Luật
pháp chưa nghiêm ngặt, hình phạt nặng nề như vạc
dầu hay cho hổ báo ăn thịt dành cho những tên
gian ác, âm mưu tạo phản, còn đối với người dân
thì không bó buộc lắm, thuế má cũng không đóng,
việc đi lại dễ dàng khiến người dân cảm thấy
thỏa mái.
Đến khi Lê Hoàn lên ngôi cũng như
bao vị hoàng đế trước luôn coi nhà Tống là Thiên
triều, vua Tống là Thiên Tử. Vốn là Võ tướng khí
phách hào hùng, dẫu được phong tước là báu vật
của thiên triều nhưng ông không chịu khom lưng.
Vì vậy, ông đặt ra pháp luật rất nghiêm minh.
Thêm vào đó, Lê Hoàn chia đất cho 12 con trai
của mình cai trị, đến năm 1005 Lê Hoàn mất, ngay
sau đó, một cuộc chém giết kinh hoàng để tranh
giành ngôi báu diễn ra giữa các con của Lê Hoàn.
Lê Long Tích bị giết ở Thạch Hà (nay thuộc Hà
Tĩnh), Lê Long Kích bị giết ở Phù Lan (nay thuộc
huyện Mỹ Văn, Tỉnh Hưng Yên), Lê Long Việt giành
ngôi mới được ba ngày cũng bị giết hại ngay tại
Hoa Lư. … Cuối cùng, Lê Long Đĩnh đã chiếm giữ
được ngôi.
Lê Long Đĩnh là con trai thứ năm của
Lê Hoàn, sinh năm 986, giết anh ruột Lê Long
Việt để giành ngôi vào cuối năm 1005, năm Lê
Long Đĩnh vừa mới được 19 tuổi. Với lịch sử, Lê
Long Đĩnh là một vết nhơ, hơn thế nữa, còn thực
sự là một đại họa. Quốc Sử Việt thời Hậu Lê nhận
xét: “Ngọa Triều làm việc càn rỡ, giết anh để
giành ngôi, hoang dâm và tàn bạo, muốn tránh
việc mất nước cũng chẳng thể được”. [5, 26]
Nhận thấy vận nước đang ngàn cân
treo sợi tóc. Vạn Hạnh Thiền sư vì dân vì nước
muốn cứu quốc khỏi lâm nguy nên đã làm một cuộc
đảo chính năm 1009 phế Lê lập Lý mở ra một trang
sử mới cho triều đại nhà Lý. Lời nhận xét của
Hoàng Xuân Hãn là một minh chứng triều đại nhà
Lý vững chắc và thịnh vượng ngự trị trên 200 năm
thực thi nhờ tinh thần Phật giáo: “Sau các đời
vua hung hãn họ Đinh – Lê, ta thấy xuất hiện ra
những người cầm quyền có lòng độ lượng khoan
dung, những cận thần đức độ trung thành. Đời Lý
có thể gọi là đời thuần từ nhất trong lịch sử
nước ta”. [9, 429] Như vậy, Phật giáo đời Lý đã
un đúc nên những ông vua Phật Tử thuần thành.
Hơn thế nữa, Phật giáo đời Lý đã có
những Thiền sư nổi tiếng làm cầu nối cho Phật
giáo đời Trần đạt đến đỉnh cao trong lịch sử để
khẳng định quyền tự chủ tự cường của một đất
nước. Vì vậy, dân tộc Việt Nam sẵn sàng chống
lại bất cứ sức mạnh nào muốn phá hoại nền hòa
bình, hạnh phúc của mình. Và Phật giáo Lý – Trần
đã đáp ứng nguyện vọng ấy, góp phần vĩ đại vào
công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước. Chiến công
hiển hách còn ghi lại trong lịch sử. Nếu Lý Thái
Tông đã đánh giặc Nùng rồi bình được Chiêm
Thành. Lý Thường Kiệt đem binh đánh Tống thì
Trần Thái Tông cũng thu phục được đất Chiêm và
cuộc chiến thắng Nguyên Mông vẻ vang này dưới sự
lãnh đạo tài tình của vua Trần Nhân Tông và Hưng
Đạo Vương.
Xưa nay, các bậc đế vương thâu phục
giang sơn bằng con đường gươm đao, chế ngự dân
bằng quyền hành, bạo lực. Còn thời đại Lý – Trần
thì khác, lên ngôi vua không hề có một giọt máu
rơi, quần thần trong triều đình đều nhất trí và
cũng không nghe dân tình than oán. Sức mạnh nào
đã tạo nên một quốc gia hưng thịnh hùng cường,
có phải chăng chính đức từ, bi, hỷ, xả của nhà
Phật đã thấm nhuần từ vua quan cho đến thứ dân.
Các ông vua thời Lý – Trần đã dùng
chính sách trị dân có tính khoan hồng kết hợp
pháp trị với đức trị. Như chúng ta thấy, sau khi
Lý Công Uẩn lên ngôi, là một Phật tử thuần
thành, ông liền ra lệnh hủy bỏ hết mọi hình cụ
trong ngục và cho xây dựng nhiều chùa mới trong
nước. Lý Thánh Tông, vị vua thứ 3 nhà Lý, nổi
tiếng là một ông vua nhân từ. Một hôm thiết
triều, ông chỉ vào công chúa Động Thiên đứng
cạnh mà bảo các quan rằng: “Lòng trẫm yêu dân
như yêu con trẫm vậy. Hiềm vì trăm họ làm càng
cho nên phải tội, trẫm lấy làm thương lắm, vậy
từ nay về sau tội gì cũng giảm bớt đi …”
Nói chung, các ông vua Phật tử thuần
thành đời Lý và đời Trần đều có tấm lòng thương
yêu dân như vậy là nhờ thấm nhuần tinh thần từ,
bi, hỷ, xả, vô ngã vị tha của đạo Phật. Đường
lối lấy đức trị dân của hai triều đại Lý – Trần
đã minh chứng sự hội nhập của Phật giáo vào đời
sống văn hóa, chính trị và xã hội của dân tộc
Việt Nam.
Song, điểm đặc sắc của hai triều đại
Phật giáo Lý – Trần là ngoài những ông vua Phật
tử thuần thành, còn có những ông vua kiêm Thiền
sư, kiêm là những nhà Phật học uyên bác, viết
sách, giảng kinh, không khác gì các cao Tăng
thạc đức. Có thể kể Lý Thái Tông, học trò đắc
pháp của Thiền sư Thiền Lão, và được dự vào hàng
Tổ thứ 7 của dòng thiền Vô Ngôn Thông. Lý Thánh
Tông được tuyền thừa làm Tổ thứ 2 của Phái Thiền
Thảo Đường, và đặc biệt là hai ông vua Trần Thái
Tông và Trần Nhân Tông là một trong những ngôi
sao sáng của Phật giáo thời đó. Vua Trần Thái
Tông là tác giả cuốn Khóa Hư Lục, một tác phẩm
Phật giáo viết bằng chữ Hán Nôm, đã được dịch ra
tiếng Việt và xuất bản nhiều lần. Cuốn sách chứa
nhiều tư tưởng độc đáo. Thí dụ, tư tưởng xem mọi
người đều là Phật, đều là những vị Phật sống mà
không tự biết. Ông viết trong bài Niệm Phật
Luận: “Thân ta tức là thân Phật, không có hai
tướng”. Lại viết tiếp: “Tướng Phật là tướng ta
không phải hai, lặng vậy mà thường tồn tại, tồn
tại mà không biết. Đó là Phật sống vậy”. Người
là Phật, nhưng người lại không tự biết, cho nên
Trần Thái Tông gọi người là Phật sống.
Và điểm nổi bật của Phật giáo Lý –
Trần là nó cung cấp một triết lý sống, chứ không
phải là những tín điều chết, các Phật tử Lý –
Trần đã quán triệt, đã thực hiện triết lý đó
bằng cả cuộc sống của chính mìmh. Đạo Phật đời
Lý – Trần không chấp tướng, không giáo điều,
không vướng mắc vào hình thức, không bó hẹp
trong chùa chiền, tu viện, càng không phải là sở
hữu riêng của giới Tăng, Ni mà là của tất cả mọi
người biết lấy nó làm lẽ sống, dù người đó là
vua chúa, Thiền sư, quan lại, hay là người dân
bình thường. Ai cũng học và tu đạo Phật được, ở
đâu, làm gì cũng học và tu theo đạo Phật được,
miễn là biết nhìn rõ tâm mình, chuyển hóa tâm và
sử dụng tâm cho tốt. Trong “Khóa Hư Lục”, Trần
Thái Tông gọi đó là biện tâm, Trần Thái Tông
viết: “Không kể là sống ẩn trên núi hay giữa
thành thị, không phân biệt tại gia hay xuất gia,
tăng hay tục, điều chủ yếu là biện tâm, vốn
không có phân biệt nam nữ sao còn chấp tướng”.
Vì không chấp tướng nên Phật giáo đời Trần mới
có được một nhân vật đặc biệt như Tuệ Trung
Thượng Sĩ, tuy là một cư sĩ tại gia, nhưng lại
được mọi người Tăng cũng như tục tôn kính, học
hỏi như là một bậc Thầy lớn trong đạo. Thậm chí
Trần Nhân Tông và Pháp Loa là hai vị Tổ thứ nhất
và thứ hai của Phái Thiền Trúc Lâm cũng suy tôn
Tuệ Trung Thượng Sĩ là Thầy của mình. Với tinh
thần không chấp tướng, vua Trần Nhân Tông sau
khi xuất gia, đã không quản gian khổ nhọc nhằn,
đi khắp nơi trong nước khuyên mọi người sống
theo năm giới, mười thiện là những nguyên lý căn
bản của Đạo Đức Phật giáo. Nhờ vậy, ngay giữa
lòng của xã hội Phong kiến, đạo Phật đời Lý –
Trần đã tạo ra những mẫu người tuyệt vời, mà con
người ở vào thời đại nào cũng cảm thấy tự hào.
[4, 109 -110]
Đạo Phật thời Lý – Trần là đạo Phật
của từ bi và trí tuệ, là hai đức hạnh hàng đầu
của Phật giáo. Tinh thần từ bi của Phật giáo
thời Lý – Trần là đường lối trị nước bằng đức
trị còn hạnh trí tuệ là nó không hướng đến giải
quyết các vấn đề thuần túy lý luận hay là siêu
nghiệm, như chúng ta có thể thấy ở một số luận
sư Phật giáo Ấn Độ, mà hướng tới giải quyết các
vấn đề rất cụ thể, rất bức xúc, có tầm quan
trọng đối với đời sống con người và trong công
cuộc xây dựng đất nước như cuộc kháng chiến
chống quân Nguyên Mông. Để đánh thắng một kẻ thù
có sức mạnh về vật chất và quân sự gấp hàng trăm
lần chúng ta, dân quân ta dưới sự lãnh đạo của
các ông vua Phật tử đã áp dụng những đường lối
chiến lược và chiến thuật đầy trí tuệ, cho phép
triển khai mọi ưu thế của một cuộc chiến tranh
nhân dân, đánh địch ngay trên đất nước của mình.
Hai triều đại Lý – Trần đánh dấu
đỉnh cao của sự hội nhập Phật giáo vào giòng
sống của đất nước và xã hội Việt Nam. Một sự hội
nhập được trải dài trên mọi bình diện của đời
sống. Phật giáo thời Lý – Trần đã hình thành một
nước Việt Nam thật sự độc lập, tự chủ, có đủ sức
mạnh tự thân để đánh đuổi mọi cuộc xâm lăng của
ngoại ban.
Tóm lại, tính độc đáo và sáng tạo
của Phật giáo Lý – Trần chính là ở chỗ luôn luôn
chủ động gạn lọc, tiếp thu cái hay, gạt bỏ cái
dở, từ đó sáng tạo ra một xã hội thường xuyên
đổi mới, trẻ trung, cập nhật với thời thế, có
nhiều sinh khí. Đó là điểm nổi bật nhất của Phật
giáo thời Lý – Trần trong những thế kỷ đầu xây
dựng nền độc lập, tự chủ. Qủa thật, Phật giáo
thời đại Lý – Trần đã góp phần không nhỏ trong
việc xây dựng nền độc lập quốc gia trong lịch sử
nước nhà. Các vua trị vì đã thực sự thấm nhuần
lời dạy của đức Phật trong kinh Trường A Hàm:
“Biết đoàn kết, biết ăn ở hòa hảo cùng nhau và
thường hội họp nhau lại để lo bàn việc nước thì
không sợ gì sẽ bại vong mà nhất định sẽ được
cường thịnh, phong phú thêm”. Đây là những nhân
tố tư tưởng góp phần tích cực vào sự tồn tại lâu
dài của hai triều đại Lý – Trần.
CHƯƠNG 2:
THIỀN TÔNG PHẬT GIÁO VIỆT
NAM THỜI LÝ – TRẦN.
Phật giáo Việt Nam có nguồn gốc
xuất phát từ Ấn Độ và một nguồn khác từ Trung
Hoa. Do vậy, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng
nhiều ở cả Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung
Hoa. Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ V, tuy Phật
giáo đã hiện hữu trong đời sống sinh hoạt tín
ngưỡng của quần chúng nhân dân, nhưng nó chưa
được định hình một cách chắc chắn về mặt tổ
chức, nhất là trong sự xây dựng kế thừa và phát
triển. Nhưng đến thế kỷ thứ VI khi các dòng
Thiền chính thức được truyền vào Việt Nam đã tạo
thành những dòng Thiền cá biệt tiêu biểu cho sức
sống của đạo Phật Việt Nam.
2.1. CÁC DÒNG THIỀN TIÊU BIỂU.
Thiền Tông được truyền vào Việt Nam,
nó đã tác động một cách sâu sắc, tự nhiên và cần
thiết vào lòng dân tộc Việt Nam như không khí,
như hơi thở, như nước thẩm sâu trong lòng đất.
Gồm các dòng Thiền tiêu biểu sau đây:
2.1.1. Dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu
Chi.
Vào cuối đời Hậu Lý Nam Đế, năm
580, Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, từ Ấn Độ sang
Trung Hoa rồi đến Việt Nam lập phái Thiền thứ
nhất. Từ đó, Phật giáo Việt Nam mới thực sự có
đầu mối truyền thừa.
Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi là sơ Tổ
Thiền tông Việt Nam, Ngài người Thiên Trúc, dòng
dõi Bà La Môn. Vì ở Thiên Trúc thiếu duyên nên
năm 574 Thiền sư qua Tràng An, Trung Quốc, gặp
lúc Phật giáo bị nạn Võ Đế, Thiền sư đến đất
Nghiệp, gặp tổ Tăng Xán được ngộ đạo, Tổ bảo nên
về phương Nam hóa đạo. Thiền sư đến chùa Chế
Chỉ, Quảng Châu dịch kinh Tượng Đầu. Năm 580,
đến Việt Nam, ở chùa Pháp Vân dịch kinh Tổng Trì
và giảng dạy đạo Thiền. Phật giáo ở đây thịnh
hành từ đó.
Trong suốt 7 thế kỷ, từ cuối thế kỷ
thứ VI đến cuối thế kỷ thứ XIII, dòng Thiền Tỳ
Ni Đa Lưu Chi trải qua 19 thế hệ truyền thừa,
sản sinh trên dưới 40 Thiền sư lỗi lạc nối tiếp
nhau hoằng dương Chánh pháp.
Như vậy, dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi
khởi đầu ở Việt Nam vào thế kỷ thứ VI đã tạo một
bước ngoặt cho Phật giáo Việt Nam luôn gắn bó
với cuộc sống phục vụ đất nước và dân tộc, dòng
Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi góp phần đào tạo nhân tài
cung cấp cho công cuộc vận động độc lập, tự chủ
của dân tộc, Vạn Hạnh Thiền sư là linh hồn của
dòng Thiền này đã có thái độ ứng xử và hành
động của một người thấy xa hiểu rộng, cho những
giải đáp thật chính xác như “Nội trong 21 ngày
quân Tống phải rút lui” hoặc “phải gấp cất quân
đại phá Chiêm Thành ngay, không được bỏ lỡ cơ
hội tốt” khi Ngài được các vua Lê hỏi ý kiến. Dù
Ngài đã 70 tuổi nhưng thấy nhà Tiền Lê suy, Lê
Ngọa Triều tàn ác, hoang dâm vô độ không còn
được lòng dân, Sư Vạn Hạnh phải đóng vai chủ
động trong việc đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua một
cách êm thắm, không hề gây chiến tranh. Bước
theo con đường Bát Chánh Đạo mà đức Phật đã dạy,
Thiền sư Vạn Hạnh đã hành động theo đúng chiều
hướng tiến triển của lịch sử, sáng tạo ra lịch
sử đúng với quy trình vận động của nó.
Tư tưởng của dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu
Chi đã kết hợp Thiền Tông Ấn Độ với Thiền Tông
Trung Hoa để nó ươm mầm trên vùng đất màu mỡ
Giao Châu và đã làm nên Thiền Tông Việt Nam vừa
biểu lộ được sinh hoạt tâm linh siêu việt của
Phật giáo, vừa biểu lộ được đời sống thực tế và
đơn giản của quần chúng nhân dân.
Thế nên, đến đời Lý Thái Tông
(1028-1054), nhà vua có làm bài kệ truy tán Tổ
Tỳ Ni Đa Lưu Chi rằng:
Sáng tự lai Nam quốc
Văn quân cửu tập Thiền.
Ưng khai chư Phật tính
Viễn hợp Nhất tâm nguyên
Hạo hạo Lăng Già nguyệt
Phân phân Bát nhã liên.
Hà thời lâm diện kiến
Tương dữ thoại trùng
huyền.
Dịch:
Mở lối qua
Nam Việt,
Nghe ông
Chỉnh học Thiền
Nguồn tâm
thông một mạch
Cõi Phật rộng quanh miền
Lăng Già ngời bóng
nguyệt,
Bát nhã nức mùi sen.
Biết được bao giờ gặp
Cùng nhau kể đạo huyền.
[22, 77]
2.1.2. Dòng Thiền Vô Ngôn Thông.
Thiền sư Vô Ngôn Thông, họ Trịnh,
sinh quán tại Quảng Châu, sau khi học với Mã Tổ
ở Giang Tây, sư về Quảng Châu. Năm 820 sư sang
Giao Châu (Việt Nam) ở tại chùa Kiến Sơ, làng
Phù Đổng tỉnh Bắc Ninh và lập ra phái Thiền thứ
hai mang tên Ngài là Vô Ngôn Thông.
Thiền phái này mở mang hoằng hóa đến
cuối thế kỷ thứ XIII và truyền thừa được 15 thế
hệ với 36 vị Thiền sư đắc pháp.
Khi đến Việt Nam Thiền sư Vô Ngôn
Thông đã du nhập quy chế sinh hoạt và tu học của
các Thiền Viện của Tổ Bách Trượng vào các chùa
thuộc môn phái của Ngài. Tinh thần quy chế này
đã tạo cho Tăng sĩ tu Thiền một nếp sinh hoạt và
tu học thường ngày giúp cho sự định tâm.
Tư tưởng cơ bản của dòng thiền Vô
Ngôn Thông là chân lý không phải ở đâu xa, mà
ngay ở hiện tiền, ở trong bản thân mỗi người,
nhưng chân lý đó chỉ có thể tu chứng trực tiếp,
chứ không thể nào nắm bắt qua ngôn ngữ, văn tự,
sách vở,… đó là “đốn ngộ”, cũng là tinh thần câu
nói rất tiêu biểu cho dòng Thiền Nam Tông Trung
Quốc của Thiền sư Bách Trượng: “Tâm địa nhược
không, tuệ nhật tự chiếu”, (nếu đất tâm trống
không, mặt trời trí tuệ sẽ tự chiếu sáng). Sau
này, Thiền sư Nguyên Học, thuộc thế hệ thứ 10
dòng Thiền Vô Ngôn Thông, đã nói rõ tư tưởng đó
trong các câu:
Đạo vô hình tướng,
Xúc mục phi dao.
Tự phản suy cầu,
Mạc cầu tha dắc.
Túng nhiên cầu đắc,
Đắc tức bất chân . . .
Nghĩa là:
Đạo không có hình
tượng,
Ở ngay trước mắt,
không xa,
Hãy quay lại mình mà
tìm,
Chớ tìm ở nơi khác,
Và dù có tìm được,
Thì cái đó cũng không
phải chân thật . . .
Khác với Thiền phái Trung Hoa, Thiền
phái này, cũng như Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi,
đã rất gần gũi với đời sống xã hội, tham dự vào
đời sống nhập thế trong khi vẫn duy trì được
sinh hoạt tâm linh độc lập của mình.
2.1.3. Dòng Thiền Thảo Đường.
Gần cuối thập niên 60, Thế Kỷ thứ XI
(1069), tại Việt Nam lại xuất hiện phái Thiền
Thảo Đường. Mở đầu cho phái này là Thiền sư Thảo
Đường. Theo An Nam Chí Lược của Lê Trắc, “Thảo
theo sư phụ sang ở Chiêm Thành. Vua Lý Thánh
Tông đánh Chiêm Thành bắt được Sư, cho làm nô
của quan Tăng lục. Một hôm Tăng lục viết Ngữ
lục, để trên bàn rồi đi ra ngoài, Sư lén xem và
sửa chữa lại. Tăng lục lấy làm lạ về tên nô, tâu
lên vua. Vua phong sư làm Quốc sư”.[14, 80]
Thiền sư Thảo Đường là người rất có
đức hạnh, tinh thông Phật điển. Qua cuộc ứng đối
với vua Lý Thánh Tông, Thiền sư đã giải thích
kinh sách vô cùng chính xác. Khâm phục tài trí
và phong độ của Thảo Đường, vua mời Thiền sư đến
trú trì chùa Khai Quốc, trong nội thành Thăng
Long và phong làm Quốc sư. Về sau, Thiền sư lập
phái Thiền với tên là Thảo Đường. Thiền phái
Thảo Đường truyền được 5 đời, với 19 Thiền sư.
Song, vì khuynh hướng thiên trọng văn chương và
trí thức của Thiền phái nầy, nên nó không cắm rễ
được trong quần chúng mà chỉ ảnh hưởng đến một
số tri thức có khuynh hướng văn học. Trong số 19
Thiền sư thuộc Thiền phái Thảo Đường được ghi
chép ở Thiền Uyển Tập Anh, ta thấy chỉ có 10 vị
là người xuất gia, kể cả Thảo Đường, còn 9 vị là
cư sĩ mà phần nhiều là vua với quan. Thiền phái
Thảo Đường, vì thế được vua Lý Thánh Tông và các
đời vua kế tiếp cũng như các quan đại thần trong
triều đình nhà Lý đã gắn vun bồi cho dòng Thiền
nầy. Tiếc rằng sự truyền thừa của nó không được
lâu dài; vì chủ yếu là truyền trong hàng ngũ vua
quan nên cuối cùng nó đã bị mai một cùng với sự
mất ngôi nhà Lý về tay nhà Trần.
2.1.4. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 939 và
đặc biệt sau khi nhà Lý ra đời (1010) nền độc
lập nước ta dần dần được củng cố. Đạo Phật ở
giai đoạn này cũng khá phát triển và đóng góp
một cách tích cực trong sự nghiệp giữ nước và
dựng nước. Nhưng vào thời điểm này, Phật giáo
Việt Nam do ảnh hưởng của Phật giáo Ấn Độ và
Trung Hoa, cho nên tư tưởng Phật giáo Việt Nam
còn mang sắc thái Ấn Độ hay Trung Hoa, hoặc cả
hai dung hòa với nhau chứ chưa phải là Phật giáo
Việt Nam theo đúng nghĩa của nó. Tình hình này
có thể vẫn kéo dài nếu như Trần Nhân Tông không
sáng lập ra Phật giáo Trúc Lâm. Kể từ đó Phật
giáo Việt Nam mới có diện mạo riêng, cái chất
Việt Nam được thực hiện trong tư tưởng, trong tổ
chức. Giờ đây, Phật giáo Việt Nam mà tiêu biểu
là Phật giáo Trúc Lâm là Phật giáo nhập thế,
liên hệ mật thiết với chính trị, phong hóa và xã
hội. Đúng như tác giả Mạn Đà La đã nhận định
trong bài viết của mình: “Tư tưởng của Trần Nhân
Tông là một thể hiện nhất quán của đạo và đời,
xuất thế và nhập thế. Vì vậy tinh thần của thiền
học Trúc Lâm là một thiền học dân tộc. Nghĩa là
một mặt không ngừng phát triển tận cùng khả năng
giác ngộ giải thoát để vươn lên đỉnh cao của con
người, giác ngộ giải thoát hoàn toàn; mặt khác
không ngừng tích cực xây dựng an lành cho chúng
sanh bằng cách trước hết phục vụ cho đất nước,
dân tộc, những người gần mình và có ân nghĩa
trong cuộc sống của mình”. [27, 257-258]
Đối với bản thân Nhân Tông – Điều
Ngự, trước sau là một, chẳng bao giờ tách ra làm
hai. Khi ở ngôi vua thì là “bậc nhân minh anh
vũ” như Ngô Sĩ Liên đã nhận định, chiến công hai
lần dẹp giặc ngoài lừng lẫy, trong thì gần tình
người, cùng nhau xây dựng đất nước quy cũ, bề
thế vững vàng. Ngoài việc nước, có giờ phút nào
rảnh rỗi lại trao đổi nghiên cứu học tập Phật
lý. Lúc đã là Thiền sư vẫn giúp vua con điều
hành “quốc sự”, đồng thời rất có ý thức phát
triển Phật giáo, và thành lập dòng Thiền Trúc
Lâm Yên Tử, một dòng Thiền mang sắc thái Việt
Nam, gạt bỏ những ảnh hưởng lai tạp từ bên ngoài
đưa vào. Đạo và đời, đời và đạo trong con người
Nhân Tông – Điều Ngự hòa nhập với nhau rất tự
nhiên và Phật giáo đời Trần nhập thế rất rõ nét.
[27, 122-123]
Với sức sống và đặc thù của dân tộc
Việt Nam bất khuất dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử,
một con người nổi bật trong giới Phật giáo đó là
Tuệ Trung Thượng Sĩ, người được tán tụng như một
Thiền sư tuyệt vời trong lớp áo cư sĩ, và cũng
chính trí tuệ của Tuệ Trung Thượng Sĩ đã nun
đúc, vun vén trí tuệ cho Trần Nhân Tông đi tu,
thống nhất các dòng Thiền, thành lập Thiền Phái
Trúc Lâm Yên Tử.
Dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử do vua
Trần Nhân Tông dựng lên sáng chói đầu thời Trần,
nay sắc thái Việt Nam đã được tô luyện qua bước
thăng trầm của lịch sử, trên 500 năm từ nội
dung, tư tưởng, trí tuệ và con người đều thực sự
mang bản sắc Việt Nam.
2.2. PHẬT GIÁO THIỀN TÔNG VIỆT NAM
THỜI LÝ – TRẦN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI.
Trang sử Phật
Đồng thời là trang sử
Việt.
Trải bao độ hưng suy
Có nguy mà chẳng mất.
Hồ
Dzếnh.
Lời của nhà thơ Hồ Dzếnh đã chứng
minh cho hậu thế biết rằng đạo Phật đã hiện hữu
trên cuộc đời hơn hai thiên niên kỷ và đã du
nhập vào Việt Nam trước Công nguyên, hòa nhập
vào lòng dân tộc, trải qua bao nhiêu cảnh thăng
trầm của lịch sử, chịu đựng biết bao thử thách
nghiệt ngã của thời gian mà vẫn tồn tại và phát
triển cho đến ngày nay. Sự hội nhập Phật giáo
vào nền văn hóa Việt Nam là một qúa trình hòa
mình của đạo Phật với tư thế là một luồng văn
hóa ngoại lai vào nền văn hóa dân tộc Việt. Một
qúa trình mà trong đó đạo Phật được dần dần bản
địa hóa và trở thành một phần cơ thể văn hóa và
xã hội Việt Nam.