TẦM QUAN TRỌNG CỦA
TAM VÔ LÂU HỌC
Thích Nữ Như Hiền
DẪN NHẬP
Nhận được quyết định của Hội Đồng Điều Hành Học
Viện, mỗi Tăng, Ni sinh phải trình bày một đề
tài mà mình tâm đắc nhất trong suốt bốn năm
chuyên tâm cầu học, từ những chư vị Giáo thọ sư
nhiệt tình truyền dạy, sao lòng hân hoan và lo
ngại quá. Hân hoan vì đây là điều kiện tốt nhất
để đánh giá thành quả trong 4 năm chuyên tâm cầu
học từ những Chư vị Giáo thọ sư nhiệt tình
truyền đạt, ngại vì sản phẩm đem ra không khác
gì “múa rìu qua mắt thợ” vả lại đề tài tự chọn
là tinh thần Giới luật, mà trí lực của người
viết thành thật bé nhỏ vô cùng. Thôi thì “cung
kính bất như phụng mệnh”, một hạt cát bé nhỏ này
chắc rằng biển lớn sẽ không nở khước từ, người
viết trải lòng tha thiết mong cầu như vậy.
1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Đức Phật xuất hiện ở cõi đời này là một điều
vinh hiển lớn lao, không những cho con người
chúng ta mà cho cả xã hội. Bởi vì Ngài là sự kết
tinh của muôn ngàn hương hoa Bi, Trí, Dũng và
hiện thân của chân lý giải thoát. Do vậy, theo
quan điểm của Ngài hạnh phúc chơn thật của con
người không phải là tiền tài danh vọng mà chính
là Từ tâm và trí huệ giải thoát. Giới luật là
nền tảng căn bản cho pháp vi diệu đó, là thềm
thang đạt đến chân lý hạnh phúc, giúp con người
sống đúng ý nghĩa văn minh của xã hội trong mỗi
thời đại nói chung và hàng đệ tử xuất gia nói
riêng. Hàng xuất gia trang nghiêm Giới luật là
mảnh đất tốt để tăng trường thiện pháp cho chúng
sanh, là nền tảng để tiến tâm linh, hầu phát
triển những nhận thức chân chánh thấy được lẽ
thật của cuộc đời. Trên phương diện đó, Đạo Phật
đến với đời như ong hút mật hoa không làm hại
sắc hương hoa mà còn giúp phần cho những cánh
sen hồng rực rỡ, những chiếc lá đong đưa còn
đọng lại vài giọt sương lấp lánh cho mùa hè
trong bầu trời xanh của mùa thu. Đây là suối
nguồn tâm thức để tự thân chọn đề tài Giới luật
làm Luận văn Tốt nghiệp của mình.
2. Phương pháp nghiên cứu và cơ sở tài liệu
Với tâm nguyện tuyên dương tinh thần Giới luật
góp phần xây dựng hạnh phúc đạo đức cho con
người. Hay nói cụ thể hơn là đem những nguyên
tắc sống, những qui chế giới điều của Phật dạy
áp dụng vào chính bản thân mình, hầu ý thức
trách nhiệm bổn phận duy trì mạng mạch của Như
Lai, đồng thời hướng dẫn Phật tử tu tập đúng
theo tinh thần Giới luật. Nơi đây người viết sử
dụng phương pháp phân tích, bình giảng những
câu, đoạn đã trích dẫn trong những bộ Luật và
Kinh sách có liên quan đến tinh thần Giới luật
của chư vị Tiền bối đã dạy mà xưa kia đức Từ Phụ
Thích-ca Mâu-ni đã để lại cho đến ngày hôm nay.
3. Phạm vi đề tài
Đề tài này có tính bao hàm xã hội nói chung và
Đạo Phật nói riêng, đòi hỏi người viết phải hòa
mình vào cuộc sống thực tế để cho đề tài có thêm
phần linh động. Cho nên, măc dù sự nhận thức của
tác giả còn hạn hẹp như một hạt cát, như một
chiếc lá rơi giữa rừng Thiền, một giọt nước của
biển pháp mênh mông. Tác giả xin trình bày :
“TẦM QUAN TRỌNG CỦA TAM VÔ LẬU HỌC”.
Hy vọng Luận văn này, tác giả áp dụng cho bản
thân mình nói riêng và cho cuộc sống xã hội nói
chung để trang nghiêm Giáo Hội có khả năng làm
tốt Đạo đẹp Đời. Với khả năng thiển cận, với một
tri kiến hạn hẹp không sao tránh khỏi sự sơ sót
lỗi lầm. Kính mong Chư Tôn Đức gia cố thêm tri
thức cùng kiến văn để ngày càng hoàn thiện hơn.
Tác giả một lòng thành kính chấp tay lắng nghe.
Hoàn thành Luận văn này, con thành kính tri ân
Hòa thương Viện Trưởng, chư Tôn Đức trong Hội
Đồng Điều Hành Học Viện, chư vị Giáo thọ sư đã
dày công truyền đạt những kiến giải quí báu
trong 4 năm qua, làm tư lương cho cuộc hành
trình đi về nguồn cội chân tâm.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : SỰ HÌNH THÀNH VÀ HOẰNG DƯƠNG
GIỚI LUẬT
1. Nguyên nhân Đức Phật chế Giới
Qua lịch sử Phật giáo, cũng như sự truyền thừa
Giới luật cho chúng ta thấy, sau khi đức Phật
thành Đạo trong thời gian đầu, Tăng bảo được
hình thành chưa chế Giới luật, lúc bấy giờ Tăng
già đều là các vị Tỳ kheo thanh tịnh. Trong suốt
12 năm đầu, tổ chức sinh hoạt Giáo Đoàn rất
thanh tịnh sống trên tinh thần hòa hợp đoàn kết,
nên Đức Phật không cần phải chế Giới luật, vì
mỗi vị đã tự kiểm soát thân, khẩu, ý trong từng
niệm, từng sát na nên được giải thoát, không còn
những pháp bất thiện trong tâm thức.
Đến năm thứ 13, Tăng già có số lượng đông đảo,
phần lớn các vị Vương tôn công tử theo Phật xuất
gia, từ đời sống vương giả hưởng thụ đủ mọi thứ
ngũ dục, khi xuất gia thì phải sống theo hạnh
đầu đà. Cho nên, Tăng đoàn phát sinh ra nhiều
pháp hữu lậu trong sinh hoạt. Hơn nữa, lúc này
Tăng đoàn phát triển quá nhanh, và thâu nhận
rộng rãi mọi thành phần trong xã hội, từ đó có
sự suy thối xảy ra. Cho nên, dần về sau trong tổ
chức Tăng đoàn xuất hiện nhiều thành phần xuất
gia với mục đích không chân chính. Các thầy Tỳ
kheo dần dà sống xa rời tinh thần giải thoát, bị
lôi cuốn vào danh vọng, lợi dưỡng. Giới luật
buộc phải ra đời để làm hàng rào ngăn chặn sự hư
đốn trong Tăng đoàn, bảo hộ sự thanh tịnh hòa
hợp của Tăng thân, cũng như giữ gìn bản thể Tỳ
kheo không cho hư hủy. Mặt khác, Ngài vì sợ
tiếng đồn gần xa của người thế tục, họ nhìn vào
nếp sống bê tha “tự tung tự tác” của Tăng đoàn
mà mất đi Chánh tín, hoặc chê bai, hoặc hiềm tỵ,
hoặc coi giáo đoàn Phật giáo không hơn kém những
ngoại đạo. Cho nên, sự có mặt của Giới luật là
yếu tố vô cùng cần thiết để thành tựu thanh tịnh
một Tỳ kheo làm mô phạm cho Trời, người và giúp
cho hành giả bước đi vững chãi trên con đường
thoát ly sanh tử.
Như người vá áo, không bao giờ vá những chỗ chưa
rách. Đức Thế Tôn cũng chưa bao giờ qui định
điều này hay ngăn cấm điều kia, khi đệ tử Ngài
chưa làm gì sai với Thánh đạo (1). Đức Phật vì
thương chúng sanh nên ngài mới tùy duyên mà chế
Giới. Mỗi điều Giới luật đều đem lại sự an lạc
cho cá nhân, cũng như đem lại sự thanh tịnh và
uy tín cho Tăng đoàn. Cho nên, mỗi khi chế lập
ra qui điều nào, Ngài đều đem ra 10 lợi ích để
cho thấy ra tính quan trọng của Giới pháp, 10
lợi ích đó là :
1.1 Nhiếp thủ cơ Tăng : là Giới luật Phật chế ra
cho Tăng chúng thọ trì. Người xuất gia có thọ
trì Giới pháp Phật, thì người đó mới thuộc vào
số chúng Tăng. Đây là điều để cho chúng Tăng cực
thịnh.
1.2 Linh Tăng hoan hỷ : là người giữ Giới thanh
tịnh, hương thơm hơ hẳn các loài hoa vì nó bay
ngược chiều gió. Người này làm cho Tăng đoàn
được tô đậm nét uy nghiêm, thuần nhã mà dưới mắt
người thế tục niềm cung kính lại càng lớn thêm
và như thế, uy tín Tăng đoàn sẽ được nâng lên,
nên làm cho Tăng đoàn hoan hỷ.
1.3 Linh Tăng an ổn : Khi có giới pháp, chính
giới ấy kiềm chế sự phóng túng, sai trái của mỗi
người. Nhờ mỗi người tự kiềm chế nên không ai
phiền não ai. Và như vậy, cả Tăng đoàn đều sống
trong Giới pháp thanh tịnh, nên Tăng đoàn được
an ổn.
1.4 Linh vị tín giả tin : Những vị Tăng sống như
Pháp, nghĩa là sống đời phạm hạnh có Tuệ giác
như đức Phật, thì hình ảnh đoan nghiêm này có
thể thay thế Ngài tuyên dương giáo Pháp, làm chỗ
phát khởi lòng tin cho những người chưa kính tin
Tam Bảo.
1.5 Dĩ tín giả linh tăng trưởng : Những người có
lòng tin Tam Bảo, đối với họ Tăng Bảo là hình
ảnh sống động của đức Phật, có thể đảm đương
trách nhiệm lèo lái con đò đưa chúng sanh đến bờ
giải thoát. Nên chúng Tăng hành trì Giới pháp
thì lòng tin ấy lại càng tăng trưởng và cũng
cố.
1.6 Nan điều phục giả linh điều phục : Tăng đoàn
chỉ có người sống đúng với tinh thần Giới luật,
điều phục những người có tính ương ngạnh, căn cứ
theo Giới luật mà xử trị. Như vậy trong Tăng
đoàn sẽ không có người ương ngạnh khó điều phục.
1.7 Linh tàm quý giả đắc an lạc : làm cho người
có tàm quý nghiêm trì Giới luật được an vui, họ
thật sự hết phiền muộn. Do Tăng thể là thanh
tịnh hòa hợp, nên một người an lạc thì Tăng
chúng được an lạc.
1.8 Đoạn lậu hoặc hiện tại : là ngăn trừ những
lậu hoặc phiền não, những bất thiện pháp đang
phát sinh trong đời hiện tại. Do đó bản thể
thanh tịnh được bảo tồn nghiêm chánh.
1.9 Đoạn vị lai hữu lậu : ngăn chặn đề phòng
những ác pháp trong đời vị lai không cho phát
sinh. Nghiệp cũ vứt đi, nghiệp mới không tạo
nữa, đích thực là một việc làm sau rốt của một
hành giả thọ trì Giới Pháp.
1.10 Linh chánh Pháp cửu trụ : làm cho chánh
Pháp được trường tồn mãi mãi. Đây là điều quan
trọng thiết thực nhất mà mỗi hành giả chúng ta
phải biết đến.
Qua đó, chúng ta thấy rằng : đứng về phương diện
qui tắc Giáo đoàn mà nói, Giới luật bao hàm một
ý nghĩa cực trọng. Những qui luật này, sau khi
Phật nhập Niết-bàn được các hàng Thánh đệ tử của
Ngài đọc tụng, biên chép thành hệ thống và trở
thành một trong ba tạng Giáo điển. Đó là Luật
Tạng mà chúng ta lãnh thọ hàng ngày.
2. Truyền thừa Giới luật ở Ấn độ
Khi đức Phật còn tại thế, Ngài tùy theo căn cơ
của mỗi chúng sanh mà hóa độ. Vì muốn ngăn ngừa
hành vi bất thiện và chấn chỉnh Tăng đoàn nên
Ngài đã chế Giới để răn dạy đệ tử, để trở thành
một Giáo đoàn gương mẫu truyền bá giáo Pháp và
đạt vô thượng giác. Thế nên, một đệ tử xứng đáng
nhất của đức Phật là giữ gìn nghiêm chỉnh và cẩn
thận giáo Pháp. Đến lúc đức Thế Tôn sắp nhập
Niết-bàn, Ngài sợ đệ tử không tuân thủ Giới
luật, buông lung, giải đãi. Nên đức Thế Tôn ân
cần khuyên bảo hàng đệ tử bằng lời tha thiết :
“Các Thầy Tỳ kheo, sau khi Ta diệt độ, các Thầy
phải trân trọng tôn kính tịnh Giới như người mù
tối được mắt sáng, nghèo nàn được vàng ngọc,
phải biết tịnh Giới là bậc Thầy cao cả của các
Thầy. Nếu ta ở đời thì cũng không khác gì tịnh
Giới ấy. Các Thầy hãy giữ gìn tịnh Giới đừng cho
hủy phạm thiếu sót. Ai giữ tịnh Giới thì người
đó có thiện pháp, không có tịnh Giới thì mọi thứ
công đức không thể phát sinh. Do đó, tịnh Giới
là chỗ an ổn, nhất định làm nơi ẩn trú cho mọi
thứ công đức”. (2]
Thế nhưng, ngay sau khi đức Thế Tôn nhập
Niết-bàn, Thầy Tỳ kheo Bạt Nan Đà đã thích thú
thốt lên những lời hết sứt nông nỗi “Lão già ấy
chết đi là tốt, lúc lão ấy còn tại thế, qui định
điều này phải làm, điều kia không cho làm, nay
lão ấy chết rồi chúng ta được tự do”. (3] Lời
này truyền đến tai Trưởng Lão Ca Diếp, ngài cảm
thấy rất đau buồn về vấn đề này. Tôn giả sợ tinh
thần và công đức cứu thế của Phật giáo nhân vì
đức Thế Tôn nhập diệt mà cũng theo đó kết thúc.
Nhưng những lời khuyên nhắc tha thiết sau cùng
của đức Thế Tôn đã kịp thời vang lại bên ngài.
Tôn giả Ca Diếp vì thế mà vững lòng, quyết tâm
triệu tập 500 vị Thánh Tăng kết tập Tam Tạng.
Kết tập xong, Tôn giả A-nan nói với đại chúng,
đức Phật dạy : “Ta chế Giới luật là do tùy theo
cơ duyên, tùy phạm tùy chế. Sau khi Ta diệt độ,
các ngươi có thể tùy nghi hoặc thêm hoặc bớt các
giới khinh tiểu, không nhất thiết phải chấp chặt
giới ấy”. Tôn giả Ca Diếp hỏi A-nan : “Tôn giả
hỏi A-nan có hỏi Phật giới nào khinh tiểu có thể
bỏ không? A-nan đáp : chưa hỏi. Ngài Ca Diếp
trách Ngài A-nan phải sám hối tội Đột-kiết-la.
Bởi vì theo Ngài, ngoài 4 pháp Ba-la-di là khinh
tiều hay ngoài 13 pháp Tăng-tàn ra là khinh tiểu
hay hai pháp Bất định, 30 pháp Xả đọa trở xuống
là khinh tiểu do không quyết định được nên Tôn
giả Ca Diếp tuyên bố với Hội chúng rằng : “Thà
để trong khi Phật còn tại thế quyết định, còn
bây giờ đức Thế Tôn đã nhập Niết-bàn không luận
giới khinh tiểu thế nào thế nào cũng đều phải
vâng giữ không được trái phạm”. Thuyết này được
Hội Thánh chúng tán thành.
Sau đó, Tôn giả Phú Lâu Na dẫn đồ chúng đến trễ,
Tôn giả yêu cầu tụng lại, trùng tuyên xong.
Trưởng Lão Ca Diếp nói thêm 8 việc tự thân Tôn
giả nghe lúc Thế Tôn còn tại thế khai chế (4).
Đó là : 1. Nội túc, 2. Nội trư, 3. Tự trữ, 4. Tự
chủ thực, 5. Tảo khởi thọ thực, 6. Tùy sỉ trì
lai, 7. Tạp quả, 8. Trì thủy xuất gia bất tác dư
thực pháp đắc thực.
Sau lần kiết tập này, Tăng đoàn áp dụng không
khác gì khi Phật còn tại thế. Do phạm vi truyền
bá Phật giáo rộng lớn, chủng tộc và ngôn ngữ của
Ấn Độ thời bấy giờ rất phức tạp, hơn nữa một số
vị Trưởng Lão Tỳ kheo không nhận lời mời của
Trưởng Lão Ca Diếp, nên sinh hoạt Tăng đoàn
không thống nhất lắm. Qua một thời gian dẫn đến
phân chia bộ phái, đó là việc xảy ra từ 100-400
năm sau Phật nhập Niết-bàn.
Kiết tập lần II : Sau Phật nhập Niết-bàn 100
năm, Trưởng lão Da-xá có duyên sự đến Tỳ-xá-ly,
nhóm Bạt-kỳ tự chế ra 10 pháp Bất tịnh :
1. Diêm khương hợp cộng tịnh : được chứa muối và
gừng.
2. Lưỡng chỉ sao thực tịnh : sau nhật trung,
bóng qua hai ngón tay được ăn.
3. Phục tòa thực tịnh : ăn rồi rời tòa đến chỗ
khác ăn nữa.
4. Tô su mật thạch hòa lạc tịnh : sau giờ ngọ
được dùng những thứ không phải chất cứng.
5. Ẩm xà lâu giá tửu tịnh: cho uống được chưa
lên men không phải chơn tửu.
6. Thú tụ lạc thực tịnh : sau khi đi ăn đến tụ
lạc được ăn nữa mà không hành pháp tàn thực.
7. Tác tọa cụ tùy ý đại tiểu tịnh : cho làm tọa
cụ lớn nhỏ tùy ý.
8. Tập tiên sở tập tịnh : cho làm những công
việc trước kia (tại gia đã làm)
9. Cầu thính tịnh : đồng cho một Giáo đoàn khu
biệt pháp hành tọa như cầu thính.
10. Thọ súc kim ngân tiền tịnh : cho cất chứa
tiền bạc
Vì bất bình việc tự chế 10 pháp Bất tịnh của
nhóm Bạt-kỳ nên Tôn giả Da-xá đã vận động các
Trưởng Lão phươngĐông, phương Tây để giải quyết
10 điều đó là hợp pháp hay phi pháp. Đây là cuộc
kết tập lần thứ II tại Thành Tỳ-xá-ly và cũng là
việc khởi đầu cho sự phân chia Bộ phái.
Khoảng 230 năm sau Phật Niết-bàn. Dưới sự sùng
kính của vua A Dục, kiết tập lần III được tổ
chức tại Ba-tra-lợi-phất để biểu quyết. Sau cuộc
kiết tập lần II, Giáo đoàn phân chia thành hai
Bộ phái: Thượng Tọa bộ là những bậc kỳ túc
Trưởng lão và Đại Chúng bộ là những Tỳ kheo trẻ
tuổi. Mỗi Bộ phái có Giới luật riêng để lưu
truyền Bộ phái của mình.
Theo truyền thuyết, sau cuộc kiết tập lần I, từ
Tôn giả Ca Diếp truyền đến Tôn giả A-nan,
Mạt-điền-địa, Thương-na-hòa-tu, Ưu-ba-quật-đa .
. . Trong khoảng thời gian 100 năm sau Phật nhập
Niết-bàn chỉ truyền thừa bộ “Bát thập tụng
luật”. Đến 5 đời dưới ngài Ưu-ba-quật-đa có 5 vị
đệ tử. Mỗi vị có sự bất đồng trong Luật tạng, và
từ đây Luật tạng được phân chia thành 5 Bộ:
1. Đàm Vô Đức Bộ (Tứ phần Luật)
2. Tát Bà Đa Bộ (Luật Thập Tụng)
3. Ca Diếp Di Bộ (Giải thoát Giới bổn Kinh)
4. Bà-ta-phú-la Bộ (chưa truyền sang Trung Quốc)
5. Di Sa Tắc Bộ (Luật ngũ phần)
Thuyết phân chia năm Bộ căn cứ phẩm Hư không Mục
Phân Sơ Thanh văn trong Kinh Đại Tập quyển 20.
Nhưng căn cứ vào việc khảo cứu thật sự lịch sử,
thì sự phân chia Bộ phái Phật giáo sau Phật nhập
diệt từ 300-400 năm, từ hai Bộ phái Thượng Tọa
bộ và Đại Chúng bộ, phát sinh thêm 18 Bộ phái
nữa, cộng chung thành 20 Bộ phái. (5)
* Đại Chúng bộ :
1. Ma ha Tăng kỳ (Maha Samghikàl)
2. Nhứt Thiết bộ (Ekavyàvahàkikal)
3. Thuyết xuất thế bộ (Lokotaravàdinal)
4. Kê Dẫn bộ (Kaukkutikafl)
5. Đa văn bộ (Bahusrutiyàh)
6. Thuyết giả bộ (Pajnàptivàdinal)
7. Chế Đa sơn bộ (Caityasailàh)
8. Tây Sơn trụ bộ (Aparasailàh)
9. Bắc Sơn trụ bộ ((Uttarasailàh)
* Thượng Tọa bộ :
1. Tuyết Sơn bộ (Haimavatàh)
2. Nhứt Thiết hữu bộ (Sarvastivàdàh)
3. Độc Tử bộ (Vàtsiputriyàh)
4. Pháp Thượng bộ (Daharmottariyàh)
5. Hiền Trụ bộ (Bharayàniyàh)
6. Chánh Luận bộ (Sammitìyàh)
7. Mật lâm bộ (Sannàgarikàl)
8. Hóa Địa bộ (Mahisàsàkàl)
9. Ẩm Quang bộ (Dharamaguptah)
10. Pháp Tạng bộ (Kàsayapiyàh)
11. Kinh Lượng bộ (Santrantika)
3. Giới luật truyền sang Trung Hoa
3.1 Thời Tam Quốc :
Giới luật bắt đầu truyền sang Trung Hoa vào đầu
Tam Quốc đời Tào Ngụy (220-265). Niên hiệu Gia
Bình năm thứ 2, do Ngài Đàm Ma Ca La Trung Thiên
Trúc đến Kinh đô Lạc Dương, trú ở chùa Bạch Mã
(250 TL) dịch bộ Tăng Kỳ giới bổn, đến năm 254
TL Ngài Đàm Thế dịch bộ Đàm Vô Đức Yết ma, nói
cách thức Yết ma. Nhờ đó Trung Hoa có Giới đàn
truyền Giới, người xuất gia thọ giới đầu tiên là
Chu Sĩ Hành, người Hà Nam. Có thể nói, Chu Sĩ
Hành là người đầu tiên mở đường cho phong trào
“Nhập Trúc cầu Pháp” ở Trung Hoa. (6)
3.2 Thời Nam – Bắc Triều :
a. Bắc Triều :
Thời Tiền Trần có Ngài Đàm Ma Trì và Trúc Phật
Niệm người Lương Châu, dịch bộ Tỳ kheo Giới bổn,
Tỳ kheo ni đại giới. Thời hậu Tần, niên hiệu
Hoàng Thỉ Thứ 6 đến thứ 8 (404-406 TL). Ngài Cưu
Ma La Thập và Phất Nhã Đa La dịch Thập Tụng Luật
gồm 58 quyển, niên hiệu Hoằng Thỉ Thứ 12-15
(410-413 TL). Ngài Phật Đà Da Xá còn dịch Tứ
phần Giới bổn một quyển. Đến khi Nhà Ngụy thống
nhất 16 nước Ngũ Hồ, vào đời Nguyên Ngụy có Ngài
Bát Nhã Lưu Chi dịch Giải thoát Giới bổn một
quyển.
b. Nam Triều :
Niên hiệu Nghĩa Hy năm thứ 14 (418 TL) có Ngài
Phật Đà Bạt Đà La (Giác Hiền), cùng Pháp Hiển
dịch bộ Ma-ha Tăng Kỳ luật 40 quyển, Tỳ kheo ni,
Tăng kỳ luật Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Kinh một
quyển. Nhà Đông Tấn bị Nhà Tống tiêu diệt. Đến
đời Lưu Tống niên hiệu Phổ Bình năm thứ I (432
TL) có Ngài Phật Đà Thập và Trí Đạo Sinh dịch bộ
Ngũ phần Luật 30 quyển. Ngài Tam Tạng
Cầu-na-bạt-ma dịch Ưu bà tắc Giới kinh, Sa di
oai nghi, Tứ phần ni Yết ma một quyển, Ưu Ba Li
vấn Kinh một quyển.
3.3 Thời nhà Đường :
Thời đại Nhà Đường Phật giáo Trung quốc cực
thịnh, do vua rất mộ Đạo. Danh Tăng nổi tiếng
nhất là Ngài Huyền Trang. Đến đời Đường Võ Tắc
Thiến có Ngài Luật sư Đạo Tuyên nổi tiếng. Giới
luật Ngài soạn rất nhiều như :Tứ Phần San Bổ Tùy
Cư yết ma hai quyển, Tứ Phần Hành Sự Sao 12
quyển. Giới Sớ 8 quyển, Nghiệp Sớ 8 quyển, Thập
Tỳ Ni Nghĩa Sao 4 quyển, Tỳ kheo ni Sao 6 quyển.
Thời này có Sa môn Hoài Tố dịch Tứ phần Giới bổn
1 quyển, Tứ phần Tăng yết ma 3 quyển, Tỳ kheo ni
giới bổn 1 quyển. Ngài Tam Tạng Nghĩa Tịnh cũng
dịch nhiều bộ Luật có giá trị như sau :
- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Tỳ nại da (50
quyển).
- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Bí sô ni Tỳ
nại da (20 quyển).
- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Tỳ nại da tập
sự (40 quyển).
- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Ni Đà Na (5
quyển).
- Mục Đắc Ca (5 quyển).
- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Bách nhất Yết
ma (10 quyển).
- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Giới kinh một
quyển.
- Bí Sô Giới kinh một quyển.
- Yết ma nghi phạm một quyển.
- Ni-dà-na-mục-đắc-ca nhiếp tụng, tạp sự tụng (1
quyển).
- Căn bản Tát-bà-đa luận (14 quyển).
Đây là những bộ Luật mà các vị danh Tăng Trung
Quốc đã dịch, ngoài ra những Kinh thuộc chi
nhánh của Luật cũng được các Ngài dịch như :
- Phật thuyết phạm Giới tội khinh trọng kinh 1
quyển, đời Hậu hán-An Thế Cao dịch.
- Phật thuyết Ca Diếp cấm giới kinh 1 quyển, đời
Tống Thư Cứ Kinh Thanh dịch.
- Xá Lợi Phất Vấn Kinh 1 quyển (không rõ tên).
- Ưu Ba Ly Vấn Kinh 1 quyển đời Tống. Cầu Na Bật
Ma dịch.
- Đại Ái Đạo Tỳ kheo ni kinh 2 quyển (không rõ
tên).
- Đại Tỳ kheo Tam Thiện Oai nghi 2 quyển, đời
Tống – An Thế Cao dịch.
Ngoài ra còn có những bộ Luận để giải thích các
bộ Đại Luật được các ngài dịch như :
- Tỳ Ni Mẫu Luận (8 quyển, không rõ tên).
- Ma Đắc Lặc Già Luận, gọi đủ là Tát Bà Đa Bộ
Tỳ Ni ma Đắc Lặc Già 10 quyển, do Tăng Già Bạt
Ma dịch vào đời Lưu Tống.
- Thiện Kiến Luận hay Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa
18 quyển, do Tăng Già Bạt dịch đời Tiên Tề.
- Tát Bà Đa Luận hay Tát Bà Tỳ Ni Tỳ Bà Sa 9
quyển, giải thích Luật Thập Tụng (không rõ tên).
- Minh Liễu Luận hay Luật Nhị Thập Nhị Minh Liễu
Luận 1 quyển, do Chân Đế đời Tần dịch (giải
thích Luật Chánh Lượng bộ của Thượng Tọa bộ).
Những bộ Luật lớn được truyền qua Trung quốc và
được các nhà nghiên cứu dịch giải một cách đầy
đủ. Nhưng sự hình thành và hoằng dương các bộ
Luật chênh lệch nhau về thời gian. Đặc biệt là
Luật Tứ Phần thuộc Đàm Vô Đức Bộ được xem là
thịnh hành nhất và được truyền khắp nơi trên
lãnh thổ Trung Hoa. Vào thời Nguyên Ngụy Hiến
Văn Đế đã được Luật sư Pháp Chánh xiển dương.
Rồi đến Pháp Thời, Pháp Thông, Đạo Phú, Tuệ
Quang thì có các đệ tử như Đạo Huy, Đạo vân . .
. lần lượt đến Đạo Tuyên gồm có 9 phái. Ngài Đạo
Tuyên được xem là Tổ thứ 9 trong việc truyền bá
Tứ Phần Luật. Có thể nói Tứ Phần Luật cực thịnh
một thời ở Trung Hoa, người có công lớn nhất là
Tổ Đạo Tuyên vì cuộc xiển dương Đàm Vô Đức Bộ
(Tứ Phần), Ngài đã Sớ thích rất nhiều Luật phẩm
giá trị.
4. Giới luật truyền sang Việt Nam
Tại Việt Nam, sự truyền thừa Luật tông không có
tài liệu nào ghi lại chính xác. Phật giáo Việt
nam vì ảnh hưởng Phật giáo Trung quốc vào đời
Minh. Luật Đại thừa và Tứ Phần Luậttông của Ngài
Vân Thê, Châu Hoàng, Linh Phong, Trí Húc được
truyền tới Việt Nam và đã lưu hành các bộ Luật
như (7)
- Bồ tát giới Sớ phát ấn (5 quyển).
- Sa di Luật nghi yếu lược của Tổ Vân Thê.
- Phạm Võng Hiệp Chú (7 quyển).
- Bồ tát giới bản Tiên yếu (1 quyển).
- Sa di oai nghi lục yếu của Tổ Linh Phong.
- Phạm Võng lược sớ (8 quyển).
- Tứ Phần Luật Như Thích (2 quyển).
- Tứ Phần Danh nghĩa Tiên thích (40 quyển).
- Tỳ kheo thọ giới lục và Tỳ kheo ni thọ giới
lục (1 quyển).
- Sa di Luật yếu lược Tăng chú của Tổ Hoằng Tán
(2 quyển).
Những bộ sách này được ấn hành tại Việt Nam bằng
nguyên tác chữ Hán. Tuy không có tài liệu chính
xác nhưng Luật Tông được truyền thừa tại Việt
Nam rất thịnh hành. Những tác phẩm dịch thuật,
chú sớ của các bậc Tiền bối về Luật học :
1. Đại sư Hương Hải (1626-1725) : Sớ giải Sa
di Giới luật.
2. Đại sư Pháp Chuyên (1726-1798) :
- Qui Sơn Cảnh Sách cú thích lược ký.
- Tỳ ni, oai nghi, Sa di, cảnh sách ấn chú yếu
lược.
- Tỳ ni nhật dụng thiết yếu phát ấn âm chú.
- Sa di luật nghi yếu lượt tăng chú.
- Sự nghĩa luật yếu lược.
3. Đại sư Toán Nhật (1831-1835) :
- Sa di, oai nghi tăng chú giải Ngụy Tự tiểu
thiên.
4. Đại sư Chánh Thành (1872-1949) :
- Tứ phần như thích.
- Bồ tát giới Kinh.
- Tỳ kheo giới Kinh.
- Sa di Sớ.
- Tỳ ni Hương Nhũ.
5. Đại sư Bích Liên (1876-1950) : Quy Sơn Cảnh
sách dịch Nôm.
6. Đại sư Huyền Ý (1891-1951) : Sa di luật diễn
nghĩa.
7. Đại sư Tuệ tạng (1889-1959) :
- Kinh Phạm võng giải
- Sa di luật.
8. Đại sư Khánh Anh (1895-1961) : Tại gia cư sĩ
Luật.
9. Đại sư Thiện Hòa (1907-1987) :
- Giới đàn Tăng.
- Tỳ kheo giới Kinh.
10. Đại sư Bửu Chơn (19 -1979) : Tứ thanh tịnh
giới.
11. Đại sư Trí Hải (1906-1976)
- Nghi thức thọ Tam quy.
- Sa di Luật dịch.
12. Đại sư Hộ Tông (1839-1981) : Luật xuất gia.
13. Đại sư Trí Thủ (1909-1984) :
- Nghi thức truyền giới tại gia và Bồ tát giới,
Thập thiện.
- Luật Tỳ kheo.
- Yết ma yếu chỉ.
- Tứ phần hiệp chú.
14. Đại sư Hành Trụ (1904-1984) :
- Sa di luật giải yếu lược Tăng chú.
- Qui Sơn cảnh sách.
- Tứ phần giới bổn Như Thích.
- Phạm võng Bồ tát giới.
- Tỳ kheo giới Kinh.
15. Đại sư Giới Nghiêm (1921-1984) : Luật tạng
Pàli.
16. Đại sư Bình Minh (1924-1988) : Yết ma chỉ
nam.
17. Đại sư Thiện Chơn (1914-1992) :
- Luật Tứ phần hiệp chú
- Luật Tứ phần Tỳ kheo ni lượt ký.
- Tỳ kheo Hương Nhũ.
18. Đại sư Đôn Hậu (1905-1992) :
- Cách thức sám hối các tội phạm giới.
- Luật Tứ phần Tỳ kheo ni sao.
19. Đại sư Huệ Hưng : Xuất gia luật yếu.
Trên đây là những vị danh Tăng đã viên tịch, các
Ngài có công đức rất lớn với việc xiển dương
Luật tạng,và đã để lại cho chúng ta rất nhiều bộ
Luật có giá trị mà hiện nay các trường Phật học
đang dạy.
Qua sự truyền thừa có hệ thống từ xưa đến nay,
chúng ta thấy tất cả những người xuất gia học
Phật đều phải học tập những điều Giới luật, luôn
trao dồi Giới đức, hạnh đức để làm nền tảng tu
tập Định, nhân Định mà phát Huệ. Giới, Định, Huệ
đầy đủ mới đạt được đạo quả giải thoát giác ngộ.
Chúng ta hãy lấy đó làm phương châm trên bước
đường tu học.
CHƯƠNG 2 : PHÁP TAM VÔ LẬU HỌC
Khế Kinh có nói : “Nhơn thọ Phật giới tức nhập
Phật vị”, Pháp ngữ ấy vô cùng quan trọng, đủ
chứng minh rằng : Giới pháp Phật dạy rất bình
đẳng, có công đức siêu việt và Pháp ngữ ấy được
đức Phật công bố ngay từ buổi ban đầu trong Pháp
hội Hoa Nghiêm.
Do đó, là đệ tử Phật không luận xuất gia hay tại
gia nếu ai thành tâm tịnh ý phát nguyện lãnh thọ
Giới pháp, tức nhiên con đường giải thoát không
thể không đạt đến. Ngoại trừ những hành giả
không tinh tấn tu học và tín tâm không vững chắc
thì dễ rơi vào cảnh thương đau trong Tam giới.
Vì thế mà chúng ta có nhiều pháp môn tu học,
nhưng không có pháp môn nào thiếu phần Giới học,
Định học, Tuệ học.
1. Danh mục và Đức dụng Tam Vô Lậu học
1.1 Danh mục :
Giới vô lậu học – Nhiếp luật nghi giới.
Định vô lậu học – Nhiếp thiện pháp giới.
Huệ vô lậu học – Nhiêu ích hữu tình giới.
1.2 Định nghĩa về Đức dụng Tam Vô Lậu học :
Tam Vô lậu Học là ba môn học không lọt rớt. Còn
hữu lậu nghĩa là lọt rớt, là phiền não còn rơi
rớt lại trong sanh tử luân hồi. Vô lậu nghĩa là
không hư hỏng, không rơi, không nhiễm ô. Nói
đúng hơn Vô lậu là pháp diệt trừ phiền não khiến
cho ba nghiệp của hành giả được thanh tịnh, được
giải thoát, an ổn.
Trong Kinh Di Giáo đức Thế Tôn trước khi nhập
Niết-bàn với những lời huấn thị tha thiết : “Này
chư Tỳ kheo! Sau khi Như Lai diệt độ, các ngài
phải trân trọng tôn kính Ba-la-đề-mộc-xoa, trì
giới này như người đi trong đêm tối gặp được đèn
sáng, như người nghèo được của báu, như kẻ đi xa
được về nhà. Các Thầy phải biết pháp ấy là bậc
Đạo sư duy nhất của các Thầy. Vì Như Lai có
thường trú ở đời lâu hơn nữa thì cũng giáo huấn
các Thầy bằng những pháp Vô lậu giải thoát ấy,
chớ không có pháp nào khác hơn. Cho nên, các
Thầy phải nhất tâm giữ gìn tịnh Giới”.
2. Giải thích nghĩa Tam Vô Lậu học
Tam vô lậu học là ba môn học về Giới, Định, Huệ.
2.1 Giới vô lậu
Giới là Pháp chánh thuận giải thoát, nên có tên
là Ba-la-đề-mộc-xoa có nghĩa là Biệt giải thoát,
Bảo giải thoát. Biệt giải thoát là ai giữ được
Giới nào thì giải thoát giới đó, còn Bảo giải
thoát là bảo đảm người nào giữ Giới luật hoàn
toàn thanh tịnh thì nhất định thoát khỏi sanh tử
luân hồi. Cũng gọi là Thanh lương xứ hay an lạc
xứ.
Do đó, người không giữ giới thanh tịnh thì các
công đức vô lậu không thể phát sanh. Vì tịnh
giới là nơi yên ổn nhất, là nơi an trú yên ổn
nhất cho tất cả mọi người và tất cả công đức vô
lậu cũng từ đó mà hiển lộ. Giới luật Phật chế là
căn cứ trên trí huệ sáng suốt thấy xa ba đời
cùng những vô biên hữu tình chúng sanh ba cõi,
với lòng từ bi vô bờ bến để không thương tổn kẻ
khác, đó là sự thật theo tiêu chuẩn lẽ phải bình
đẳng và chân lý. Cho nên, nơi nào có Giới luật
thì nơi đó có lẽ phải, sự thật công bằng và chân
lý mới được trường tồn. Vì vậy Kinh, Luật, Luận
đều nói : “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp,
Giới luật còn là Phật pháp còn”. Nên nói :
- “Giới là ngọn đèn soi sáng các chỗ
tối tăm.
- Giới là con đường tắt đi về cõi
nhơn thiên,
- Giới là cửa ngỏ đi vào cảnh
Niết-bàn,
- Giới là thuyền bè đưa người qua
sông mê bể khổ,
- Giới là đất bằng, đất tốt muôn vật
từ đó phát sanh,
- Giới là chuỗi anh lạc để trang
nghiêm Pháp thân
- Giới là Thánh trí để ngăn ngừa
giặc vô minh phiền não.
- Giới là tướng giới để ngăn ngừa
giặc tham, sân nổi dậy.
Giới luật quan trọng như thế nên được đứng đầu
trong ba môn Vô lậu học mà cũng là cửa ngỏ đi
vào Niết-bàn. Có thể nói Giới luật là cơ bản xây
dựng nền tự do hạnh phúc thiết thực cho nhân
loại thật vô cùng hữu hiệu. Vì vậy nếu ai nghiêm
trì Giới luật sẽ được mau ra khỏi sanh tử sớm
lên bờ giác. Thế nên, tùy trình độ căn cơ của
chúng sanh, đức Phật nói Giới luật có ba thứ lớp
như sau :
Tại gia : gồm có Tam quy - ngũ giới, Bát quan
trai giới và Thập thiện giới.
Xuất gia : gồm 10 giới Sa di và sa di ni,
Thức-xoa-ma-na-giới, Tỳ kheo Bắc tông 250 giới,
Tỳ kheo Nam tông 277 giới, Tỳ kheo ni 348 giới.
Đạo tục thông hành (Giới Bồ tát ): xuất gia, tại
gia đều cùng giữ Tam tụ tịnh giới của Bồ tát gồm
10 giới trọng, 48 giới khinh. Nhưng Bồ tát tại
gia chỉ cần giữ 6 giới trọng và 26 giới khinh là
đủ. Vậy Tam tụ tịnh giới là gì?
a. Nhiếp luật nghi giới : là đoạn trừ tất cả
điều ác về thân, khẩu, ý. Trong Kinh Tăng Nhất
có dạy : “Hãy giữ gìn cửa miệng, tự tịnh ý chí
mình, thân không làm các điều ác, nếu làm được
như vậy, là chánh đạo của Thế Tôn”. Do thành tựu
Nhiếp luật nghi giới nên chứng được quả Đoạn đức
(Chư ác mạc tác).
b. Nhiếp thiện pháp giới : là tu tập tất cả
những điều thiện ở thân, khẩu, ý như Lục độ vạn
hạnh, Tứ nhiếp pháp, ngũ minh … Do tu Nhiếp
thiện pháp giới nên được Trí đức (Chúng thiện
phụng hành).
c. Nhiêu ích hữu tình giới : là làm lợi ích cho
tất cả chúng sanh. Vì phụng sự chúng sanh là
cúng dường chư Phật. Do thành tựu Nhiêu ích hữu
tình giới nên được ân đức đại từ bi, chứng Ứng
hóa thân (Lợi lạc quần sanh).
Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay sở dĩ bị
sanh tử luân hồi là vì phiền não luôn dấy động,
vọng tâm cứ chạy theo vọng trần tạo không biết
bao nhiêu nghiệp chướng. Ngày nay, nhờ có giới
nên chế ngự được vọng tâm, nhiếp hộ các căn
không cho chạy theo vọng trần. Do đó tâm được
yên tức được Định, do Định phát Huệ, vì trí huệ
sinh nên đoạn trừ vô minh phiền não, thoát khỏi
sanh tử luân hồi chứng quả Bồ đề Niết-bàn. Trong
Kinh Niết-bàn đức Phật khẳng định : “Tất cả
chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng phải giữ
giới mới được thành Phật”.
2.2 Định vô lậu
Định tiếng Phạn Samadhi, nghĩa là tập trung tâm
ý vào một đối tượng duy nhất, không để cho tâm ý
tán loạn. Một khi tâm chúng ta định tĩnh và tập
trung vào một đối tượng duy nhất, tâm nhất cánh
tánh không còn phân biệt tán loạn, đoạn trừ được
năm triền cái, chứng năm thiền chi, dẫn đến Định
Huệ phát sinh, đạt được an lạc lớn.
Đức Phật dạy : “Chớ sống đời phóng dật, chớ say
mê lục dục”. Thế nên, hành giả tu tập Tam muội
nếu vì tự lợi, vì lợi dưỡng mà chẳng vì chúng
sanh, chẳng vì Hộ pháp. Vì thấy những lỗi tham
dục, ăn uống, vì thấy những căn nam nữ, chín chỗ
bất tịnh, vì tranh đấu cãi cọ, đánh đập giết hại
lẫn nhau . . . Nếu vì những việc như vậy mà tu
tập Tam muội thì chẳng gọi là tu tập Tam muội
thanh tịnh vô lậu. Do đó, hành giả tu tập tam
muội phải vì chúng sanh, đối với chúng sanh có
tâm bình đẳng, làm cho chúng sanh được pháp bất
thối, khiến cho chúng sanh chẳng thối tâm Bồ đề,
làm cho chúng sanh được Thủ Lăng Nghiêm Tam
muội, được Kim cang Tam muội, được Đà la ni,
được Tứ vô ngại … Nhưng lúc thực hành chẳng thấy
Tam muội, chẳng thấy tướng Tam muội, chẳng thấy
người tu tập, chẳng thấy quả báu. Nếu thể được
như vậy thì gọi là người tu tập Chánh định thanh
tịnh vô lậu. Thế nên, hành giả có thể tu tập
Định chơn chánh để dứt trừ những tà tam muội thế
gian. Do đó, Định có ba thứ :
a. An trụ Định : là giới hạn tư tưởng vào một
đối tượng duy nhất, không phân biệt tán loạn,
gạn lọc tâm, chế ngự phiền não vọng tâm, làm cho
các pháp bất tịnh không phát khởi, thiện pháp
càng tăng thì trí huệvô lậu phát sinh :
“Ngồi yên nơi thanh vắng
Lặng lẽ diệt điều ác
Đạm bạc được nhất tâm
Vui ấy không ai bằng”
b. Dẫn phát Định : là do tâm định tĩnh, trí huệ
phát sinh, thành tựu Tam Minh Lục Thông do những
năng lực mà tùy duyên hóa độ chúng sanh, thi
hành mọi Phật sự mà không bị chướng ngại. Như
Đông Sơn Thiền sư nói :
“Không môn có lối nhiều người đến
Đến rồi thấy sự lạ thường
Tâm địa nên không còn phiền não
Tự nhiên thân được tỏa hào quang”
c. Biện sự Định : là do năng lực Thiền định nên
định tĩnh và có sức mạnh phi thường, chuyển hóa
được các đối tượng hay nói đúng hơn thì nhiếp
tâm lại thì việc gì cũng hoàn thành. Như Cổ đức
nói :
“Hồ thu in bóng, bóng thùy dương
Vạn tượng sum la hiện không lường
Ẩn hiện tùy duyên đồng một thể
Làn làn giác tánh chiếu muôn
phương”.
Do đó, chúng ta thấy do nhiếp tâm mà đoạn trừ
được phiền não nên tâm được Định, trí huệ phát
sinh, thấy được vạn tượng sum la hiện rõ trong
tự tâm của chúng sanh dẫn khởi từ thân, khẩu, ý
thanh tịnh tức ly dục, ly bất thiện pháp. Do đó,
Định là chế ngự và chặn đứng vọng niệm, đoạn trừ
phiền não được khinh an hỷ lạc, nhất tâm trí huệ
vô lậu phát sinh làm cơ sở giải thoát giác ngộ
cứu cánh.
2.3 Huệ vô lậu
Huệ học là môn học trí huệ, huệ học có công năng
nhận xét chơn lý, thấu triệt vạn pháp không còn
lầm lạc mê mờ. Cho nên người học Phật cần phải
có trí huệ sáng suốt để soi phá vô minh phiền
não, nhận thức điều chơn giả hư ngụy, chánh tà.
Nếu người tu không có trí huệ sáng suốt thì
không sao tránh khỏi lầm lạc, nhận giả làm chơn,
nhận hư làm thật.
Cũng có thể nói: Trí là thể tánh sáng suốt trong
sạch, Huệ là cái diệu dụng xét soi tự tại. Trí
huệ vô lậu là thể tánh sáng suốt, có khả năng
soi sáng sự vật một cách thấu đáo tinh tường đến
nơi đến chốn không sai lầm. Trong Luật đức Phật
dạy: “Con lạc đà, con bò, con trâu chở nặng,
loài ngạ quỷ chịu đói khát chưa phải là khổ. Còn
con người không có trí huệ, không biết phương
hướng mà tu hành thì mới thật là khổ”. Thế nên,
muốn có trí huệ đức Phật đưa ra nhiều pháp tu,
trong đó “Văn-Tư-Tu và Giới – Định – Huệ” là
pháp thường được nhắc nhở và thực hành nhiều
nhất.
Văn huệ : là do sự học hỏi, nghe pháp, mắt thấy
văn tự hiểu được nghĩa lý, lâu ngày phát sinh
trí huệ gọi là Văn huệ.
Tư huệ : là do trí suy nghĩ tìm tòi rõ được
nghĩa lý, hiểu được sự thật gọi là Tư huệ.
Tu huệ : do sự giữ giới trì trai, lập nhiều công
quả, tụng kinh trì chú, niệm Phật thể nhập chân
lý mà giác ngộ chứng được sự thật gọi là Tu huệ.
Văn – Tư – Tu tương quan mật thiết với nhau,
hành giả chuyên tu ba pháp này thì thành tựu
được tất cả. Trong Kinh đức Phật dạy : “Văn huệ,
Tư huệ, Tu huệ là ba môn không thể thiếu được.
Nếu nghe mà không suy nghĩ tu tập thì như người
làm ruộng mà không gieo mạ, nếu suy nghĩ mà
không tu thì như người làm ruộng mà không cho
nước vào ruộng như thế thì không có kết quả. Cho
nên, Huệ này mà đầy đủ thì chứng Tam thừa.
Do vậy, Trí huệ là con thuyền chắc chắn để vượt
qua biển sanh, lão, bệnh, tử, là ngọn đèn sáng
nhất đối với hắc ám vô minh, là búa sắt chặt cây
phiền não. Nên bậc trí luôn mang bên mình thanh
gươm sắt bén để chặt đứt dòng sanh tử vô minh.
Vì người có trí là người hằng sống đúng chánh
Pháp, chánh niệm luôn tỉnh giác nơi nội tâm
thường hằng quán chiếu pháp do nhân duyên là