******Trang tiếng Việt  ******Thư Mục Tổng Quát ******Trang tiếng Anh ******

 

 

 

 

Luận văn tốt nghiệp

 

VÀI NÉT VỀ PHẬT GIÁO ĐỜI TRẦN

Thích nữ Nghiêm Liên 

 

DẪN NHẬP

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Việt Nam, xứ sở của sự giao thoa các trào lưu tư tưởng nhưng vẫn khẳng định một nền văn minh mang tính đặc thù dân tộc. Đạo Phật Việt Nam chung hưởng hai suối nguồn Phật giáo lớn là Ấn Độ và Trung Hoa. Trong suốt chiều dài lịch sử đó, Phật giáo đã tồn tại trong hai quốc gia chịu nhiều tang thương chinh chiến, chung chịu biết bao cảnh thăng trầm, vinh nhục. Đạo Phật đã hoà nhập vào cuộc sống, nếp suy nghĩ của dân tộc, thể hiện bằng nội dung tư tưởng tiến bộ thích hợp với cuộc sống hiện tại. Phật giáo đồ Việt Nam từ ngàn xưa đã có truyền thống yêu nước, yêu nước trong quá khứ cũng như trong hiện tại, không bao giờ đi ngược lại truyền thống yêu nước cao đẹp, truyền thống phục  vụ và bảo vệ quê hương Việt Nam. Đây là những đặc tính riêng biệt làm cho đạo Phật có bản sắc nổi bật hơn so với các tôn giáo khác và mang sắc thái dân tộc, trở thành đạo Phật của dân tộc Việt Nam.

“Trang sử Phật

Đồng thời là trang sử Việt

Trãi bao độ hưng suy

Có nguy mà không mất”.

Lời của nhà thơ hiện đại Hồ Dzếng đã thể hiện sự thành tựu của quá trình Phật giáo hội nhập vào dân tộc Việt Nam. Quá trình này kéo dài từ những năm đầu công nguyên cho đến ngày nay và vẫn tiếp tục cho đến khi nào Phật giáo vẫn tồn tại trên đất nước Việt Nam này. Đạo Phật được du nhập vào Việt Nam trên dưới hai ngàn năm. Giáo lý Phật Đà ăn sâu, hội nhập các mặt sinh hoạt trong đời sống tư tưởng, văn hóa, chính trị và xã hội. Đẹp biết bao truyền thống yêu nước của Phật giáo Việt Nam vốn tồn tại và chỉ tồn tại trong sự tồn tại của dân tộc. Trải qua nhiều thời đại Đinh, Lê, Lý, Trần … đạo Phật được xem là quốc giáo. Mỗi lần lật lại trang sử vẻ vang của đời Trần, một thời đại vàng son vang danh. Chúng ta không xiết cảm động và khâm phục các vua Trần đã cố kết được lòng dân, đoàn kết mọi người, vua tôi hoà hợp, quyết tâm bảo vệ mảnh đất giang sơn cẩm tú, đã ba lần đại thắng quân Nguyên Mông xâm lược, đội quân hùng mạnh lúc bấy giờ. Quả là một kỳ tích khó gì sánh được, viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Tất cả những chân dung với những đức tánh kỳ diệu của vua quan và nhân dân đời Trần làm cho chúng ta thêm nể phục, tôn kính, gần gũi và những hình ảnh ấy sẽ động mãi trong lòng dân tộc. Trong lời tựa quyển Danh tướng Trần Hưng Đạo, nhà xuất bản văn hoá Hoàng Công Khanh viết : “Mỗi người có một cuộc sống riêng. Nhưng cái lớn lao, cái cao cả của họ đều để lại dấu ấn trong lịch sử của mỗi dân tộc”.               

Ngày nay, thế hệ học sinh, sinh viên là những chủ nhân tương lai của đất nước Việt Nam, kế thừa gia tài sản nghiệp của Tổ tiên, vậy mà với một lý do nào đó họ biết quá ít hoặc biết sơ sài về lịch sư ũông cha của mình, nhất là lịch sử Phật giáo Việt Nam. Họ đâu biết rằng Phật giáo Việt Nam là bạn song hành với dân tộc, cùng nếm trải gian lao, cùng thịnh suy với đất nước, cùng hát khúc ca khải hoàng. Một lần nữa để khắc sâu kiến thức lịch sử Phật giáo và cũng mong khơi dậy những trang sử vàng son rực rỡ của dân tộc, những nét đặc thù của Phật giáo đời Trần, để thế hệ các bạn trẻ và chúng tôi, thế hệ mai sau cùng có chung niềm tự hào và xúc cảm, cùng thấy rõ những đóng góp tích cực của Phật giáo Việt Nam trong công cuộc trường chinh dựng nước và giữ nước. Do đó tập luận văn này xin được nhắc lại trong khuôn khổ hạn hẹp “Vài nét về Phật giáo đời Trần”, một thời đại hào hùng của đất nước Đại Việt. Chúng ta có được những thành quả như ngày nay thì cần phải tìm hiểu những việc làm của ông cha ngày trước, để phát huy những truyền thống tốt đẹp, quí báu của dân tộc Việt Nam.

2. CƠ SỞ TƯ LIỆU.

Thời gian trôi đi mãi, lịch sử không dừng lại và chờ đợi bất cứ ai … Trong tập luận văn này, người viết xin được góp nhặt cơ sở tư liệu duy nhất là trong sách vở, với nhiều nguồn khác nhau gọi chung là thư tịch, trực tiếp đọc và khai thác. Trong việc nghiên cứu, càng nhiều nguồn tư liệu bao nhiêu thì càng tốt cho người viết bấy nhiêu. Tuy nhiên đây là một vấn đề của tám thế kỷ trước, một vấn đề đã cách xa Thành Phố Hồ Chí Minh và tất cả những điều đó được ghi lại trong sách vở, kết thành một xâu chuỗi ngọc vô cùng quí giá, từ suốt mấy ngàn năm trong lịch sử nước nhà. Đây là những công trình nghiên cứu của những người đi trước xác định một cách rõ ràng về khung thời gian lịch sử. Có những công trình chuyên nghiên cứu về Phật giáo, những công trình nghiên cứu về tư tưởng nói chung trong đó có Phật giáo và những công trình nghiên cứu về sử học có liên quan đến Phật giáo. Để thế hệ mai sau học hỏi và tự hào với trang sử vàng son của Phật giáo Việt Nam nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung.

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Đây là luận văn mang tính cách lịch sử, thực hiện với đề tài “Vài nét về Phật giáo đời Trần” đã gắn liền với Phật giáo Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử trên dưới bốn ngàn năm. Ở đây người viết sử dụng phương pháp chủ yếu là trích lục, thống kê và đối sánh. Bởi vì đọc tài liệu, trích dẫn tài liệu rồi thống kê và đối sánh lại. Tất nhiên trong tài liệu còn có chính sử, có giả sử, có dân gian v.v … từ đó người viết tìm ra những điểm nổi bật của Phật giáo đời Trần, một thời đại huy hoàng trong lịch sử nước nhà.

 

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: BỐI CẢNH NƯỚC ĐẠI VIỆT ĐỜI TRẦN.

 

Triều Trần (1226 – 1400 ) là một trong những triều đại lớn nhất của lịch sử trung đại Việt Nam. Dưới thời Trần, Đại Việt là một trong những cường quốc của Đông Nam Á lừng danh với ba lần lãnh đạo nhân dân Đại Việt kháng chiến chống quân Nguyên Mông thắng lợi, bảo vệ nền độc lập đã ghi một dấu son vàng trong lịch sử phát triển của dân tộc ta. Những chiến công hiển hách trong ba lần chống quân Nguyên Mông mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc ta, hun đúc ý chí quật cường của bao thế hệ đấu tranh để bảo vệ nền độc lập vững bền của to ăquốc trước bất kỳ kẻ thù xâm lược nào. Mỗi khi nói đến nhà Trần là nói về những chiến công vang dội trước quân xâm lược hung hãn mà gót giày xâm lược đã đặt đến các miền khác nhau của lục địa Á, Âu, cũng là nói về nghệ thuật lãnh đạo toàn dân kháng chiến của nhà Trần. Nhưng khi nói đến nhà Trần mà chỉ đề cập những thành tựu quân sự thì chưa đủ. Bởi vì, bên cạnh những chiến công vang dội về quân sự thì văn hoá Đại Việt giai đoạn này cũng đạt khá cao, được coi là một trong những đỉnh cao của nền văn hoá triều Trần, một nền văn hoá có cội nguồn buổi đầu của thời kỳ độc lập phát triển và đạt được nhiều thành tựu dưới thời Lý và để lại dấu ấn sâu sắc cho đến hết đời Lê sơ. Một trong những đỉnh cao của văn hoá Đại Việt và chính nhờ sự phát triển này đã tạo nên một sắc thái riêng của nền văn hoá, đó là sự phát triển của Phật giáo lên ngang tầm thời đại. Có như thế thì sự nghiệp và hình ảnh của ông cha ta sẽ còn sống mãi mãi với thời gian.

1. Những chính sách buổi đầu của nhà Trần.

Triều Lý tàn tạ và bất lực là rất cần thiết phải được xoá bỏ, song điều ấy không có nghĩa là ai cũng ủng hộ họ Trần. Các phe cánh vẫn ngang nhiên tiếp tục cuộc xâu xé lẫn nhau, đồng thời cũng công khai chống lại họ Trần, nhưng điều bị Trần Thủ Độ thẳng tay đàn áp. Do đó các thế lực chống đối tan rã. Trong triều đình có một thế lực khác, tuy không còn đủ sức để công khai chống lại nhà Trần nữa, nhưng để đề phòng hậu họa, Trần Thủ Độ cũng tìm cách thanh toán. Đó là thế lực quý tộc họ Lý. Trần Thủ Độ đã tiến hành một số biện pháp rất kiên quyết như sau :

Giết chết Lý Huệ Tông, dù lúc này Lý Huệ Tông đang mắc bệnh điên và cũng đang đi tu.

Giáng Hoàng hậu của Lý Huệ Tông làm Thiên Cực Công Chúa.

Truất phế địa vị Hoàng hậu của Lý Chiêu Hoàng và bắt Trần Thái Tông phải lấy vợ của anh là Trần Liễu.

Bí mật thủ tiêu những quí tộc họ Lý có ý chống đối.

Hôn nhân nội tộc. Vì sợ rằng ngoại tộc sẽ tìm cách lợi dụng hôn nhân để xâm nhập rồi cướp ngôi, nhà Trần qui định con trai họ Trần chỉ lấy con gái họ Trần. Và để đề phòng các Hoàng tử tranh giành ngôi báu, các Hoàng đế nhà Trần sớm nhường ngôi cho con để lên làm Thái thượng hoàng.

Ban hành nhiều chính sách nhằm phát triển kinh tế. Do vậy đã nhanh chống phục hồi nền kinh tế của Đại Việt lúc bấy giờ. Đồng thời đưa Đại Việt lên vị trí thành một cường quốc ở Đông Nam Á.

Nhà Trần vẫn không phá vỡ được qui luật phát triển của nhà nước quân chủ tập quyền. Ngay khi tập trung những quyền lực trong triều đã cho biên soạn một bộ luật mới, đó là bộ luật hình thư.

Mở rộng đất đai về phía Nam và tiến hành ban cấp hàng loạt ruộng đất cho quí tộc và quan lại. Ngoài quí tộc họ Trần, các vị cao tăng của Phật giáo cũng được hưởng chế độ ban cấp này. Sự hậu đãi ấy đã dẫn đến sự xuất hiện của các tự viện lớn.

Với những quyền lực to lớn về kinh tế, chính trị, quân sự… của quí tộc biểu hiện những yếu tố phân tán còn tồn tại trong xã hội đời Trần. Tuy nhiên, những yếu tố đó bị hạn chế không những không gây ra tình trạng cát cứ chống lại chính quyền trung ương, mà về nhiều mặt còn làm tăng thêm sức mạnh cho triều đình. Sự củng cố quan hệ họ hàng, bà con trong hoàng tộc bằng lợi ích kinh tế có tác dụng thắt chặt tinh thần cố kết trong giai cấp thống trị. Điều đó cũng thể hiện rõ trong lời nói của Trần Thánh Tông với các tôn thất : “Thiên hạ là thiên hạ của Tổ tông, người nối nghiệp của Tổ tông nên cùng với anh em trong họ cùng hưởng phú quý. Tuy bên ngoài thì cả thiên hạ tôn thờ một người, nhưng bên trong thì ta cùng các khanh là đồng bào ruột thịt, lo thì cùng lo, vui thì cùng vui”.

Những bước phát triển mới trong chính sách buổi đầu của nhà Trần không những củng cố thêm cơ sở vật chất của quốc gia phong kiến, mà còn có tác dụng quan trọng nâng cao đời sống của người dân và tăng thêm sức mạnh quốc phòng của đất nước.

2. Vài nét về đời sống tư tưởng đời Trần.

Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang các nước Đông Á theo hai đường: phía bắc sang Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên; phía đông sang Miến Điện, Thái Lan, Indonexia và miền nam Đông Dương. Do hai đường truyền đạo nói trên, đã hình thành hai phái Phật giáo đại thừa và Phật giáo tiểu thừa.

Phật giáo đại thừa được truyền sang nước ta khoảng đầu công nguyên và phát triển mạnh trong các thế kỷ VII, VIII, IX. Bấy giờ đã có những cao tăng người Việt xuất thân từ tầng lớp hào trưởng. Từ khi nhà nước dành độc lập, Phật giáo tiếp tục phát triển và được coi là quốc giáo.

Đinh Tiên Hoàng lên ngôi, định phẩm hàm cho nhà sư và cấp tự điền cho nhà chùa. Thời Tiền Lê, sư tăng ngày càng có vai trò quan trọng trong triều đình, được đặc biệt ưu đãi, thường giữ việc đi sứ hoặc tiếp sứ. Thời Lý, Phật giáo trải qua giai đoạn hưng thịnh nhất. Bước sang thời Trần, chi phối xã hội mạnh mẽ nhất lúc này là Phật giáo. Bấy giờ, chùa chiền được dựng lên ở khắp nơi, từ kinh đô Thăng Long cho đến mọi miền của đất nước. Cũng bấy giờ số người xuất gia tu hành rất đông, trong số đó có cả những người trong hoàng tộc, thậm chí là cả hoàng đế. Trong hoàng tộc, nhiều người rất mộ Phật. Họ thường thỉnh các bậc cao tăng về tư dinh để được nghe giảng đạo. Phật giáo đời Trần đã có những đóng góp lớn lao, ưu điểm lớn nhất của Phật giáo là tinh thần khoan dung và tự do. Phật giáo không bao giờ chống đối và chỉ trích Nho giáo và Đạo giáo. Phật giáo đã để cho Nho giáo và Đạo giáo phát triển. Chính những Phật tử thuần thành nhất như Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông đã mở rộng Nho giáo. Năm 1253, Trần Thái Tông lập Quốc học viện ở kinh sư và tạc tượng Chu Công, Khổng Tử, Mạnh Tử, cùng vẽ tranh 72 vị tiền hiền để thờ cúng. Trần Thánh Tông đã cho hoàng đệ là Trần Ích Tắc mở trường dạy Nho học. Nhà Trần đãi kẻ sĩ một cách khoan dung, không hẹp hòi, hoà vị mà có lễ phép, cho nên nhân sĩ thời ấy ai cũng biết tự lập anh hào tuấn vĩ vượt ra ngoài lưu tục, làm cho quang vinh cả sử sách, không thẹn với trời đất.

Bấy giờ, cùng chung thời thịnh với Phật giáo là Đạo giáo. Đền miếu được dựng lên ở khắp nơi. Số lượng đạo sĩ cũng khá đông đảo. Trên vũ đài chính trị và tư tưởng của nước nhà, nhất là trong thời hùng mạnh của triều Trần, sau vị trí chi phối của Phật giáo chính là vị trí quan trọng của Đạo giáo. Tuy nhiên, gắn liền với sự phát triển của Phật giáo và Đạo giáo đến thế kỷ XIV, Nho giáo vươn lên lấn át ưu thế của Phật giáo. Với các thuyết “Thiên mệnh” “Chính danh”, Nho giáo khuyên người ta ở đời hãy chấp nhận danh phận của mình. Rõ ràng Nho giáo đã trực tiếp bảo vệ trật tự quân chủ, biện hộ cho quyền áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị : “Không có quân tử thì không ai trị dân quê, không có dân quê thì không  ai nuôi quân tử”.

Ở các thế kỷ X – XIV, Phật giáo ở Việt Nam đã phát triển cực thịnh. Trong khi Nho giáo chưa trở thành ý thức hệ chính thống của nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, thì Phật giáo đã có tác dụng thống nhất nhân tâm tạo điều kiện cần thiết để củng cố và phát triển nhà nước quân chủ. Do vậy, Phật giáo ở các thế kỷ này có ảnh sâu sắc đến toàn bộ sinh hoạt văn hoá đương thời và in dấu rõ nét trong văn học, nghệ thuật. Thế nhưng từ giữa thế kỷ XIV thì vị trí đó nó đã thay đổi hoàn toàn đó là Nho giáo đứng vị trí quan trọng nhất, kế đến là Phật giáo, sau cùng là Đạo giáo. Đến đầu thế kỷ XV, tình hình đó lại biến đổi nữa đó là từ đây trở đi  Nho giáo chiếm vị trí độc tôn, còn Phật giáo và Đạo giáo tuy vẫn tiếp tục phát triển, thậm chí là không hề thua kém trước đó nhưng đã lùi ra khỏi vũ đài chính trị, tư tưởng để phát triển ở trong lòng xã hội. Đây là nét mới trong đời sống tư tưởng của đời Trần. Có một số người cho rằng như thế là Phật suy, Đạo suy là không đúng. Bởi vì nó không còn có mặt trên vũ đài chính trị và tư tưởng. Sự phát triển của một tôn giáo không phải là tôn giáo đó có bao nhiêu người làm quan. Điều đáng nói trong đời sống tư tưởng là chủ nghĩa yêu nước lúc này là dòng chủ lưu nhưng đã góp phần làm cho chủ nghĩa yêu nước phát triển. Trong đó có cả sự cống hiến của nhà Phật.

Bertrand Russell đã nhận xét : “Nhân loại vĩnh viễn mắc vào ba vấn đề cơ bản.

            Xung đột với thiên nhiên

            Xung đột với tha nhân

            Xung đột với chính mình”.

            Nhờ có đủ tài đức mà các vị vua Trần đã động viên được sự đoàn kết ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân. Do đó đã lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống quân xâm lược đạt đến thành công rực rỡ. Lịch sử cho chúng ta thấy, mỗi khi tổ quốc đứng trước những thử thách khắc nghiệt một mất một còn thì mọi người cùng đoàn kết bên nhau để bảo vệ sự sống còn của bản thân mình và sự tồn tại của quê hương xứ sở. Nhưng muốn thu phục được toàn dân thì các nhà lãnh đạo phải có thực tài thực đức. Đó là những yếu tố rất tiên quyết mà các vì vua đầu đời Trần đều có đủ. Nhờ vậy mà họ đã thành công. Theo đà của những cuộc chiến thắng, mọi người đều phấn khởi tinh thần, do đó đất nước phát huy được nhiều mặt  tích cực, như nền kinh tế mở mang, pháp luật nghiêm minh, chính trị ổn định, võ bị vững chắc, ngoại giao thắng lợi, văn học khởi sắc, giáo dục được củng cố.v.v… Tất nhiên không loại trừ cơ hội thuận lợi nhất cho việc phát triển tôn giáo, hoằng dương chánh pháp. Các nhà lãnh đạo quốc gia lúc bấy giờ vốn là những Phật tử thuần thành. Thế nên những chiến công chính nghĩa, vẻ vang của họ cũng có thể mặc nhiên xem như những thắng lợi của Phật giáo. Trong hoàn cảnh mà đất nước trên đà cường thịnh, dân chúng an cư, lạc nghiệp mọi người có điều kiện phát huy tài năng về nghề nghiệp của mình để kiến tạo một xã hội thanh bình, xây dựng tương lai tươi sáng, thì một tôn giáo mang bản chất nhập thế hành động như đạo Phật, hẳn nhiên được phát triển rực rỡ lúc bấy giờ.

 

CHƯƠNG II : SƠ LƯỢC PHẬT GIÁO ĐẠI VIỆT ĐỜI TRẦN

Phật giáo đời Trần là thời đại mà Phật giáo thật sự hoà nhập vào lòng dân tộc từ hình thức lẫn nội dung, yếu tố đưa đến thành công và những đặc sắc của đạo Phật không tách rời với sự phát triển của dân tộc. Nếu chỉ đưa ra một vài yếu tố để nhận xét là chúng ta đã tách rời một phần nào trong tổng thể sinh động của Phật giáo đời Trần, và điều ấy mang tính cách phiến diện. Đạo phật thật sự đã được gieo mầm từ lâu và đã trải qua hàng bao thế kỷ, nó đã thích nghi với nhân chủng và phong thổ Việt Nam, đến đời Trần là đỉnh cao của nó đơm hoa kết nụ, thời gian dài bản địa hoá của đất nước Việt Nam. Phật giáo đã trở thành cốt tuỷ và hoà nhập với nền văn hóa dân tộc như nước với sữa. Do đó nó hoàn toàn phù hợp với tâm tư nguyện vọng của một dân tộc khao khát hoà bình, yêu thích tự do độc lập. Khi chiến tranh chống ngoại xâm, đạo Phật trí tuệ tập hợp những tâm hồn yêu nước, thương dân, đoàn kết một lòng mọi người với ông Bụt từ bi, với Quan Âm cứu khổ và giáo lý thực tiễn không tách rời cuộc sống bằng thân, khẩu, ý. Đặc sắc của Phật giáo đời Trần là tính tích cực nhập thế. “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác” đạo không tách rời đời và đời cũng không thiếu vắng đạo, nó trở thành một hợp thể linh động, sáng tạo và diệu dụng trong mọi hoàn cảnh. Có thể nói rằng các vị vua, các thiền sư đã sử dụng đúng tiềm năng của đạo Phật, khiến cho nó trở thành Phật giáo Việt Nam mà không phải Phật giáo Trung Hoa hay Ấn Độ từ cái nhìn cho đến hành động.

1. Trần Thái Tông – Trần Thánh Tông, hai vị Hoàng đế đầu đời Trần và những chủ trương đối với Phật giáo.

Vua Trần Thái Tông là người đã khai sáng ra một triều đại oanh liệt của dân tộc, một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự tài ba của đất nước. Điều này qua mấy trăm năm lịch sử đã khẳng định. Không những thế, vua Trần Thái Tông còn là một nhà văn, nhà thơ, có những đóng góp to lớn cho lịch sử tư tưởng và văn học Việt  Nam.

Trần Thái Tông tên là Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa, sinh năm Mậu Dần niên hiệu Kiến Gia thứ tám (1218) Triều Lý. Gia thế ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Tức Mặc,huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định) ông cha làm nghề đánh cá. Nhờ có công dẹp loạn, họ Trần dần dần có thế lực từ đời Lý Cao Tông. Trần Cảnh mới có tám tuổi được Lý Chiêu Hoàng nhận làm chồng và truyền ngôi cho, lấy hiệu là Thái Tông. Thế là sự nghiệp nhà Lý đến đây đã chấm dứt. Lịch sử Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn nhà Trần. Năm Thái Tông lên 20 tuổi, Lý Chiêu Hoàng 19 tuổi đang là Hoàng hậu, bị Trần Thủ Độ ép Thái Tông giáng Chiêu Hoàng làm công chúa, lấy Thuận Thiên là vợ Trần Liễu (anh ruột Thái Tông) làm Hoàng Hậu. Lý do, vì Trần Thủ Độ nôn nóng Thái Tông có con để kế thừa, mà Chiêu Hoàng chậm con, Thuận Thiên đang mang thai.

Do nhiều nỗi khổ đau và lòng ray rứt bất an, dằn vặt nội tâm của ông vua trẻ, lúc 10 giờ đêm ngày mồng ba tháng tư năm 1236, vua Trần Thái Tông bỏ ngai vàng trốn lên núi Yên Tử đi tu và tham kiến Thiền sư Trúc Lâm, liền thưa với Thiền sư rằng: “Trẫm còn thơ ấu, đã sớm mất mẹ cha, trơ vơ đứng trên sĩ dân, không có nơi nào để nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường cho nên mới vào đây, chỉ muốn cầu thành Phật, chứ chẳng muốn tìm gì khác”. Vua đã nhận được sự nghiệp đế vương hưng phế bất thường và cuộc đời thị phi danh lợi, vì để tranh dành địa vị quyền lực mà không trừ những thủ đoạn xấu xa tàn ác. Trong đám hỗn độn đó vua thấy mình bất lực, cô đơn hơn, chính nguyên nhân ấy đã đưa ông vua trẻ đến với đạo. Nhưng ý nguyện của nhà vua không thành. Trần Thủ Độ và các quần thần bô lão đi tìm và gặp nhà vua tại núi Yên Tử. Trần Thủ Độ hết lời phân giải nài nỉ vua hồi cung, vua từ chối. Thiền sư Trúc Lâm cầm tay vua mà nói: “Phàm làm đấng nhân quân, thì phải lấy ý muốn thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về, bệ hạ không về sao được? Tuy nhiên sự nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng phút nào quên”.

Sau khi nghe những lời thiết tha của Trần Thủ Độ và lời khuyên của Thiền sư Trúc Lâm, vua buộc lòng phải về cung. Trần Thái Tông vừa làm vua, vừa nghiên cứu kinh Phật và sách Thánh. Ngồi trên ngai vàng được 36 năm, năm 1258 Trần Thái Tông nhường ngôi lại cho con là Trần Thánh Tông rồi lên làm Thái thượng hoàng. Từ đây vua nổ lực tu trì, ngài đem tinh hoa cốt lõi của đao Phật dạy dân tu niệm tác phẩm Khoá Hư Lục cũng ra đời trong giai đoạn này. Đến năm 1277, vua mất vào ngày mồng 01 tháng 04 năm Đinh Sửu, thọ 59 tuổi.

Trần Thái Tông đã thể hiện tinh thần một người lãnh tụ tài tình, một ông vua có dũng lực, có tài năng, có tài đức đã đưa đất nước đi lên, vua biết hướng đạo, đời bằng gương tỉnh thức và dẫn lối cho mọi người bằng đạo đức. Bản thân vua nhờ tỉnh giác luôn chủ động được mình, nên Trần Thái Tông đã thực sự xem ngai vàng như “chiếc giày rách”. Chứng tỏ rằng vua không bị vinh hoa phú quí chuyển lay, suốt mấy mươi năm ngồi trên chiếc ngai vàng, lấy đức chăn dân, vun bồi đất nước, khi đúng lúc phải thời ung dung lìa ngôi báu trao lại cho con. Vua làm tròn xứ mạng đối với tổ quốc và xứng đáng là một sứ giả của Như Lai. Trần Thái Tông là một vị vua đã để lại chiến tích vẻ vang cho lịch sử nước nhà. Ông đã làm sáng tỏ lâu dài tinh thần nhập thế của đạo Phật, bằng sự phát triển trọn vẹn, với những đức tính từ bi, khoan dung, độ lượng, hùng lực chứng tích sáng lạng của thời đại này về nhiều mặt : chính trị, kinh tế, văn học, xã hội … đã nói lên tư tưởng của người Việt Nam được thấm nhuần tinh thần đạo Phật.

Vua Trần Thánh Tông tên là Trần Hoảng, là con thứ hai của Trần Thái Tông, thân mẫu là Thuận Thiên thái hậu, người họ Lý. Thực ra, vua là con trưởng. Trước, Thuận Thiên thái hậu từng lấy Trần Liễu (anh ruột Trần Thái Tông) và đã có thai với Trần Liễu được ba tháng. Người con đầu của Thuận Thiên thái hậu, danh là của Trần Thái Tông mà thực là của Trần Liễu. Bởi danh này mà Trần Hoảng bị coi là con thứ chứ không phải con trưởng của vua Trần Thái Tông. Nhân vua Thái Tông mơ thấy trời trao cho một gươm báu, Hoàng hậu liền có mang. Giờ ngọ ngày 25 tháng 9 năm Canh Tý (1240 ) tại kinh thành Thăng Long, vua sinh ra liền lập làm Hoàng thái tử. Lên ngôi ngày 24 tháng 2 năm Mậu Ngọ (1258 ) đổi niên hiệu Thiệu Long. Bản chất thiên tài, vẻ toát ra ngoài sáng ngời, mang sẵn những điều khác thường, xử sự dứt khoát, vừa xem rộng mọi sách vở, lại rất tinh thông nội điển. Vua ở ngôi hai mươi năm, rồi nhường ngôi cho con là Thái tử Khâm (Trần Nhân Tông) để lên làm Thái thượng hoàng 12 năm. Sau đó xuất gia ở chùa Tư Phúc, thờ quốc sư Đại Đăng làm thầy. Hằng ngày vua thường bàn luận với các thiền khách, được truyền sâu ý nghĩa thiền, tự là Vô Nhị Thượng Nhân. Vua mất ngày 25 tháng 5 năm Canh Dần (1290), thọ 50 tuổi.

Trong thời Ngài làm vua thì đất nứớc thạnh trị thái bình. Lúc Trần Thái Tông còn ở ngôi vua thì giặc Nguyên sang đánh lần thứ nhất. Thời gian Ngài làm vua thì không có giặc. Khi Ngài truyền ngôi cho Nhân Tông lên làm Thái thượng hoàng thì giặc Nguyên sang đánh lần thứ hai. Nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc đã được bảo vệ và củng cố một phần lớn là nhờ vua Trần Thánh Tông cùng với con mình là vua Trần Nhân Tông lãnh đạo thành công hai cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1258 và 1278. Qua hai cuộc chiến tranh vệ quốc ấy, vua Trần Thánh Tông thể hiện là một vị anh hùng dân tộc. Trong giai đoạn nắm quyền từ năm 1258 cho đến 1278, vua Trần Thái Tông đã tiến hành một đường lối ngoại giao mềm dẻo nhưng kiên quyết với mục đích giúp dân tộc có đủ thời gian bồi dưỡng tiềm lực nhằm đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược, mà kẻ thù đang tìm cách áp đặt lên nước ta. Chính nhờ đường lối ngoại giao mềm dẻo ấy, đất nước Đại Việt có hòa bình để chuẩn bị và xây dựng lực lượng làm cơ sở cho những chiến thắng vang dội trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1258 và 1278.

Về mặt tư tưởng thì trong học lý Thiền Tông, vua Trần Thánh Tông có hai đóng góp lớn. Thứ nhất, nhà vua tiếp thu ảnh hưởng xu thế chung của Phật giáo thời đại mình cùng với tư tưởng thiền thuộc trường phái Dược Sơn Duy Nghiễm (751 - 841). Chính dưới thời vua Trần Thánh Tông tại ngôi, mà chùa Phổ Minh lịch sử hiện còn tới ngày nay đã được xây dựng. Trong Đại Việt sử ký toàn thư đã viết : “Năm Nhâm Tuất, Thiệu Long thứ 5 (1262) mùa xuân tháng 2, Thái thượng hoàng đến hành cung Tứ Mặc. Đổi hương Thúc Mặc làm phủ Thiên Trường, cũng gọi là cung Trùng Hoa. Lại dựng chùa Phật ở phía tây cung Trùng Quang gọi là chùa Phổ Minh. Từ đó về sau các vua nhường ngôi đều về ở cung đó”. Thứ hai, vua Trần Thánh Tông đã công khai chấp nhận trường phái thiền Đại Huệ. Trường phái này do Đại Huệ Tông Cảo (1089 - 1163) thành lập. Đại Huệ Tông Cảo là một nhân vật lớn của trường phái Lâm Tế thuộc chi phái Dương Kỳ Phần Hội. Trường phái thiền này ảnh hưởng đến tư tưởng thiền của vua Trần Thánh Tông, vì nó phù hợp với xu thế tư tưởng chung của thời đại nhà vua và đất nước Đại Việt lúc bấy giờ.

Vua Trần Thánh Tông là một ông vua tu ngộ đạo, những tác phẩm của ngài để lại cho chúng ta thấy ngài là người thấu lý đạo tường tận sâu xa. Cuộc sống thiền mà vua Trần Thánh Tông muốn đạt đến hết sức đơn giản và bình dị. Nền Phật giáo của giai đoạn này là nền Phật giáo thế sự, kêu gọi mọi người cùng đóng góp tuỳ theo khả năng của mình để xây dựng một thế giới an lạc cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

2. Trần Nhân Tông và việc khai sinh ra dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử.

Muốn sáng lập ra một giáo hội mới thì phải có giáo chủ mới. Trần Nhân Tông đã sắm vai giáo chủ mới đó. Trần Nhân Tông là con trưởng của Trần Thánh Tông, thân mẫu là Nguyên Khánh Thiên Cảm hoàng thái hậu, là Sơ Tổ phái thiền Trúc Lâm. Ngài tên là Trần Khâm, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258). Vua tuy ở địa vị sang cả mà tâm hâm mộ thiền tông từ thuở nhỏ. Năm 16 tuổi (1274 ) được lập Hoàng thái tử, ngài cố từ chối để nhường lập cho em mà vua cha không chấp nhận. Vua cha cưới trưởng nữ của Nguyên Từ Quốc Mẫu cho ngài, tức là Khâm Từ thái hậu sau này. Mặc dù sống trong cảnh vui hoà hạnh phúc ấy mà tâm ngài vẫn thích đi tu. Một hôm vào lúc giữa đêm, ngài trèo thành trốn đi, định vào núi Yên Tử. Đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời vừa sáng, trong người mệt nhọc quá ngài bèn vào nằm nghỉ trong tháp. Vị sư trụ trì ở đây thấy ngài tướng mạo khác thường, liền làm cơm thiết đãi. Vua cha hay tin, sai các quan đi, tìm thấy, ngài bất đắc dĩ phải trở về.

Năm 21 tuổi (1279 ), Trần Nhân Tông lên ngôi Hoàng đế. Tuy ở địa vị cửu trùng mà ngài vẫn giữ mình thanh tịnh để tu tập. Thường ngày, ngài đến chùa Tư Phước trong đại nội tu tập. Một hôm nghỉ trưa, ngài thấy trong rốn mọc lên một hoa sen vàng lớn bằng bánh xe, trên hoa sen có đức Phật vàng. Có người đứng bên cạnh chỉ ngài nói : “Biết ông Phật này chăng? Là đức Phật Biến Chiếu”.tỉnh giấc, ngài đem việc đó tâu lên vua cha. Vua Thánh Tông khen là việc kỳ đặc. Con nguời ngài rất thông minh hiếu học, đọc hết  các sách vở, suốt thông nội điển (kinh Phật giáo ) và ngoại điển (sách đời ). Những khi nhàn rỗi, ngài mời các vị thiền sư khác bàn giải về thiền tông, tham học thiền với Tuệ Trung Thượng Sĩ, thâm đắc đến chỗ thiền tủy. Vua tôn thờ Tuệ Trung  Thượng Sĩ làm thầy và hết lòng trọng đãi. Ngài nhập tư tưởng thiền, lại có một tâm hồn nghệ sĩ và khí tiết hào hùng trong việc trị nước an dân. Trần Nhân Tông là vị vua anh minh đức độ, lại là anh hùng của dân tộc. Tất cả những đức tính cao cả, trí tuệ, từ bi, bình đẳng, uy dũng đều kết tinh trong con người của ngài. Nhà vua luôn lấy đức trị dân, trong nước trên thuận dưới hòa, lấy ý dân làm nền tảng xây dựng nước nhà, vui trong niềm vui của dân tộc.

Những khi giặc Nguyên sang xâm chiếm, vua phải xếp việc kinh kệ để lo giữ gìn xã tắc. Nhờ tình đoàn kết nhân dân, ngài đã hai lần đuổi được quân Nguyên giữ gìn trọn vẹn đất nước. Sau trận chiến thắng thứ hai, non nước thái bình Thượng hoàng Trần Thánh Tông có hai câu thơ kỷ niệm.

“Xã tắc hai phen bon ngựa đá

Non song thiên cổ vững âu vàng”.

Năm Quý Tỵ (1293 ), vua Trần Nhân Tông nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, lên làm thái Thượng hoàng. Ở ngôi Thái thượng hoàng để chỉ dạy cho con được sáu năm, ngài sắp đặt việc xuất gia. Đến tháng mười năm Kỷ Hợi (1299 ), ngài xuất gia vào tu ở núi Yên Tử. Ở đây, ngài chuyên cần tu tập theo hạnh đầu đà ( khổ hạnh ) lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà (sau này ngài đổi hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà ). Trần Nhân Tông là người truyền thừa chính thức của phái Yên Tử, thuộc hệ thứ sáu, tiếp nối vị Tổ thứ năm là ngài Huệ Tuệ. Ngài là người sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm. Trần Nhân Tông viên tịch tại am Ngọc Vân núi Yên Tử, nhằm ngày mồng một tháng mười năm Hưng Long thứ 16 (1308 ), thọ 51 tuổi.

Trần Nhân Tông, một vị anh hùng, một đức Phật. Đúng như toàn bộ thân thế sự nghiệp nhà vua. Anh hùng đánh dẹp giặc Nguyên hung hãn nhất thế giới. Vị Phật sáng lập ra phái Trúc Lâm. Ngài đã chọn núi Yên Tử cũng nhằm mục đích mô phỏng Siddhartha vào Tuyết Sơn. Trên Yên Tử có Ngự Dội, có hàng tùng cổ kính. Ngài tắm Ngự Dội, lên gốc tùng thiền định như Siddhartha tắm ở dòng sông Ni – liên – thiền lên ngồi gốc cây bồ đề đắc đạo. Yên Tử có rừng trúc, Trần Nhân Tông dựng tịnh xá ở đó như Siddhartha đã lấy Trúc Lâm làm nơi trú đông cho hàng đệ tử. Cũng từ ý mô phỏng đó mà Ngài lấy tên cho giáo phái mới của mình là phái Trúc Lâm. Chính vì thế hoàn cảnh lịch sử đã nói lên thống nhất ý thức hệ mà Trần Nhân Tông đảm nhiệm. Một ông vua là Phật, sáng lập ra giáo phái và tuyên truyền cả nước. Điều đó được tiêu biểu trong con người của ngài qua hai mặt: nhà vua và giáo chủ.

Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, uy tính tinh thần của nó là uy tính tinh thần quốc gia Đại Việt. Nó là xương sống của nền văn hóa Việt Nam độc lập. Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình. Đứng về phương diện tư tưởng, tổ chức, cũng như hành đạo, giáo hội Trúc Lâm có những nét độc đáo khiến cho nó chỉ có thể là một giáo hội Việt Nam, phục vụ người Việt, duy trì và bồi đắp cá tính Việt.

Đọc qua tiểu sử và quá trình hành đạo của Trần Nhân Tông, chúng ta nhận thấy Ngài quả là con người vẹn toàn cả đời lẫn đạo. Một vì vua anh minh, nhân hậu, một vị thiền sư, một nhà lãnh đạo siêu xuất và cũng rất bình dị dễ gần gũi. Sự nghiệp của Trần Nhân Tông về đời lẫn đạo được các nhà sử học từ xưa cho đến nay đánh dấu tốt đẹp. Vì thế mà Ngài được suy tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Phật Tổ. Do yêu cầu thời đại, thiền phái Trúc Lâm đã Đại Việt hóa, dân tộc hóa tư tưởng thiền Tông và sáng tạo một số tư tưởng cụ thể, sắc bén, thích hợp với hoàn cảnh Đại Việt lúc bấy giờ, phần nào đáp ứng được yêu cầu của thời đại xã hội. Đồng thời đào tạo nên những thiền sư tâm hướng về đạo mà lòng vẫn gắn bó với đời, hoà vào cuộc sống trần thế. Họ vừa là những con người tôn giáo, vừa là những con người xã hội.

3. Tinh thần siêu thoát của Tuệ Trung Thượng Sĩ.

Tuệ Trung Thượng Sĩ tên thật là Trần Quốc Tung, là con đầu của Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương, là anh cả của Trần Hưng Đạo và Hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, vợ vua Trần Thánh Tông. Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương là tước hiệu vua Trần Thái Tông ban cho anh ruột là An Sinh Vương Trần Liễu khi ông này mất. Vào năm ấy Tuệ Trung Thượng Sĩ được 21 tuổi và được phong tước Hưng Ninh Vương.

Ngài có chí khí cao siêu, dung thần thanh nhã, lúc nhỏ đã có lòng mộ đạo Phật. Lớn lên, Tuệ Trung được cử trấn đất Hồng Lộ, tức là Hải Dương bây giờ. Ông có công hai lần trong việc ngăn chặn giặc phương Bắc xâm lăng, được thăng chuyển giữ chức Tiết độ sứ trấn giữ hải đạo Thái Bình. Có lần đến thăm Tiêu Dao thiền sư nghe giảng thuyết mà tỉnh ngộ, ngài liền tuyệt ý công danh chuyên tâm học đạo, từ chức lui về phong ấp là Vạn Niên Hương, tại đây ông dựng lên Dưỡng Chân Trang làm nơi tu niệm. Vua Thánh Tông rất kính trọng, phong tước hiệu ngài là Tuệ Trung Thượng Sĩ và ký thác vua Trần Nhân Tông cho ngài. Ngài hết lòng dạy bảo vua Nhân Tông về phần đạo lý. Khi trong nước có giặc, ngài lại lấy võ công mà giúp vua Nhân Tông.

Đối với Thượng Sĩ, thế giới vũ trụ là bản thể trong suốt không dơ, không sạch, không có cái đầu tiên cũng không có cái sau cùng, không phân biệt phàm thánh, mê ngộ, chúng sanh và Phật không kẹt mắc trong hình thức đối đãi. Thượng Sĩ sống giữa lòng thế tục, hoà cùng ánh sáng. Trong việc đối xử, ngài chưa hề phụ lòng ai, nhân đó tiếp nối được cuộc sống chánh pháp, dìu dắt người sơ cơ. Người nào đến hỏi han cũng được ngài chỉ cho chỗ cương yếu, khiến tâm tánh họ ứng dụng được nhẹ nhàng, có chỗ nương tựa. Thượng Sĩ không ràng buộc bởi hình thức, khi thì ẩn tàng, khi thì lộ diện, ngài không chấp vào hình thức và danh tự. Tư tưởng của Tuệ Trung thượng Sĩ rất bình dị và dễ gần gũi, không chấp nê khuôn khổ hay vào một giáo điều nào cả. Nắm biết được quy luật của cuộc sống, hài hoà cùng tự nhiên, tâm hồn đạt đến chỗ thanh thoát. Một giai thoại thật lý thú về buổi tiệc trong hoàng cung mà Khâm Từ hoàng hậu (em gái ngài ) làm bữa cơm thịnh soạn để thiết đãi. Thượng Sĩ gặp gì ăn nấy, gặp thịt ăn thịt. Hoàng hậu lấy làm lạ hỏi : “Anh đã tu mà lại ăn cả thịt cá làm sao thành Phật?” Thượng Sĩ cười đáp : “Phật tự là Phật, anh tự là anh, anh không đòi làm Phật, Phật không đòi làm anh. Chẳng thấy bậc tu xưa nói Văn Thù tự là Văn thù, giải thoát tự là giải thoát đó ư”. Một sự ăn chay không thể thành Phật được. Quả là một câu nói vô cùng độc đáo, chứa đựng đầy ắp tinh thần phóng khoáng, đúng là cái nhìn của bậc Thượng Sĩ có khác. Ngài tuyên bố như thế là nhằm đả phá những đầu óc bảo thủ, cố chấp. Tâm luôn luôn mở rộng cho đến khi không chấp vào cái gì nữa, cả đến Phật cũng không còn nữa. Như Trần Thái Tông đã nói trong Khóa Hư Lục “Đến khi Phật cũng không, Tổ cũng không, thì biết giới nào trì, kinh nào niệm”. Bởi thế cho nên Thượng Sĩ bảo đừng nên chấp vào sự thành Phật để tu, chỉ nên cố giải thoát cho tâm hồn khỏi chấp, như thế tự nhiên thành Phật. Vì hễ tâm hồn vô tư thanh tịnh không còn vướng bận một mảy may ý niệm nào tức thì thành Phật. Để thấy tinh thần siêu phóng lần nữa của Tuệ Trung Thượng Sĩ, chúng ta nhìn qua lối đối đáp cuối cùng của ngài trước khi viên tịch.

Sau khi bệnh sơ sài, ngài không nằm ở phòng riêng mà nằm ở Dưỡng Chân Trang. Tại đây giữa nhà trống, ngài kê một giường gỗ, nằm theo phép kiết tường, mắt nhắm xuôi. Các người hầu hạ và thê thiếp khóc rống lên. Thượng Sĩ mở mắt ngồi dậy, sai người lấy nước rửa tay súc miệng, đoạn quở nhẹ rằng : “Sống chết là lẽ thường, sao buồn thảm luyến tiếc chi mà làm não chân tánh ta”. Dứt lời, ngài êm thấm mà tịch. Bấy giờ nhằm niên hiệu Trùng Hưng thứ bảy (1291 ) đời Trần Nhân Tông, năm Tân Mão, ngày mồng một tháng tư, ngài thọ 62 tuổi. Theo thiền tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ không còn đặt nặng vấn đề về sanh tử, cũng không cần giải quyết. Điểm then chốt là thấy được cái không sanh tử ở nơi mình. Cái không sanh tử thênh thang trùng khắp, mà chúng ta không thấy, không biết, cứ nơm nớp lo sợ cái sanh tử cỏn con tạm bợ . Chúng ta quen nhìn theo con mắt phàm phu coi sanh tử là trọng đại, rồi khổ đau với nó. Nếu dùng trí bát nhã quán sát lý nhân duyên, nhơn duyên hội thì gọi là sanh, nhơn duyên ly tán thì gọi là tử. Sanh tử không có thực thể cố định, chỉ là sự hợp tan của nhơn duyên mà thôi. Bởi không có thực thể cố định nên thân này là tạm bợ hư dối, không có gì bảo đảm lâu dài. Một qui luật không chối cải được “có hợp thì phải có tan” kể cả thân Phật cũng như thế, cho nên thân nào rồi cũng diệt. Vai trò nổi bật của Tuệ Trung Thượng Sĩ là một cư sĩ trong giới Phật giáo đời Trần, không khác gì với Trưởng Lão Duy Ma Cật ở Ấn Độ, ngài Huệ Năng ở Trung Quốc, vua Trần Thái Tông ở Việt Nam đã đạt đến chỗ chứng đắc tột đỉnh, giải thoát hoàn toàn. Trong thơ văn Lý Trần tập hai nói : “Thượng Sĩ là người thần thái nghiêm túc, cử chỉ đĩnh đạt. Khi người đàm luận về lẽ cao siêu huyền diệu thì như gió mát trăng thanh. Đương thời, các bậc đạo cao đức trọng đâu đâu cũng đều tôn trọng, cho Thượng Sĩ là người tinh sâu biết rõ, ngược xuôi thật khó mà lường được”.

Tuệ Trung Thượng Sĩ hẳn là, phải là một bậc xuất thế kiểu như vậy, cho nên mặc dù ăn mặn và có thê thiếp, thế nhưng cả tăng lẫn tục thời bấy giờ, kể cả Trần Nhân Tông đều kính trọng như bậc thầy trong đạo, không phải là bậc thầy bình thường mà là một minh sư xuất sắc lỗi lạc, mà những lời dạy, những câu thiền đã được Trần Nhân Tông cho khắc in lại, để lưu truyền cho hậu thế đời đời không quên. Chính vấn đề này mà Hòa Thượng Mật Thể căn dặn rất chân tình: “Chỗ này rất nên chú ý, đừng nên lầm sự vô ngại của các ngài đã giải thoát với những hành vi phóng túng buông lung mà ngụy biện là giải thoát. Đối với người tu hành bao giờ cũng lấy thanh tịnh trì giới làm gốc”. Nói về diện mục và tính cách của Tuệ Trung Thượng Sĩ, thiết nghĩ bao nhiêu lời trên cũng tạm đầy đủ, thật khó mà diễn tả hết đặc thù của ngài.

4. Thiền sư Pháp Loa và Thiền sư Huyền Quang, hai bậc cao tăng đời Trần.

Thiền sư Pháp Loa, Tổ thứ hai của dòng thiền Trúc Lâm, ngài tên thật là Đồng Kiên Cương, sinh năm Thiệu Bảo thứ 6 (1284 ), quê làng Cửu La, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Cha là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu. Trước khi sanh ngài, thân mẫu thấy có người trao cho thanh thần kiếm, bà thích lắm nhận lấy, từ đó đó bà biết có thai. Vì trước kia bà sanh liền tám người con gái nên chán ngán, phen này bà cố tình phá thai, nhưng uống thuốc đến bốn lần mà thai vẫn không hư. Đến khi sinh ra ngài, bà mừng lắm, đăỉt tên là Kiên Cương. Lớn lên ngài rất thông minh, nói năng hiền từ, không thích ăn thịt cá. Năm Hưng Long thứ 12 (1304), ngài có nhân duyên gặp Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông tại sông Nam Sách. Ngài đến lễ bái xin xuất gia, năm đó ngài được 21 tuổi. Điều Ngự trông thấy bằng lòng nói : Kẻ này có đạo nhãn, sau ắt làm pháp khí, vui vẻ tự đến đây”. Điều Ngự bèn cho hiệu là Thiện Lai, dẫn về liêu Kỳ Lân ở Linh sơn cạo tóc và thọ giới  Sa di, lại dạy đến tham vấn với Hòa thượng Tánh Giác ở Quỳnh Quán. Tại đây, ngài tìm đủ cách thức hỏi mà không được khai ngộ. Ngài đọc kinh Lăng nghiêm đến đoạn A Nan bảy lần hỏi về vị trí của tâm và đoạn nói về khách trần thì bỗng thấy có chỗ sở ngộ. Một hôm ngài về tham yết Điều Ngự, gặp lúc Điều Ngự đang thăng đường cử bài tụng “Thái dương ô kê”, thì trong tâm chợt tỉnh. Điều Ngự biết thế liền bảo đi theo bên mình. Một hôm, ngài trình một bài tụng về “Tam yếu” bị Điều Ngự gạch một gạch dài từ trên xuống dưới. Bốn lần thỉnh cầu, Điều Ngự vẫn không chỉ giáo, bảo phải về tự mình tham khảo. Đêm ấy ngài về phòng nỗ lực thiền quán. Quá nửa đêm, nhận thấy hoa đèn rụng, ngài bèn đại ngộ. Liền đem chỗ sở ngộ ấy trình lên Điều Ngự và được ấn chứng. Từ đó ngài phát nguyện tu theo hạnh đầu đà, bắt chước theo hạnh của Điều Ngự Giác Hoàng.

Năm 1305, niên hiệu Hưng Long thứ 13, ngài được Điều Ngự cho thọ giới Tỳ kheo và giới Bồ Tát, cho hiệu là Pháp Loa. Năm sau ngài được lập làm giảng chủ chùa Báo Ân. Năm 1307, ngài cùng với sáu vị đệ tử khác được Điều Ngự dạy cho “Đại tuệ ngữ lục” trên am Quán Trú. Tháng năm năm đó vào ngày rằm, ngài được Điều ngự trao y bát và tâm kệ. Ngài được đắc pháp chỉ sau ba năm tu học. Mồng một tết năm Mậu Thân (1308), ngài được chính thức làm trụ trì chùa Báo Ân ở Siêu Loại và được giao làm Tổ thứ hai của phái Trúc Lâm.

Năm Khai Hựu thứ 2 (1330 ), Ngài bệnh nặng và thị tịch, thọ 47 tuổi. Hơn 20 năm hành đạo, ngài hoằng dương chánh pháp không kém gì Trúc Lâm, tận tụy vì đạo pháp, đặc biệt nhất là ấn hành Đại tạng kinh. Đại tạng kinh là một công trình vĩ đại thời bấy giờ. Thiền sư Pháp Loa là con người có tổ chức, mở rộng Phật giáo ở mọi lĩnh vực và hoạt động quên mình. Từ khi nhận lãnh trách nhiệm của Điều Ngự giao phó, ngài thuyết pháp độ tăng, cất chùa, xây tháp không biết mỏi mệt. Tuy tuổi thọ của ngài ngắn, song việc làm gấp trăm người tuổi thọ dài. Những gì Điều Ngự giao phó, ngài đều làm được trọn vẹn. Hiện diện 47 năm trên cõi trần gian, ròng rã suốt 26 năm tận tụy quên mình phụng sự đạo pháp. Việc tự lợi và lợi tha của ngài đều hoàn toàn viên mãn.

Thiền sư Huyền Quang, Tổ thứ ba, tiếp nối ngọn đèn chánh pháp của thiền sư Pháp Loa. Ngài tên thật là Lý Tải Đạo, sanh năm Giáp Dần (1254 ) ở làng Vạn Tải thuộc lộ Bắc Giang. Thân phụ là Huệ Tổ dòng dõi quan liêu, nhưng đến đời ngài thì không thích công danh chỉ ưa ngao du sơn thủy. Tuy có công dẹp giặc Chiêm Thành mà ngài không nhận chức quan. Thân mẫu họ Lê là người hiền đức. Nhà ngài ở phía nam chùa Ngọc Hoàng. Năm ngài sanh, một hôm thầy trụ trì chùa Ngọc Hoàng là Thiền sư Huệ Nghĩa tối tụng kinh trên chùa xong, xuống phòng ngồi trên ghế trường kỷ, chợt ngủ quên bổng thấy trên chùa đèn đuốc sáng trưng, chư Phật tụ hội đông vầy, Kim Cang Long Thần chật nức. Phật chỉ Tôn giả A Nan bảo : “Ngươi thác sanh làm pháp khí cõi đông”. Chợt có ông đạo gõ cửa, thiền sư chợt tỉnh giấc làm bài kệ viết trong vách chùa.

“Người mà vì đạo chớ tìm cầu

Phật vốn tâm mình, tâm Phật sâu

Mộng thấy điềm lành, là ảnh hưởng

Người mà vì đạo chớ tìm đâu”.

Thuở nhỏ, ngài dung nhan kỳ lạ, ý chí xa vời, cha mẹ mến yêu dạy các học thuật, ngài học một biết mười, biện tài hiển thánh. Năm Bảo Phù thứ 2 (1274), đời vua Trần Thánh Tông ngài thi đỗ tiến sĩ (trạng nguyên ), lúc ấy được 21 tuổi. Cha mẹ tuy đã định hôn cho ngài nhưng chưa cưới, sau khi thi đậu, nhà vua gả công chúa cho, ngài vẫn từ chối. Ngài được bổ làm quan ở Hàn Lâm Viện và phụng mạng tiếp đón sứ Trung Hoa. Văn chương ngôn ngữ của ngài vượt hơn sứ Trung Hoa, khiến họ phải nể phục. Một hôm ngài theo vua Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm ở huyện Phụng Nhãn, nghe thiền sư Pháp Loa giảng kinh, ngài chợt tỉnh ngộ duyên trước, khen ngợi quí mến, tự than :”Làm quan được lên đảo Bồng, đắc đạo thì đến Phổ Đà, đảo trên nhân gian là bậc tiên, cảnh giới tây thiên là cõi Phật. Sự giàu sang phú quý như lá vàng mùa thu, mây trắng mùa hạ, đâu nên mến luyến”. Ngài mấy phen dâng biểu xin từ chức để xuất gia tu hành. Chính nhà vua rất mến trọng Phật giáo, nên sau cùng mới cho.

Đến năm Hưng Long thứ 13 (130), ngài Xuất gia thọ giới tại chùa Vĩnh Nghiêm, theo làm thị giả Điều Ngự, được pháp hiệu là Huyền Quang. Năm Hưng Long thứ 17 (1309 ) ngài theo hầu Pháp Loa y theo lời phó chúc của Điều Ngự. Năm Đại Khánh thứ 4 (1317),  ngài được Pháp Loa truyền y của Điều Ngự và tâm kệ, vâng lệnh làm trụ trì chùa Vân Yên trên núi Yên Tử. Do ngài đa văn bác học, tinh thâm đạo lý nên học đồ bốn phương dưới ngàn người. Ngài thường phụng chiếu đi giảng kinh dạy các nơi và tuyển chư Phẩm kinh, Công văn v.v… Những khoa giáo trong nhà thiền mỗi mỗi đều phải qua tay ngài. Ngày rằm tháng giêng năm Quý Mão (1315 ) vua Anh Tông mời về kinh ở chùa Báo Ân giảng kinh Lăng Nghiêm. Sau đó, ngài xin về quê thăm viếng cha mẹ, nhân đây lập ngôi chùa phía tây nhà ông để hiệu là chùa Đại Bi. Ngài trở về chùa Vân Yên, lúc đó đã 60 tuổi. Nhà vua muốn thử lòng ngài nên cho Thị Bích là một cung nhân tìm cách gần ngài để lấy bằng chứng đem về dâng vua. Thị Bích dùng man kế gợi lòng từ bi của ngài, rồi về tâu với vua. Vì thế, ngài bị tai tiếng không tốt. Nhưng sau cuộc lễ chẩn tế của ngài, thấy những sự linh nghiệm lạ thường, nhà vua không còn nghi ngờ, vua liền phạt Thị Bích làm kẻ nô bộc quét chùa trong cung Cảnh Linh ở nội điện. Sau ngài trụ trì ở Thanh Mai Sơn sáu năm. Kế sang Côn Sơn giáo hóa đồ chúng, đến ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất (1334), Ngài viên tịch ở Côn Sơn, thọ 80 tuổi.

Thiền sư Huyền Quang là người rất giỏi về thơ văn, ngài chịu trách nhiệm khảo duyệt và nhuận sắc những văn kiện quan trọng trong thời Điều Ngự còn sống. Chính Điều Ngự đã ngự bút phê trong các sách Thích Khoa giáo do Huyền Quang soạn : “Phàm sách đã qua tay Huyền Quang biên soạn hiệu khảo rồi thì không thể thêm bớt một chữ nào cả”. Thế mới biết ngòi bút của Huyền Quang đạt đến chỗ bén nhạy và khéo léo vô cùng. Ngài giỏi Phật học nhưng thơ của ngài bình dị ít nặng về danh từ Phật giáo. Thiền sư đã lồng tư tưởng đạt ngộ mà thanh thoát vào trong thơ một cách hồn nhiên, để giúp mọi người dễ dàng lãnh hội ý chỉ của đạo Phật. Chính những sự kiện này đã góp phần làm hưng thịnh Phật giáo Trúc Lâm nói riêng và Phật giáo đời Trần nói chung. Dù tất cả các pháp hữu vi chung cục điều tan biến theo cát bụi của thời gian, nhưng tấm gương sáng của hai vị thiền sư đã để lại vẫn là một bài học quí giá, sinh động, khiến cho con cháu nghìn sau mãi mãi xem như một thứ gia tài bất diệt.

5. Phật giáo đời Trần nữa sau thế kỷ XIV.

Sau khi đại thắng quân Nguyên, nhà Trần vẫn giữ được sự thịnh trị trong mấy chục năm. Nhưng ở dưới vẻ mặt thịnh trị đó đã phục ngầm những mầm móng suy bại của nhà Trần. Nội bộ họ Trần mất đoàn kết vào khoảng trị vì của vua Trần Minh Tông cho đến vua Trần Thiếu Đế. Nhà Trần chấm dứt sau 175 năm trị vì, trải qua 13 đời vua. Nói về Phật giáo đầu đời Trần, đạo Phật là quốc đạo, chẳng những dân tu, mà vua cũng tu. Nói như một nhà nho đời Trần rằng “phân nữa thiên hạ đi tu”, người xuất gia quá đông, người tu tại gia là đa số dân chúng, chùa chiền đâu cũng có. Lúc bấy giờ Phật giáo bước vào thời kỳ phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam và có ảnh hưởng đến mọi lãnh vực của đời sống, văn hóa, tư tưởng, đồng hóa với hầu hết mọi hình thức tín ngưỡng tập tục sơ khai. Cũng không biết từ bao giờ, những ngôi chùa đã mọc lên như một bộ phận hữu cơ, gắn bó thân thiết với cộng đồng xã hội “đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”. Đất thì đất của vua, nhưng coi s&