TẠI SAO PHẬT GIÁO LÝ – TRẦN
HƯNG THỊNH
Thích Hạnh Đạo
A. DẪN NHẬP
Đạo Phật du nhập vào Việt Nam trên dưới hai ngàn
năm. Giáo lý đạo Phật đã ăn sâu, hội nhập vào
các mặt sinh hoạt trong đời sống nhân dân từ tư
tưởng văn hóa đến chính trị xã hội. Trải qua
nhiều thời đại Đinh, Lê, Lý, Trần Đạo Phật có
lúc được xem là quốc giáo của dân tộc. Tuy nhiên
không phải lúc nào Đạo Phật cũng ở đỉnh cao của
sự hiện hữu và phát triển. Trong thực tế ít nhất
về mặt hình thức Đạo Phật vẫn bị chi phối bởi
định luật vô thường biến dịch của các pháp thế
gian là có và không, thịnh và suy, vinh và nhục,
khen và chê…
Điều chủ yếu cần thiết của vấn đề
mà chúng tôi mong muốn được giới thiệu đến các
tầng lớp thuộc nhiều thế hệ trong công đồng sống
trên đất nước Việt Nam có điều kiện tiếp cận
Phật giáo Việt Nam đó là “sự hưng thịnh của Phật
giáo trong triều đại Lý Trần”. Những ông vua
kiêm Thiền sư, các Thiền sư là quốc sư thời
Lý-Trần bằng những hành động tu tập của chính
mình đã thể hiện cho mọi người thấy rõ tính tích
cực của đạo Phật. Các nhà tu hành chân chánh
chẳng những không bi quan yếm thế hay trốn đời
mà họ rất yêu thương cuộc đời bằng những hành
động dấn thân với tinh thần hướng thượng, các
Thiền sư đưa ý thức sống vượt lên tầm cao thời
đại, xây dựng một nền tảng văn hóa cho dân tộc,
khẳng định tinh thần giải thoát, vị tha và nhập
thế của đạo Phật trước mọi dòng thời gian. Như
vua Trần Thái Tông với bài thơ Cư Trần Lạc Đạo.
“Cư trần lạc đạo hãy tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo vô tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”
Dịch: “Ở đời vui đạo mặc tùy duyên
Hễ đói thì ăn mệt ngũ liền
Kho báu trong nhà tìm đâu nữa
Đối cảnh vô tâm hỏi chi Thiền”
Là một tăng sinh đang theo học tại học viện Phật
giáo Tp.HCM, đồng thời là một tu sĩ Phật giáo
Việt Nam thuộc thế hệ trẻ ngày nay. Chúng tôi
rất hãnh diện khi được ôn lại những trang sử
vàng son của Phật giáo Việt Nam chúng ta trong
hai triều đại Lý-Trần, với những ông vua, các vị
Thiền sư đã làm rạng danh nền giáo lý Phật giáo,
cũng như các tông phái Tôn giáo của mình. Họ đã
đi vào cuộc đời bằng những niềm tin, tín ngưỡng
rất tôn sùng và lòng mộ đạo. Chính họ là những
con người làm nên lịch sử Việt Nam cũng như Phật
giáo trong giai đoạn nay sáng rạng. Chúng tôi
tin tưởng rằng những đóng góp của các vị vua,
cũng như các Thiền sư vào nền văn hóa, văn học,
lịch sử vàgiáo dục sẽ tạo nên một vầng hào quang
giá trị đạo đức và triết lý trong lịch sử Phật
giáo nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung của
thời đại Lý-Trần. Những tên tuổi, những sáng tác
của các vị sẽ mãi mãi được tỏa sáng, làm kim chỉ
nam định hướng chân lý sống cho Tăng Ni và Phật
tử Việt Nam thế hệ thừa kế hiện tại và tương lai
noi dấu và nối bước. Đó là những lý do và mục
đích tôi chọn đề tài này “Tại sao Phật giáo thời
Lý Trần hưng thịnh” để nghiên cứu và trình bày.
- Phạm vi nghiên cứu: Phật giáo Việt Nam thời Lý
Trần thì rất dài, nhưng sự hưng thịnh thì chỉ có
trong vài triều đại các vị vua như Lý Thái Tổ,
Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và
Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông là
cực thịnh, cho nên chúng ta tập trung nghiên cứu
nhiều về những vị vua này, còn các vị vua khác
chúng ta chỉ đi lướt qua. Các thiền sư thì chúng
ta tập trung vào những thiền sư có nhiều đóng
góp vào hai triều đại này trong các công cuộc
như văn học, xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc
và xiển dương Phật Giáo gồm có Thiền sư Vạn
Hạnh, Thiền Lão Thiền sư, Mãn Giác Thiền sư,
Minh Không Thiền sư, Không Lộ Thiền sư, Pháp Loa
Thiền sư, Huyền Quang Thiền sư. Chúng ta nghiên
cứu tài liệu như lịch sử Phật Giáo Việt Nam của
tác giả Lê Mạnh Thát, Thiền sư Việt Nam của HT
Thanh Từ, nước Đại Việt Thời Lý trần của Nguyễn
Khắc Thuần và Đại Việt Sử Kí Toàn Thư Nhà
xbvhtt,Việt Nam Phật Giáo Sử Luận Nguyễn Lang…vv
-Đối tượng nghiên cứu: chúng ta nghiên cứu vềù
cuộc đời của những vị vua và nhưng vị Thiền sư
đã xuất thân, làm việc, chức tước ở trong triều
đình, và sau cùng là những đóng góp của họ cho
Phật giáo hưng thịnh.
-Phương pháp thực hiện: Trước nhất là tôi nói về
bối cảnh lịch sử của từng triều đại, sau đó đi
phân tích từng nguyên nhân để làm sáng tỏ đề
tài. Trong mỗi triều đại chúng tôi đều lấy dẫn
chứng các vị vua và Thiền sư để chứng minh cho
điều mình nêu trên, nhằm làm cho người đọc có cơ
sở, bằng chứng công nhận sư thật. Trong khi viết
tôi có trích dẫn một số lời nói hoặc thơ văn của
các vị. Tóm lại trong phạm vi đối tượng nghiên
cứu và phương pháp nghiên cứu của tôi còn rất
giới hạn. Bởi đây là một luận văn cho nên công
trình nghiên cứu, khám phá nó có tính chất chưa
quy mô, bên cạnh đó thời gian và số trang còn
quy định nên tôi cũng cố gắng, tranh thủ viết để
kịp nộp cho giáo sư nên không sao tránh khỏi
những thiếu sót trong trích dẫn mong quý vị
thông cảm.
Luận văn này tuy rất ngắn ngọn nhưng cũng đóng
góp phần nào kiến thức, sự hiểu biết cho mọi
người về Phật giáo. Họ nhìn thấy thực tại của sự
tu tập và những đóng góp của Phật giáo vào công
cuộc xây dựng đổi mới đất nước, phát triển nền
văn hóa giáo dục, nghệ thuật, kinh tế chính trị,
làm thêm đậm nét truyền thống Phụng Sự Đạo Pháp
Dân Tộc của các Thiền sư thời Lý-Trần và Phật
Giáo Việt Nam. Luận văn còn khẳng định tinh thần
nhân bản của đức Phật vào đạo Phật nơi các vị
vua và Thiền sư thời Lý-Trần hội nhập trong lòng
cuộc sống nhân sinh.
B. NỘI DUNG
Chương 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ ĐỜI LÝ – TRẦN
1.1. Triều Đại Nhà Lý
Năm Kỷ Dậu(1009), ngay sau khi vua Lê Long Đĩnh
mất, đại diện cho quan lại là Đào Cam Môỉc và
đại diện cho các nhà sư là sư Vạn Hạnh đã cùng
nhau hợp lực tôn phò Lý Công Uẩn đương thời là
tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ dưới triều Lê
Long Đĩnh lên làm vua.
Tháng 10 năm ấy, Lý Công Uẩn được đưa lên ngôi
hoàng đế, triều Lý chính thức được khai sinh.
Trong lịch sử việt nam, triều Lý là một triều
đại lớn, để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trên nhiều
lĩnh vực khác nhau, về chính trị đây là hai
triều đại tiêu biểu của chế độ quý tộc trị nước,
về kinh tế, đây cũng là một trong hai triều đại
điền trang, thái ấp, về văn hóa, triều Lý được
các nhà nghiên cứu ghép chung với triều Trần và
lấy tên chung đó đặt cho cả một giai đoạn từ thế
kỉ thứ X, thời Lý có mấy sự kiện nỗi bật như
sau:
1.1.1. Về Chính Trị:
- Năm 1010 triều Lý dời đô từ Hoa Lư ra La Thành
và đổi tên gọi La Thành là Thăng Long kể từ đó.
- Năm 1054, triều Lý đặt quốc hiệu mới cho nước
là Đại Việt
- Năm 1164, nhà Tống đã buộc phải thừa nhận ta
là một quốc gia riêng. Từ đây người Trung Hoa
gọi nước ta là An Nam quốc
1.1.2. Về Quân Sự :
- 1069 đánh Chiêm Thành phá tan âm mưu của nhà
Tống trong việc lợi dụng Chiêm Thành để tấn công
xâm lược nước ta.
- Cuối năm 1075, đầu năm 1076 bất ngờ cho quân
ta tràn sang lãnh thổ Trung Quốc, phá tan tiềm
năng xâm lăng mà nhà Tống đã dày công chuẩn bị
và tập hợp ở châu Ung, châu Khâm và châu Liêm
(cả ba châu này nằm ở hai tỉnh Quảng Đông -
Quảng Tây Trung Quốc).
- Tháng 3 năm 1071 toàn thắng trong trận quyết
chiến chiến lược Như Nguyệt đè bẹp hoàn toàn ý
chí xâm lăng của nhà Tống đối với nước ta.
1.1.3. Về Văn Hóa:
- Năm 1070, cho lập văn miếu (nơi thờ Khổng tử
và các bậc tiền bối nhà Nho) mở đường cho Nho
học phát triển ở nước ta một cách mạnh mẽ hơn.
- Năm 1075 mở khoa thi Nho học đầu tiên, từ đây
thi cử nho học được coi là một trong những cơ sở
để tuyển lựa quan lại.
Tuy nhiên lãnh thổ nước ta từ năm 1069 có được
mở rộng hơn. Năm nay đại Việt đánh Chiêm Thành
và gắn liền với thắng lợi trận này triều Lý đã
chiếm của Chiêm Thành ba châu (Địa Lí, Ma Linh
và Bố Chính) đối chiếu với bản đồ hiện đại ba
Châu này nay tương ứng với toàn bộ tỉnh Quảng
Bình cộng với một phần phía bắc tỉnh Quảng Trị.
Cùng với quy luật phát triển tự nhiên việc mở
rộng lãnh thổ này ắt có thể làm cho danh số tăng
nhiều hơn trước.
Triều Lý trải qua các đời vua sau đây:
- Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn)1010 -1028
- Lý Thái Tông (Lý Phật Mã)1028 -1054
- Lý Thánh Tông (Lý Nhật Tôn)1054 -1072
- Lý Nhân Tông (Lý Càn Đức)1072 -1127
- Lý Thần Tông (Lý Dương Hoán)1128 -1138
- Lý Anh Tông (Lý Thiên Tộ)1138 -1175
- Lý Cao Tông (Lý Long Trát)1175 -1210
- Lý Huệ Tông (Lý Hạo Sâm)1210 -1224
- Lý Chiêu Hoàng (Lý Phật Kim)1224 -1225
1.2. TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN:
Tháng 12 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng
nhường ngôi cho Trần Cảnh. Triều Trần được dựng
lên kể từ đó. Triều Trần (1225 -1400) là một
trong những triều đại lớn của lịch sử Việt Nam.
Nhìn chung thể chế chính trị, kết cấu giai cấp
xã hội, đặc trưng kinh tế và văn hóa của triều
Trần có những điểm tương đồng với triều Lý, khác
nhau cũng chỉ ở mức độ mà thôi. Thời Trần, Đại
Việt là một trong những quốc gia hùng cường, có
uy danh lừng lẫy, ngoại xâm phải kiêng sợ, lân
bang phải kính nể. Thời Trần là thời của hàng
loạt những nhân vật lịch sử sáng chói. Về chính
trị thì có các vị vua rất nổi tiếng như Trần
Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần
Anh Tông, Trần Minh Tông và các vị vương tước
xuất chúng, mà nỗi bật nhất là Trần Nhân Tông.
Về quân sự thì có các vị mưu sĩ và các bậc dũng
tướng như Trần Thủ Độ, Lê Tần, Trần Quang Khải,
Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Bình Trọng,
Trần Quốc Toản, Yết Kiêu, Dã Tượng, Phạm Ngũ
Lão, Nguyễn Địa Lộ… mà anh hùng nhất là Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn. Người đã khai sinh ra nền
khoa học quân sự Việt Nam. Về văn hóa, đây cũng
là triều Đại đã sản sinh cho lịch sử những nhân
vật kì tài như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông,
Tuệ Trung Thương Sĩ, Trần Hưng Đạo.v.v... Trải
qua 200 năm cầm quyền, triều Trần đã để lại cho
lịch sử những dấu ấn sâu sắc trên nhiều lãnh vực
khác nhau. Sau đây là những dấu ấn đáng lưu ý
nhất.
1.2.1. Về Chính Trị:
- Năm 1258 vua Trần Thái Tông nhường ngôi cho
con là Trần Hoàng để lên làm Thái Thượng Hoàng.
Chế độ nhường ngôi để lên làm Thái Thượng Hoàng
được bắt đầu chính thức kể từ đó.
- Việc cho phép quí tộc thiết lập phủ đệ ở phía
thái ấp đã mở đường cho quí tộc họ Trần vươn tới
tột đỉnh của quyền lực chính trị đương thời.
1.2.2. Về Quân Sự:
- Năm 1258, triều Trần đã đẩy lùi cuộc tấn công
xâm lược của quân Mông cổ do tướng Ngột Lương
HợpThai chỉ huy.
- Năm 1285 triều Trần lại đánh tan hơn nửa triệu
quân Nguyên xâm lược.
- Năm 1288 thắng trận Bạch Đằụng, lịch sử quân
dân triều Trần đè bẹp hoàn toàn ý chí xâm lươc
của quân Nguyên.
1.2.3. Về Văn Hóa:
- Năm 1232 triều Trần đặt ra học vị Thái Học
Sinh (từ năm 1442 gọi là tiến sĩ).
- Năm 1247 triều Trần định lệ Tam khôi là danh
hiệu cao quí dành riêng cho ba người đỗ cao nhất
trong kì thi Đình (đó là Trạng Nguyên, Bảng Nhãn
và Thám Hoa).
- Cũng trong triều Trần, từ vị trí của chữ viết
bổ sung cho chữ Hán, chữ Nôm đã được dùng để
sáng tác văn học, tức là đã tiến tới giai đoạn
chữ viết văn học.
- Năm 1306, lãnh thổ nước nhà có được mở rộng,
do việc vua Chiêm Thành lúc đó là Chế Mân đã cắt
đất Châu Ô, Châu Rí (cũng viết là Châu Lí) dâng
cho Đại Việt để làm sính lễ cưới công chúa Huyền
Trân.
- Năm 1230, nhà Trần cho biên soạn bộ Quốc Triều
Thông Chế và coi đó là tiêu chí, là cơ sở khảo
xét để xây dựng quy chế hành chánh cho triều đại
của mình, cũng ngay trong năm1230 bộ quốc triều
đương lễ đã ra đời.
- Năm 1242, Trần Thái Tông tiến hành phân chia
lại khu vực hành chánh địa phương trong cả nước.
Chương 2:
NGUYÊN NHÂN PHẬT GIÁO LÝ - TRẦN HƯNG THỊNH
Trong suốt quá trình phát triển lịch sử Phật
giáo Việt Nam, Phật giáo đời Lý-Trần đã thể hiện
sức sống tự lực, tự cường với tinh thần độc lập
của dân tộc, nó đi đúng đường lối tu hành đạo
Phật, dung hợp với bản sắc văn hóa dân tộc để
tạo thành một nét đặc thù cho nền Thiền học và
văn học Việt Nam thời Lý Trần. Con đường này phù
hợp với quy luật phát triển tâm thức để phát
sinh tuệ giác, đưa con người đến chỗ Giác ngộ
giải thoát ngay trong hiện tại. Tôn giáo là một
lĩnh vực tinh thần, nó góp phần xây dựng nền đạo
đức cho xã hội, đem lại sự bình an hạnh phúc cho
con người. Phật giáo là một tôn giáo dạy tu trên
nhân quả. Con đường tu theo đạo Phật là con
đường chuyển hóa nội tâm theo quy luật vận hành
của vũ trụ và nhân sinh. Nói theo đại đức Narada
thì “Đạo Phật la con đường giải thoát”, vì thế
người Phật tử đến với đạo Phật không chỉ với
niềm tin mà đến để thấy, để sống, để khai mở tâm
năng, từ đó nhận ra đươc sựỉ thật của cuộc sống,
những nguyên lý, những quy luật đang tác động
chi phối cuộc sống, đó là luật nhân quả, luật vô
thường và lý duyên sinh.
Đối với đạo Phật muốn thay đổi cuộc sống từ khổ
đau bất hạnh đến an vui, hạnh phúc thì không gì
hơn phải chuyển hóa nội tâm của mình theo luật
nhân quả, lý duyên sinh của vũ trụ để có đủ
những duyên lành thay đổi cuộc sống ngày càng
hướng thượng, ngày càng an lạc hạnh phúc ở hiện
đời và đời sau. Mục đích cứu cánh của Phật giáo
là dạy cho chúng sanh con đường khai mở tâm
thức, phát triển trí tuệ trực giác, hướng đến
giác ngộ giải thoát. Đạo Phật còn góp phần giáo
dục con người. Như chúng ta biết, nền giáo dục
của nhân loại chỉ nhằm phát triển thể chất và
phát triễn trí não (như qua sự giáo dục của gia
đình, nhà trường và xã hội, qua sách vở báo chí,
truyền thông…). Nền giáo dục này còn bỏ sót phần
tâm thức. Kiến thức thế gian giúp cho chúng ta
có tri thức về cuộc sống hiện đời, đem đến danh
vị nghề nghiệp, có nếp sống văn minh, đưa đến sự
thành đạt về công danh sự nghiệp tạm thời… nhưng
không dạy cho chúng ta nguyên nhân nào để thành
đạt hay thất bại, nguyên nhân nào đem đến an vui
hạnh phúc, hay bất hạnh… Như chúng ta đã thấy
biết có rất nhiều người tài giỏi hơn chúng ta
nhưng họ có thật sự hạnh phúc không? hay cuộc
sống gia đình họ thiếu hạnh phúc, biết bao nhiêu
người sanh ra trong gia đình giàu có nhưng lại
tật nguyền, bất hạnh. Người đời thường cho đó là
số mạng, hay do sự kém may mắn, hoặc do Thượng
đế an bài… Điều này không đúng với giáo lý nhà
Phật, đức Phật dạy: “Tất cả các pháp đều do
duyên sinh mà cũng do duyên diệt”.
Nền giáo dục của Phật giáo nhằm phát triển tâm
thức, đưa đến cho con người một trí tuệ minh
triết, siêu phàm, an tịnh giải thoát.
Đạo Phật vì lấy nhân quả để tu nên khi hành giả
cãi rửa thân tâm, sống hướng thiện là góp phần
xây dựng, cải tạo gia đình, xã hội, đem lại an
vui hạnh phúc cho mọi người. Vì cá nhân có an
vui thì gia đình, xã hội mới bình an. Phật giáo
Lý-Trần đã góp phần xây dựng con người, xã hội
như thế nào đã được chứng minh cụ thể qua hành
động của các vị vua trong triều đại đó. Phật
giáo Việt Nam, đặc biệt là Phật giáo thời
Lý-Trần đã đi đúng con đường này nên đã cống
hiến cho dân tộc những danh tăng với trí tuệ
minh triết, giúp vua, giúp nước thoát cảnh nông
nô mà lịch sử còn ghi lại và thế hệ mai sau còn
nhắc đến, như Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Nhân
Tông, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Thiền sư
Pháp Thuận, đại sư Khuông Việt, Thiền sư Vạn
Hạnh, Thiền sư Mãn Giác, Tuệ Trung Thương Sĩ
Thiền sư Pháp Loa, Thiền sư Huyền Quang. Hai
triều đại Lý-Trần tồn tại gần 400 năm, có thể
nói đây là triều đại cực thịnh của Phật giáo
Việt Nam. Đất nước hoàn toàn thoát khỏi ách
thống trị Bắc thuộc, tiến bước trên con đường
xây dựng và phát triển xã hội. Có thể nói thời
nhà Trần là triều đại mà Phật giáo phát triển
cực thịnh về mọi mặt kinh tế, văn hóa, giáo dục,
nghệ thuật, quân sự. Quân sự hùng mạnh góp phần
thắng lợi ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên
Mông. Bộ máy nhà nước đã có quy chế, nề nếp, đời
sống người dân ổn định, và sau đây chung ta sẽ
đi từng nguyên nhân một.
2.1. NHỮNG ÔNG VUA KIÊM THIỀN SƯ
Khái niệm xuất thế của đạo Phật không còn là đi
ở ẩn trên núi, hay ở trong rừng mà có nghĩa là
không bị ràng buộc hay bị chi phối bởi những giá
trị thế tục tầm thường (danh lợi, quyền lực,
tiền tài). Do không bị chi phối nên họ đã dồn
hết tâm trí vào việc phục vụ mọi người “Phụng sự
chúng sanh là cúng dường chư Phật”. Họ dễ dàng
cởi bỏ những vướng mắc, câu chấp, sống trọn vẹn
với chân lý. Chân lý tôn giáo là cái được sống,
được thể hiện chứ không phải học hỏi, tìm tòi
qua sách vở hay tư duy khái niệm.
Dưới hai triều đại Lý-Trần đã có nhũng con người
như thế. Đó là những nhà vua thực nghiệm những
chân lý Phật giáo ngay trong cuộc sống bằng sự
nghiệp của mình, với họ chân lý không ở đâu xa
lạ mà ở ngay trước mặt, ngay trong bản thân.
Phật giáo Việt Nam vốn gắn bó giữa Đạo và Đời,
tham gia tích cực vào sự nghiệp chung của dân
tộc, người tu hành và người công dân yêu nước
dường như không tách rời mà hòa lẫn vào nhau.
Thiền được đưa vào cuộc sống phục vụ đất nước và
nhân dân như những vị vua, Thiền sư hay những cư
sĩ Thiền sư khi đất nước cần thì tham chính đánh
giặc, vừa làm việc đời, vừa làm việc đạo, tu
dưỡng nhân cách con người, an nhiên tự tại, vô
cấu vô ngại vui sống tự tin vào bản thân. Chính
cái tâm hồn nhiên, cỡi mở, bình đẳng, vị tha của
họ theo đúng tôn chỉ của Phật giáo đã xóa đi
những khác biệt và đạt đến chổ gặp gỡ với cá
tính con người Việt Nam lạc quan, cởi mở, hào
hiệp, nhân ái, làm cho Phật giáo Việt Nam mang
màu sắc chung là dung dị và đại chúng. Một triết
lý sống mở ra và khép lại những tín điều, giáo
điều cứng nhắc. Nhờ vậy ngay giữa lòng xã hội
phong kiến đạo Phật Lý Trần đã tạo ra những mẫu
người tuyệt vời mà muôn đời sau thế nhân vẫn còn
ngưỡng mộ.
Dưới đời Lý - Trần có những ông vua kiêm Thiền
sư, có người xuất gia nhưng có người không xuất
gia. Thí dụ: đời Lý có vua Lý Thái Tông là một
vị Tổ thuộc thế hệ thứ 7 phái Thiền Vô Ngôn
Thông là phái Thiền thứ hai ở Việt Nam.Vua Lý
Thánh Tông là Tổ thứ hai Thiền phái Thảo Đường
là phái Thiền thứ ba ở Việt Nam. Đặc biệt dưới
đời Trần, có Trần Thái Tông khai sáng ra triều
đại nhà Trần, cũng là ông vua đã lãnh đạo cuộc
kháng chiến lần thứ nhất thành công chống Nguyên
Mông, nhưng cũng là ông vua đãtừng rời bỏ Kinh
Thành lên núi Yên Tử cầu đạo, được quốc sư Viên
Chứng lúc bấy giờ đang trụ trì chùa Vân Yên trên
núi Yên Tử khuyên giải ông đã trỡ lại làm vua
với lời tuyên bố khẳng khái “Ta xem ngai vàng
như chiếc dày rách, bỏ đi lúc nào cũng được”.
Trần Thái Tông cũng như Trần Nhân Tông là những
ông vua siêu việt lên trên thế tục không vướng
mắc thế tục chứ không phải là trốn tránh thế
tục. Đầu đề bài phú nôm “Cư trần lạc đạo” của
vua Trần Nhân Tông rất có ý nghĩa. Cư trần là
sống giữa trần tục, lạc đạo là vui với đạo, vui
niềm vui của đạo. Trong bài phú ông viết:
“Trần tục mà nên phúc ấy càng yêu hết tấc
Sơn lâm chằng cốc họa kia thật đã đồ công”
Ý hai câu trên là sống giữa trần tục mà tu thành
công được giác ngộ…thì phúc đức đáng quí hết sức
còn ẩn tu ở giữa núi rừng mà tu không thành
công, không được giác ngộ thì đó là cái họa uổng
công vô ích. Nói chung phương châm của đạo Phật
là không lánh đời mà hiểu đời, nhờ đó mà không
có bị danh lợi và chuyện thị phi ở đời lôi kéo
chi phối. Trong bài thơ chữ hán “Sơn phòng mạn
hứng”. Vua Trần Nhân Tông viết hai câu:
“Thị phi niêm trục triêu hoa lạc
Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn”
Nghĩa là ý nghĩa chạy theo chuyện thị phi như là
theo hoa rụng ban mai, tâm chạy theo danh lợi
như là hoa đốm hư không. Các vua đầu đời Trần
như Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông tuy làm vua,
ngồi trên ngai vàng, nhưng vì là kiêm Thiền sư,
có giác ngộ, có tu chứng cho nên có thể nói là
các ngài sống ung dung tự tại giữa đời mà không
bị hệ lụy với đời. Chính triết lý đạo Phật đã
giúp cho các ông vua đầu đời Lý, đời Trần có
được một thái độ siêu thoát, phóng khoáng, ung
dung tự tại như vậy
- Về chùa chiền thì ngoài những ngôi chùa do vua
quan lập nên, còn có nhiều ngôi chùa do dân
chúng xây cất. Năm 1088 vua Lý Nhân Tông theo sự
đề nghị của văn quan và đề lại, phân các chùa ra
làm ba loại:
1. Đại danh lam, chùa lớn.
2. Trung danh lam, chùa vừa.
3. Tiểu danh lam, chùa nhỏ
- Về kinh điển, năm 1011 vua Lý Thái Tổ đã cho
dựng nhà tàng kinh Trấn Phấn để tàng chứa kinh
điển. Năm 1017 vua Lý Thái Tổ sai hai người
Nguyễn Đạo Thành và Phạm Hạt sang Tống để thỉnh
tam tạng kinh.
Tam tạng kinh ở đây chắc chắn là ấn bản 983. Ấn
bản tam tạng kinh đầu tiên ở Trung Hoa do vua
Tống Thái Tổ ban chiếu khắc từ năm 972. Tạng
kinh này khắc trong vòng 11 năm gồm cả thảy 13
ngàn bản gỗ có tất cả 1076 kinh 480 tập và 5048
quyển. Đến 1020 Nguyễn Đạo Thành và Phạm Hạt mới
chở kinh về đến Quảng Châu. Vua nhờ Thiền sư Phí
Trí đi đón. Năm 1021, vua cho dựng tàng kinh Bát
Giác để chứa đại tạng vừa thỉnh được. Năm 1023
vua lại sai người chép ra một bản đại tạng nữa,
và dựng thêm tàng kinh Đại Hưng để cất giữ. Năm
1027, vua lại sai chép thêm một bộ đại tạng
khác.
Năm 1034, vua lại dựng thêm tàng kinh Trùng Hưng
và sai hai ông Hà Thụ và Đỗ Khoan đi sứ Tống.
Lần này vua lại tặng cho một đại tạng kinh nữa.
Đây cũng là ấn bản năm 983. Năm 1036, một bản
đại tạng nữa được chép để chứa vào kho sách
Trùng Hưng. Như vậy tại kinh sư hồi ấy đã có đến
năm bản đại tạng kinh cho các tăng sĩ và các nhà
học Phật nghiên cứu.
Năm 1081, vua lại sai Lương Dụng Luật sang Tống
xin đại tạng kinh. Và năm 1098, khi Nguyễn Văn
Tín đi sứ sang Tống vua cũng xin thêm một bản
đại tạng khác. Ta thấy nhu cầu sử dụng đại tạng
thời bấy giờ là rất lớn.
Bản ấn đại tạng thứ hai tại Trung Hoa bắt đầu
năm 1080 nhưng mãi đến năm 1176 mới hoàn thành.
Ấn bản này có 6434 quyển gọi là Sùng Ninh Vạn
Thọ Đại Tạng. Vậy tất cả các bản đại tạng mà nhà
Lý thỉnh từ nhà Tống quốc thời đó đều là ấn bản
năm 983.
Những bản kinh thông dụng nhất như kinh Kim
Cương, Dược Sư, Pháp Hoa, Viên Giác v.v… có lẽ
đã được bắt đầu khắc bản và in tại Việt Nam sau
đó. Ta không biết nghề in ở Việt Nam bắt đầu vào
thời nào nhưng sách “Thiền uyển tập anh” nói
rằng: Tổ phụ của Thiền sư Tín Học (mất 1190) đã
làm nghề khắc bản in lâu đời. Chính vì nhu cầu
ấn loát các kinh cần thiết mà nghề in xuất hiện
tại nước ta. Những bản in này hiển nhiên là còn
thô lậu, không đẹp bằng những bản in đời Trần
sau này, khi mà kỷ thuật bản gỗ của ta đã được
cải thiện nhờ những người đã học nghề in tại
Trung Quốc.
- Lý Thái Tổ: tên là Lý Công Uẩn con nuôi của
nhà sư Lý Khánh Vân chùa Cổ Pháp. Lúc nhỏ thọ
giáo thiền sư Vạn Hạnh, lớn lên theo sư Vạn Hạnh
vào Hoa Lư làm quan dưới Triều Lê được quan đại
thần Đào Cam Mộc cùng Tăng thống Vạn Hạnh suy
tôn Hoàng đế lấy hiệu là Lý Thái Tổ năm Thuận
Thiên thứ 15 (1024) nhà vua cho tổ chức giảng
dạy Phật pháp ngay trong nội thành để viẹâc tiện
cho dân chúng lui tới nghe pháp. Nhà vua đã
thỉnh Thiền sư Vạn Hạnh làm Quốc sư và suy tôn
Phật giáo là quốc giáo. Trong giai đoạn này vua
Lý Thái Tổ cùng Thiền sư Vạn Hạnh đã thảo chiếu
dời đô Hoa Lư ra La Thành và đổi tên thành Thăng
Long. Đây có thể nói là một dấu móc lịch sử,
đánh dấu một sư thay đổi hoàn toàn về mọi phương
diện trong triều đình nhà Lý, và là bước đột phá
cho thế hệ mai sau, nó còn có thể ảnh hưởng đến
hôm nay.
- Lý Thái Tông: Húy là Lý Phật Mã lên ngôi xưng
là Lý Thái Tông niên hiệu Thiên Thành. Nhà vua
thường đến hởi đạo nơi NgàiThiền Lão Thiền sư và
được nhà sư nhận làm đệ tử. Nhà vua chính là vị
Tổ thứ 7 trong phái Vô Ngôn Thông là vị vua sùng
bái đạo Phật nhất. Nhà vua còn để lại các tác
phẩm văn học gồm: 2 bài chiếu, 2 bài thơ và 1
bài luận nghị.
Sau đây là bài thơ “Thị chư thiền lão tham vấn
thiền chỉ”:
Bát nhã chân vô tông
Nhân không, ngã diệc không
Quá, hiện, vị lai Phật
Pháp tính bản tương đồng
Dịch
Bát nhã thực vô tướng
Người không, ta cũng không
Phật trước nay sau nữa
Pháp tánh vốn tương đồng
Đây là bài thơ khi nhà vua cùng các vị Thiền sư
đàm đạo về Thiền, và nhà vua bắt mỗi người làm
một bài thơ. Bài thơ này là bài thơ nhà vua làm
sớm nhất. Chúng ta đọc qua bài thơ chắc không ai
nghĩ đây là một vị vua sáng tác, có thể nói sự
liễu ngộ Thiền quán của nhà vua thật là sâu sắc,
Ngài đã thấu triệt được cái chơn như thật tướng
của vạn pháp vốn là không, là giả có, giả hợp mà
chỉ có bản tánh của chúng là thật, là như như
bất động. Cho nên có thể nói vua Lý Thái Tông là
một vị Thiền sư xưng đáng.
- Lý Thánh Tông: sinh ngày 25 tháng 2 năm Thuận
Thiên thứ 14 (1023), có thể nói đây là vị vua
hiền từ và thương yêu dân nhất “Ta yêu con ta
cũng như các bậc cha mẹ trong thiên hạ yêu con
cái họ. Trăm họ không hay biết nên phạm vào luật
pháp, ta rất thương xót. Từ nay các tội bất kỳ
nặng hay nhẹ cần răn dạy kỷ lưỡng và nhất nhất
đều phải khoan giảm. Và nhà vua đã tha bổng cho
người con trai nọ”.
Lần khác gặp trời rất lạnh, nghĩ đến dân vua
chạnh lòng với tả hữu “Ta ở trong thâm cung,
sưởi lò than, mặc áo hồ cừu mà khí lạnh như thế
này huống gì những kẻ bị giam trong ngục thất,
xiềng xích khổ đau, ngay gian chưa định, bụng
không cơm no, thân không áo ấm, một khi gặp cơn
gió lạnh há chẳng chết rét ư? Ta rất đỗi thương
xót”. Vua Lý Thánh Tông thương dân đến thế nên
trăm họ đều yêu mến, nước ít giặc giã. Ngoài
việc thực hiện nền chính trị nhân đạo thân dân,
vua Lý Thánh Tông còn là người để tâm đến đạo
Phật. Vua cho xây cất nhiều chùa chiền và là
người sáng lập ra môn Thiền phái Thảo Đường.
- Lý Nhân Tông: sinh ngày 25 tháng 1 năm Bính
Ngọ, niên hiệu Long Chương Thiên Tự thứ nhất tức
là ngày 23/2/1066 húy là Càn Đức lên ngôi vừa
mới 7 tuổi hiệu là Nhân Tông, làm vua được 56
năm hưởng thọ 62 tuổi, có thể nói vua Lý Nhân
Tông là vị vua ở ngôi lâu nhất, và vị vua thọ
nhất, vua cho lập quốc tử giám, mở khoa thi tam
trường, lập Viện Hàn Lâm, năm 1088 phong Thiền
sư Khô Đầu làm quốc sư cố vấn việc triều chính.
Các tác phẩm của vua để lại hiện có 3 bài thơ, 4
bài chiếu và một số thư từ khác.
Như bài “Truy tán Thiền sư Vạn Hạnh”
Vạn Hạnh dung tam thế
Chân phù cổ sấm thi
Hương quan dân cổ pháp
Tru tích trấn vương kì
Dịch
Vạn Hạnh thông ba thời
Lời ngài như bài sấm
Quê hương làng cổ pháp
Dựng gây vững ngôi vua.
Ngoài ra nhà vua còn để lại các bài như “tán
Giác Hải thiền sư” bài “Truy tán Sùng Phạm Thiền
sư”. Chúng ta thừa nhận rằng vua Lý Nhân Tông là
một ông vua anh quân, đã có công lao lãnh đạo và
xây dựng một quôc gia Đại Việt hưng thịnh, phú
cường dưới thời ông trị vì, như trong bài bia
“Sùng Thiện Diên Linh” của thượng thư bộ hình
Nguyễn Công Bật có ghi: “Kính nghĩ đức Hoàng đế
bệ hạ, bậc thánh hiền thể đạo, thánh văn thần
võ, anh cách dân vật, vạn linh chiếu ứng, vĩnh
long nguyên hóa, thông minh quảng vận, nhân trí
ý nghĩa, thần thánh minh hiếu của triều Lý, là
do đất trời chung đúc, nhật nguyệt kết tinh”.
Chúng ta thấy oai hùng của nhà vua rất là cao
thượng. Ngài lên ngôi trị vì đó là ý nguyện của
toàn dân, sư đẹp đẽ toàn diện của Ngài chính là
sự uy nghi của cả dân tộc.
- Lý Thần Tông đã phong Minh Không Thiền sư làm
quốc sư. Thời bấy giờ có Ni sư Diệu Nhân con
nuôi Lý Thánh Tông là Lý Phụng Nghi cùng với các
Thiền sư Thông Biện là bậc anh tài Lỗi lạc.
- Lý Anh Tông tên là Thiên Tộ lên ngôi hiệu là
Anh Tông, là đệ tử ngài Không Lộ Thiền sư thuộc
phái Thảo Đường.
- Lý Cao Tông tên là Long Cán hiệu là Cao Tông
vua mới có ba tuổi, Tô Hiến Thành làm phụ chánh.
Cao Tông thọ giáo Thiền sư Trương Tam Tạng phái
Thảo Đường. Thời này có các danh tăng như Thường
Chiếu, Quảng Nghiêm Thiền sư .
- Lý Huệ Tông: nhà Lý bắt Đầu suy sụp năm 1224
Huệ Tông chán ngôi Hoàng Đế truyền ngôi cho con
gái là Lý Chiêu Hoàng rồi xuất gia hiệu là Huệ
Quang đại sư.
- Trần Thái Tông tên là Trần Cảnh, năm 1237 vua
biết rõ âm mưu của Trần Thủ Độ nên đã lên chùa
Phù Vân núi Yên Tử xin quốc sư Phù Vân ở đó tu
hành. Phù Vân quốc sư đã khuyên Thái Tông rằng:
“Trong núi chẳng có Phật, Phật ở tại tâm, nếu
nhà vua hiểu được thì ở đâu cũng có Phật cả”
Thái Tông về kinh. Vì thấu hiểu giáo lý Phật nên
nhà vua đã sáng tác ra các tác phẩm :
1. Thiền tông chỉ nam
2. Kim cương tam muội kinh chú giải
3. Lục thì sám hối khoa nghi
4. Bình đẵng lễ sám văn
5. Khóa hư lục
6. Thi tập
Và chúng ta chắc ai cũng không quên hai câu thơ
mà vị tăng Đức Thành người nước Tống đến hỏi đạo
Ngài đáp:
“Thiên giang hữu thủy, thiên giang nguyệt
Vạn lý vô vân, vạn lý thiên”
Dịch:
Ngàn sông có nước, ngàn sông nguyệt.
Muôn dăm không mây, muôn dặm trời
Hay trong bài tựa của tác phẩm “Thiền tông chỉ
nam” có đoạn viết: “… Trẫm thường đọc kinh Kim
Cang đến câu: Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Vừa
gấp sách lại vừa ngân nga, bỗng nhiên tĩnh ngộ,
liền đem những điều giác ngộ làm thành thơ ca.
Đặt tên là “Thiền tông chỉ nam.” hoặc quyển
thượng Khóa hư lục trong phần tứ sơn (núi thứ tư
) có viết:
“Một trận cuồng phong dậy đất bằng
Ngư ông say khướt thả thuyền ngang
Bốn phương mây kéo màu đen kịt
Một dãy sông reo sống dậy tràn
Sầm sập tóe tung mưa xối xã
Ỳ ầm chuyển vận sấm oang vang
Phút dây bụi cuốn chân trời tạnh
Cảnh vắng, dòng sông bóng nguyệt tàn”
(Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang
trang 236), trong Phổ khuyết phát bố đề tâm Vua
Trần Thái Tông viết: “Công danh cái thế, chẳng
qua một giấc mộng dài, phú quý kinh người, khó
tránh vô thường hai chữ”. Tranh nhân chấp ngã,
rốt cuộc là không, khoe giỏi khoe hay, rốt cùng
chẳng thực. Tứ đại rã rời thôi già trẻ, núi khe
mòn mỏi hết anh hùng. Tóc xanh chưa mấy mà màu
bạc đã pha, kẻ mừng mới đi thì người điếu đã
tới. Một bao máu mũ ba năm khổ luyến ân tình,
bảy thước xương khô mặc sức san tham tiền của.
Thở ra không hẹn thở vào, ngày nay không tin
ngày kế. Trôi nổi sông yêu giờ nào nghỉ, nấu
nung nhà cháy biết bao thôi?”.
Qua đó khi ta nhìn vào cuộc đời của vua Trần
Thái Tông ta thấy vua không bi quan yếm thế,
trái lại vua rất tích cực trong việc dựng nước
trị dân và nắm lấy chủ quyền hành động trong tay
khi đã đến tuổi trưỡng thành, những tác phẩm của
vua cũng cho thấy một niềm thao thức muốn thực
hiện một cái gì đó có giá trị vĩnh cửu: đó là sự
ngộ đạo.
- Trần Nhân Tông tên tục là Trần khâm, con của
vua Trần Thánh Tông, sinh năm 1258 lên ngôi vua
20 tuổi xuất gia năm 41 tuổi và tịch năm 1308
vào lúc 51 tuổi. Việt Nam Phật giáo sử luận của
Nguyễn Lang tr.279 ghi: “Vua Nhân Tông xuất gia
tại chùa Hoa Yên núi Yên Tử lấy hiệu là Hương
Vân Đầu Đà (sau này đổi là Trúc Vân Đầu Đà). Vua
được nhận là người truyền thừa chính thức của
phái Yên Tử thế hệ thứ sáu và là Tổ thứ nhất
phái Trúc Lâm”. Cuộc đời của vua là một cuộc đời
hy sinh vì đạo pháp. Ngoài những mùa kiết hạ tại
các am Từ Liêu, Ngọa Vân, Thạch Thất, Tri Kiến
hay tại các chùa Vĩnh Nghiêm và Siêu Loại, Vua
thường đi vân du hoằng đạo đó đây. Sách Tam Tổ
thực lục nói “năm 1304 vua đi khắp mọi nẻo thôn
quê, khuyên dân phá bỏ các dâm từ và thực hành
giáo lý thập thiện”. Vua còn để lại những tác
phẩm hiện ở trong sách Tam Tổ Thực Lục và Hiện
Đăng Lục:
1. Thiền lâm thiết chủy ngữ lục
2. Trúc lâm hậu lục
3. Thạch thất mỵ ngư
4. Đại hương hải ấn thi tập
5. Tăng già toái sự
Chúng ta chắc ai cũng biết bài thơ nổi tiếng của
vua. Đó là bài thơ Cuối Xuân được viết khi nhà
vua đã xuất gia, ngồi trên bồ đoàn nhìn mùa xuân
qua với tâm trạng bình thản và thanh thoát.
“Niên thiếu hà tằng liễu sắc, không
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung
Như kim khám phá Đông Hoàng diện
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng”
Dịch :
Niên thiếu chưa từng hiểu sắc, không
Xuân sang hoa sắc vướng tơ lòng
Diện mục xuân nay từng khám phá
Thiền tọa an nhiên ngắm rụng hồng
Nhà vua là một nhà lãnh đạo giáo hội hơn là một
tư tưởng gia. Nhà vua đã thấu hiểu Phật Pháp rất
nhiều.
Các ông vua thời Lý và Trần còn để lại nhiều
công trình văn hóa di tích nhưng những di tích
còn lại rất ít.
“Năm 1010 lúc vừa mới lên ngôi, Lý Thái Tổ đã
xây tám ngôi chùa ở quê vua là phủ Thiên Đức,
tỉnh Bắc Ninh. Tại Thăng Long vua cho dựng chùa
Hưng Thiên Ngự, và gần Điện Thái Hòa chùa Vạn
Tuế. Tiếp đó vua cho lập các chùaThiên Quang,
Thiên Đức, Thiên Vương, Thắng Nghiêm, Cẩm Y,
Long Hưng, Thắng Thọ. Khắp trong nước chừng 300
ngôi chùa được tạo dựng và những chùa hư nát thì
sửa chữa lại. Năm 1024 vua lại lập thêm chùa
Chân Giáo. Năm 1036, vua Lý Thái Tông làm lễ
khánh thành tượng Phật Đại Nguyện vừa đúc xong.
Năm 1040, vua lại khánh thành 1000 pho tượng
Phật bằng ngỗ, một ngìn bức tranh Phật, và một
vạn cờ phướng. năm 1041 đúc tượng Phật Di Lặc
bằng đồng nặng 7560 cân đặt tại viện Thiên Phúc.
Năm 1049, vua dựng chùa Diên Hựu (tức chùa Một
Cột ngày nay). Năm 1055, vua Lý Thánh Tông xây
chùa Đông Lâm và chùa Tĩnh Lự ở núi Đông Cứu
(Bắc Ninh). Năm 1056 vua khởi công xây dưng chùa
Sùng Khánh Báo Thiên, phát 12.000 cân đồng để
đúc chuông và tự tay thảo bài minh khắc trên
chuông. Năm 1057, trước chùa này, một ngọn tháp
tên là Đại Thắng Tư Thiên được xây lên 12 tầng
cao 20 trượng. Cũng năm này xây hai chùa Thiên
Phúc và Thiên Thọ cùng đúc hai tượng Phạm Vương
và Đế Thích bằng vàng thờ ở hai chùa này. Năm
1057, vua sai lang tướng là Quách Mãn tạc tượng
A Di Đà bằng đá ơ ũTiên Du. Năm 1058 vua xây
Điện Linh Quang, Kiến Lễ và Sùng Nghi. Phía
trước điện dựng chuông một cột sáu cánh hình hoa
sen, cũng năm này tháp núi Đồ Sơn cao 42 mét,
dựng chùa Nhị Thiên Vương, 1071 vua viết chữ
Phật cao một trượng sáu thước khắc vào bia đá để
tại chùa núi Tiên Du.
Năm 1086, vua Lý Nhân Tông dựng chùa Lam Sơn và
xây tháp đá tại huyện Quế Dương. Năm 1091, vua
dựng ba tháp đá tại chùa Lam Sơn, Năm 1108, dựng
đài Động Linh. Năm 1114, dựng lầu Thiên Phật.
Năm 1117, khánh thành tháp Vạn Phong Thành Thiện
ở núi Chương Sơn. Năm1118, khánh thành tháp Thất
Bảo. Năm 1121 dựng chùa Quảng Giáo ở núi Tiên Du
và khánh thành điện Trùng Minh ở chùa Báo Thiên.
Năm1122 khánh thành tháp Sùng Thiện Diên Linh ở
núi Đội Sơn, Năm 1124 dựng chùa Hộ Thánh và xây
đài Uất La. Năm 1127, khánh thành chùa Trùng
Hưng Diên Thọ. Năm 1129 vua Lý Thần Tông khánh
thành 84.000 bảo tháp bằng đất. Năm 1130 khánh
thành chùa Quảng Nghiêm Tư Thánh. Năm 1133, dựng
các chùa Thiên Minh và Thiên Thành. Năm 1134,
khánh thành ba tượng tam tôn bằng vàng” (Việt
Nam Phật Giáo Sử luận Nguyễn Lang nhà xuất bản
Hà Nội trang 196). Nói chung trong buổi đầu lập
quốc đời Lý, các vua nhà Lý rất cần đến các
Thiền sư, không những họ cần đến các vị này để
liên kết nhân tâm, họ còn cần đến sức học, công
tác giáo dục, công tác ngoại giao và kế hoạch
của những thiền sư nữa. Đến đời Trần tình trạng
khác hẵn. Các vua Trần đều học giỏi, mà lại rất
giỏi về đạo Phật, nên liên hệ giữa các vị vua và
các vị thiền sư không phải là để nhờ cậy về
phương diện, kế hoạch và công tác. Các ông vua
như Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và Anh Tông
đều có căn bản về Phật học. Họ ủng hộ Phật Giáo,
một phần vì họ là Phật tử, một phần vì muốn liên
kết nhân tâm trong việc xây dựng và bảo vệ đất
nước. Thời đại Nhân Tông là thời đại mà Phật
Giáo đời Trần hưng thịnh đến cực độ. Thế nhưng
tinh thần từ bi và khoan dung của đạo Phật không
hề đi đôi với một thái độ tiêu cực lãng quên.
Nếu vua Trần Thái Tông không học Phật và theo
Phật Giáo thì có lẽ Phật Giáo đời Trần đã không
có được giai đoạn rực rỡ hồi Trần Nhân Tông.
Cuộc đời tu học Trần Thái Tông đã tạo ra một
không khí học Phật thật sự trong giới trẻ tuổi ở
triều đình và ở giới trí thức tại thủ đô Thăng
Long. Sự học Phật này của giới trẻ tuổi và trí
thức đã lấy nguồn cảm hứng ở cuộc đời Trần Thái
Tông và tính cách hoàn toàn không vụ lợi Trần
Thánh Tông, là một trong những người trẻ học
Phật và thành đạt trong sự nghiệp học Phật ấy.
Sự học Phật ở đây không đưa đến thi cử và địa
vị, sự học Phật đây chỉ là để làm người. Cái học
hoàn toàn không có tính khoa cử, từ chương và ép
buộc.
Phật giáo thời Trần là một nền Phật giáo độc
lập, uy tín tinh thần của nó là uy tín tinh thần
quốc gia Đại Việt.
2.2. NHỮNG THIỀN SƯ LÀ QUỐC SƯ
2.2.1. Thiền sư thời Lý
Từ vua Đinh Tiên Hoàng là vị vua đầu tiên đã
định cấp bậc cho Tăng lữ. Năm 971 một vi Thiền
sư được phong làm Tăng thống. Chế độ Tăng thống
tại Việt Nam bắt đầu từ đây. Trong đời Lý, các
vua cũng thỉnh thoảng đặt lại giai cấp Tăng sĩ,
nhưng vẫn theo quy chế từ đời nhà Đinh, những
chức vụ Tăng thống, Tăng lục, lục Tăng chính đại
biền quan có giá trị về phương tiện tổ chức giáo
hội liên hệ tới chính quyền và xã hội, chứ không
phải những chức vụ liên hệ tới đời sống hành đạo
trong nội bộ tu viện như Hòa thượng, Yết ma,
giáo thọ, giám viện , trụ trì v.v...
Những Tăng sĩ được xem như những vị lãnh đạo
tinh thần cho triều đình và cho cả nước thì được
gọi là quốc sư. Chữ quốc sư ở đây không có nghĩa
là chức vụ cố vấn chính trị của vua mà chỉ có
nghĩa là bậc thầy dạy đạo của cả nước. Sau Vạn
Hạnh, các vị Khô Đầu, Không Lộ, Thông Biện và
Viên Chiếu là những người được ban hiệu là quốc
sư. Các vị này đều là những vị học rộng. Có
nhiều lý do khiến các Thiền sư tham dự chính trị
(tham dự chính sự mà không tham dự chính quyền,
bởi vì họ không nhận chức vụ trong nội các, chỉ
tới giúp ý kiến, công việc rồi về chùa). Lý do
thứ nhất: Họ là những người có học, có ý thức về
quốc gia, sống gần gũi với quần chúng và biết
được những đau khổ của người dân đang bị một
chính sách đô hộ hà khắc bốc lột. Lý do thứ hai:
Họ không có ý muốn tranh ngôi với vua, không
giành quyền hành và địa vị ngoài đời nên vua tin
họ. Lý do thứ ba: Họ không cố chấp vào thuyết
trung quân (chỉ biết giúp một vua mà thôi) như
các nhà nho nên họ có thể cộng tác với bất cứ
ông vua nào có thể đem lại hạnh phúc cho dân. Lý
do thứ tư : Các vua cần sức học của họ, các vua
đều không phải giới tri thức.
Trong phần nói về Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi,
ta đã thấy hành động chính trị của các Thiền sư
Pháp Thuận và Vạn Hạnh. Thiền phái Vô Ngôn Thông
có Thiền sư Ngô Chân Lưu cũng đóng góp nhiều
trong lĩnh vực chính trị. Danh hiệu Khuông Việt
đại sư mà vua Đinh Tiên Hoàng ban cho ông đủ nói
lên tầm quan trọng của Thiền sư. Khuông Việt có
nghĩa là “giúp nước Việt”. Năm 968 khi Lý Giác
đi qua, vua Đại Hành nhờ Thiền sư ra ứng đối bởi
vì Thiền sư là người có khả năng lúc bấy giờ.
Chính người đi đón Lý Giác cũng là một Thiền sư,
Pháp Thuận đã nối vần của Lý Giác khi Lý Giác
làm thơ trên thuyền khiến cho Lý Giác khâm phục.
Sau cuộc viếng thăm Lý Giác đã làm bài thơ tỏ ý
khâm phục vua Việt .Vua Lê Đại Hành liền nhờ
Khuông Việt làm một bài thơ khác để tiễn Lý Giác
về nước.
Trời xanh, gió thuận gấm buồm giương
Thần tiên về cố hương
Hành trình vạn lý biển mênh mông
Xa xôi hút dặm đường
Lòng càng quyến luyến chén chưa tàn
Cầm tay nhau thở than
Xin đem thâm ý của Nam Bang
Bày tỏ với Thượng Hoàng
Chắc chắn Thiền sư Khuông Việt rất có uy thế
trong chính sự nên sách Thiền uyển tập anh chép:
“vua Lê Đại Hành rất kính trọng, phàm những việc
quân quốc chi sự sư giai giữ yên”. Tuy giúp nhà
vua tiền Lê, nhưng khi thấy tình trạng tệ hại
của quốc gia do Lê Long Đĩnh tạo ra Thiền sư Vạn
Hạnh không ngần ngại ủng hộ Lý Công Uẩn chấm dứt
chế độ dã man này. Lịch sử Phật giáo Việt Nam
tập 2 (LMT) ghi “Rồi sau đó, Khuông Việt lại sẵn
sàng cùng với Pháp Thuận và Vạn Hạnh tham gia
tích cực vào cuộc chiến tranh vệ quốc chống quân
xâm lược Tống vào năm 981 để bảo vệ nền độc lập
thiêng liêng của dân tộc. Không những thế, sau
khi chiến tranh thắng lợi vang dội, tiêu diệt và
đẩy lùi quân thù về bên kia biên giới. Khuông
Việt đãõ đứng ra tiếp sứ Tống và làm bài từ
vương lang qui tiễn đưa. Đây là tác phẩm đầu
tiên của lịch sử văn học Việt Nam phục vụ ngoại
giao, mở đầu một dòng văn học đặc thù, mà cả
ngàn năm sau vẫn còn thừa kế.
Pháp Thuận cũng vậy, đã tham gia cuộc chiến
tranh vệỉ quốc, tạo điều kiện cho sự ra đời bài
thơ thần”sông núi nước Nam”, lần đầu tiên xác
đinh nội dung cụ thể chủ nghĩa địa linh. Sau
chiến tranh sư Pháp Thuận còn tham gia vào sự
kiến tạo hòa bình. Đặc biệt sư Pháp Thuận soạn
hai thuyết chính trị về yêu cầu bảo vệ đất nước
bằng đoàn kết toàn dân và bằng tài đức của người
lãnh đạo để cho đất nước có thể tồn tại lâu dài.
Phải nói học thuyết chính trị này của Pháp Thuận
cho đến hôm nay và sau cả ngàn năm tồn tại vẫn
còn giá trị nóng bỏng của nó.
Vạn Hạnh tham gia chiến tranh xong, còn thực
hiện một số nhiệm vụ khác. Trước mắt Thiền sư đã
cố vấn cho vua Lê Đại Hành phải nhanh chóng
chiến tranh trừng phạt Chiêm Thành vào năm 983,
tiếp đến Vạn Hạnh còn nuôi dưỡng và giáo dục Lý
Công Uẩn và tạo điều kiện để biến giấc mơ của
Định Không thành sự thật. Một người Họ Lý lên
làm vua, tức Lý Công Uẩn, thực hiện một số các
biện pháp làm thay đổi bộ mặt đất nước cụ thể là
dời đô từ Hoa Lư chật hẹp lên vùng thủ đô Long
Biên của vua Lý Nam Đế, và thi hành một số chính
sách kinh tế xã hội, phù hợp tạo cho đất nước
phát triển ổn định.
Sự sùng đạo Phật của các vua triều Lý cũng có
tính cách tâm linh và tri thức hơn. Họ đều có
học Phật, thường vời các Thiền sư đến đàm luận
về giáo lý, trong triều đã xuất hiện nhiều người
nho học. Trong số này có nhiều người do các
Thiền sư đào tạo, vì vậy các Thiền sư chỉ đóng
góp về phương diện chỉ đạo tinh thần mà khỏi
phải trực tiếp làm những việc như thảo chiếu dụ,
tiếp sứ, văn thư, đưa sách lược kinh tế và chính
trị.
Vào hạ bán thế kỷ thứ 12 đã xuất hiện những nho
thần như Đàm Dĩ Mông cực lực bài xích Phật giáo,
nhưng dù sao ảnh hưởng của các Thiền sư trên
triều Đình vẫn còn mạnh. Lý Cao Tông (1175-1210)
lại bị Tăng phó Nguyễn Thường khuyên can chớ nên
hát xướng chơi bời xa hoa quá độ. Ông nói “Tôi
nghe bài tựa kinh thi nói: Âm nhạc làm loạn nước
thì nghe như oán như giận. Nay dân loạn nước
khốn Chúa Thượng thì rông chơi vô độ Triều Đình
rối loạn dân tâm ly tán. Đó là triệu chứng mất
nước” ngữ khí của Thiền sư ảnh hưởng Phật giáo
trong dân gian còn mạnh. Thiền sư Viên Thông
trước đã ân cần nói với Thần Tông về lẽ trị
loạn. “Thiên hạ cũng như cái gì, hễ đặt nó vào
chỗ an thì an, đặt vào chỗ nguy thì nguy, điều
này trong vào hành động của bậc quân chủ (vua).
Nếu được tôn trọng sự sống của vua mà hợp với
lòng dân khiến cho dân yêu mến vua như cha mẹ,
ngưỡng mộ vua như mặt trời, mặt trăng như thế là
đặt thiên hạ vào đúng chổ an đó, trị và loạn
cũng do sự dùng người, nếu có người tốt thật sự
giúp thì trị, mà không có thì loạn, tôi thấy các
bậc Đế Vương, không aiụ không dùng tiểu nhân mà
vong, tình trạng không phải một sáng một chiều
mà từ từ xảy ra vậy. Trời đất không phải từ lạnh
chuyển sang nóng ngay tức khắc mà phải đi dần từ
Xuân sang Thu, bậc vua chúa không hưng hay vong
đột ngột mà hưng vong từ từ tùy theo tính cách
thiện hay ác của họ. Bậc Thánh vương đời xưa
biết thế nên mới bắt chước đức của những vị tiền
bối mà tu thân không ngừng, noi theo phẩm hạnh
của họ mà an dân không nghỉ. Tu thân là thận
trọng bề trong, run sợ như dẫm lên băng mỏng. An
dân là kính trọng kẻ dưới, hãi hùng như cưỡi
ngựa nắm dây cương mục.Theo đó hưng mà không
theo thì vong. Sự hưng vong chỉ từ từ mà xảy
ra”.
Hồi ban đầu lập quốc các Thiền sư đã mở các cuộc
vận động gây ý thức quốc gia, đã sử dụng các môn
học phong thủy và sấm vĩ trong các cuộc vận động
thái ấp, đã trực tiếp thiết lập hế hoạch, thảo
văn thư, tiếp ngoại giao đoàn, bàn luận về các
vấn đề quân sự. Nhưng sau đó trong triều đã có
đủ người lo việc ấy thì họ chỉ giữ vai trò hướng
dẫn tin thần và cố vấn đạo đức. Nhưng dù sao
những Thiền sư thân cận với chính quyền vẫn rất
ít, ngoài các vị Pháp Thuận, Khuông Việt, Vạn
Hạnh, Huệ Sinh, Viên Chiếu, Mãn Giác, Chân
Không, Giác Hải và Không Lộ là những vị thường
đi lại mỗi khi có triệu thỉnh, nhiều Thiền sư đã
từ chối về kinh sư khi có chiếu mời. Những Thiền
sư có tham dự chính sự, như Thiền sư Vạn Hạnh
trong khi làm việc vẫn giữ thái độ xuất thế của
mình, không muốn hòa mình vào vòng danh lợi. Nỗi
bật của sinh hoạt Phật giáo giai đoạn này, bên
cạnh rộn rịp cho cuộc đấu tranh độc lập và phát
triển đất nước, Phật giáo vẫn tiếp tục những
sinh hoạt của mình. Các Thiền trường vẫn là nơi
tu luyện, truyền thụ tri thức, học thuật và kinh
nghiệm Giác ngộ. Từ Pháp Hiền với Thiền trường
trên 300 môn sinh, rồi Thanh Biện, cho đến
Khuông Việt, Pháp Thuận, Vạn Haỳnh, tất cả đều
có Thiền trường của mình. Vai trò của các Thiền
trường này chính là các lớp học bán chính quy,
dạy đủ tất cả các môn học, chứ không phải chỉ
giới hạn trong các kinh điển Phật giáo. Chúng ta
đã có dịp đọc qua tư liệu liên hệ nền giáo dục
Khương Tăng Hội. Còn nền giáo dục Pháp Hiền, Vân
Kỳ, Định Không, Khuông Việt, Pháp Thuận, Vạn
Hạnh thụ hưởng ngày nay, ta không biết nội dung
thế nào. Tuy nhiên căn cứ vào những gì mà vị
Thiền sư này đã thể hiện trong cuộc đời họ, ta
có thể chắc chắn họ có thể nhận được một nền
giáo dục toàn diện rộng mở và tương ứng với thời
đại. Chỉ một bài từ Vương Lang Quy của Khuông
Việt cũng đủ cho ta thấy nền giáo dục mà Khuông
Việt đã hấp thụ là thế nào.
Không những nền giáo dục này không khép kín và
giới hạn mà nó còn mở tung ra, tạo điều kiện cho
con em ra nước ngoài học tập. Trong nữa thế kỷ
thứ 7 ta đã thấy một loạt các nhà sư trẻ Việt
Nam như Vân Kỳ, Huệ Diệm, Khuy Xung, Giải Thoát
Thiên và Trí Hành đã đi về các nước phía Nam qua
chiêm bái và học hỏi. Đến đầu thế kỷ thứ 9, nhà
sư Nhật Nam đã đến núi Song Phong của Đạo Tín ở
Trung Quốc Để tu tập và dịch kinh tiếng Việt.
Riêng Đại Thừa Đăng do cha mẹ buôn bán ở nước
ngoài nên đã xuất gia ở nước ngoài.
Chính nhờ có một nền giáo dục toàn diện và rộng
mở như thế Phật giáo giai đoạn này đã cung cấp
cho dân tộc những anh tài có thể đảm đương và
hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ mà lịch sử đã
giao phó, nỗi bật nhất là nhiệm vụ bảo vệ độc
lập của tổ quốc và phát triển đất nước. Không
phải vô cớ mà Định Không và Duy Giám được mời
qua Trung Quốc giảng đạo ở cung Đường. Cũng
không phải vô cớ mà La Quí, Không Việt, Pháp
Thuận, Vạn Haỳnh và Đa Bảo tham gia vào việc
nước. Tất cả họ đều thụ hưởng một nền giáo dục
đàng hoàng và cập nhật.
Các Thiền trường và các ngôi chùa nhà trường này
như thế ngoài chức năng là nơi sinh hoạt đạo,
còn là nơi để đào tạo nhân tài cho đất nước. Với
tư cách là những nơi sinh hoạt đạo thì chúng là
địa điểm để truyền thụ kinh nghiêm Giác ngộ.
Hình như vào giai đoạn này về công việc không có
ranh giới giữa đời sống đạo và đời sống đời. Vấn
đề là làm sao xây dựng được một đất nước có chủ
quyền, có thịnh trị. Cho nên một vị có đạo cao
đức trọng như Pháp Thuận cũng sẵn sàng cởi bỏ
chiếc Cà sa của mình để mặc lên y phục của một
giang lệnh không một chút do dự phân vân. Căn cứ
vào giới luật Phật giáo thông thường thì ngay cả
việc chỉ một đêm rời bỏ ba y của một Tăng Ni
Phật giáo cũng làm người đó mất hết tư cách của
một người xuất gia, đòi hỏi phải thọ giới lại,
chứ chưa nói gì đến việc đổi y phục của một
giang lệnh. Còn đối với Thiền sư Vạỳn Hạnh thì
rõ ràng cả một cuộc đời xuất gia, dù có tu trì
phép Tổng Trì Tam Ma Địa, có đọc hết kinh sách
của ngàn nhà đi nữa thì cũng chỉ để phục vụ dân,
phục vụ nước, để dạy dỗ đào tạo những con người
làm cho tổ quốc ngày càng tươi đẹp. Điều này
phản ánh quan điểm của Định Không là đặt sự tồn
tại và phát triển của Phật giáo trong sự tồn tại
và phát triển của dân tộc. Mong ước đấu tranh
cho đất nước thịnh trị chính là mong ước và phấn
đấu cho Phật giáo hưng thịnh, giấc mơ này không
phải là một giấc mơ nhỏ bé của một mình Thiền sư
Vạn Hạnh hay Khuông Việt, mà là một giấc mơ vĩ
đại của cả một dân tộc nuôi dưỡng qua nhiều thế
hệ và cuối cùng những người như La Quí, Khuông
Việt, Pháp Thuận, Vạn Haỳnh đã tự mình chứng
kiến giấc mơ đó từng bước tiến hành hiện thực
qua những nhà lãnh đạo đất nước.
Chính việc đặt sự tồn tại và phát triển của Phật
giáo vào trong sự tồn tại và phát triển của dân
tộc cũng như sự tham gia tích cực của những
người như Pháp Hiển, Định Không, La Quí, Khuông
Việt, Pháp Thuận và Vạn Hạnh vào việc nước việc
dân, mà những ngôi chùa trong giai đoạn ấy được
xây dựng và còn tồn tại đến ngày nay hầu hết là
đều do các vị vua xây dựng . Chùa Khai Quốc, nay
là chùa Trấn Quốc hiện còn ở thủ đô Hà Nội là
vua Lý Nam Đế dựng, chùa Kiến Sơ dù do Cảm Thành
dựng nên, nhưng sau đó được vua Lý Thái Tổ cho
trùng tu. Chùa Diên Hựu hay chùa Một Cột do vua
Lý Thái Tông dựng. Đây chỉ là kể một số tiêu
biểu. Còn bao chùa khác được xây dưng trong giai
đoạn ấy mà con số lên tới hàng ngàn, đãbị thiên
tai, bom đạn tàn phá. Ngay cả việc cải tổ chữ
Quốc Âm, chữ Nôm cho dễ học, dễ hiểu cũng do một
Thiền sư thực hiện. Đó là Pháp Tính với bộ từ
điển Hán Việt bằng thơ hiện còn mang tên Quốc Âm
Chỉ Nam Giải Nghĩa. Vào cuối thế kỷ thứ 15 nữa
đầu thế kỷthứ 16, một lần nữa nền giáo dục nhà
chùa nhà trường này lại đứng ra chủ trương tiếng
Quốc Âm vẫn là một thứ tiếng của thánh hiền
chống lại xu thế coi nó là một thứ “nôm na là
cha mách quéù”.
Trong thời Lý còn có những Thiền sư nỗi tiếng
sau đây:
Định Hướng Trưỡng Lão
Thiền Lão Thiền sư
Huệ Sinh Thiền sư
Cứu Chỉ Thiền sư
Viên Chiếu Thiền sư
Mãn Giác Thiền sư
Chân Không Thiền sư
Diệu Nhân Thiền sư
Từ Lộ Thiền sư
Không Lộ Thiền sư
Minh Không Thiền sư
Giác Hải Thiền sư
Giới Không Thiền sư
Viên Học Thiền sư
Khánh Hỹ Thiền sư
Tịnh Không Thiền sư
Bão Giám Thiền sư
Âu Đạo Huệ Thiền sư
Vạn Trì Bát Thiền sư
Trí Bão Thiền sư
Thường Chiếu Thiền sư
2.2.2. Thiền sư thời Trần
Phật Giáo đời Trần là Phật Giáo một tông phái
hợp nhất và căn cứ quy tụ núi Yên Tử. Các vị
quốc sư Phật giáo đời Trần phát xuất từ sơn môn
Yên Tử, như Viên Chứng, Đại Đăng, Tông Cảnh, Bão
Phác, Phù Vân, Vô Trước và Quốc Nhất. Có ba vị
Quốc sư tuy không xuất phát từ Yên Tử có liên hệ
mật thiết đến giáo hội Yên Tử: Đó là các Quốc sư
Nhất Tông, Liễu Minh và Đạo Nhất. Chùa Vân Yên
(mà đời Lê đổi lại Hoa Yên) trên núi Yên Tử là
quê hương tinh thần “đại bản sơn”của Phật giáo
Trúc Lâm.
Vào đầu thế k