TINH THẦN LỄ BÁI TRONG ĐẠO PHẬT
Thích Giới Minh
DẪN NHẬP
1- Ý nghĩa và Lý do chọn
đề tài.
Đại trí và đại bi là hai
mặt của tâm Bồ Đề. Đó là chất liệu duy nhất để
hoàn thành công hạnh tu tập của mọi hành giả.
Điều đó đã được chỉ dạy trong “Phát Bồ đề tâm
văn”:
“Làm các việc lành mà bỏ
quên tâm chí mong cầu tuệ giác vô thượng thì đó
chỉ là làm việc của ma”.
Nếu đánh mất tâm
Bồ đề ấy, dù có làm các việc lành cũng chẳng
khác nào việc làm của những kẻ do sự thúc đẩy
của tâm bất thiện. Tất cả mọi sự thực hành dễ
rơi vào hình thức mà trốùng rỗng về nội dung.
Muốn đạt được kết quả thì đòi hỏi hành giả phải
có chánh tri kiến trên mọi hành động, lời nói và
ý nghĩ của mình.
Đối với sự phát
triển của nhân loại trong thời đại hiẹân nay,
Đạo Phật đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Bởi lẽ
một quốc độ muốn được phát triển ổn định cần
phải được quân bình trên hai phương diện là tinh
thần và vật chất. Tinh thần giúp ta nghệ thuật
sử dụng vật chất sao cho hướng thượng, hướng
thiện và bổ ích thực sự. Trái lại, vật chất phải
chuyển tải một ý nghĩa cao thượng và lợi lạc.
Nói đúng hơn, cuộc sống phải có văn hóa; tôn
vinh văn hóa là hoàn toàn nhân bản. Theo
Encydopedia Britanvica: “Văn hóa là những hình
thức tổng hợp các kiến thức, niềm tin và hành vi
của con người, có nghĩa là bao gồm ngôn ngữ, tư
tưởng, tín ngưỡng, phong tục, cấm kỵ, luật lệ,
giáo dục, kỹ thuật, nghệ thuật, nghi thức, lễ
bái và những yếu tố liên hệ khác”. Lại nữa, các
nhà xã hội học như A. Krocher và C. Khuckholm
phát biểu: “Trọng điểm của văn hóa bao gồm những
tập truyền tư tưởng. Hệ thống văn hóa một mặt
được coi như là sản phẩm của hành động, mặt khác
là điều kiện thực thi các hành động”. [17-357]
Qua những lời phát biểu trên chứng tỏ văn hóa
không thể thiếu trong mỗi dân tộc, cộng đồng. Nó
hầu như là một hệ thống vận hành của xã hội. Văn
hóa là nền tư tưởng liên hệ giữa cuộc sống con
người với tạo hóa, từ đó những liên hệ giữa con
người với con người được thiết lập. Với tầm quan
trọng như vậy, chúng ta dễ dàng nhận biết rằng
bất luận vấn đề nào, mỗi khi tầm quan trọng của
nó càng cao, nếu không thận trọng thì sự hủy
diệt của nó càng lớn. Như Khổng tử nói: “Làm
thầy thuốc mà sai lầm thì chỉ giết một người,
làm chính trị mà sai lầm thì tàn hại cả đất
nước, làm văn hóa mà sai lầm thì gây tai họa cho
muôn đời”. Bởi vậy trong lãnh vực văn hoá bất
luận phát triển mặt nào cũng cần sự chính xác
mới đem đến lợi ích lớn.
Mỗi dân tộc là
mỗi đơn vị đặc thù, mỗi tôn giáo, mỗi trường
phái tư tưởng có nét riêng của nó, nét riêng đó
được đánh giá qua các sự giao lưu với nhau. Tuy
nhiên tất cả phải được đánh giá dưới ánh sáng
trí tuệ và chánh kiến. Đức Phật dạy: “Đừng tin
tưởng vào những gì vì dựa vào tập quán lưu
truyền. Đừng tin tưởng bất cứ một điều gì chỉ
vin vào uy tín và thẩm quyền của một người nào
đó. Đừng tin tưởng điều gì vì có được nhiều
người nói đi nhắc lại. Nhưng hãy tin tưởng vào
những gì mà người ta từng trãi nghiệm, thấy là
đúng, thấy có lợi cho mình và người khác”. F .L.
Woodward, một trong những dịch giả nỗi tiếng về
lời dạy của Phật, nói: “Phật giáo là tôn giáo tự
mình làm lấy”.
Ở môi trường sinh sống,
thế giới tự nhiên không thể đáp ứng hết nhu cầu
của con người. Săn băùn rồi cũng hết thú, mùa
màng thì bị thiên tai, bệnh tật, chết chóc phát
sinh. Từ đó con người có cảm giác bất lực, trông
mong một sức mạnh khác giúp đỡ hộ trì. Tôn giáo
là yếu tố thiết thực được xem như đời sống tinh
thần của con người. Trong quan niệm hiện nay,
tôn giáo có vai trò rất lớn. Kant xem tôn giáo
như lời đáp cho câu hỏi “Tôi có thể trông mong
cái gì?”. “Dù triết học hay khoa học cũng đều
thoát thai từ sự ức đoán về bản tính của vạn
vật, sự nghiên cứu về con người và xã hội, từ
những tính toán mang tính tôn giáo về linh hồn
và về phương diện thích hợp tư cách đạo đức của
con người. Còn đạo Phật là một tôn giáo với
những sắc thái huyền nhiệm lung linh; ở điểm
khác, Đạo Phật lại là một thức thuyết sắc bén
thực tiễn, có khả năng ứng dụng vào cuộc sống. Ở
tôn phái này thì Đạo Phật chấp giữ giáo pháp như
một chân lý tuyệt đối và nghiêm ngặt, ở tôn phái
kia Đạo Phật phá chấp không nhìn nhận giáo pháp
là một chân lý tuyệt đối mà giáo pháp chỉ có giá
trị như một phương pháp hướng dẫn con người
trong công cuộc tu chứng mà thôi. Tóm lại đạo
Phật là sự thể hiện của cuộc đời phồn tạp khúc
mắc đa diện, nên cũng có thể nói đạo Phật là đạo
của con người nhân đạo. Với đầy những trái ngược
phức tạp nhưng vẫn chỉ là một “con người” sống
thực với những nhu yếu phức tạp đó, Đạo Phật là
tất cả”.
Qua một vài lần mục kích
khung cảnh lễ nghi, hình thức lễ bái, người viết
không khỏi ưu tư cho sự mất mát về giá trị của
lĩnh vực này. Chỉ e rằng mỗi ngày nó sẽ trở
thành một phương tiện hay hình thức phục vụ cho
mê tín và những tâm hồn bệnh hoạn. Đạo Phật vốn
dĩ là đạo trí tuệ, luôn hướng dẫn nhân sinh đến
giải thoát, phát huy tự giác để đi đến giác tha.
Theo quan điểm Phật giáo, mỗi cá nhân tự thiết
lập cuộc sống an lạc cho mình và nhận lấy tất cả
những kết quả do hành động, lời nói và suy nghĩ
của mình tạo nên.
2- Phạm vi đề tài.
Với tập luận văn này,
người viết không dám lạm bàn đến những lĩnh vực
cao xa mà chỉ tìm hiểu một phần nhỏ bé trong kho
tàng văn hóa đó là “Tinh thần lễ bái”, đặc biệt
là tinh thần lễ bái Phật giáo. Do đó, công trình
luận văn tập trung thảo luận một số vấn đề sau
đây:
Đối tượng tôn kính
trong một số các tôn giáo và Phật giáo.
Hình thức lễ bái
được tìm thấy trong một số tôn giáo và Đạo Phật.
Ý nghĩa lễ
bái được nhấn mạnh trong Đạo Phật.
3- Phương pháp nghiên
cứu.
Để làm sáng tỏ các vấn
đề trên, người viết tổng hợp nhiều nguồn tài
liệu liên quan và vận dụng phương pháp phân tích
bình giải đối với các tiêu chí được đề cập trong
luận văn. Thực hiện thiên tiểu luận này, người
viết chỉ mong chấm phá một nét nhỏ cho nếp sống
văn hóa thêm thi vị, góp phần tạo thành ngọn gió
mát giữa bầu trời oi bức của mùa hè cháy bỏng mà
thôi.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
ĐỐI TƯỢNG TÔN KÍNH
Cho đến nay, khi nói đến
khởi thủy của một vài tôn giáo người ta chỉ xây
dựng lý thuyết trên ước đoán. Bằng chứng về đức
tin của người tiền sử thì quá mong manh. Một vài
trường phái chịu ảnh hưởng của thuyết tiến hóa,
đã cố gắng dựng lại các giai đoạn của đời sống
tôn giáo để tìm ra các tôn giáo có lịch sử. Tuy
nhiên dù ở hình thức sơ khai tôn giáo vẫn mang
mục đích phô diễn tri giác con người về sự huyền
bí hay thánh thiện qua thi ca, nghi lễ, biểu
tượng và triết lý. Tri giác thánh thiện đó được
xây dựng chặt chẻ với giá trị đạo đức và cơ cấu
xã hội. Hiện nay một số dân tộc trên thế giới
vẫn duy trì lối sống ở trình độ nguyên thủy,
thời kỳ đồ đá. Họ không phải thiếu tinh tế mà
phải hiểu các tín ngưỡng và các phong tục đó như
một phần kết cấu xã hội được xác định bởi những
kỹ thuật thời kỳ nguyên thủy. Họ tin có một lực
vô hình vây quanh mình. Lực đó có thể là linh
hồn thần thánh hay mara. Lực vô ngôi đó đã thâm
nhập khắp mọi nơi, mọi vật, huyền bí và năng
động như người. Tôn giáo được thể hiện dưới dạng
vật tổ, tín ngưỡng vật linh như thú vật cây cối.
Có một số học giả giải thích tôn giáo như một
nhu cầu xã hội và tâm lý cá nhân. Nhu cầu và áp
lực này nhằm mục đích giải thích về cảm giác của
con người về sự huyền bí và giá trị đạo đức. Bên
cạnh đó, nó nói lên sự sáng tạo của con người,
cho thấy khả năng tự vệ trong những trường hợp
cấp bách và khủng hoảng của đời sống. Ở đây chỉ
đề cập đến một số tư tưởng và đối tượng được tôn
vinh của một số tôn giáo, trường phái trước hay
trong thời Đức Phật mà thôi.
Trước hết là sơ lược về
định nghĩa của từ ngữ lễ bái:
Lễ: Là những quy tắc
nhất định của cung cách qua sự đi, đứng, nói
năng trong những Quan hôn tang tế nhằm thể hiện
sự tôn kính.
Bái: nghĩa là quỳ lạy
bằng cách hạ mình xuống đất trước những bậc Hiền
Đức mà mình tôn kính.
Lễ Bái tiếng phạn là
Vandana, Tàu dịch âm là Ban Đàm, còn gọi là Hòa
Nam, hoặc gọi là Na Mô Tất Yết La, nghĩa là lễ
nghi cung cách với hình thức cúi đầu quỳ lạy
trước những bậc tiền nhân và Thánh Đức mà mình
đã đặt trọn niềm tin quy ngưỡng hướng về, như
lạy chư Phật, chư Bồ tát, chư Hiền thánh tăng,
lạy cha mẹ, Thầy tổ… Chúng ta quỳ lạy những vị
đó nhằm biểu lộ đức tánh khiêm tốn và để tỏ lòng
tri ân, báo ân, cũng như học theo và trau dồi
những đức tính cao quý ấy.[10,75]
1.1- Đối tượng lễ bái
trước thời Đức Phật
Để khảo sát tinh thần lễ
bái nói trên người viết xin lược qua một vài
hình thức trước và sau thơi Đức Phật để làm sáng
tỏ ý nghĩa của nó hơn.
ử Theo Ấn độ giáo:
Cách đây khoảng 4000 năm, nhóm du mục Aryan (Ấn
Âu) từ trung Á tràn qua Bắc Ấn. Họ chinh phục
các thổ dân trên đường đi qua và đã định cư tại
bình nguyên Bắc Ấn. Tôn giáo của họ được truyền
và thể hiện ở kinh Vệ đà. Về nghi lễ, họ hiến tế
súc vật cho thần linh, theo thời gian việc cúng
tế càng trở nên phức tạp. Qua một thời gian quan
niệm này được thay thế bằng Brahma. Nghĩa là
chiêm nghiệm về vũ trụ, tăng bước tiến của con
người đi tìm một hữu thể thần linh duy nhất làm
nguồn gốc và đối tượng thờ cúng. Vị thần đó là
Brahma. Bên cạnh đó thánh ca thể hiện niềm tin
vào một trật tự vũ trụ goi là rta, vừa là quy
luật tự nhiên kiểm soát các biến cố, vừa là quy
luật đạo đức kiểm soát các hành vi con người.
Theo họ Brahman là sức mạnh che chở vũ trụ. Toàn
thể vũ trụ hiện hữu do một sức mạnh thần bí. Như
vậy Brahman là tên của một thực thể nằm sau thế
giới hữu hình. Họ còn quan niệm rằng bên trong
của một cá nhân có một Atman hay còn gọi là linh
hồn ngự trị trong mỗi cá nhân. Riêng dân bản địa
tại xứ này gọi là Druda, theo tín ngưỡng thần
mẹ, thần cây. Khi dân Aryan xâm chiếm Ấn Độ, họ
tiếp thu và làm phong phú thêm các tín ngưỡng ở
đây. Họ tôn thờ mặt trời (surya), mặt trăng
(canda), thần chết (yma), thần lửa (Agni). Kinh
vệ đà cho thấy họ còn thờ hệ thống thần thánh vệ
đà, những vị thánh gần gũi và trực tiếp với họ.
Tóm lại, đa số Hindu
giáo tin ở một thượng đế duy nhất, mặc dù họ tín
ngưỡng đa thần nhưng chỉ tin ở một vị thượng đế
duy nhất. Tuy nhiên theo Shankara (788-820), một
nhà thần học vĩ đại nhất của Ấn Giáo, thì con
người chỉ giải thoát tinh thần khi đạt tới sự
trải nghiệm nội tại nhờ đồng nhất với tuyệt đối
thể. Ông cho rằng: “Biểu hiện thông thường giữa
chúng ta với Brahman và với một người khác dựa
trên sự ngu tối và ảo tưởng. Dưới ánh mắt giác
ngộ, vũ trụ là ảo tưởng, đấng sáng tạo cũng là
ảo tưởng. Dưới ánh mắt thấp hơn, chúng ta có thể
coi vũ trụ là thực và được tạo dựng bởi Brahma
(khía cạnh nhân tính của Brahman). Do đó, với
thường nhân, tôn kính và nghi lễ là đúng, nhưng
với cao nhân, phải vượt qua trình độ đức tin
thường để có cái nhìn cao hơn”.[14,32] Đó là
Hindu giáo, nhưng đối với Nho Giáo thì sao?
1.2- Đối tượng lễ bái
theo quan niệm Nho giáo:
Nho giáo là một trường
phái tư tưởng quan trọng của Trung Quốc hơn 2000
năm lịch sử. Người đặt cơ sở đầu tiên là Khổng
tử thời Xuân thu. Về sau Mạnh tử thời Chiến quốc
và Đổng Trọng Thư thời Tây Hán cũng như các nhà
nho đời Tống phát triển học thuyết này hoàn
chỉnh hơn.[18,125]. Trong hệ thống tư tưởng của
họ chủ yếu là thi, lễ, nhạc, dịch, xuân thu. Đối
với Khổng Tử, ông ta ít quan tâm đến nguồn gốc
của vũ trụ. Ông cho rằng trời chỉ là giới tự
nhiên bốn mùa thay đổi, trăm vật sinh trưởng,
nhưng bên cạnh đó ông cũng tin rằng trời là một
lực lượng có thể chi phối số phận và hoạt động
của con người. Do đó con người phải theo mệnh
trời, Ông nói: “Người quân tử có ba điều sợ: sợ
mệnh trời, sợ người có đức lớn, sợ lời nói của
thánh nhân. Kẻ tiểu nhân không biết mệnh trời
nên không sợ. Khinh thường người có đức lớn,
khinh rẻ lời nói của thánh nhân”. “Mắc tội với
Trời không thể cầu xin ở đâu được”. Khổng Tử rất
coi trọng việc cúng tế, tang ma. Ông nói: “Tế
thần coi như có thần”. Khi xét về đạo đức con
người Khổng Tử coi trọng các mặt như nhân, lễ,
nghĩa, trí, tín, trong đó nhân là quan trọng.
Tuy nhiên, theo Khổng Tử, lễ không phải là nội
dung hoàn toàn độc lập mà là một biểu tượng đạo
đức luôn gắn liền với nhân. Mối quan hệ của nhân
và lễ được biểu hiện như sau: Nhân là gốc, là
nội dung, lễ là biểu hiện của nhân. Khổng Tử
nói: “Người không có lòng nhân thì thực hành lễ
sao được. Lễ không có nghĩa là lụa ngọc, cúng
phẩm mà phải thể hiện sự cung kính hết mực”. Ở
điểm khác Khổng Tử nói: “Cung kính mà không biết
lễ thì mệt nhọc, cẩn thận mà không biết lễ thì
nhút nhát, dũng cảm mà không lễ thì làm loạn,
thẳng thắn mà không biết lễ thì làm Phật ý người
khác”. (Thái Bá). Các môn đệ của Khổng Tử thường
quan niệm rằng: Chữ lễ của Khổng gia chính là
việc hiến tế tổ tiên. Họ chỉ ra rằng các nghi lễ
ấy giúp cho việc chuyển hóa và cách tân đời
sống. Các nghi thức là thuộc về phép tắc của
trời đất. Thực hiện các nghi thức là phụng sự
trời đất, là liên thông giao tiếp với các tổ
tiên và làm cho xã hội hòa hợp. Trong một gia
đình nho giáo, theo lệ thường có một bàn thờ bài
vị tổ tiên cùng hình ảnh vị thần quan trọng của
họ. Họ thường dâng cúng thức ăn, vàng mã, với
hành xử cung kính như cúi lạy, phủ phục và cầu
khẩn trong những dịp lễ. Giấy tiền vàng mã được
dâng ở bàn thờ, bạc cho tổ tiên, vàng cho thần
linh. Khấu lạy là hành vi chủ yếu bày tỏ sự cung
kính. Số lần khấu lạy tùy theo vị đang được dâng
cúng. “Bốn lần trước linh vị của tổ tiên, trước
thần bếp chỉ hai lần, lại tới hàng trăm lần
trước Ngọc Hoàng thượng Đế”.[6,179] Tóm lại
Khổng Tử là người coi trọng mệnh trời (úy thiên
mệnh), đồng thời ông kính trọng quỷ thần nhưng
chỉ kính từ xa (kính quỷ thần nhi viễn chi) vì
ông cho đó là một thế giới khó có thể hiểu và
suy xét. Về con người ông cho rằng tri thiên
mệnh là điều kiện thiết yếu để trở thành hoàn
thiện. Con người hoàn toàn bị chi phối bởi thiên
mệnh.
1.3- Đối tượng lễ bái
trong Đạo Phật.
Đối với một Phật tử, khi
nói đến đối tượng tôn kính của họ không gì khác
là Tam Bảo, tức là Phật Pháp Tăng. Tuy nhiên, để
có lợi ích trong sự tôn kính đó đòi hỏi người
Phật tử phải có quan niệm về tam bảo như thế nào
và thể hiện ra sao cho có nhân bản cũng như tăng
trưởng được thiện pháp. Ở đây chỉ nói một cách
khái quát mang tính gợi ý hơn là đào sâu và
nghiên cứu. Do đó chỉ phác họa một vài nét như
sau:
1.3.1- Tôn kính về Phật
bảo:
Ngài được xem như là một
đấng giáo chủ, một nhà cách mạng xã hội… Ngoài
thập hiệu của Ngài (Như Lai, Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian
Giải, Vô Thượng Sĩ, Điệu Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn), còn có một định nghĩa
ngắn gọn như sau: “Cho đến khi nào, này các Tỷ
kheo, đối với sáu nội xứ (6 căn) ta đã như thật
liểu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hại là nguy
hại, xuất ly là xuất ly thì khi ấy đối với thế
giới gồm có thiên giới, ma giới, phạm thiên
giới, đối với quần chúng gồm sa môn, bà la môn,
chư thiên và loài người ta xác chứng vô thượng
chánh đẳng giác”[8,21] Với ý nghĩa đó Ngài là
người đã được an ổn trước các khổ ách, đã nhận
chân sự thật khổ đau hay tác hại của thế giới
cảm quan và ý thức cũng như con đường thoát ly
khỏi thế giới ấy.
Lại nữa, kinh Tương ưng
nêu định nghĩa: “Như Lai, này các Tỷ kheo, là
bậc A-la-hán chánh đẳng giác, do yểm ly sắc
(thanh, hương, vị) ly tham, đoạn diệt được gọi
là bậc giải thoát không chấp thủ” [7,122]. Ở một
số bản kinh Ngài được gọi là bậc A-la-hán, nhưng
là bậc A-la-hán chánh đẳng giác, bậc đạo sư của
loài trời loài người.
Ở Bắc tạng Đức Phật được
hiểu như là thực tướng, thực tánh, thực nghĩa
của các pháp. Thực tướng ấy thì vô ngã tướng,
rời hết thảy các tướng (ngã, nhân, chúng sanh,
thọ giả) rời hết tướng bị chấp thủ hay rời khỏi
mọi chấp thủ. Kinh kim cương định nghĩa “Vô sở
tùng lai diệc vô sở khứ”, “Như lai tức nhất
thiết pháp như nghĩa”, “Nhất thiết pháp giai thị
Phật pháp”. Dù ởũ Nam hay Bắc tạng, Phật là đồng
nghĩa với giác ngộ, rờụi khỏi ái, thủ, vô minh,
hiện thân của sự giải thoát khổ đau.[16,45]
Người Phật tử tôn kính
Ngài tức là biểu lộ lòng khao khát được giác ngộ
giải thoát như ngài, một con người đã giải thoát
không nhờ vào gì khác ngoài nỗ lực và trí tuệ
của bản thân.
1.3.2- Tôn kính đối với
pháp bảo:
Pháp bảo hay lời Phật
dạy là một chân lý tối thượng đối với người cần
cầu giải thoát. Các bản kinh Pali thường nhấn
mạnh về lời dạy của Phật: “Này các Tỷ kheo, đây
là pháp của ta đến để mà thấy, có khả năng hướng
thượng, vượt ra ngoài lý luận, dẫn người thực
hành đến đoạn tận khổ đau, để người trí tự mình
chứng nghiệm”. Người Phật tử bày tỏ sự tôn kính
pháp bảo tức là biểu lộ lòng mong muốn đi theo
con đường giải thoát ấy. [21,134]
1.3.3- Hình ảnh Tăng
già:
Theo Phật học khái luận
của TT Thích Chơn Thiện thì: Tăng hay Tăng già
là dịch âm từ chữ Sangha của pàli, sanstrit có
nghĩa là một nhóm người, một hội chúng sinh hoạt
trong cùng một mục đích, một quy luật chung. Về
sau, khi đoàn thể đệ tử của Thế Tôn ra đời, danh
từ Tăng già thường dùng để chỉ hội chúng xuất
gia của Thế Tôn, gồm Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, Thức
xoa ma na, Sa di, Sa di ni. Có khi chỉ gọi bốn
chúng xuất gia. Do đó Tăng hay Tăng già còn được
gọi là Tăng bảo, ngôi báu thứ ba trong ba ngôi
báu Phật, Pháp, Tăng. [21,359]
Dù định nghĩa như thế
nào thì hình ảnh Tăng già mãi mãi vẫn là viên
ngọc quý giữa cuộc đời. Tăng già là người trực
tiếp đem ánh sáng Phật pháp vào đời, là đại biểu
duy nhất gìn giữ và xiển dương giáo pháp Đức Như
Lai. “Những bậc đạt rõ ràng các thánh đế mà bậc
trí tuệ thậm thâm đã giao truyền”[11]. Tăng già
là nơi nương tựa an ổn cho thế gian. Một vị Tăng
giữ giới, một vị Tăng thanh tịnh là ruộng phước
cho nhân thiên. Chính vì vậy, Phật nêu lên ý
nghiệp ban đầu cho người cư sĩ là kính trọng tin
tưởng Tăng già. Thái độ này đủ để đưa họ về
thiên giới. Chỉ đơn giản, tâm kính trọng phát
khởi thì tâm ngã mạn biến mất, điều đó nói lên
sự lợi lạc của lòng tôn kính. Vì tâm ngã mạn là
độc tố khiến con người trở thành thấp hèn, người
Phật tử xây dựng nếp sống cao thượng bắt đầu
bằng thái độ khiêm hạ trong cuộc sống. Tâm khiêm
hạ đó có được là nhờ vào sự kính trọng của minh
đối với bậc đáng kính trọng. Không thể có tâm
khiêm hạ khi lòng kính trọng vắng bóng. Khi tâm
khiêm hạ đặt đúng nơi, đúng đối tượng thì một
công đức lớn đã thành tựu. Trong Kinh tăng chi
II, Đức Phật nói đến năm lợi lạc do thân cận với
một vị xuất gia như sau:
“Khi nào, này các Tỷ
kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia
đình cư sĩ, tại đây do năm trường hợp người cư
sĩ được nhiều công đức. Thế nào là năm?
Khi nào, này các Tỷ
kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với nhà
cư sĩ, khi trông thấy những vị xuất gia giữ giới
này tâm họ được tịnh tín. Này các Tỷ kheo, như
vậy trong lúc ấy gia đình kia đã đặt chân trên
con đường đến cõi trời.
Khi nào, này các Tỷ
kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia
đình cư sĩ, khi trông thấy những vị xuất gia giữ
giới này, họ đứng dậy đảnh lễ và mời ngồi. Này
các Tỷ kheo, như vậy trong lúc ấy gia đình kia
đặt chân lên con đường đưa đến sự cao sang.
Khi nào, này các Tỷ
kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia
đình cư sĩ, khi trông thấy những vị xuất gia giữ
giới này, họ từ bỏ cấu uế của xan tham. Này các
Tỷ kheo, như vậy trong lúc ấy gia đình kia đã
đặt chân trên con đường đưa đến đại uy lực.
Khi nào, này các Tỷ
kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia
đình cư sĩ, khi trông thấy những vị xuất gia giữ
giới này, họ tùy theo khả năng, tùy theo năng
lực liền san sẻ vật bố thí. Này các Tỷ kheo, như
vậy trong lúc ấy gia đình kia đã đặt chân trên
con đường đưa đến tài sản lớn.
Khi nào, này các Tỷ
kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia
đình cư sĩ, khi trông thấy những vị xuất gia giữ
giới này, họ thưa hỏi những câu hỏi, lắng nghe
chánh pháp. Này các Tỷ kheo, như vậy trong lúc
ấy gia đình kia đã đặt chân trên con đường đưa
đến đại trí tuệ.
Khi nào, này các Tỷ
kheo, các người xuất gia giữ giới đi đến với gia
đình cư sĩ, tại đây do năm trường hợp, học được
nhiều công đức”.[1,246]
Tục ngữ có câu “Trọng
thầy mới được làm thầy”, điều này muốn nói lên
luật nhân quả. Nếu đối xử với người khác bằng
tâm khinh miệt thì sẽ trở thành kẻ hèn kém. Nếu
khởi ác tâm thì sẽ trở thành chúng sanh xu hướng
về địa ngục ngạ quỷ. Nếu nuôi dưỡng thiện tâm
thì trở thành chúng sanh sinh về cõi trời. Ở đây
chúng ta phải hiểu rằng bên trong chiều sâu tâm
linh tác động nhân quả rất sâu sắc, những cảnh
giới an lạc hay đau buồn luôn hiện hành từ tâm.
Nói tóm lại, nếu chúng
ta hiểu đúng giá trị và ý nghĩa của Tam Bảo, mỗi
khi chúng ta cung kính, lễ bái, tất cả việc làm
ấy đều nhắm đến giải thoát và hoàn thiện nhân
tính. Để thấy được ý nghĩa đó chúng ta thường
xem một vài lời dạy của Thế tôn qua bản kinh
Thiện sanh.
1.3.4- Đức Phật dạy qua
kinh Thiện sanh.
Khi đức Thế Tôn đi khất
thực ở thành La Duyệt Kỳ, ngài trông thấy con
trai của một trưởng giả tên Thiện Sanh đi đến
khu vườn công cộng hướng đến các phương Đông,
Tây, Nam, Bắc, Trên, Dưới lễ lạy khắp cả. Ngài
hỏi lý do việc làm ấy và chàng thanh niên Thiện
Sanh cho biết ông làm đúng theo di chúc của
người cha. Phật Bảo Thiện Sanh: “Này con trai
trưởng giả! Quả có cái tên các phương đó chứ
không phải không, nhưng trong pháp của bậc hiền
thánh chẳng phải lễ sáu phương như thế là cung
kính đâu”. Thiện Sanh thưa: “Cúi xin Đức Thế Tôn
thương dạy cho con cách lễ sáu phương theo pháp
của hiền thánh”. Thế Tôn dạy…” ngươi nên biết ý
nghĩa sáu phương. Sáu phương là gì?
1. Phương Đông là
cha mẹ
2. Phương Nam là sư
trưởng
3. Phương Tây là thê
thiếp
4. Phương Bắc là bạn
bè thân thích
5. Phương trên là
các bậc trưởng thượng, Sa môn, Bà la môn.
6. Phương dưới là
tôi tớ”
Đức Thế tôn muốn chỉ dạy
cho Thiện Sanh sự cung kính một cách thiết thực
và ý nghĩa.
Đảnh lễ phương đông: Ở
đây Đức Phật dạy phương Đông là Cha Mẹ. Điều đó
không gì khác là sự hiếu thuận và phụng dưỡng
cha mẹ. Đạo Phật thường nói “Cha mẹ tại tiền như
Phật tại thế”. Đối với Ấn Độ giáo, quan niệm cha
mẹ như thượng đế, là đấng tối cao nhất của nhân
sinh. Đức Thế Tôn dạy phương pháp đảnh lễ đó
bằng những việc làm thiết thực nhất, có ý nghĩa
và lợi lạc ngay hiện tại. “Những ai đền ơn cha
mẹ bằng cách nuôi dưỡng dâng cúng với của cải
vật chất tiền bạc thì không bao giờ đủ để đáp
đền ơn cha mẹ. Nhưng này các Tỷ kheo, ai đối với
cha mẹ không có lòng tin Tam Bảo thì khuyến
khích cho có lòng tin Tam Bảo, đối với cha mẹ
sống tà giới, thì khuyến khích vào chánh giới,
đối với cha mẹ sinh khởi tham, thì khuyến khích
bố thí, đối với cha mẹ tà kiến thì khuyến khích
vào chánh kiến, cho đến như vậy này các Tỷ kheo,
là làm đủ và đáp ơn đủ cho cha mẹ”[2,75] Những
yếu tố sau đây được Đức Thế Tôn dạy trong kinh
Thiện sanh:
Con cái phải có
năm bổn phận đối với cha mẹ:
Cung phụng không
để thiếu thốn
Muốn làm gì thưa
cha mẹ biết
Không trái điều
cha mẹ làm
Không trái điều
cha mẹ dạy
Không cản chánh
nghiệp cha mẹ làm
Đảnh lễ phương Nam là
đảnh lễ sư trưởng:
Đức Phật chỉ dạy phương
pháp thiết lập mối quan hệ hiếu đạo giữa thầy và
trò. Bởi lẽ, sinh ta là cha mẹ, tác thành cho ta
nên người, có lợi ích, có địa vị trong xã hội
không nơi đâu khác là học đường, là bậc sư
trưởng. Chính nơi đó tạo cho ta nghề nghiệp vững
vàng để mưu sinh, dạy cho ta nhân cách làm
người. Điều đó được thể hiện qua những yếu tố
sau:
Hầu hạ cung cấp
điều cần
Kính lễ cúng
dường
Tôn trọng quý mến
Thầy có dạy bảo
điều gì, không trái nghịch
Thầy có dạy bảo
điều gì, nhớ kỹ không quên. Kẻ làm đệ tử cần
phải thờ kính sư trưởng với năm điều ấy.
Đảnh lễ phương Tây là
đối xử tốt với thê thiếp:
Đây là mối quan hệ giữa
vợ và chồng. Mỗi gia đình là một xã hội thu nhỏ,
mỗi cá nhân là một tế bào của xã hội, mối quan
hệ này nếu tốt đẹp thì xã hội sẽ tốt đẹp. Đạo
Phật có đặc thù khác với các tôn giáo khác là
xây dựng tình thương bằng hành động thiết thực
và từ tâm. Hạnh phúc vợ chồng không thể có ở sự
miễn cưỡng, bắt ép. Nó phải được xây dựng qua
những nghĩa cử sau:
Chồng đối với vợ:
Lấy lễ đối đãi
nhau
Oai nghiêm không
nghiệt
Cho ăn mặc phải
thời
Cho trang sức
phải thời
Phó thác việc nhà
Đáp lại người vợ dùng
năm cách để đối đãi với chồng:
Dậy trước
Ngồi sau
Nói lời hòa nhã
Kính nhường tùy
thuận
Đón trước ý chồng
Đó là những yếu tố tôn
trọng lẫn nhau giữa vợ chồng, tuyệt đối cần
thiết cho hạnh phúc lứa đôi và hạnh phúc gia
đình nói chung. Thay vì chỉ là một lời nói suông
hay thực thi theo một phong tục tập quán mơ hồ
như Thiện sanh, nếu con người sống thực tế như
lời Đức Phật dạy thì cuộc sống sẽ hòa ái, an ổn,
thanh bình, không còn lo sợ.
Đảnh lễ phương Bắc là
đối xử tốt với bạn bè, thân thích:
Dù sống ở đâu con người
cũng phải theo quy luật cộng sinh mới tồn tại,
cả loài vật cũng vậy. Theo nghĩa này, Đức Phật
dạy về mối quan hệ với bạn bè cũng như người
thân trong gia đình, họ hàng làng nước của chúng
ta. Mối quan hệ này có giá trị rất lớn cho sự
tồn tại và thăng tiến của mỗi cá nhân. Nhờ có
mối quan hệ bạn bè mà cuộc sống trở nên có ý
nghĩa và thi vị. Tục ngữ có câu “Giàu nhờ bạn,
sang nhờ vợ”. Cuộc sống có tốt đẹp hay không một
phần nhờ vào sự thực hiện tốt các mối quan hệ
giữa con người và con người. Đối với bạn bè,
thân thích, Đức Phật khuyên như sau:
Chu cấp
Nói lời hiền hòa
Giúp đạt mục đích
Đồng lợi
Không khi dối
Ngược lại bạn bè thân
thích cũng có năm điều đối lại:
Che chở cho mình
khỏi buông lung
Che chở cho mình
khỏi hao tài vì buông lung
Che chở khỏi sự
sợ hãi
Khuyên răn nhau
lúc ở chỗ vắng người
Thường ngợi khen
nhau
Đảnh lễ phương dưới là
đối xử tốt với tôi tớ:
Đây là mối quan hệ giữa
người chủ với người giúp việc, tôi tớ, giữa
người lãnh đạo với công nhân của mình. Nhất là
trong xã hội hiện đại hóa, nhiều công ty doanh
nghiệp đang phát triển. Gia đình nào cũng có
người giúp việc. Thiết nghĩ đây là một phương
pháp bảo tồn mối quan hệ trên tốt đẹp lợi lạc
nhất. Trong lịch sử, từ ngàn xưa cho đến nay,
các cuộc thay ngôi đổi vị, bất đồng chính kiến,
mâu thuẩn xung đột là do mối quan hệ này không
được đảm bảo. Chủ và tớ, chủ doanh nghiệp với
công nhân, người thi hành luật pháp với nhân
dân, nếu xẩy ra xung đột thì tổ chức sẽ sụp đổ
hay tồn tại một cách èo uột. Do đó, muốn giữ
vững tổ chức đòi hỏi phải thiết lập mối quan hệ
đó trên phương diện đạo đức. Về phương diện này,
Đức Phật dạy như sau:
Năm điều sai bảo của chủ
đối với tớ:
Tùy khả năng mà
sai sử
Phải thời cho ăn
uống
Phải thời thưởng
công lao
Thuốc thang khi
bệnh
Cho có thời giờ
nghỉ ngơi
Bên cạnh đó người làm
cũng có năm điều thiết yếu để cung kính đối đãi
phụng sự chủ của mình:
Dậy sớm
Làm việc chu đáo
Không gian cắp
Làm việc có lớp
lang
Bảo tồn danh giá
chủ.
Đức Phật dạy rằng “Này
Thiện Sanh, nếu chủ đối với tớ được như vậy thì
phương ấy an ổn không điều chi lo sợ”.
Đảnh lễ phương trên là
đảnh lễ các bậc trưởng thượng, sa môn, bà la
môn:
Đây là yếu tố để
giữ vững mối quan hệ tốt đẹp giữa tu sĩ với cư
sĩ.
Tăng già, những bậc chân
tu, là người kế thừa mạng mạch của Như lai, là
người truyền bá chánh pháp của Chư Phật. Đời
sống của chư Tăng là đời sống của pháp, mỗi cử
chỉ hành động, lời nói của họ đều khế hợp với
Phật pháp và mang ý nghĩa phụng sự đạo pháp.
Cuộc sống tu sĩ giản dị nhưng thanh cao, là suối
nguồn cho dòng chảy Từ Bi. Chính vì vậy kính lễ
tu sĩ là kính lễ chánh pháp, hộ trì tu sĩ là hộ
trì chánh pháp. Được như vậy là đóng góp vào
việc xây dựng an lạc cho cuộc đời và cho tự thân
người hộ trì. Phương pháp đó được đức Thế Tôn
dạy như sau:
Người cư sĩ đối
với tu sĩ:
Thân hành từ ái
Khẩu hành từ ái
Ý hành từ ái
Đúng thời cúng
dường
Không đóng cửa
khước từ
Ngược lại người cư sĩ
được chỉ dạy những điều sau:
Ngăn ngừa chớ để
làm ác
Chỉ dạy điều lành
Khuyên dạy với
thiện tâm
Cho nghe những
điều chưa nghe
Những gì đã được
nghe làm cho hiểu rõ
Chỉ vẽ con đường
sanh thiên.
Tóm lại, đối tượng thờ
lạy của con người rất đa dạng, từ tín ngưỡng vật
linh của những bộ tộc nguyên thuỷ đến thuyết đa
thần của các dân tộc sơ khai, chủ trương nhất
thần và thuyết thiên mệnh của các xã hội văn
minh… tất cả đều trở thành đối tượng nương tựa
và tuân phục của con người. Phần lớn các tôn
giáo trên thế giới đều được xây dựng trên cơ sở
lòng tin. Nhìn chung, mỗi hình thức tín ngưỡng
hay tôn giáo đều có đối tượng tôn kính riêng,
thể hiện lòng khát ngưỡng hoàn thiện của con
người. Riêng với Đạo Phật, đối tượng tôn kính là
tam bảo; Phật, Pháp, Tăng, biểu trưng tính chân
thiện trong cuộc đời mà mỗi con người đều có khả
năng hoàn thiện. Người Phật tử thể hiện sự tôn
kính tam bảo tức là họ đang quay về với chính
mình và phát huy khả năng hoàn thiện ấy trong
mỗi sắc thái và hành động.
CHƯƠNG 2
HÌNH THỨC LỄ BÁI
Đi đôi với đối
tượng tôn kính những hình thức lễ bái được tìm
thấy trong các tôn giáo. Tuy nhiên, tùy phong
tục tập quán của mỗi quốc độ, mỗi tôn giáo, mỗi
địa phương mà có nhưng hình thức lễ bái khác
nhau. Chính vì vậy trong xã hội không ít hình
thức lễ bái mang tính dị đoan, thiếu trí tuệ và
không lợi ích gì cho cuộc sống. Đạo Phật không
chủ trương sự cầu khẩn, mặc khải hay dựa vào thế
lực khác mà chính mỗi người phải nhận lấy trách
nhiệm trước lời nói, ý nghĩ và hành động của
mình. Đạo Phật xem hình thức lễ bái chỉ là
phương tiện, vận dụng phuơng tiện ấy để đạt đến
thanh tịnh và giác ngộ. Hình thức và nội dung,
hay phương tiện và mục đích phải tương thích mới
đạt đến kết quả cao. Để hiểu được điều đó, người
viết trình bày sơ lược một vài hình thức lễ bái
được tìm thấy trong một số tôn giáo.
2.1 - Hình thức lễ bái
trước thời Đức Phật:
Ở Ấn Độ, như
chúng ta biết, có nhiều tôn giáo và tín ngưỡng
mà đấng tối cao là đối tượng tôn kính tuyệt đối
của các tín đồ. Người Ấn biểu lộ sự tôn kính của
mình dưới nhiều hình thức. Về sau, Đạo Phật cũng
ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi các hình thức này.
Một vài hình thức lễ lạy cơ bản trong Đạo Phật
giúp chúng ta hình dung được cách lạy của người
Ấn Độ. Lúc đức Thế Tôn còn tại thế, các đệ tử
khi gặỉp Ngài đều quỳ xuống đặt đỉnh đầu lên hai
bàn chân của Ngài. Hai bàn tay trãi ra như đang
nâng chân đức Thế Tôn, thể hiện sự chí kính của
mình. Người Ấn có các cách lạy tiêu biểu sau:
Tồn cứ lễ: nghĩa
là lễ bái bằng cách một chân quỳ lạy. Thỉnh
thoảng ta cũng gặp một vài kinh hay hình ảnh
trong tượng cổ mô tả cách lạy này.
Khởi cử lễ: Nghĩa
là dùng nghi thức bước một bước lễ một lạy. Sau
này ở Trung Quốc thường xử dụng và có tên gọi là
“Nhất bộ nhất bái” hay “Tam bộ nhất bái”
Hữu nhiễu tam
thất lễ: Nghĩa là lễ một lạy rồi đi nhiễu ba
vòng về phía bên hữu của đối tượng cung kính đó.
Tạ lễ: Nghĩa là
lễ bái bằng cách ngồi xuống đất cúi đầu lạy, tức
là lạy bằng cách ngồi.[9,82]
Trong Phật giáo Tây
Tạng, lạy Phật là một pháp mơn tu căn bản. Trước
khi nhập thất các vị Lạt Ma lạy một trăm ngàn
lạy, trong ba tháng mười ngày. Đây là một sự
chuẩn bị cho thời gian hạ thủ cơng phu trên hai
phương diện thân và tâm. Cách lạy của người Tây
Tạng cũng khác với chúng ta là họ lạy nằm dài
hết cả người xuống đất. Cĩ nhiều người dùng tấm
ván lót lạy, tấm ván trở nên bĩng nhống, hai chỗ
bàn tay chạm lỏm xuống sâu. Ở nước ta, cĩ đạo
Cao Đài cũng có nhiều cách lạy đáng chú ý chẳng
hạn như lạy nhất kỳ, nhị kỳ, Tam kỳ, lạy đức Chí
tơn, lạy đức Phật Mẫu, lạy thần thánh… nhìn
chung các hình thức lễ lạy như sau: Đứng thẳng
người, mắt hướng vào thiên bàn, tay bắt ấn tý,
xá sâu ba xá, chân trái bước tới, chân phải quỳ
xuống, chân trái quỳ theo. Đưa ấn tý lên trán
niệm Nam mơ Phật, đưa qua bên trái niêm Nam mơ
Pháp, đưa bên phải niệm nam mơ Tăng. Cơ bản là
như vậy.
2.2- Hình thức lễ bái
trong Nhân gian:
Thờ cúng và lễ
bái là một đạo lý truyền thống của các dân tộc
trên thế giới. Trong các triều đại quân chủ, thờ
cúng lễ bái được xem là nghĩa cử cao đẹp nhất mà
con người thể hiện đối với tiền nhân. Bởi vậy
trong cơ cấu triều chính có riêng một bộ đặc
trách việc thờ cúng lễ bái gọi là bộ lễ. Tuy vậy
cách lạy của họ thường rơi vào ba động cơ sau:
1. “Ngã mạn lễ:
Nghĩa là người lạy vì hồn cảnh bắt buộc phải
hành lễ nhưng thâm tâm của họ khơng muốn lạy, do
đĩ họ lạy với cử chỉ ngạo nghễ, thái độ kiêu
căng, khơng phải là lễ độ cung kính. Đầu lạy
khơng sát đất, đứng lên cúi xuống cẩu thả cho
qua việc. Cĩ thể họ vì sợ mất thể diện với bạn
bè hoặc sợ dơ bẩn quần áo quý giá của mình nên
buộc lịng phải lễ bái theo kiểu ngã mạn. sợ chê
là bất hiếu, bất trung… cũng như quý trọng quần
áo và bạn bè hơn ơng bà tổ tiên. Cách lạy đĩ gọi
là ngã mạn lễ.
2. Cầu danh lễ:
Nghĩa là người lạy vì cầu danh vọng, quyền tước
qua sự chú ý và ngợi khen của cấp trên cũng như
lấy lịng quần chúng ủng hộ. Khi cĩ cấp trên hay
quần chúng chú ý thì họ lễ lạy cịn khơng thì họ
biếng nhác và giải đãi. Như vậy họ lễ lạy vì mọi
người chứ khơng phải cho chính họ.
3. Thân tâm cung
kính lễ: Nghĩa là người lễ lạy thể hiện thân tâm
cung kính thật sự”.
Nghi thức là một yếu tố
quan trọng cho cuộc sống, bởi vậy từ ngàn xưa
Trung Hoa đã hình thành nên cuốn kinh lễ. trong
Khổng gia xưa nay, người ta rất coi trọng nghi
thức và nghi lễ. Họ xem xét kỹ lưỡng việc dùng
các lễ nghi và hiểu rằng lễ nghi giúp cho việc
chuyển hĩa, cách tân đời sống. Họ cho rằng nghi
thức là thuộc về phép tắc của trời đất, thực
hiện nghi thức tức là phụng sự trời đất, là liên
thơng giao tiếp với các tổ tiên và làm cho xã
hội hịa hợp. Đây cũng là mặt tiêu biểu của đời
sống gia đình và cộng đồng, một đời sống gắn với
nguyên tắc hệ thống thứ bậc và quan hệ xã hội.
Lễ bái cịn là một đạo nghĩa nhằm tiêu biểu ý chí
tơn kính, tưởng niệm đến ân đức sâu dày của tổ
tiên ơng bà, nhắc nhở mọi người làm trịn bổn
phận con cháu tơng mơn. Dưới đây là một vài hình
thức tiêu biểu:
Theo Khổng giáo,
hình thức con người đứng thẳng là tiêu biểu cái
uy của kẻ sĩ. Hai tay cung thủ nghĩa là hai tay
nắm lại nhau tiêu biểu cho cái dũng của thánh
nhân. Trước khi lạy hai tay cung thủ đưa lên
trán, kế đến đưa sang phải, rồi đưa sang trái là
tiêu biểu cho tam tài (trời, đất và người). Khi
lạy, hai tay cung thủ chống lên đầu gối chân mặt
và quỳ chân trái xuống trước là tiêu biểu cho sự
tơn kính mà khơng mất tư thế cái uy dũng của kẻ
sĩ. Cúi đầu xuống đất là tiêu biểu cho sự cung
kính những bậc mà mình đảnh lễ. Đĩ là cung cách
và ý nghĩa tổng quát mà khổng giáo quan niệm.
2.3 - Hình thức lễ bái
trong Đạo Phật:
Lễ bái là một
nghĩa cử cao đẹp trong việc đặt niềm tin và quy
ngưỡng hướng về Chư Phật, chư Bồ Tát và chư Hiền
Thánh Tăng. Quỳ lạy tức biểu lộ đức tánh khiêm
tốn và để tỏ lòng tri ân, báo ân mà người Phật
tử hằng tạc dạ ghi tâm, ân triêm công đức. Bên
cạnh đó, trong Phật giáo sự lễ bái còn tiêu biểu
nhiều ý nghĩa khác như chánh quán lễ, phát trí
thanh tịnh lễ, thật tướng bình đẳng lễ và biến
nhập pháp giới lễ. Trước hết chúng ta chỉ đề cập
đến cách lễ bái của hàng Phật tử, còn những cách
trên sẽ được trình bày ở chương ý nghĩa.
2.3.1- Cách lạy của
người Phật tử:
Trong Đại Đường
Tây vức ký quyển 2 ghi; Ấn Độ có 9 cách lạy được
gọi là Tây vức cửu nghi như sau:
Phát ngôn úy vấn
lễ: Nghĩa là lễ bái bằng cách mở lời vấn an
Phủ thủ thi kính
lễ: Lễ bái bằng cách cúi đầu xuống
Cử thủ cao ấp lễ:
Nghĩa là lễ bái bằng cách dơ tay cao vái chào
Hiệp chưởng bình
cung lễ: Nghĩa là lễ bái bằng cách chấp tay
ngang bằng vái chào đối tượng thi lễ.
Khuất tất lễ:
Nghĩa là lễ bái bằng cách quỳ gối.
Trường quy lễ:
Nghĩa là lễ bái bằng cách quỳ nằm dài ra.
Thủ tất cứ địa
lễ: Nghĩa là lễ bái bằng cách hai tay và hai đầu
gối quỳ sát đất.
Ngũ luân cu khuất
lễ: Nghĩa là lễ bái bằng cách năm vóc đều cúi
xuống.
Ngũ thể đầu địa
lễ: Nghĩa là lễ bái bằng cách năm vóc gieo xuống
đất.
Chín cách lạy này về sau
đã đi vào Phật giáo, thỉnh thoảng vẫn thấy sử
dụng ở một số tông phái.
2.3.2- Cách lạy của bậc
Đại Thừa Bồ Tát:
Cách lạy này còn gọi là
cách lạy của thánh giáo, thuộc về lý. Mục đích
là thể nhập pháp giới tánh của chư Phật. Tức là
thế giới thuộc về pháp tánh của chư Phật an trụ
và thấy thẳng được Phật thân, thấy được pháp
thân thanh tịnh của chư Phật.
Chánh quán lễ:
Nghĩa là quán chiếu pháp thân chân chính của chư
Phật hiện ra trước mặt. Vận dụng thiền quán
chiếu soi Phật thân hiện ra trước mặt để lễ lạy.
Phát trí thanh
tịnh lễ: Với người thực hành thiền định phải tu
tập thiền quán cho đến khi trí tuệ thanh tịnh
phát sanh từ nơi chân tâm mà không phải trí tuệ
thanh tịnh phát sanh từ nơi thức tâm. Khi trí
huệ thanh tịnh phát sanh từ chân tâm là Phật trí
trong bản tâm thanh tịnh của mình và dùng nó để
đảnh lễ pháp thân chư Phật trong mười pháp giới.
Pháp thân của chư Phật trong mười pháp giới đều
phát sanh từ nơi bản tâm thanh tịnh, trí tuệ
thanh tịnh của mình cũng phát sanh từ nơi bản
tâm thanh tịnh chung của mười pháp giới. Do đó,
người lễ bái một đức Phật là lạy tất cả chư Phật
trong mười phương không ngăn ngại.
Thật tướng bình
đẳng lễ: Cách lạy này phải dùng trí tuệ để quán
chiếu thật tướng của vạn pháp thể hiện một cách
bình đẳng, không sai biệt. Không có nhân, ngã,
bỉ và thử. Người lễ bái không thấy có mình lạy
và người để cho mình lạy. Dùng trí tuệ quán
chiếu thật tướng vạn pháp để nhận thấy rằng:
Mình và người, thể và dụng, phàm và thánh thảy
đều vắng lặng không hai.
Biến nhập pháp
giới lễ: Tức là vận dụng trí tuệ bát nhã thanh
tịnh của mình quán chiếu thân và tâm nơi chính
mình biến nhập vào pháp giới tánh của vạn pháp
một cách dung thông. Pháp giới tánh không bờ mé,
là nơi Chư Phật thường an trụ để hiện thân hóa
độ chúng sanh.
Mỗi tôn giáo, tín ngưỡng
hay xã hội đều có những hình thái lễ nghi tôn
kính khác nhau, thể hiện ước vọng tôn kính của
con người đối với những đối tượng mà họ nhận
thấy đáng tôn kính, trân trọng và tri ân. Đối
với Đạo Phật, lễ bái, nghi lễ được xem là một
phương tiện, vừa thể