PHÁT TÂM BỒ ĐỀ
THEO TINH THẦN
KINH HOA NGHIÊM
Thích Phước Trí
A. DẪN NHẬP
I. Xác Định Ý Nghĩa Đề Tài
Trong quyển Nhập Bồ Tát hạnh có
nói: “Muốn diệt trừ vô lượng khổ đau trong ba
cỏi, và trừ những nỗi bất an cho hữu tình, muốn
hưởng được trăm thứ khoái lạc, thì đừng bao giờ
xả bỏ Tâm Bồ Đề. Những hữu tình đang bị trói
buộc trong ngục sinh tử mà phát Tâm Bồ Đề chốc
lác cũng được gọi là con của Phật, đáng được
trời người kính lễ. Như hóa chất luyện vàng, cái
thân phàm tục ô uế sẽ được Tâm Bồ Đề chuyển hóa
thành thân Phật, bảo châu vô giá. Bởi thế, hãy
giữ vững Tâm Bồ Đề. Bằng con mắt tuệ, đấng đạo
sư của chúng sanh thấy rõ Tâm Bồ Đề hết sức qúy
báu. Bởi vậy, ai muốn ra khỏi ba cõi hãy khéo
giữ vững Tâm Bồ Đề”.
Có khi nào chúng ta tự hỏi lòng
mình là làm thế nào để được thành Phật không ?
Phải chăng nhờ hành đạo Bồ Tát mà thành Phật.
Vậy đạo Bồ Tát làm sao mà thành được ? Có phải
là do “phát Tâm Bồ Đề”. Vậy Phát Tâm Bồ Đề là
động lực độc nhất vô nhị của nhân hạnh Bồ Tát và
quả chứng Như Lai. Nếu không có động lực đó, thì
nhân hành Bồ Tát sẽ không có một ai hành và quả
chứng Như Lai sẽ không có một ai chứng.
Như vậy cũng đủ hình dung ra
rằng, Phát Tâm Bồ Đề quan trọng như thế nào
trong Phật Pháp Đại thừa, cũng như người tu hành
theo Kinh Hoa Nghiêm. Là một hành giả chuyên tu
Phật Pháp Đại thừa mà nói là không cần Phát Tâm
Bồ Đề là không thể tưởng tượng được. Người thực
sự tu học Đại thừa xưa nay chưa ai bỏ qua việc
Phát Tâm Bồ Đề. Phật dạy: “Mỗi chúng sanh đều có
khả năng thành Phật”. Theo Kinh Hoa Nghiêm, điều
đó có nghĩa là mỗi phàm phu đều có tiềm năng
khai mở những tâm thức tiến hóa nói trên. Rằng
sự khai mở ấy bắt đầu bằng phát khởi Bồ Đề Tâm
và kết thúc bằng viên mãn Bồ Đề Tâm. Nói cách
khác, chính Bồ Đề Tâm là cốt lỗi của tất cả mọi
tâm thức tiến hóa. Chính Bồ Đề Tâm là động lực
đẫy kẻ phàm tiến tới Thánh vị. Bồ Đề Tâm không
những là phương tiện, mà là bản thể của giác
ngộ. Bồ Đề Tâm vừa là đối tượng được khai mở, mà
cũng vừa là chủ thể khai mở.
II. Lý do chọn đề tài
Đạo Phật lưu hành ở nước ta hằng
bao thế kỷ, ăn sâu vào tiềm thức của mọi người
dân Việt. Không chỉ là Phật Pháp Đại Thừa, mà
còn là nhất thượng thừa. Hành giả Phật Pháp nói
chung, đúng lý đều là Bồ Tát và đều đã Phát Tâm
Bồ Đề. Nhưng nếu hỏi rằng phải chăng đạo hữu đã
Phát Tâm Bồ Đề thì chắc đại đa số Phật tử sẽ
không biết trả lời ra sao.
Chính vì một số người đang tu học
Phật pháp, cũng như đa số Phật tử nói chung chưa
rõ Phát Tâm Bồ Đề là như thế nào, nên không thể
thực hiện Bồ Tát đại hạnh. Vì vậy, Phật Giáo lâm
vào hiện trạng ảm đạm trời chiều, và đa số nhân
quần xã hội cho rằng Phật Giáo là không cần
thiết cho ngày nay, thậm chí chê bai là tiêu
cực, yếm thế. Thử hỏi điều đó là một tổn thất to
lớn biết chừng nào cho Đạo Phật.
Người có tâm với Đạo Phật chúng
ta không thể ngồi nhìn Đạo Phật cứ thế mà đăm
chiêu, không chút động tâm. Cho nên cần phải dựa
trên tinh thần căn bản của Đức Phật, nêu cao
những đặc chất vì pháp vì người, làm cho Đạo
Phật hoạt động tích cực trở lại trong thế giới
ngày nay. Vậy, phải làm sao ? Chỉ có một cách
duy nhất là “Phát Tâm Bồ Đề”, thực hiện Bồ Tát
đại hạnh mới được. Như Hòa Thượng đã viết ở phần
lược giải Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Phổ Hiền trang
380 như sau: “Theo Phật hay Phổ Hiền Bồ Tát, Bồ
Đề tâm tức trí huệ là trên hết. Tu cùng kiếp mà
không có Bồ Đề Tâm chỉ đạo, công phu cũng thành
vô ích. Muốn có trí tụê, chúng ta phải học, phải
suy nghĩ, phải làm và phải Phát Tâm Bồ Đề mà
kinh thường gọi là tụê học”. Vì lý do ấy mà con
chọn đề tài: “Phát Tâm Bồ Đề theo tinh thần Kinh
Hoa Nghiêm” này.
Phát Tâm Bồ Đề tức là lập chí,
hun đúc một tâm ý hướng mình vào con đường giác
ngộ, phát triển tâm linh đi vào sự khai phát
tiềm năng linh thiêng sẵn có của mỗi người, vào
tất cả những hoạt động hướng tới Chân, Thiện,
Mỹ. Nhiều khi mình nghĩ: “Tu mấy chục năm rồi,
cần gì phải bàn tới chuyện phát tâm… Nói chuyện
phát tài coi bộ hấp dẫn hơn !” Thật sự, phát tâm
là chuyện mình cần làm hằng ngày. Tâm thái hướng
về giác ngộ phải được khơi dậy, hun đúc, ấp ủ,
nuôi dưỡng, không thể buôn lơi. Khổng Tử nhắc:
“Đạo dã giả, bất khả tu du ly dã !” Nghĩa là đạo
thì chẳng thể tạm rời, dù trong thoáng chốc. Đạo
tức là Tâm Bồ Đề vậy.
Có thể lúc đầu, sự phát tâm chỉ
là một ý tưởng nho nhỏ. Nhưng khi ý tưởng ấy dấy
động lên một cuộc cách mạng về cái nhìn, về nhân
sinh quan và vũ trụ quan, về nhận thức, về giá
trị của cuộc sống và ý nghĩa đời mình…. thì ý
tưởng ấy chắc chắn mở ra một tâm thái rộng rãi,
dẫn ta tới một ngưỡng cữa tâm linh cao hơn, sáng
hơn; mà một khi đã bước qua cửa ấy rồi, cuộc đời
mình hoàn toàn đổi thay, không còn nhìn cạn hẹp
như xưa nữa. Đức Phật gọi động cơ thúc đấy ta
vào con đường tiến hóa ấy là Phát Tâm Bồ Đề.
III. Giới hạn phạm vi đề tài
Như chúng ta đã biết, thế giới
ngày nay có nhiều biến động. Xã hội phát triển
theo chiều hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
người người lo toan tất bật với cuộc sống, quên
mất bản tâm của mình. Trước tình hình đó, những
người con Phật chúng ta cần phải phát đại Bồ Đề
Tâm. Không chỉ vì Đạo Phật suy vi mà Phát Tâm Bồ
Đề, mà chính là vi phải Phát Tâm Bồ Đề để cứu
khổ nhân loại. Vì lẽ đó, là một tín đồ Phật
Giáo, việc Phát Tâm Bồ Đề là không thể trì hoãn.
Đại cương Kinh Hoa Nghiêm tác giả Thích Hoằng
Trường có viết: “Quên Phát Bồ Đề Tâm, làm mọi
thiện pháp, đó là ma nghiệp”. Điểm đặc sắc của
Kinh Hoa Nghiêm là thấy được khả năng tiềm tàng
vô song của mỗi chúng sinh. Rằng mình có khả
năng làm khô biển nghiệp, siêu thoát càn khôn,
nắm trọn vũ trụ trong lòng bàn tay. Chỉ cần phát
triển Bồ Đề Tâm thì bao ác nghiệp sẽ tan rã, bao
công đức thành tựu, bao việc bất khả tư nghì tự
hiển hiện. Để bắt đầu sự hiển hiện ấy, Kinh Hoa
Nghiêm dạy ta trước hết phải sửa đổi cái nhìn:
“Hãy thức tỉnh khỏi cơn mê nghĩ về một cuộc sống
mà dòng đời mãi trôi, ngày lại ngày ta chẳng ý
thức nó trôi về đâu” . Hãy làm cách mạng trong
nội tâm; đặt cho mình một sứ mạng cao cả. Đừng
chờ Phật, Bồ Tát hay một vị trời nào đó hiện ra
chỉ bảo, tuyên bố đặt định sứ mạng giùm mình.
Đời mình, mình phải tự sáng tạo, đừng chờ ai
sáng tạo giúp mình.
Phát Tâm Bồ Đề quyết không phải
là việc bình thường mà cực kỳ hiếm có rất khó
đạt được. Một hành giả Phật Pháp, nếu đã thực sự
Phát Tâm Bồ Đề thì địa vị của người đó trong
Phật Pháp sẽ rất cao cả, ngay cả công đức mà
người đó có được cũng sẽ rất là rộng lớn. Bởi vì
người Phát Tâm Bồ Đề, ngay lúc đó đã có thể được
tôn xưng là Bồ Tát. Bồ Tát sở dĩ trở thành Bồ
Tát chính là ở chổ đã Phát Tâm Bồ Đề. Người đã
Phát Tâm Bồ Đề, tuy hãy còn là một phàm phu
nhưng cũng đã không còn là phàm phu bình thường
nữa, mà đã trở thành một vị phàm phu Bồ Tát rồi.
Có điều là, việc nảy sinh ra tâm Bồ Đề cố nhiên
là cực kỳ khó, nhưng lai rất dễ thoái chuyển.
Một người đã Phát Tâm Bồ Đề, nếu không chịu được
những gay go phức tạp, mà một khi đã để mất đi
cái tâm Bồ Đề, thì cái tư cách Bồ Tát của người
đó cũng sẽ vì vậy mà mất theo. Vì lẽ đó, là Bồ
Tát hay không phải là Bồ Tát, mấu chốt quan
trọng nhất không ở đâu khác, mà hoàn toàn quyết
định ở chổ đã Phát Tâm Bồ Đề chưa ? Có thể vĩnh
hằng giữ lấy, không để mất cái tâm Bồ Đề ấy hay
không ?
“Phát Tâm Bồ Đề theo tinh thần
Kinh Hoa Nghiêm” là một công trình nghiên cứu
tương đối khó khăn và vất vả. Ngoài những khó
khăn về sự bất nhất trong một số kinh, trong các
tài liệu nghiên cứu, thì vấn đề then chốt chính
yếu là muốn mọi người cùng đồng phát tâm: “Cầu
đạo giải thoát, hướng đến Phật qủa, làm lợi ích
chúng sanh”. Trong kinh Vô Tận Ý, Đức Phật dạy
chúng ta: “Nếu không vì hóa độ chúng sanh, ta
không Phát Tâm Bồ Đề này”. Cho nên Phát Tâm Bồ
Đề không chỉ là để hy vọng sau này mình sẽ thành
Phật, mà quan trọng hơn vẫn là để ngay bây giờ
có thể hóa độ chúng sanh, thâm nhập xã hội, tiếp
cận nhân quần, tùy phận, tùy sức mà mở lối cho
chúng sanh ra khỏi đường mê. Nói theo cách nói
thông thường, Phát Tâm Bồ Đề có hai mục tiêu:
Hướng lên thành Phật là mục tiêu hàng đầu; Hướng
xuống hóa độ chúng sanh là mục tiêu thứ 2 mà
người xuất gia cũng như những người con Phật có
tâm hạnh Bồ tát cần phải thực hành.
Để trình bày đề tài trên, có rất
nhiều vấn đề để thảo luận, bàn bạc, song phạm vi
giới hạn của bản luận văn này chỉ xin sơ lược
đôi nét về các vấn đề liên quan đến “Phát Tâm
Bồ Đề” được bàn đến dưới đây:
- Giới thiệu khái quát về Kinh
Hoa Nghiêm, Ý nghĩa tên kinh, nội dung kinh.
- Trình bài - Giải thích đề
tài - Bồ Đề – Tâm Bồ Đề - Phát Tâm Bồ Đề.
- Phát Tâm Bồ Đề theo tinh thần
Kinh Hoa Nghiêm.
- Thế nào là tà Phát Tâm Bồ Đề
và thế nào là chân chánh Phát Tâm Bồ Đề.
- Nhân duyên Phát Tâm Bồ Đề.
- Phương pháp - khuyên rộng
khắp đại chúng cùng đồng phát tâm.
- Lợi ích của sự Phát Tâm Bồ
Đề.
B. NỘI DUNG
Chương 1: GIỚI
THIỆU KHÁI QUÁT VỀ KINH HOA NGHIÊM
1.1. Giới thiệu Kinh
Kinh Hoa Nghiêm là một kinh đồ sộ
và vĩ đại nhất trong Phật Giáo đại thừa. Bộ kinh
được thuyết trong 21 ngày, sau khi đức Thích Ca
Mâu Ni thành chánh giác dưới cội Bồ Đề. Kinh
diễn tả cảnh nội chứng bất tư nghì của Đức Phật.
Qua bộ kinh, Đức Phật, bậc giác ngộ chân lý tối
thượng, hiển bày một nhân sinh quan và vũ trụ
quan thâm quảng, chẳng hạn cuộc bởi thời gian,
không gian và phạm vị nhỏ bé của cá thể hay văn
hóa.
Không những bộ kinh có hình thức
đồ sộ: 80 cuốn, trăm vạn chữ, mà nội dung của nó
cũng vĩ đại: bao hàm, dung nạp tất cả mọi tư
tưởng của Đại thừa Phật Giáo. Bởi vậy, Tổ Sư xưa
có nói: “Am hiểu Kinh Hoa Nghiêm là am hiểu tất
cả mọi tông phái Phật Giáo. Am hiểu Kinh Hoa
Nghiêm là am hiểu con đường tu Bồ Tát Đạo, thành
Phật độ sanh. Kinh Pháp Hoa là vua của các kinh.
Còn Kinh Hoa Nghiêm là vua của tất cả vua”.
Kinh này là đỉnh cao trí huệ của
văn học Phật Giáo. Nó không những chỉ thẳng bản
tánh Phật của mỗi người, nó còn chỉ ra con đường
viên mãn đạo Bồ Tát. Theo đó, giác ngộ không
phải là giai đoạn chót của đường tu mà là một
điểm nhỏ trong qúa trình tu hành độ sanh, thực
hành hạnh nguyện của Đức Phổ Hiền. Bao nhiêu quả
vị tu chứng chỉ là phương tiện mà thực chất vốn
không, bao nhiêu dục vọng tự khô kiệt vì thể
tánh chân như luôn hiển hiện.
Kinh này tiếng Phạn gọi là
Avatamsaka Sutra. Từng phần của bộ kinh được
dịch ra tiếng Hoa vào khoảng thể kỷ thứ hai công
nguyên, và công trình phiên dịch được xúc tiến
cả mấy trăm năm. Trong khoảng thời gian ấy, có
hơn 30 bản dịch từng phần của kinh, và rất nhiều
dịch giả biên soạn, tái dịch những tác phẩm cũ.
Vô số sớ giải và án văn có liên hệ tới Kinh Hoa
Nghiêm được sáng tác. Cuối cùng vào khoảng thể
kỷ thứ bảy thì kinh được hoàn thiện. Ba bản dịch
chính của kinh là bản gồm có 60 cuốn, do Ngài
Budhabhadra (359-429) dịch, và bản gồm 80 cuốn,
do Ngài Shikshananda (652-710) dịch và bản 40
cuốn của Ngài Prajna dịch. Bản Hoa Nghiêm 80
cuốn thông dụng và hoàn thiện hơn vì được dịch
từ bản chính văn tương đối đầy đủ nhất.
Riêng Hòa Thượng chủ nhiệm bộ môn
có viết trong “Lược giải Kinh Hoa Nghiêm” trang
7-9 như sau:
Kinh Hoa Nghiêm có 3 bộ: Bộ thứ
nhất gọi là đại Hoa Nghiêm do Pháp Thân Tỳ Lô
Giá Na Chuyển. Bộ thứ hai là Trung Hoa Nghiêm do
Báo thân Lô Xá Na Chuyển và bộ thứ ba do Ứng
thân Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết. Như vậy, Kinh
Hoa Nghiêm có cái nhìn về Đức Phật khác hơn các
hệ tư tưởng khác và đương nhiên cũng khác hơn
các hệ tư tưởng khác và đương nhiên cũng khác
với lịch sử thông thường mà chúng ta học.
Cả 3 bộ kinh này đều ở cung rồng
Ta Kiệt La. Nhưng hai bộ dại kinh và trung kinh
quá đồ sộ, không thể mang về, nên ngài Long Thọ
Bồ Tát chỉ thỉnh được bộ Tiểu Hoa Nghiêm gồm có
100.000 bài kệ. Và mang về nhân gian. Ngài lọc
lại, chỉ còn một nữa là 45.000 bài kệ.
Bộ tiểu Hoa Nghiêm do ngài Long
Thọ đem về, rồi truyền sang Trung Hoa, được dịch
ra tiếng Trung Hoa, còn lại ngày nay 2 bộ. Bộ
Hoa Nghiêm 60 quyển do Ngài Giác Hiền dịch đời
Tấn và bộ 80 quyển dịch ở đời Đường, dưới sự bảo
trở của Tắc Thiên Hoàng Đế, quen gọi là Võ Hậu.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm chúng ta học
chủ yếu nương theo bộ kinh đời Đường. Kinh Hoa
Nghiêm do Báo thân viên mãn Lô Xá Na và kinh do
Pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật chuyển thì chúng ta
không thấy được Báo thân và Pháp thân Phật, nên
không thể nghe, không thể đọc và không thể hiểu
được.
Hiểu Kinh Hoa Nghiêm là từ văn tự
đi vào tư duy, vào thiền định, phát sinh được
trí tụê và dùng trí tụê quán sát mọi sự, mọi
vật. Kinh Hoa Nghiêm dẫn chúng ta vào pháp giới
hay nhìn thế giới chân thật. Và biết được việc ở
dạng chân thật, thì ta không còn lỗi lầm trên
sinh hoạt hiện tượng của cuộc đời. Kinh Hoa
Nghiêm muốn dạy ta cốt lỗi ấy.
Kinh Hoa Nghiêm phát xuất từ Ấn
Độ, nhưng được phát triển mạnh ở Trung Quốc,
Nhật Bản. Thật vậy, theo sự nghiên cứu, Kinh Hoa
Nghiêm chỉ còn tìm thấy rải rác trong vài tác
phẩm ở Ấn Độ. Đó là Bộ Đại Trí Độ luận của ngài
Long Thọ có dẫn dụng Kinh Hoa Nghiêm và những
tác phẩm chú sớ như Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận, hoặc
Thập Địa Kinh Luận giải thích về hai phẩm: Thập
Trụ, Thập Địa của kinh. Như vậy, chỉ có một phần
nhỏ của kinh được truyền thừa, còn toàn bộ Kinh
Hoa Nghiêm không có.
Tuy nhiên, về sau, Kinh Hoa
Nghiêm được truyền sang Trung Quốc có 3 bộ,
nhưng đều phát xuất từ nước Vu Điền của Trung Á
(ngày nay thuộc khu tự tự của Trung Quốc). Kinh
Hoa Nghiêm mang về Trường An, đến đời Tấn thì
ngài Phật Đà Bạt Đào La (Giác Hiền) là người đầu
tiên dịch sang tiếng Trung Quốc bộ Lục Thập Hoa
Nghiêm, gồm 60 quyển, thường gọi là bộ cựu dịch.
Cách 200 năm sau, đến đời Đường, Ngài Thật Xoa
Nan Đà dịch, chia thành 80 quyển, gọi là Bát
Thập Hoa Nghiêm hay bộ tân dịch. Và cũng ở đời
Đường, ngài Bát Nhã dịch riêng phẩm Nhập Pháp
Giới, gọi là Tứ Thập Hoa Nghiêm gồi 40 quyển.
Kinh Hoa Nghiêm phát triển mạnh ở
Trung Quốc, tiến đến thành lập Tông Hoa Nghiêm.
Sơ Tổ của Tông này là ngài Đỗ Thuận (557-640),
nhưng đến ngài Trí Nghiêm (602-668) là nhị Tổ
mới chính thức thành lập Tông Hoa Nghiêm. Và Tổ
thứ ba của Tông này rất nỗi tiếng, đó là ngài
Pháp Tạng (Hiền Thủ, 643-712). Phải nói là đến
thời của ngài Phát Tạng mới luận giải Kinh Hoa
Nghiêm và giảng kinh này cho Tắc Thiên hoàng
hậu. Ngài Pháp Tạng lý giải theo bộ bát thập Hoa
Nghiêm. Ngài giảng giải đầy đủ hơn, vì đã tổng
hợp được hai hệ tư tưởng Bát Nhã và Duy Thức của
Sơ Tổ và Nhị Tổ, kết hợp thành bộ Hoa Nghiêm sớ.
Đây là cốt lõi của Tông Hoa Nghiêm, làm cho Phật
pháp thịnh ở đời này.
Tóm lại, Kinh Hoa Nghiêm phát
xuất từ Ấn Độ, nhưng vì qúa cao siêu, hiếm người
tiếp thu được và tất nhiên việc phát triển càng
khó hơn. Phải đợi đến khi truyền sang Trung Quốc
hay Nhật Bản và phải gặp những vị vua chúa có
phước báo và quyền thế phát tâm mới đủ điều kiện
hổ trợ cho công việc phiên dịch, truyền bá kinh,
cũng như xây dựng chùa chiền, đúc tượng được
thành công.
Riêng ở Việt Nam, Phật Giáo đương
nhiên cũng có phần ảnh hưởng tinh thần Hoa
Nghiêm. Một số vị Cao Tăng cũng thọ trì kinh
này. Ứng dụng được phần nào tinh ba của kinh
trong cuộc sống. Tuy nhiên, nói chung bộ kinh
này không phát triển mạnh ở Việt Nam .
1.2. Ý Nghĩa Tên Kinh
Tên kinh toàn bộ là: “Đại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm”, gọi tắt là Hoa Nghiêm.
Nói vắng tắt, ý nghĩa tên kinh là ẩn dụ về pháp
giới, pháp giới tức là chân tâm. Pháp giới là
cảnh giới vô sai biệt, trong đó bao hàm mọi cảnh
giới của thánh và phàm, của vũ trụ và vạn tượng.
Đặc tính này bao gồm lý sự, thể, tướng, dụng
nhân quả của pháp giới. Cũng như hoa sen (trong
đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa) là ẩn dụ của chân
tâm, Hoa Nghiêm là ẩn dụ của pháp giới. Nếu phân
tích tên kinh từng chữ thì:
Đại: là chỉ thể tánh bao la vô
cùng tận của pháp giới, không sao có thể đo đạc
trắc lượng được biên cương của pháp giới vô
hình, ngay như vũ trụ cũng chỉ là một điểm trong
pháp giới.
Phương: Nghĩa là phép tắc, nguyên
lý, chân lý, pháp bất biến của pháp giới. Những
chân lý này lúc nào cũng hiển nhiên, đúng đắn,
chân chính không lệch lạc. Thí dụ như lý nhân
qủa, lý nhân duyên, nghiệp báo, lý luân hồi.
Chân lý chính là tướng trạng của pháp giới. Chân
lý thì vô hình nhưng nó chi phối sự vận hành của
tất cả mọi sự, mọi hiện tượng.
Quảng: Chỉ sự ứng dụng của pháp
giới thì rộng lớn, trùm khắp vũ trụ, châu biến
khắp nơi đâu cũng vô ngại. Không đâu ra ngoài
phạm vi pháp giới. “Bóng dáng” của pháp giới
(chân tâm của ta) thì gần kề và hiển hiện khắp
nơi nhưng ta chẳng thấy đặng. Vì sao ? Vì ta bị
vọng tưởng, dục vọng che khuất trí tuệ để thấu
hiểu pháp giới. Nếu ai thể nhập pháp giới, trong
một bụi trần y có thể dung nạp vô biên thế giới,
trong một sát na dạo khắp vũ trụ. Đó là ứng dụng
của pháp giới.
Phật: Chử này có hai nghĩa, một
là Trí giác ngộ, hai là người giác ngộ. Giác ngộ
điều gì ? Giác ngộ sự huyền diệu của pháp giới,
của thể, tướng và dụng trong ba chữ Đại Phương
Quảng. Sự giác ngộ này là chìa khóa để nhập pháp
giới, của đại giải thoát, tự tại vô ngại. Sự
giác ngộ này biểu hiện bằng thập trí hay thập
lực trí của Đức Phật. Trong tên kinh, chữ Phật
với ý giác ngộ là nghĩa chính, còn nghĩa người
giác ngộ là nghĩa phụ, bởi vì đặc tính của pháp
giới thì vô nhân vô ngã.
Hoa: Đây là hình tượng ẩn dụ sự
tu hành mười ba la mật. Sự tu trì này là nhân để
nhập pháp giới, thành tựu mọi công hạnh của Bồ
Tát Đạo. Hình ảnh đóa hoa nở là hình ảnh của Tâm
Bồ Đề, khai mở ra trong tâm thức người tu. Tâm
này là nhân của mọi công đức, mọi hạnh lành. Hoa
này có mười cánh, mỗi cánh là một hạnh ba la
mật. Mời cánh ba la mật tức là: Bố thí, Trì
giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Bát nhã,
Phương tiện, Đại nguyện, Đại lực, và Đại trí.
Nghiêm: Nghĩa là trang nghiêm,
như dùng hoa để trang nghiêm. Ở đây ám chỉ dùng
vạn hạnh để trang nghiêm bản thể thanh tịnh,
trang nghiêm pháp giới. Hoặc có nghĩa là dùng
vạn hạnh công đức để thành tựu Phật qủa. Nhân
(trong chữ Hoa) là Bồ Đề Tâm, qủa (trong chữ
Nghiêm) là Phật. Mỗi đóa hoa là một công hạnh
với mỗi cánh hoa là một ba la mật. Kết những hoa
đó lại thành vòng, thành tràng, tức là xâu nối
những công hạnh đó với nhau. Bạn biết tràng hoa
này dài bao nhiêu không ?
Dài lắm ! Vô cùng vô tận chẳng
biết tới đâu thì hết. Đó chính là đặc tính của
sự tu hành theo hạnh nguyện của Ngài Phổ Hiền:
tu hoài không nghĩ, tu vô tận.
Ngài Thanh Lương Trừng Quán, có
viết bài văn giới thiệu Kinh Hoa Nghiêm, trong
đó có đoạn như sau:
Đại dĩ khoáng kiêm vô tế
Phương dĩ chính pháp tự trì
Quảng tắc xứng thể nhi chân,
Phật vị giác tư huyền diệu,
Hoa dụ công đức vạn hạnh.
Nghiêm vị sức pháp thành Phật.
Dịch rằng:
Đại thì rộng rải, không biên
giới
Phương là chân lý tự vận hành
Quảng hợp bản tánh, biếp khắp
nơi
Phật tức giác ngộ lý diệu
huyền
Hoa chỉ vạn hạnh, cùng công
đức
Nghiêm tô điểm lý, thành tựu
người.
Trong bài tựa cho Hoa Nghiêm Đại
Sớ, Ngài có viết thêm:
Kiến văn vi chủng,
Bát vạn siêu thập địa chi
giai,
Giải hạnh tại cung,
Nhất sinh viên khoáng kiếp chi
qủa.
Nghĩa là dù có kẹt trong vòng bát
nạn (tức là gặp những khó khăn tột bực ngăn trở
sư tu hành), nếu được thấy hoặc nghe Kinh Hoa
Nghiêm, ta cũng có thể tu chứng vượt ngay tới
giai vị Thập Địa, tức là giai vị tột bực của Bồ
Tát. Nếu hiểu biết rồi thực hành theo Kinh Hoa
Nghiêm thì ngay trong một đời này, ta có thể
viên mãn quả báo tu hành của vô lượng vô biên
kiếp.
Theo ngài Trừng Quán, tuy Kinh
Hoa Nghiêm đồ sộ và vĩ đại vô cùng, nhưng phương
pháp tu chứng mà kinh dạy thì lại giản dị và
mạch lạc vô ngần. Đồ sộ và vĩ đại là vì: Nếu
hiển bài chân lý của kinh cho rốt ráo thì mình
phải đọc bản thượng phẩm Hoa Nghiêm, gồm có vô
lượng vô biên bài kệ, nhiều như bụi trần trong
vũ trụ vậy. Hễ nơi nào có sự hiện hữu dưới dạng
tâm thức, vật chất, năng lượng… thì nơi ấy có
bản thượng phẩm này. Nếu bạn chẳng có đủ đủ thời
gian đọc bản thượng, thì đây bản trung chỉ có
hơn trăm ngàn vạn ức bài kệ mà thôi ! Nếu bạn
cũng chẳng rãnh rỗi đọc bản ấy, thì đây bản hạ:
chỉ hơn 10 vạn bài kệ.
Giản dị và mạch lạc vì: toàn kinh
là một bản đồ tu hành từ phàm phu tới thành
Phật. Từ chương trong kinh dạy về từng giai đoạn
tu hành. Pháp tu ở trước là nhân duyên cho pháp
tu ở sau; cảnh giới ở trên thì phải từ cảnh giới
ở dưới tiến lên. Pháp nào kinh dạy cũng thực
dụng. Pháp nào cũng bao hàm mọi khía cạnh, từ
nội tâm tới ngoại hạnh, từ tự tu tới độ sinh, từ
xuất thế đến nhập thế…. Nhưng việc tu thật giản
dị: cứ tu xong bước này, thì bước kế hiển hiện.
Tu theo kinh, đọc kinh, tụng kinh, quán kinh,
trì kinh tức là thể nhập vào chốn bất khả tư
nghì, siêu việc tư duy lý luận.
Bởi thế nói kinh là bản đồ thì
vẫn chưa đúng. Kinh là cửa ngõ của pháp giới,
của giải thoát, của tự tại. Kinh là thật tại vô
ngại trong trần lao hư huyển. Kinh là tổng thể
nhất như trong vạn thù sai biệt.
1.3. Nội dung Kinh Hoa Nghiêm
Nội dung của Kinh Hoa Nghiêm là
nói về tinh thần biện chứng, triết lý và phương
thức tu hành đạo Bồ Tát. Nó diễn tả cảnh giới
nội chứng cũng như trọn vẹn công hạnh của đường
tu, từ phàm phu lên đến qủa vị cứu cánh giác
ngộ. Cũng có thể nói đại ý của kinh này dạy ta
làm sao khai mở chân tánh hay pháp giới trong
tâm mình. Hoặc làm sao triển khai Bồ Đề Tâm tới
chổ viên mãn nhất. Để giải thích nội dung tu
hành, kinh chia làm bốn phần chính.
1. Tín phần: Phần này có 6 phẩm,
thuyết minh cảnh giới nội chứng của chư Phật để
giúp ta thoát khỏi sự hạn chế nhỏ hẹp do trí óc
đặt định ra. Khi mình buôn bỏ những thành kiến
và định kiến đặt ra trên nền móng của bản ngã,
thì tự nhiên chân lý sẽ hiển hiện. Sự chấp nhận
chân lý ấy, gọi là đức tin. Chân lý, hay pháp
giới hay chân tâm vốn sẵn có trong mỗi chúng
sinh. Chỉ chờ ta khai mở.
2. Giải phần: Phần này có 31
phẩm, giải thích cặn kẽ các hạnh tu của đạo Bồ
Tát, từ hạnh vị thập trụ, thập hạnh, thập hồi
hướng, thập địa, tới hạnh vị Đẳng giác. Mỗi giai
đoạn là một qúa trình phát triển và trưởng thành
tâm giác ngộ và hạnh giác ngộ. Chữ “Giải” ở phần
này có nghĩa là thấu triệt, không bằng suy nghĩ,
hay so sánh, mà bằng thể nghiệm sự vắng lặng
trong sáng của nội tâm. Sự vắng lặng này có là
do bụi bặm phiền não được quét sạch,và Tâm Bồ Đề
được nuôi lớn. Do đó phải thực hành: Cầm chổi
quét sạch bụi phiền não trong lòng để thấy chân
lý.
3. Hạnh phần: Phần này chỉ có một
phẩm: Phẩm ly thế gian. Phần này trình bày về
2000 công hạnh, tóm tắt tất cả cách tu trì Bồ
Tát Đạo từ lúc mới phát tâm cho tới hạnh vị Đẳng
giác. Chính công phu tu hành ở giai đoạn này là
then chốt cho sự cứu cánh thành tựu đạo Bồ Tát.
Trong khi “Giải” là thể nghiệm chân lý, “Hạnh” ở
đây có nghĩa là chia sẽ chân lý, giáo hóa chúng
sanh. Giải và hạnh đi đôi với nhau không tách
rời, không thể phân biệt trước sau. Biểu hiện
của hạnh là: An trụ trong cảnh giải thoát (ly
thế gian) nhưng vẫn ở trong trần thế để giáo
hóa, phục vụ; làm chuyện giáo dục, công ích xã
hội để độ sanh.
4. Chứng phần: Phần này trình bày
cảnh giới rốt ráo của đạo Bồ Tát. Tuy phần này
chỉ có một phẩm, nhưng rất dài, tên là Nhập Pháp
Giới. Trong phẩm ấy, người hành giải tiêu biểu
là một vị đồng tử tên là Thiện Tài, đại biểu cho
chúng sinh, cho ta thấy sự tu hành từ đầu cho
tới khi giác ngộ, thâm nhập pháp giới, ta cần
trưởng thành những tâm thức nào. Với quan niệm
thông thường, ta nghĩ rằng: Chứng qủa thành Phật
là giai đoạn cuối cùng; nhưng theo tinh thần
Kinh Hoa Nghiêm thì cái cuối cùng và cái bắt đầu
thì bình đẳng. Khi Thiện Tài nhập pháp giới thì
quan niệm tu hành có sự bắt đầu (từ phàm phu),
có sự kết thúc (chứng đắc, thành Phật) đều tiêu
vong, không thể áp dụng. Bất khả tư nghì ! Tuy
nhiên chúng ta có thể an toàn mà kết luận rằng:
Chứng có nghĩa là sự giải thoát rốt ráo nhất, là
đại Niết Bàn, là cảnh giới tự tại vô ngại cứu
cánh nhất, trong đó mọi chấp trước vào quan niệm
và vào bản ngã hoàn toàn vắng bặt.
Đối với một hành giả thì Kinh Hoa
Nghiêm như một con đường dẫn tới sự viên mãn Bồ
Tát Đạo, viên mãn Tâm Bồ Đề. Như vậy thì khởi
đầu của con đường này là đâu ? Là sự phát khởi
Tâm Bồ Đề. Do đó chủ đề của Kinh là Bồ Đề Tâm.
Kinh này dạy ta làm sao Phát Tâm
Bồ Đề, làm sao nuôi dưỡng, thành thục, rồi tới
viên mãn; lại làm sao khiến tâm này phát triển ở
những chúng sinh khác. Bởi vậy Kinh Hoa Nghiêm,
từ đầu đến cuối, có thể xem như là một chương
trình dạy ta thứ lớp tu hành từ phàm phu lên đến
quả Phật. Có lẽ không có kinh nào trong Phật
giáo trình bày sự tu hành một cách toàn diện rốt
ráo như Kinh Hoa Nghiêm.
Chương 2 : TRÌNH BÀY – GIẢI
THÍCH ĐỀ TÀI
Trước khi đi vào nội dung chính,
cốt lỗi nhất của đề tài “Phát Bồ Đề Tâm”, muốn
chuyển Phàm thành Thánh ta cần phải tu đạo Bồ
Tát. Vậy tu đạo Bồ Tát là tu gì ? Là tu Bồ Đề
Tâm. Tu Bồ Đề Tâm là nghĩa làm sao ? Là tu ba
tâm thái: Trực tâm, Thâm tâm và Đại bi tâm.
Ý nghĩa của ba tâm thái đó là:
- Trực tâm: là tâm chính niệm
chân như, chính niệm Phật tánh: đây là tâm thái
có thể quán chiếu, có thể thấy, có thể phản ảnh
đặc tính của chân như. Tâm này là trạng thái
rỗng rang không chút phiền não, duyên lự, tạp
niệm của lòng ta. Tâm này khi phát triển đến
cùng cực sẽ khiến trí hụê Bát nhã hiễn hiện,
đồng thời khiến ta đạt tới cảnh giới vô ngã, là
căn bản để liễu thoát sinh tử. Ở nơi mức độ bình
thường, thấp nhất, tâm này là lương tâm, là tâm
chân thật, thẳng thắn, ngăn chặn ta làm ác, hủy
phạm giới luật, làm chuyện đen tối, khúc khuỷu,
không thành thật, dối trá.
- Thân tâm: là tâm thái
hướng vào tánh chân thiện mỹ của pháp tánh: Đây
là tâm khiến ta thích làm thiện, thích tu hành,
thích học tập. Tâm này là rường cột giúp ta
thành tựu mười ba la mật, thập lực trí và vô số
thần thông biện tài công đức, bởi vì nó thôi
động sự ưa thích thực hiện vô vàn điều lành, tu
tập muôn ngàn pháp môn mà không mệt mỏi, nhàm
chán. Để phát triển tâm này, ta cần phát vô số
đại nguyện, nguyện tu hành vô lượng pháp môn.
Tâm này khi phát triển đến cùng cực sẽ làm ta
đạt tới cảnh giới vô ngã Niết Bàn, song không
làm ta chấp vào cảnh giới tịnh tĩnh của cỏi Niết
Bàn. Ngược lại nó khiến ta không ngừng tu hành
để viên mãn hạnh nguyện.
- Đại bi tâm: là tâm bao nạp
tất cả chúng sinh, là lòng thương vô hạn: Lòng
này là đại bi khiến ta thấy chúng sinh và mình
chỉ là một. Lòng đại bi giúp ta sống tự tại
trong cõi phàm, không chuyện thị phi tranh chấp
của chúng sinh làm ta phiền não. Đại bi là tình
thương không có điều kiện, không có đòi hỏi được
trả ơn hay được thương lại. Người tu tâm đại bi
thì chỉ bố thí, ban bố, nhưng không hề đòi hỏi,
chiếm đoạt, yêu cầu gì lại cho mình. Nếu trực
tâm được tu hành trong cô đơn im lặng thì đại bi
tâm là cách tu hành giữa chúng sanh, huyên náo
tạp nhiễm. Chỉ khi tâm đại bi phát triển đến
cùng cự thì đạo Bồ Tát mới viên mãn, bởi vì tâm
đại bi là chiếc thuyền để độ chúng sinh tói giác
ngộ. Và chỉ khi chúng sinh giác ngộ hết thì đạo
Bồ tát mới thành.
Ba tâm này liên hệ mật thiết với
nhau. Không cách gì chỉ tu đơn độc một tâm mà bỏ
phế hai tâm kia. Khi một tâm tu thì tự nhiên nó
sẽ thúc đẩy hai tâm kia cùng phát triển. Theo
quan điểm của ngài Thanh Lương quốc sư, thì tâm
đại bi nuôi dưỡng hai tâm kia. Ngài có làm ví dụ
Tâm Bồ Đề như cây đèn dầu. Dầu tượng trưng cho
hạnh cứu độ chúng sinh, tức là lòng đại bi. Tim
đèn tượng trưng cho hạnh của thân tâm, tức sự
rộng phát đại nguyện. Ánh sáng của đèn tượng
trưng cho hạnh của trực tâm, tức là đại trí hụê.
Qua đó ta thấy, tu Bồ Tát hạnh là làm phát triển
và thành thục tới chổ cứu cánh viên mãn Bồ Đề
Tâm, tức trực tâm, thâm tâm và đại bi tâm.
Để rõ hơn chúng ta sẽ trình bày
giải thích đề tài “Phát Tâm Bồ Đề theo tinh thần
Kinh Hoa Nghiêm” từ chi tiết được phân ra như
sau:
Theo ngài Pháp sư Diễn Bồi trong
Khuyến Phát Bồ Đề Tâm dịch như sau (trang
19-26).
2.1. Bồ Đề là gì ? Là tiếng Ấn
Độ, dịch ra tiếng Trung Quốc thì có hai cách,
cách dịch cũ và cách dịch mới. Cách dịch cũ
trước đời Đường là “Đạo”, dịch mới sau đời Đường
là “Giác”. Nếu so sánh ý nghĩa thì: Nói về những
diệu lý do chư Phật Thánh qủa thể hội được và
những trí đức đã thành tựu mà dịch Bồ Đề là
“Đạo” thì không có gì là không được. Nhưng cách
dịch mới là “Giác” thì xác đáng hơn. Chữ “Giác”
và chữ “Ngộ” trong “Giác Ngộ” là gần nghĩa nhau,
“Giác” tức là “Ngộ”, “Ngộ” tức là “Giác”, nhưng
thường ghép với nhau mà thành ra “Giác Ngộ”.
Chữ “Giác” nghĩa là Bồ Đề khác
nghĩa với chữ “Giác” trong “cảm giác”, “tri
giác”, “ố giác” thường gặp. Căn cứ vào những
điều được chỉ dẫn trong kinh Phật, thì chữ
“Giác” nghĩa là Bồ Đề “thuần chính giác”, trái
nghĩa với mê hoặc, vì “Giác” sở dĩ gọi là “Giác”
vốn là đối lập với mê hoặc.
Người phàm đới với sự vật này kia
không hiểu được chính xác, không thể gọi là
“Giác”. Ngay cả trong trường hợp tưởng rằng mình
đã hiểu rồi, nhưng cái “hiểu” đó đã thật “thuần
chính” chưa thì vẫn còn là vấn đế lớn. Vì tất cả
những sự “hiểu” thông thường đó, phần lớn đều
còn lẫn thành phần ô trọc trong đó mà chưa
“thanh tịnh”. Cho nên chữ “Giác” nghĩa là Bồ Đề
chân chính là phải “thuần chính”, “thanh tịnh”,
không lẫn một mảy may vẫn đục hay mê hoặc trong
đó, nếu không thì chưa đúng nghĩa “Giác” của chữ
Bồ Đề. Do đo,ù “Giác Ngộ” và “mê hoặc” là trái
hẳn nghĩa nhau, khi đã hiện diện sự giác ngộ thì
mê hoặc đã tiêu tan hết rồi, hai cái đó không
thể cùng song song tồn tại, cái lẽ của nó cũng
như vậy. Quang minh xuất hiện thì hắc ám tiêu
tan, trái lại hắc ám bao trùm thì quang minh
biến mất. Lại như bạo ác và chính nghĩa không
thể cùng song song tồn tại, khi chính nghĩa
ngẫng cao đầu dậy thì bạo ác bị xéo nát.
Phải đạt đến trình độ như thế nào
thì mới được gọi là “Giác Ngộ”?
Phải đến được cái mức không còn
mê hoặc thì mới nói là Bồ Đề. Ở địa vị phàm phu,
do còn có mê hoặc, chưa thành tựu được Bồ Đề.
Chỉ có thánh nhân xuất thế, vì đã dứt được mọi
mê hoặc, nên đã thành tựu được giác ngộ, mới có
thể nói là đạt được Bồ Đề. Cùng với thánh nhân
xuất thế, nhưng về trình độ khác nhau chia làm
tam thừa khác nhau. Cái mà các vị Thanh Văn
thành tựu được là Bồ Đề Thanh Văn, cái mà các vị
Duyên Giác thành tựu được gọi là Bồ Đề Duyên
Giác. Cái các bậc Phật Đà vô thượng thành tựu
được gọi là Bồ Đề vô thượng. Nói về ý nghĩa của
Giác Ngộ, tuy rằng cùng là giác ngộ, nhưng tùy
theo mức độ sâu nông khác nhau mà chia thành ba
loại Bồ Đề, mà Bồ Đề Vô thượng là cứu cánh nhất,
viên mãn nhất, cũng là cái Bồ Đề mà người phát
tâm Bồ Đề muốn chứng qủa.
Bồ Đề không chỉ có danh nghĩa của
nó, mà lại còn có tự thể của nó. Cái gì là tự
thể của Bồ Đề ? Đó là điều mà chúng ta sẽ bàn
tiếp dưới đây.
Phật Pháp có sự phân biệt Tam
thừa cộng giáo và Đại thừa cộng giáo; Tự thể của
Bồ Đề từ Tam thừa cộng giáo là chỉ Tụê thanh
tịnh vô lậu xuất thế. Tụê này không phải cái gì
khác, mà tức là tụê tâm sở trong ngũ biệt cảnh,
chỉ có biệt cảnh tụê thông với lậu và vô lậu, mà
đây là chỉ chuyên chỉ tụê tâm sở vô lậu. Tự thể
của Bồ Đề xuất từ Đại thừa bất cộng giáo thì chỉ
tứ trí Bồ Đề thanh tịnh. Tứ trí Bồ Đề thường
được nói đến trong duy thức học, tức là tứ trí
chuyển bát thức mà thành tứ trí (Thành sở tác
trí, Diệu quan sát trí, Bình đẳng tính trí và
Đại viên kỉnh trí). Đại thừa coi Tứ trí này là
tự thể của Bồ Đề. Trên lập trường đó, Bồ Đề mà
Thánh giả tam thừa đạt được, vẫn chưa đủ tư cách
gọi là Bồ Đề, vì Tứ trí của nó chưa viên mãn,
giác ngộ còn chưa cứu cánh, phổ biến. Như giác
ngộ mà các thánh giả Thanh Văn, Duyên Giác đạt
được chỉ là bộ phận, chưa thể biến khắp hết tất
cả, cho nên không được gọi là Bồ Đề; Giác ngộ
của Thánh giả Bồ Tát đạt được, phổ biến thì cố
nhiên đã phổ biến, nhưng vẫn chưa đạt đến vô
thượng, cho nên cũng không thể gọi là Bồ Đề.
Giác ngộ của Thánh giả Tam thừa,
đã không thể gọi là Bồ Đề, thì tại sao kinh nói
có ba loại Bồ Đề của Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ
Tát ? Nên biết rằng đây là đứng trên tướng bình
đẳng của Bồ Đề mà nói, vì Bồ Đề tức là Giác ngộ,
Thánh giả Tam thừa đều được Giác ngộ, cho nên có
thể gọi chung là Bồ Đề. Nhưng theo ý nghĩa thù
thắng, thì chỉ có vô thượng Bồ Đề mới có thể
chân chính gọi là Bồ Đề. Vì chỉ có chứng được vô
thượng Bồ Đề thì mới hoàn thành được Tứ trí. Khi
chưa thể hoàn thành viên mãn, vì thế, gắn với ý
nghĩa thù thắng của Bồ Đề, chỉ lấy Tứ trí làm
thể. Diệu Quang Sát Trí trong tứ trí, nhị thừa
có thể đạt được thành tựu từ bộ phận. Còn như
Thành Sở Tác Trí, Bình Đẳng Tính Trí, Đại Viên
Kính Trí, nhị thừa căn bản không thể thành tựu.
Chân chính hoàn thành Tứ trí Bồ Đề duy chỉ có
Phật và Phật mới có thể cứu cánh viên mãn. Thế
nên, chí có giác ngộ mà Phật đã tối cao hoàn
thành Tứ trí mới chân chính được gọi là Bồ Đề.
Mà Vô Thượng Bồ Đề này lấy Tứ trí làm thể. Giác
ngộ của nhị thừa, do đó không thể gọi là Bồ Đề.
Bồ Đề là giác ngộ, lấy vô lậu tuệ
làm thể. Vô lậu tuệ tức tuệ tâm sở trong biệt
cảnh, cho nên Bồ Đề cũng có tâm sỡ tương ứng của
nó, cũng tức là tâm sở tương ứng với tứ trí. Nói
đến họat động tâm thức của người ta, có cái gọi
là tương ứng tâm sở, như đệ bát thức trước có
năm tương ứng tâm sở, đệt thất thức có 18 tương
ứng tâm sở, đệ lục có 51 tương ứng tâm sở, năm
thức trước có 34 tương ứng tâm sở; Đến tứ trí do
Bồ Đề Phật quả hoàn thành là do bát thức chuyển
thành. Bát thức hữu lậu đã có tâm sở tương ứng
thì tứ trí vô lậu cũng có tâm sở tương ứng của
nó. Cho nên bất luận một trí nào trong tứ trí,
cũng quyết không phải là cô đơn biệt lập. Tâm sở
tương ứng của Bát thức hữu lậu có sự khác nhau,
hoặc nhiều hoặc ít. Tâm sở tương ứng của Tứ trí
vô lậu thì lại cũng có 21 tương ứng tâm sở, tức
là ngũ biệt cảnh: Dục, Thắng giải, Niệm, Định,
Tuệ; Ngũ biệt cảnh: tác ý, xúc, thọ, tưởng, tư;
thêm vào đó 11 thức tâm sở: Tín, tàm, qúy, vô
tham, vô sân, vô si, tinh tiến, khinh an, bất
phóng dật, hành xả, bất hoại. Tương ứng với Bồ
Đề Tứ trí, không ngoài 21 tâm sở nói trên, đó là
nghĩa tương ứng của Bồ Đề.
2.2. Tâm Bồ Đề là gì ?
Ý nghĩa của Bồ Đề, còn nhiều điều
có thể nói. Nay hãy tạm dừng để nói về Tâm Bồ
Đề. Cái tâm nói ở đây hơi khác với cái thường
nói, tâm không phải là cái cục thịt do máu thịt
tạo thành, cũng không phải là hư vọng phân biệt
tâm thường nói mà là hy vọng, nguyện vọng, tham
muốn. Phật pháp thông thường nói đến “dục” (tham
muốn) đều là nói cái không tốt, có ý chê trách.
Nhưng nếu nói đến lòng tham muốn thiện pháp thì
không phải là không tốt, mà là điều không thể
thiếu được đối với người tu học Phật pháp. Nếu
không có thiện pháp dục thì sẽ không đi tìm sự
giải thóat, không trưng cầu Vô Thượng Bồ Đề. Khi
đã có thiện pháp dục rồi thì sẽ nhiệt liệt theo
đuổi những mặt nói trên. Cho nên, chữ “Tâm”
trong Bồ đề tâm có nghĩa là hy vọng, dục cầu,
cũng có nghĩa là lập chí. Chúng ta bất luận làm
việc gì cũng phải có nguyện vọng, dục cầu, lấy
nó làm động lực thì mới có thể hoàn thành được
việc ta muốn làm. Việc thông thường trong thế
gian mà còn như vậy, huống gì chúng ta muốn hoàn
thành Vô thượng bồ đề, nếu không có nguyện vọng
cao cả, dục cầu nhiệt liệt thì làm sao có thể
đạt được mục đích thành Phật ? Vậy tự thể nay
tức là dục tâm sở trong ngũ biệt cảnh. Cái dục
tâm sở này giải thích chính đáng chữ “Tâm” trong
phát Bồ đề tâm. Nhưng phải biết rằng, chính cái
dục tâm sở trong biệt cảnh, trên địa vị phàm hữu
lậu thông với tam tính; thiện, ác, vô ký, duy
cái chí nguyện dục Bồ đề này, khi bắt đầu khởi
phát, tức là tùy thuận vô lậu pháp của thiện
pháp hữu lậu. Nên biết rằng, để cầu được Vô
Thượng Bồ Đề mà phát sinh nguyện dục này, dựa
trên nguyện dục này mà tiến lên theo hướng mục
tiêu muốn đạt tới, công đức pháp vô tận mà Đại
Thừa Phật quả có đều do cái dục tâm này sinh ra.
Vì vậy chữ “Tâm” trong “Tâm Bồ Đề”, chúng ta
không thể coi thường được.
Lại nữa, trong kinh thường hay
nói đến vọng tâm, chân tâm và Bồ đề tâm.
- Vong tâm thì bao quát tất cả
những gì thuộc về đầu óc của ta, sự tư duy, nghĩ
ngợi, tính toán, cho đến tình cảm, phiền não,
vui buồn, yêu ghét, giận hờn. Tất cả hoạt động
của những suy tư, tình cảm trên thì xoay quanh
một trung tâm mà ta gọi là cái ngã, cái tôi. Cái
tôi này, theo Đức Phật, thì không có thực thể,
không hiện hữu. Nó chỉ là một quan quan niệm,
một sự chấp trước lầm lẫn, rằng bản ngã có thật.
Vong tâm còn bao quát cả trực
giác, tiềm thức, hoặc theo danh từ nhà Phật, thì
gọi là thức A lại gia, thức thứ tám, hoặc tạng
thức. So sánh về tầm vóc và chiều sâu: Suy tư và
tình cảm đem so với thức A Lai Gia thì cũng như
vài hạt bụi so với dãy núi Hy Mã Lạp Sơn.
- Chân tâm có nhiều tên: Phật
tánh, chân Như, Như Lai Tạng tánh, Pháp giới
tánh, thể tánh… Chân tâm thì bất biến, tuyệt
đối, vô biên, vô giới hạn, siêu việt ra ngoài sự
tưởng tượng, hình dung hay tiếp xúc của cảm
quang bình thường. Vọng tâm chẳng làm sao có thể
trắc lượng hoặc “thấy” được chân tâm. Mọi kinh
nghiệm của giác quan (như bạn ngồi thiền bổng
thấy Phật Bồ Tát, hào quang, cảnh nhiệm mầu)
đều thuộc phạm vi của vọng tâm chứ không phải
của chân tâm.
- Bồ Đề Tâm thì chẳng phải là
vọng tâm, nhưng cũng chẳng phải là chân tâm,
phải chăng khó hiểu qúa ? Để cho dễ hiểu, xin
lấy ví dụ sau: Vọng tâm là biển nước, chân tâm
là mặt trăng, thì Bồ Đề Tâm là bóng trăng trên
nước. Ở đâu có trăng thì ở đó có bóng trăng. Bồ
Đề Tâm là cái bóng của chân tâm.
Trăng không thể tiếp xúc với
nước, nhưng bóng trăng thì gắn liền với nước.
Chân tâm thì ở trong phạm vi của tuyệt đối, nó
không thể khiến thế gian là cõi tương đối tiếp
xúc được. Nhưng Bồ Đề Tâm thì được. Bồ Đề Tâm là
phương tiện để chân tâm khởi tác dụng tích cực
trong cỏi trần thế. Bồ Đề Tâm là tâm thái vô
hạn, vô biên, vô tận, không bị ngăn ngại bởi
phiền não chấp trước của bản ngã nhỏ bé. Cũng
như bóng trăng vận hành tự tại trên mặt nước,
không hề trở ngại.
Do đó kinh Hoa Nghiêm chú trọng
vào sự nuôi dưỡng và khở phát Bồ Đề tâm. Chỉ lo
diệt phiền não thôi thì chưa đủ, và không cứu
cánh. Như các vị A La Hán lậu tận, dứt hết phiền
não, nhưng không thể thành Phật. Thành Phật là
do phát triển Bồ Đề Tâm. Nếu bạn nuôi dưỡng được
một phần Bồ Đề Tâm thì tự nhiên một phần phiền
não sẽ rơi rụng mà bạn chẳng mệt nhọc diệt trừ.
Ví dụ: Thay vì kềm hãm tánh giận
dữ khi thấy kẽ khác làm lỗi, cố giằng cơn giận;
thì bây giờ mình tập tha thứ lỗi họ. Tìm hiểu
nhân quả khiến họ sai lầm, nhất là thấu suốt
những nhân tố trong tình cảm, quan niệm, để biết
cách giúp đở “gở kẹt” cho họ. Tấm lòng biết tìm
hiểu sự khó khăn của kẻ khác, gọi là trí huệ.
Chỉ khi có trí huệ, sự tha thứ mới đem tới hiệu
quả tích cực. Tha thứ hoài hoài, mà chẳng bao
giờ trách cứ ai. Đó chính là trạng thái của Bồ
Đề Tâm.
2.3. Phát tâm Bồ Đề là như thế
nào ?
Tâm đã nói rồi, bây giờ nói tiếp
đến “Phát Tâm Bồ Đề”. Trung tâm của bốn chữ này
là chữ “phát”. “Phát” có nghĩa là “phát khởi”,
“phát sinh”, tức là phát sinh, phát khởi cái Bồ
Đề tâm ấy. Nghĩa chữ “phát tâm” rất rộng, như
phát tâm niệm Phật, phát tâm trì chú, phát tâm
tụng kinh, phát tâm tham thiền. Đây là nói về
phương diện tu trì Phật pháp. Nếu nói về phương
diện thế tục, có thể nói là phát tâm cầu tài,
phát tâm làm quan, phát tâm cầu danh, phát tâm
cầu trí. Mà phát tâm gì ắt phải làm việc đó. Cho
nên luận nói: “Như người tham công danh, phát
tâm cầu công danh, tu hành đặng công danh, nếu
tham tài bảo, phát tâm cầu tài bảo. Phàm người
muốn cầu thiện cầu ác, đều trước hết phát cái
tâm rồi sau thực hiện cái chí của mình. Cho nên,
người cầu Bồ Đề thì phát tâm Bồ Đề, tu hành Bồ
Đề”.
- Cái tâm nguyện cầu chứng vô
thượng Bồ Đề này, làm sao mới có thể phát khởi
được ? Nói kỹ, thì có thể nói nhiều mặt, ở đây
chỉ nói sơ lược qua hai loại.
+ Một là phát tự tính nội tại:
Trong lòng ta vốn đã có giác tính Bồ Đề, nhưng
khi nó bị phiền não che mất, sức mạnh của giác
quá mỏng yếu, không thể có tác dụng mạnh. Như
người ta khi đang có bệnh, tinh thần vận động
hẳn không thể nâng lên được. Tuy trong trạng
thái phiền não mê hoặc động loạn bất an, nhưng
giác tính Bồ Đề vẫn tồn tại, chưa vì đau mà mất
đi. Muốn rời bỏ cái tướng động loạn bất an đó,
trừ khi chứng được Bồ Đề Phật quả. Khi có cái
tâm thành Phật ấy rồi thì nên biết đây tức là đã
phát tâm Bồ Đề tự tính nội tại.
+ Hai là phát tư trợ
ngoại tại: Có thể có người nói; nội tại đã có
thể phát tâm Bồ Đề, thế thì tại sao nay không
thấy chúng sinh tự phát?
Đó là vì không được ngoại duyên
tư trợ. Thế nào là sự tư trợ ngoại duyên ? Tức
là Thiện hữu và Thánh giáo. Như nghe Đại thừa
Thánh giáo, dựa vào huấn tập thường xuyên của
Thánh giáo ấy, thế là tự mình phát Đại Tâm Bồ
Đề. Đây là phát tư trợ bằng tự mình phát Đại tâm
Bồ đề. Đây là phát tư trợ bằng lực Thánh giáo.
Hoặc xem thấy thần thông, đạo lực của Phật, Bồ
Tát, khiến cho tự mình phát đại tâm Bồ Đề. Đây
là phát tư trợ bằng lực Thiện hữu.
Bốn chữ “Phát Tâm Bồ Đề” đã lần
lượt giải thích rồi, căn cứ những điều đã nói
trên, chúng ta có thể biết rằng: Người tu học
Phật pháp Đại thừa chân chánh, cũng như hành giả
tu học, thực hành hạnh nguyện Bồ Tát theo tinh
thần kinh Hoa Nghiêm mà Phật đã dạy, tất cả đều
phải tự mình phát tâm Bồ Đề, không những thế mà
con khuyến dẫn người khác phát tâm. Chỉ có tất
cả mọi người cùng đồng phát tâm Bồ Đề, thì Phật
pháp mới có thể tiếp tục hoằng dương, chúng sanh
mới có thể phổ độ ! Tất cả những người con Phật,
đồng tu học Phật pháp, bất luận là Tăng hay tục,
nam nữ đều phải phát tâm Bồ Đề. Đặc biệt là thời
kỳ đổi mới như hiện nay, xã hội không ngừng phát
triển, người người tất bặc lo cơm áo gạo tiền,
đua đòi chạy theo vật chất xa hoa mà quên đi bản
tâm. Vì vậy, Phát tâm Bồ Đề là một việc cấp bách
trước mắt của hành giả Đại thừa.
2.4 Phát tâm Bồ đề theo tinh
thần Kinh Hoa Nghiêm
Kinh Hoa Nghiêm day rằng quên
phát tâm Bồ đề mà làm mọi hạnh lành thì đó chỉ
là nghiệp ma. Bởi thế qúa trình tu tập hành đạo
đều dựa hoàn toàn vào năng lực của tâm Bồ đề.
Điều này ta có thể thấy trong toàn bộ Kinh Hoa
Nghiêm. Bầy giờ để đơn giản hóa, chúng ta hãy
nói về những điểm chính yếu, cần thiết nhất.
Theo tinh thần Kinh Hoa Nghiêm
thì:
Phát tâm Bồ Đề, nói gọn là vừa
hướng mình vào đường tu giác ngộ, vừa làm việc
hóa độ chúng sinh, tức là “trên cầu Phật đạo,
dưới hóa độ chúng sanh”. Hai mục tiêu này cũng
chính là ba tâm: Trực Tâm, Thâm Tâm và Đại Bi
Tâm đã giải thích rõ ở phần đầu.
Phát tâm Bồ đề không phải là chỉ
khởi một ý tưởng muốn tu hành hay muốn độ chúng
sinh rồi ngừng lại. Nó đòi hỏi ta phải phát khỏi
những ý tưởng đó hoài hoài. Nói cách khác: Phát
tâm Bồ đề là hun đúc trong lòng một khuynh hướng
kiên cố hướng về hai mục tiêu tu đạo và độ sanh.
Kinh Hoa Nghiêm dạy ta phát tâm
Bồ đề như sau:
Phát tâm Bồ Đề tức là khơi
dạy lòng Đại Bi: Chúng sinh cần ta cứu vớt. Tự
thân của mỗi người chúng ta thử nhìn và quan sát
xem nỗi khổ của chúng sinh, ai thoát được sanh
già bệnh chết ? Ai tránh được chuyện bất như ý ?
Họ sẽ rất sung sướng và thấy an lành nếu có ai
đó giúp họ giải thích nguyên nhân sinh ra nỗi
thống khổ, dắt dẫn họ giải trừ những thống khổ
ấy. Chúng sinh đang cần tình thương của Bạn an
ủi, che chở, đùm bục. Họ cần một người hiền từ,
đáng tin cậy. Họ cần ban cho họ một tình thương
vô tư, bình đẳng rộng lớn có thể dập tắt lửa
nóng giận, thù hằn trong tâm họ. Tình thương ấy
giống như tình thương của cha mẹ đối với con cái
vậy đó; Không chút mong cầu chỉ biết phục vụ. Họ
cần tình thương vô ngã của bạn.
Phát tâm Bồ đề là khơi dậy
lòng an lạc: Chúng sinh ai cũng có nỗi bức rức
đau khổ. Những kẻ tội nghiệp nặng nề vì đã từ
sát hại, trộm cắp, loạn luân, phá giới… thì
trong lòng càng bất an, ray rức. Họ cần bạn đem
tấm lòng tha thứ bao dung ban bố cho họ, khiến
tâm họ hết đau khổ, đắc an lạc.
Phát tâm Bồ đề là khơi dậy lòng
nhiêu ích: Nhiều người vì chẳng thấu hiểu đạo lý
nên đã lầm lẫn tạo ác nghiệp và tập thành thói
quen làm ác. Họ cần bạn giúp họ, dắt dẫn họ,
giúp đở họ tìm về đường sáng, ra khỏi hố bùn đen
tối. Họ không muốn bị nhìn với cặp mắt ruồng bỏ,
ghét chê. Họ cần bạn thật tình giúp họ.
Phát tâm Bồ đề là khơi dậy lòng
ai mẫn: Nhiều chúng sinh luôn có tâm lo sợ hãi
hùng. Sống trong một thế giới lúc nào cũng cạnh
tranh, lòng sân hận, ngăn cách tình người càng
lúc sâu đậm. Nhiều người cứ sống với tâm trạng
đề phòng, nghi ngờ, cô lập, rồi sinh khiếp nhược
nội tại, nỗi sợ mà họ không sao thừa nhận, kết
quả là họ truyền phóng lòng sợ hãi ấy ra bên
ngoài thành sự giận dữ, hung bạo, tranh chấp… Họ
cần bạn bao dung, thông hiểu họ, làm họ hết sợ
hãi.
Phát Bồ đề tâm là khơi dậy tâm vô
ngại: Nếu sống trên đời, chuyện gì bạn cũng muốn
cho vừa ý mình, đúng theo dự định mình muốn thì
đâu đâu bạn cũng sẽ thất vọng. Chẳng lẽ mình nên
để những sở thích, ham muốn, tính toán, dục vọng
xiềng xích sự tự do, tự tại vốn có trong lòng
mình sao ? Chẳng lẽ mình cam tâm đánh mất sự tự
tại vô ngại này sao ? Nên cởi bỏ xiềng xích là
vừa… Nếu là vô ngại, mình chớ nên chướng ngại,
đố kỵ ghen ghét kẻ khác, cản trở họ thành công
trên đường đạo hay đường đời, thì tự mình chuốc
khổ, rồi tự sinh chướng ngại mà thôi.
Phát tâm Bồ đề là khơi dậy tâm
Quảng đại: Không biết bao nhiêu chuyện vụn vặt
hàng ngày khiến tâm ta quay cuồng bận rộn. Dường
như tâm ta cứ chạy rong hoài hoài, không biết
đâu là trọng tâm, chổ quy hướng (tức chân tâm vô
ngã) để lòng yên nghỉ. Khi tâm mất chổ quy hướng
thì ta dễ cau có, ích kỷ, chỉ nghĩ ngợi cho
mình, vì mình, của mình. Mình cần lắng tâm yên
lặng để cỏi lòng trở nên mở rộng. Bạn hãy thường
tìm cách ngồi xuống định thần, tĩnh tư để bản
ngã im lặng, chân lý hiển bày mở ra trong tâm.
Phát tâm Bồ Đề là khơi dậy lòng
vô giới hạn: Tư tưởng, quan niệm, định nghĩa và
thành kiến, hạn chế mình. Những kiến giải và
kinh nghiệm trong chức nghiệp cũng hạn chế tiềm
năng vô biên. Ngay cả lý thuyết, học thuyết,
triết lý trong tôn giáo cũng hạn chế sự sống của
chân lý. Bạn hãy nổ lực hướng mình vào khơi dậy
chân lý bất biến, kinh gọi là pháp giới tánh,
Phật tánh, vì đó là con đường duy nhất giải
thoát mọi giới hạn. Chúng sinh ai cũng sống
trong ngục tù tư tưởng, xiềng xích thành kiến;
họ cần bạn giải phóng họ; chỉ cho họ ánh sáng
trí tuệ vô hạn.
Phát tâm Bồ đề là khơi dậy tâm
rộng rãi (khoang bát): Ở đời nhiều người hiến
mình cho danh vọng, hết lòng phụng sự uy quyền
lợi lộc. Càng nổ lực bao nhiêu lòng họ càng khép
kín, càng nhỏ hẹp lại. Đến độ tấm lòng chật hẹp
ấy nhiều khi làm kẻ khác nghẹt thở khó sống. Họ
cần bạn giúp họ mở cánh cửa đóng kính ấy ra, để
họ có thể thấy vị Phật trong tâm họ. Khoang bát
là tâm thái thầm hiểu rằng chư Phật vốn ở trong
tâm ta, Phật bên ngoài và Phật bên trong tâm
không sai thù khác biệt. Và rằng: Không có hạnh
phúc nào thâm sâu bằng hạnh phúc xuất phát từ
cỏi lòng, nơi mà chư Phật an trú. Khơi dậy tâm
này là khởi lòng cung kính, tôn trọng, cúng
dường chư Phật mười phương. Bạn hãy khơi dậy tâm
thái khoang bát trong lòng mình trước rồi khai
mở cho những chúng sinh tâm hôn khép kính. Họ
cần bạn giúp.
Phát tâm Bồ Đề là khơi dậy tâm
thanh tịnh: Ô nhiễm là đặc tính của thế giới ta
sống. Suy nghĩ và tâm tình ô nhiễm là đặc tính
của thế giới nội tâm. Một khi hít thở được không
khí lành thì chẳng ai muốn sống nơi không ô
nhiễm vẫn đục. Cũng vậy, nếu ai nếm được mùi vị
thanh tịnh an lạc thì chẳng ai còn muốn đắm mình
trong cấu nhiễm phiền não. Chúng sinh cần bạn
giúp họ trồng đóa sen lòng. Bạn hãy đem sự thanh
tịnh của thân, miệng, ý cúng dường cho thế giới
chúng sa