Theo ý nghĩa nào mà nói là huân tập?
Cái được huân tập và cái huân tập cần hội đủ bốn nghĩa.
Bốn nghĩa cho cái được huân tập
là gì?
(1) Tính kiên trụ. Tính bền
lâu. Pháp mà thủy chung đồng một loại tiếp nối nhau liên tục để
duy trì tập khí; pháp ấy chính là cái được huân tập. Ý nghĩa này
loại ra các chuyển thức, và âm thanh, gió, v.v.,
vì tính chất không bền lâu nên chúng không thể bị xông ướp (huân
tập).
(2) .
Tính trung hòa. Pháp bình đẳng, không có tính kháng cự khả năng
dung nạp tập khí; pháp ấy mới có thể được huân tập.
Ý nghĩa này loại ra ngoài các pháp thiện ô nhiễm, do thế lực
cường thịnh nên không dung nạp bất cứ cái gì; do đó chúng không
thể bị huân tập.
Do ý nghĩa này, thức thứ tám của Như lai,
vốn là tịnh thức, duy chỉ mang chứa chủng tử cố cựu chứ không
dung nạp sự huân tập mới.
(3) Tính khả huân. Tính hấp
thu. Pháp nào có tính tự tại (tự do), không chặt cứng (như đá)
để có khả năng dung nạp tập khí, pháp đó mới có thể bị huân tập.
Ý nghĩa này lọai ra ngoài tâm sở và vô vi pháp, vì y tha và chặt
cứng nên không thể bị huân tập.
(4) Tính cộng đồng hòa hiệp với năng
huân. Pháp nào cùng đồng thời và đồng xứ với cái huân
tập, pháp ấy mới được huân tập. Ý nghĩa này loại ra ngoài tha
thân, sát na trước sau, vốn không có ý nghĩa hòa hiệp nên không
thể bị huân tập.
Duy chỉ dị thục thức có đầy đủ bốn ý nghĩa
này mới có thể được huân tập, chứ không phải tâm sở các thứ.
Bốn tính chất của cái huân tập
là gì?
(1) Có tính sinh diệt. Pháp mà không thường
hằng, có tác dụng sinh trưởng tập khí; pháp ấy mới là năng huân.
Điều này loại ra pháp vô vi; nó không thể là năng huân, vì trước
sau không biến đổi, không có tác dụng sinh trưởng.
(2) Có tác dụng ưu thắng.
Pháp có tính sinh diệt mà thế lực tăng thịnh để dẫn sinh tập
khí; pháp ấy mới là năng huân. Điều này loại ra tâm, tâm sở
thuộc dị thục;
vì thế lực yếu kém nên chúng không thể là năng huân.
(3) Có tăng giảm. Pháp có tác dụng ưu
thắng, lại có tăng có giảm, duy trì tập khí; pháp ấy mới là năng
huân. Điều này loại trừ pháp thiện viên mãn nới Phật quả; vì
không tăng không giảm nên không thể là năng huân. Nếu nó là năng
huân thì không phải là viên mãn; vì như vậy Phật quả trước sau
có ưu có khuyết.
(4) Cùng với sở huân hòa hiệp mà chuyển.
Nếu cùng với cái được huân tập mà đồng thời, đồng xứ, không
tương tức, không tương ly; pháp ấy mới là năng huân. Điều này
loại trừ tha thân, sát na tước sau, vốn không có ý nghĩa hòa
hiệp; cho nên nó không phải là năng huân.
Duy bảy chuyển thức cùng với các tâm sở của
chúng có thế lực, tác dụng nhưng có tăng giảm, đủ bốn nghĩa này
mới có thể nói là năng huân.
Cái năng huân và thức được huân tập cùng
sinh cùng diệt như vậy, ý nghĩa huân tập được xác chứng. Làm cho
chủng tử tăng trưởng trong cái được huân tập, như ướp mùi cho
vừng, đó gọi là huân tập.
Thắc năng huân khi sinh khởi từ chủng tử,
ngay lúc đó nó làm nhân để huân tập trở lại thành chủng tử. Ba
pháp lần lượt,
nhân quả đồng thời. Như bấc đèn sinh ngọn lửa. Ngọn lửa đốt trở
lại bấc đèn. Cũng như bó lau, các cọng lau nương tựa lẫn nhân.
Nhần và quả cùng tồn tại trong một thời; điều này không làm đảo
lộn lý tính.
Cái năng huân sản sinh chủng tử; chủng tử
phát khởi hiện hành; như nhân câu hữu đạt được quả sĩ dụng.
Chủng tử cùng với đồng loại trứoc sau sinh sản nhau, như nhân
đồng lọai dẫn đến quả đẳng lưu.
Cả hai cái này là nhân duyên tính cho kết quả. Trừ đó ra, các
pháp còn lại đều không phải là nhân duyên. Nhưng đặt tên là nhân
duyên, nên biết, đó chỉ là giả thuyết.
Như vậy, đã tóm tắt các đặc tướng của chủng
tử.
---o0o---