Một cách tổng quát, có sáu
đặc tính của chủng tử.
(1) Sát-na diệt.
Thể của nó vừa sinh tức thì diệt một cách vô gián, có công lực đặc sắc
mới có thể thành chủng tử. Đặc tính này loại ra những gì là pháp thường
hằng. Cái gì thường hằng không biến chuyển thì không thể nói nó có khả
năng phát sinh tác dụng.
(2) Quả câu hữu.
Cái cùng với pháp là quả hiện hành đã được sản sinh, cùng hiện hữu
và cùng hòa hiệp, mới có thể làm chủng tử.
Đặc tính này loại bỏ những gì tồn tại trước nó, sau nó và ly cách nó.
Hiện hành và chủng tử khác
loại, không chống nhau, đồng thời hiện hữu trong cùng một thân, cái đó
mới có khả năng phát sinh tác dụng. Không phải như chủng tử cùng loại
sinh sản lẫn nhau, cái trước và cái sau chống nhau, tất không thể cùng
hiện hữu.
Tuy nhân và quả có trường hợp cùng hiện hữu hay không cùng hiện hữu,
nhưng chỉ trong thời hiện tại mới có thể có tác dụng như là nhân, vì cái
chưa sinh và cái đã diệt không có tự thể.
Y trên cái sản sinh quả hiện tại mà đặt tên chủng tử, chứ không phải y
trên trường hợp nó dẫn sinh cái cùng loại mà gọi là chủng tử, do đó cần
phải nói chủng tử là cái cùng tồn tại với quả.
(3) Hằng tùy chuyển.
Trong một thời gian dài cần phải tồn tại như một chủng loại duy nhất
liên tục cho đến giai đoạn cứu cánh,
như thế mới có thể thành chủng tử. Đặc tính này loại trừ các chuyển thức
vốn chuyển dịch một cách gián đoạn, vì như vậy không tương ưng với chủng
tử. Đặc tính này cũng chỉ rõ tính cách tự loại sinh sản lẫn nhau của
chủng tử.
(4) Quyết định tính.
Chủng tử phải là cái quyết định bản chất của công năng dẫn sinh thiện ác
tùy theo ảnh hưởng của nhân.
Đặc tính này bác bỏ quân điểm của các bộ phái khác cho rằng nhân của dị
tính sản sinh quả của dị tính cũng mang ý nghĩa nhân duyên.
(5) Đãi chúng duyên.
Chủng tử là loại công năng đặc biệt khi hội hiệp đủ các điều kiện riêng
biệt của nó.
Đặc tính này bác bỏ quan điểm của Ngoại đạo cho rằng do nguyên nhân tự
nhiên,
chứ không do hội đủ các điều kiện, quả thường xuyên được sản sinh một
cách đột nhiên. Hoăc bác bỏ quan điểm các bộ phái khác cho rằng các
duyên vốn hằng hữu chứ không phải không tồn tại.
Ở đẩy nêu rõ các điều kiện (duyên) cần hội đủ không có tính hằng hữu. Do
đó, chủng tử không thường xuyên ngẩu sinh quả.
(6) Dẫn tự quả.
Dẫn sinh kết quả của riêng nó.
Chủng tử là cái, từng loại riêng biệt, dẫn sinh các quả sắc, tâm từng
loại riêng biệt. Đặc tính này bác bỏ quân điểm của Ngoại đạo cho rằng
một nhân độc nhất sản sinh hết thảy quả. Cũng bác bỏ các bộ phái khác
cho rằng sắc tâm các thứ làm nhân duyên cho nhau.
a. Duy chỉ công năng
sai biệt trong Bản thức mới có đủ sáu đặc tính này để thành chủng tử;
ngoài ra là không thể. Ở ngoại giới, như thóc lúa các thứ, vốn là biến
thái của thức, cho nên giả lập chúng là chủng tử, nhưng không phải là
chủng tử thực nghĩa.
b. Thế lực của loại
chủng tử này sản sinh quả chính thức và gân gũi nhất được gọi là sinh
nhân. Khi nó dẫn sinh quả dư tàn xa khiến không đột nhiên dứt tuyệt, bấy
giờ được gọi là dẫn nhân.
c. Nội chủng sinh
trưởng tất do huân tập; trực tiếp sản sinh quả. Đó là nhân duyên tính.
Ngoại chủng hoặc được huận tập hoặc không; nó làm tăng thượng duyên để
tác thành quả được sản sinh. Nhân duyên của quả kia như vậy phải là nội
chủng. Vì quả được sản sinh từ chủng tử có đặc tính chung.
Nguồn: www.phatviet.net