CHƯƠNG II.
Cần phân biệt rõ thêm
đặc tướng nhất thiết chủng.
Trong đây, pháp gì
được gọi là chủng tử?
Trong bản thức, công năng sai biệt
trực tiếp sản sinh kết qủa của chính nó.
Nó (chủng tử) cùng
với bản thức và quả được sản sinh không phải đồng nhất cũng
không phải dị biệt.
Lý tính của thể dụng, nhân quả, là như vậy.
Tuy không phải nhất,
không phải dị, nhưng là thực hữu. Vì pháp giả hữu, như cái không
tồn tại,
không phải là nhân duyên.
Nó cùng với các pháp
đã không phải là nhất, không phải dị, hẵn phải như bình các thứ,
là giả chứ không phải thực.
Nếu vậy, chân như
cũng là giả hữu.
Thừa nhận như vậy, sẽ không có chân thắng nghĩa đế.
Nhwng, các chủng tử
chỉ y trên ngôn thuyết thế tục mà nói là thực hữu, không đồng
với chân như.
Chủng tử tuy y trên
thể của thức thứ tám, nhưng đó chính là tướng phần của thức này
chứ không là gì khác. Vì kiến phần thường nắm bắt nó như là đối
tượng.
Các chủng tử hữu lậu
không khác biệt với thể của dị thục thức, do đó nó thuộc tính vô
ký.
Nhân và quả đếu có
tính thiện, bất thiện và vô ký nên nó cũng được gọi là thiện,
bất thiện và vô ký.
Các chủng tử vô lậu
duy chỉ được gọi là thiện, vì không được bao hàm trong dị thục
thức, do vì nhân và quả đều chỉ có tinh thiện.
Nếu vậy, tại sao
Quyết trạch phần nói, trong 22 căn,
tất cả đều có chủng tử của dị thục, đều là dị thục sinh?
Tuy nó được gọi là dị thục nhưng không phải là vô ký. Y tựa trên
dị thục
nên gọi là chủng tử dị thục. Cái gì dị tính thì y tựa lẫn nhau
được, như thức con mắt v.v.
Hoặc chủng tử vô lậu,
do ảnh hưởng của huân tập, chuyển biến mà thanh thục, được đặt
tên là dị thục.
Trong đây, có quan
điểm cho rằng hết thảy chủng tử đều là bản hữu, không do bởi
huân tập
mới phát sinh. Nhưng do ảnh hưởng của sự huân tập mà nó phát
triển.
Như Khế kinh
nói, “Hết thảy hữu tình, từ vô thủy đến nay, có đa dạng giới,
như đống ác-xoa,
tồn tại một cách tự nhiên như vậy.” Giới là tên gọi khác của
chủng tử.
Lại nữa, Khế kinh
nói, “Giới, từ vô thủy đến nay, là sở y của hết thảy pháp.”
Giới đây có nghĩa là
nhân.
Du-già
cũng nói, “Tự tính của các chủng tử, từ vô thủy đến nay, tuy là
bản hữu, nhưng do cái mới được huân tập như là nhiễm hay tịnh mà
phát khởi.”
Các loại hữu tình, từ
vô thủy đến nay, nếu thuộc pháp bát-niết-bàn, tất cả đều thảy
đều đầy đủ. Nếu không thuộc pháp bát-niết-bàn, khuyết chủng tử
của ba loại bồ-đề.
Văn như vậy để chứng
minh, không phải là ít.
Lại nữa, các hữu tình
đã được nói là bản lai có năm chủng tính khác nhau do đó cần
phải xác định có chủng tử pháp nhĩ, không phát sinh do bởi huân
tập.
Lại nữa, Du-già nói,
địa ngục thành tựu ba vô lậu căn.
Đó là chủng tử chứ không phải hiện hành.
Lại nữa, chủng tính
bản tính trụ,
đạt được một cách tự nhiên, từ vô thủy lần lượt truyền đến nay.
Do các dẫn chứng như
vậy chứng minh rằng chủng tử vô lậu vốn là pháo nhĩ bản hữu, chứ
không do huân tập mà phát sinh.
Chủng tử haư lậu tất
nhiên cũng tồn tại một cách tự nhiên (pháp nhĩ hữu), do huân tập
mà phát triển, không phải do huân tập riêng biệt mà phát sinh.
Như vậy, nhân quả
được thiết lập không tạp loạn.
Quan điểm khác nói,
chủng tử phát sinh đều do huân tập.
Cái được huân tập và
cái huân tập đều tồn tại từ vô thủy; do đó, các chủng tử được
thành tựu từ vô thủy?
Chủng tử là tên gọi
khác của tập khí. Tập khí tất phải do huân tập mà có, như mùi
thơm (khí) của vừng (mè) phát sinh do bởi xông ướp (huân tập)
hoa.
Như Khế kinh
nói, “Tâm của các hữu tình do được huân tập bởi nhiễm và tịnh mà
vô lượng chủng tử được tích tập.
Luận nói,
chủng tử nội tại nhất định có sự huân tập. Chủng tử ngoại tại,
hoặc có, hoặc không.
Lại nữa, ba loại tập
khí, danh ngôn v.v.,
bao gồm chủng tử của hết thảy pháp hữu lậu. Ba loại tập khí đó
đã do huân tập mà có, do đó chủng tử hữu lậu tất do huân tập mà
sản sinh.
Chủng tử vô lậu cũng
do huân tập. Nói rằng,
sự huân tập bởi nghe mà sinh khởi là do được huân tập bởi sự
nghe Chánh pháp lưu xuất trực tiếp
từ pháp giới thanh tịnh.
Đó là chủng tử tính của tâm xuất thế.
Sự sai biệt của chủng
tính
bản lai của hữu tình không do chủng tử vô lậu tồn tại hay không
tồn tại. Nhưng chủng tính ấy chỉ y trên trường hợp có chướng
hay không chướng mà thiết lập.
Như Du-già nói,
nếu ở nơi cảnh vực chân như mà hoàn toàn có chủng tử của hai
chướng, ở đó lập chủng tính của pháp không bát-niết-bàn. Nếu
hoàn toàn có chủng tử của sở tri chướng chứ không phải phiền não
chướng, ở đây một phần lập chủng tính Thanh văn, một phần lập
chủng tính Độc giác. Nếu hoàn toàn không có chủng tử của cả hai
chướng, tức lập nó làm chủng tính Như lai.
Do đó biết rằng sự
sai biệt của chủng tính bản lai y trên chướng mà thiết lập chứ
không phải do chủng tử vô lậu.
Quan điểm khác nói,
mỗi chủng tử (hữu lậu và vô lậu) đề có hai loại:
a. Bản hữu.
Đó là công năng sai biệt sản sinh uẩn, xứ giới; nó tồn tại một
cách tự nhiên (pháp nhĩ) trong thức A-lại-da kể từ vô thủy. Thế
Tôn y trên đây mà nói, giới đa dạng
mà các hữu tình sở hữu từ vô thủy đến nay giống như đống hạt
ác-xoa, tồn tại một cách tự nhiên (pháp nhĩ). Ngoài ra, các dẫn
chứng được nói chi tiết như trên kia.
Đây gọi là chủng tính
của bản tính trụ.
b. Thủy khởi.
Nó hiện hữu do được thường xuyên huân tạp bởi hiện hành. Thế Tôn
y trên đây mà nói, tâm của các hữu tình do được huân tập bởi các
pháp nhiễm, tịnh; nó là cái được tích tập bởi vô lượng chủng tử.
Các luận cũng nói, chủng tử nhiễm, tịnh phát sinh do bởi sự huân
tập của các pháp nhiễm, tịnh.
Đây gọi là chủng tử
được tập thành.
Nếu duy chỉ là bản
hữu, chuyển thức không thể là duyên tính như là nhân
cho A-lại-da.
Như Khế kinh nói,
“Các pháp được chứa trong thức; thức trong các pháp cũng vậy, hỗ
tương làm quả tính cho nhau, và cũng thường làm nhân tính.”
Đại ý bài tụng nói, thức A-lại-da và các chuyển thức trong tất
cả mọi thời lần lượt hỗ tương sinh khởi, hỗ tương làm nhân quả.
Luận Nhiếp Đại thừa
nói,
thức A-lại-da hỗ cùng với các pháp tạp nhiễm tương làm nhân
duyên. Như bấc đèn và ngọn lửa lần lượt phát sinh sự cháy. Lại
cũng như cọng lau bó lại, chúng tựa nhau mà đứng. Duy chỉ y trên
hai điều kiện này
mà thiết lập nhân duyên. Các trường hợp nhân duyên khác không
thể có được.
Nếu chủng tử được sản
sinh mà không do huân tập, làm thế nào chuyển thức cùng với
A-lại-da có ý nghĩa là nhân duyên ?
Không phải do huân tập khiến cho tăng trưởng mà gọi là nhân
duyên. Không thể cho rằng nghiệp thiện ác làm nhân duyên cho quả
dị thục.
Lại nữa, quan điểm ấy
trái với các Thánh giáo, theo đó, có chủng tử được sản sinh do
huân tập. Cho nên, cho rằng duy chỉ có chủng tử bản hữu là trái
với lý và giáo.
Nếu sự sinh khởi của
chủng tử có khởi thủy, vô lậu hữu vi không thể sinh vì không có
nhân duyên.
Hữu lậu không thể là chủng tử của vô lậu.
Vì không thể nên nói rằng chủng tử vô lậu sản sinh hữu lậu. Nếu
chấp nhận điều này, hữu lậu có thể sinh trở lại nơi chư Phật;
thiện v.v. không thể là chủng tử của bất thiện các thứ.
Các nhà phân biệt
luận
tuy nói rằng, tính của tâm vốn tịnh, nhưng do bị ô nhiễm bới
phiền não khách trần nên trở thành tạp nhiễm. Khi dứt sạch phiền
não, bấy giờ nó chuyển thành vô lậu. Như vậy, pháp vô lậu phát
sinh không do nhân.
Nhưng, nói là tính
của tâm, các vị ấy nói theo nghĩa nào? Nếu nói đó là Không lý;
nhưng Không không phải là nhân của tâm. Pháp thường hằng chắc
chắn không phải là chủng tử của các pháp. Vì tự thể trước sau
không có chuyển biến.
Nếu nói đó là tâm,
thế thì cũng đồng với Số luận.
Tướng tuy chuyển biến, nhưng thể thường nhất tính.
Vã lại, như thế tâm
ác, vô ký cũng có thể là thiện.
Nếu thừa nhận,
nó hẵn phải tương ưng với tín v.v.;
nếu không thừa nhận, nó có thể không phải là thể của tâm thiện.
Từ thiện còn không được nói đến, huống nữa là vô lậu.
Tâm thiện hữu lậu đã
được nói là tạp nhiễm, như tính của ác tâm vốn không phải là vô
lậu, do đó không thể là nhân cho vô lậu. Khổng thể nói rằng
thiện ác v.v. hỗ tương làm nhân cho nhau.
Nếu tính của tâm hữu
lậu mà là vô lậu, thế thì tính của tâm vô lậu hẵn cũng có thể là
hữu lậu. Vì không thể có khái niệm về nhân duyên sai biệt.
Lại nữa, tâm của dị
sinh nếu là vô lậu; thế thì vô lậu hiện hành trong trạng thái dị
sinh, và (dị sinh) được gọi là Thánh giả. Nếu tự tính của tâm dị
sinh tuy là vô lậu nhưng tướng của nó có ô nhiễm nên không gọi
là vô lậu, cho nên không có sai lầm như vậy; thế thì chủng tử
của tâm cũng không phải là vô lậu, tại sao Luận của ngài nói có
hạng dị sinh duy chỉ thành tựu chủng tử vô lậu?
Vì tính và tướng của chủng tử và hiện hành là đồng nhất.
Nhưng, Khế kinh nói,
tính của tâm vốn tịnh, ấy là nói chân như được hiển thị bởi lý
Không của tâm.
Vì chân như là tính chân thật của tâm.
Hoặc nói, thể của tâm
không phải là phiền não, do đó nói là bản tịnh; chứ không phải
vì tự tính của tâm hữu lậu là vô lậu mà nói là bản tịnh.
Do vậy, nên xác tín
rằng có hạng hữu tính có chủng tử vô lậu từ vô thủy đến nay,
thành tựu một cách tự nhiên (pháp nhĩ) chứ không phải bởi huân
tập. Về sau, trong giai đoạn thắng tiến,
nó được huân tập để phát triển. Do nguyên nhân này, pháp vô lậu
sinh khởi. Khi vô lậu sinh khởi, nó lại huân tập thành chủng tử.
Về chủng tử hữu lậu, lọai suy theo đó mà biết.
- Huân tập nội chủng
Tuy được nói trong
các Thánh giáo rằng chủng tử nội tại một cách xác định có huân
tập, nhưng không xác quyết nói hết thảy chủng tử sản sinh đều do
huân tập. Vậy, đâu có thể thể hoàn toàn bác bỏ không tồn tại
chủng tử bản hữu. Tuy nhiên, chủng tử bản hữu cũng phải do huân
tập mới có thể phát triển để dẫn đến thành quả. Do đó nói, chủng
tử nội tại xác đinh có huân tập.
- Huân tập bởi nghe
Sự huân tập do bởi
nghe không phải duy chỉ là hữu lậu. Khi nghe Chánh pháp, chủng
tử vô lậu bản hữu cũng được huân tập để phát triển thêm lên, lần
lượt cho đến tâm xuất thế.
Do đó chủng tử này cũng được gọi là huân tập bởi nghe. Trong cái
huân tập bởi nghe, những gì là tính hữu lậu thì thuộc tu sở
đoạn.
Nó chịu ảnh hưởng của dị thục đặc sắc để làm tăng thượng duyên
cho chủng tử của tâm xuất thế. Những gì là tính vô lậu thì thuộc
phi sở đoạn,
làm nhân duyên trực tiếp cho pháp xuất thế. Nhân duyên trực tiếp
này vi tế, ẩn mật, khó nhận thức được, nhưng dựa trên loại tăng
thượng duyên đặc sắc thô hiển, phương tiện nói là chủng tử của
tâm xuất thế.
- Chủng tính và chủng tử
Nói y trên sự chướng
ngại
mà thiết lập sự sai biệt về chủng tính, ý muốn nói rõ chủng tử
vô lậu tồn tại hay không tồn tại. Nếu hoàn toàn không tồn tại
chủng tử vô lậu, chủng tử của hai chướng kia vĩnh viễn không thể
bị trừ hại, y theo đó là lập pháp phi niết-bàn. Nếu chỉ tồn tại
chủng tử vô lậu của hai thừa, sở tri chướng kia vĩnh viễn không
thể bị trừ hại, theo đó một phần lập chủng tính Thanh văn, một
phần lập chủng tính Độc giác. Nếu cũng tồn tại cả chủng tử vô
lậu của Phật, chủng tử của hai chướng kia đều có thể vĩnh viễn
bị trừ hại, theo đó lập chủng tính Như lai.
Như vậy, do bởi chủng
tử vô lậu tồn tại hay không tồn tại mà có ý nghĩa chướng có thể
bị đoạn trừ hay không bị đoạn trừ. Nhưng chủng tử vô lậu vốn vi
tế, ẩn mật, khó nhận thức được, do đó chuẩn theo hai chướng kia
để nêu rõ sự sai biệt về chủng tính. Nếu không thế, hai chướng
kia có nguyên nhân cá biệt nào để có thể bị hay không bị trừ
hại? Nếu do pháp nhĩ tự nhiên mà có sự sai biệt về chướng này,
sao không thừa nhận chủng tử vô lậu cũng vậy?
Nếu bản lai hoàn toàn
không tồn tại chủng tử của pháp vô lậu, các Thánh đạo sẽ vĩnh
viễn không thể sinh khởi. Vậy, cái gìi sẽ có thể trừ hại chủng
tử của hai chướng để nói y chướng mà lập nên sự sai biệt về
chủng tính? Sự sinh khởi của Thánh đạo kia đã không có ý nghĩa,
nói răng sẽ sinh khởi thì nhất định là phi lý.
Tuy nhiên, trong
nhiều trường hợp, các Tánh giáo nói có chủng tử bản hữu; thảy
đều mâu thuẫn với ý nghĩa kia. Cho nên, cho rằng chỉ có thủy
khởi, điều đó trái với cả lý và giáo.
Do vậy, nên biết, mỗi
chủng tử của các pháp đều có hai loại, bản hữu và thủy khởi.
---o0o---