Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Luận


...... ... .

 

 

BÁT NHÃ TÂM KINH

QUA CÁI NHÌN CỦA DUY THỨC

HT Thích Thắng Hoan

---o0o---

 

 

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

 

"Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh " là cuốn Kinh Nhật Tụng trong các khóa lễ, không những dành cho hàng Phật-tử xuất gia, mà hầu hết Phật-tử tại gia cũng đều thuộc nằm lòng. Có thểnói. Đây là cuốn Kinh cô đọng nhất, xúc tích nhất, vì toàn bộ Kinh chỉ có 260 chữ (không kể tên Kinh). Cô đọng và xúc tích vì, tuy ngắn gọn, nhưng chứa đựng yếu chỉ vô cùng thâm sâu, trình bày sự thấy biết cùng tột mà chư Phật, chư Đại Bồ Tát đã chứng nghiệm.

Vì thế Bát Nhã Tâm Kinh đã có rất nhiều vị cao Tăng chú giảng dựa trên văn Kinh và trên sự tu chứng của mỗi vị. Riêng Hòa Thượng Thích Thắng Hoan với gần 60 năm tu học, nghiên cứu sâu sắc và có nhiều tâm đắc qua môn Duy Thức của cửa Thiền, Ngài đã trình bày yếu chỉ của Tâm Kinh, không chỉ bằng cách diễn giảng qua văn kinh mà còn áp dụng Duy Thức Tông để trình bày nghĩa lý, yếu chỉ của kinh. Vì vậy tác phẩm được mang tên "BÁT NHÃ TÂM KINH QUA CÁI NHÌN CỦA DUY THỨC" Bởi vì Duy Thức là một môn Luận Học tối quan trọng trong Phật Giáo, là cốt lõi trong nhiều bộ môn của Phật học; nói một cách khái quát, nhằm phân tích, trình bày có hệ thống tiến trình tư duy, tiến trình sinh hóa của vạn pháp lại rất gần gũi với khoa học, nhưng Duy Thức đã vượt xa nhiều lãnh vực khoa học hiện đại.

Tác phẩm "Bát Nhã Tam Kinh Qua cái Nhận Của Duy Thức" có thể giúp cho quí độc giả hiểu được đường lối tu tập của Bồ Tát Quán Tự Tại, từ đó nương theo để đạt đến cứu cánh Niết Bàn. Một lợi ích thiết thực, gần nhất mà tác phẩm sẽ đem đến cho người đọc, cho hành giả tu tập là thấy được sự nhận thức của mình, của muôn loài trong ba cõi, đều còn bị hạn chế. Tất cứ những tư duy, những nhận đinh chỉ có một giá trị hạn hẹp đối với từng chủng loại, từng cảnh giới, huống nữa trong mọi chủng loại, mọi cảnh giới cũng đã có quá nhiều sai biệt, nhưng trong vô vàn sự sai biệt của chúng sinh cũng đều phát xuất từ Thực Tướng Bát Nhã, còn gọi là Như Lai Tạng, và nơi mỗi chúng sinh hữu tình đều có sẵn Phật chủng, đều có khả năng thành Phật, nếu chuyển được thức Alaya hữu lậu (thức thứ tám) trở thành Trí Tuệ vô lậu.

Bằng lối hành văn trong sáng, ngắn gọn và với những ví dụ cụ thể, dẫn chứng xác thực, Hòa Thượng đã trình bày một cách rõ ràng, mạch lạc và khúc chiết, có tính khoa học, khiến tác phẩm trở thành gần gũi với độc giả, và dù quí độc giả chưa làm quen với Duy Thức Tông cũng có thể thu nhận được phần nào kiến giải trong tác phẩm chân phương này.

Sự đóng góp của Hòa Thượng vào việc triển khai gia tài Pháp Bảo vốn "Thậm thâm vi diệu" và với những lợi ích nêu trên đối với độc giả không cứ phải là Phật tử, nên nhà Xuất Bản Nguồn Sống chúng tôi rất hoan hỷ tiếp nhận xuất bản tác phẩm này, và xin được hân hạnh giới thiệu cuốn "Bát Nhã Tâm Kinh Qua Cái Nhìn Của Duy Thức" đến với quý Phật tử thập phương, quý độc giả trong và ngoài nước, không luận trong hay ngoài cửa Thiền.

Chúng tôi cũng xin chân thành cảm tạ Hòa Thượng Thích Thắng Hoan đã tin tưởng, ủy thác cho nhà Xuất Bản Nguồn Sống được cái vinh hạnh in ấn và phát hành lần đầu tiên tác phẩm: "Bát Nhã Tâm Kinh Qua Cái Nhìn Của Duy Thức" này.

 

Trân trọng,

Viết tại Pháp Duyên Tịnh Xá Trọng

Xuân năm Bính Tý (1996)

Nhà Xuất Bản Nguồn Sống

Tỳ Kheo THÍCH GIÁC LƯỢNG

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

Trong ba tạng kinh điển của Phật Giáo, mỗi quyển kinh đều có một yếu chỉ riêng mà quyển kinh đó muốn trình bày. Quyển Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh mà các Thiền gia thường dùng làm kinh Nhựt Tụng trong các Thiền môn cũng có một yếu chỉ riêng giống như các quyển kinh khác, còn sự bình phẩm về tư tưởng của yếu chỉ trong một quyển kinh là trách nhiệm của nhà phê phán. Bổn phận người giảng giải chỉ có nhiệm vụ là làm thế nào trình bày cho được sáng tỏ về yếu chỉ của quyển kinh đó. Người giảng giải không nên đứng trên lập trường quyển kinh này để giải thích quyển kinh kia và như thế, vô tình làm xáo trộn tư tướng của người đọc và vô tình phản bội lại yếu chỉ của tác phẩm. Nguyên do người nghiên cứu chưa làm quen với danh từ chuyên môn của Phật Giáo, khó phân biệt được chân giá trị của tác phẩm mà tác giả muốn trao duyên.

Tác phẩm "Bát Nhã Tâm Kinh Qua Cái Nhìn Của Duy Thức" ra đời không ngoài mục đích trình bày sự nhận thức của Chung Hoan về quyển Nhựt Tụng "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh". Thắng Hoan tu học và hành trì quyển Kinh Nhựt Tụng nói trên từ khi vào đạo lúc 8 tuổi cho đến nay là 66 tuổi. Thắng Hoan đã nhận thức được những tư tưởng ẩn chứa trong quyển Kinh Nhựt Tụng này qua Nhãn Quang của Duy Thức.

Thắng Hoan không phải đứng trên lập trường Đại Bát Nhã 600 quyển để giải thích quyển Bát Nhã Tâm Kinh. Thắng Hoan cũng không phải trình bày hệ thống tư tưởng của Bát Nhã và cũng không phải so sánh những điểm dị đồng của lịch sừ tư tưởng Bát Nhã qua các tác phẩm khác. Ở đây Thắng Hoan chỉ trình bày yếu chỉ của Bồ Tát  quán Tự Tại được thấy trong quyển Bát Nhã Tâm Kinh. Bồ Tát Quán Tự Tại trao truyền yếu chỉ nơi quyển Bát Nhã Tâm Kinh cho hậu thế tu tập. Yếu chỉ đây chưa thấy ai đề cập đến. Phần đông các giảng giả chỉ giải thích quyển Bát Nhã Tâm Kinh có tánh cách so sánh hoặc tổng hợp những đặc điểm tương đồng của tư tưởng Bát Nhã qua nhiều tác phẩm.

Thắng Hoan căn cứ trên bản dịch của ngài Huyền Trang để giải thích yếu chỉ Bát Nhã Tâm Kinh. Tư tưởng Bát Nhã được thể hiện độc đáo qua bản dịch của ngài Huyền Trang. Ngài khéo sử dụng ngôn từ chính xác để diễn đạt hành trạng thâm sâu của tư tưởng Bát Nhã trong quyển kinh Nhựt Tụng ngắn gọn: Văn kinh không dư, ý kinh không thừa, nên tư tưởng Bát Nhã không bị mất bản chất. Người nào có khả năng nhận thức chiều sâu, mỗi khi đọc đến bản dịch của Ngài Huyền Trang liền lãnh hội được giá trị tư tưởng Bát Nhã trong quyển Bát Nhã Tâm Kinh một cách rất dễ dàng.

Vì muổn cho yếu chỉ của Bồ Tát Quán Tự Tại khỏi bị mai một, Thắng Hoan xin được phổ biến tác phẩm "Bát Nhã Tâm Kinh Qua Cái Nhìn Của Duy Thức". Tác phẩm này cống hiến đến quý độc giả một nhận thức mới, là soi sáng tiến trình tư tưởng Bát Nhã của Bồ Tát Quán Tự Tại đã chứng đắc. Tiến trình tư tưởng Bát Nhã của Bồ Tát Quán Tự Tại đã chứng đắc được ghi lại yếu chỉ của Thắng Hoan đúng hay sai mong quý vị cao minh chỉ giáo cho. Thành thật cảm ơn quý độc giả bốn phương quan tâm.

Thắng Hoan cẩn bút.

Ất Hợi 1995.

 

 

BÁT NHÃ TÂM KINH

QUA CÁI NHÌN CỦA DUY THỨC

 

I.- ĐỀ MỤC TÊN KINH:

Bát Nhã Tâm Kinh là tên gọi tắt của Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh . Tên Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh được chuyển âm từ chữ Phạn Ma-hà-Prajnàpàramità-hrdaya-Sùtra. Quyển Kinh này do Ngài Huyền Trang dịch ra chữ Hán để làm phương châm cho các Thiền gia tu học. Từ đó các Thiền môn Trung Hoa và Việt Nam đều chọn quyển Bát Nhã Tâm Kinh làm cẩm nang cho các thời khóa tụng hằng ngày.

Bát Nhã Tâm Kinh là quyển kinh rất ngắn gọn và cô đọng, chỉ có 260 chữ Hán kể cả câu Thần Chú. Lời Kinh không dư và ý Kinh không thừa. Quyển Kinh thể hiện yếu chỉ tư tưởng của "ĐẠI  BÁT NHÃ" gồm 600 quyển và còn là hành trang rất quan yếu cho các hành giả muốn đi vào thế giới Đại Thừa của Thiền Quán cần phải gối đầu quyển Kinh này như gối đầu quyển Kinh Nhựt Tụng. Bát Nhã Tâm Kinh có thể nói là một trong những phương pháp tu tập của Thiền Học.

Để minh định giá trị quyển Kinh này, chúng ta cần nên xét qua mục đích của Thiền Học để quán chiếu.

Người Phật Tử phần đông đều biết Thiền Học là môn tu học bằng phương pháp hành Thiền. Thiền Học nhằm mục đích đào luyện trí tuệ cho con người để được giác ngộ và giải thoát. Môn học này thuộc về môn TU HUỆ, một trong Ba Môn Học Vô Lậu (Tam Vô Lậu Học là Văn Huệ, Tư Huệ và Tu Huệ) của đức Phật chỉ dạy. Môn học này có hai lãnh vực tu tập: "Thiền Chỉ và Thiền Quán".

1/- THIỀN CHỈ:

Thiền Chỉ nghĩa là ngăn cấm và chận đứng vọng tâm bằng phương pháp hành thiền. Nói cách khác, Thiền Chỉ chính là phương pháp định tâm. Người bước đầu tu thiền không thể bỏ qua phương pháp Thiền Chỉ. Thiền Chỉ thì thuộc về Giới Học và Định Học trong ba môn học của Thiền Tông chủ trương (Giới, Đinh và Huệ). Thiền Chỉ có ba công thức tu tập: Điều Tâm, Điều Tức và Điều Thân. Người tu thiền muốn cho Tâm Thức được an định cần phải hành trì cho thuần thục ba công thức của Thiền Chỉ. Công thức Điều Tâm thì thuộc về Định Học, hai công thức Điều Tức và Điều Thân thì thuộc về Huệ Học.

a/- ĐIỀU TÂM: Điều Tâm nghĩa là điều khiển Tâm mình tập trung vào hơi thở không cho tạp niệm (không cho nhớ đủ thứ chuyện) trong thời gian ngồi Thiền.

Điều Tâm cũng gọi là Định Tâm. Định Tâm nghĩa là điều khiển Tâm mình an định một chỗ không cho loạn tưởng (tư tưởng tạp nhạp) trong thời gian tu tập. Tịnh Độ Tông gọi là Nhất Tâm. Nhất Tâm nghĩa là buộc Tâm mình chuyên nhất vào câu Niệm Phật hoặc câu Kinh không cho vọng tưởng trong thời gian tụng niệm. Điều Tâm ở đây thuộc về công thức hàng đầu và quan trọng hơn hết trong ba công thức tu tập của Thiền Chỉ. Người nào điều được Tâm một cách thuần thục thì người đó đã định được Tâm. Tâm đã được định thì Trí Tuệ nhất định sẽ được phát sanh. Khi Trí Tuệ được phát sanh, người tu Thiền mới có thể bước sang giai đoạn thực tập Thiền Quán. Thiền Quán nghĩa là sử dụng Trí Tuệ đã thành đạt để quán chiếu vạn pháp. Người tu Thiền nếu không điều được Tâm tức là không định được Tâm, thì lẽ tất nhiên trí tuệ của họ không thể phát sanh. Trí Tuệ một khi không được phát sanh thì lấy chi để quán chiếu. Nếu chưa điều được Tâm mà lại thực hành phương pháp quán chiếu quá sớm thì sẽ bị phân tâm, nguy hiểm. Tu tập không đúng nguyên tắc như trên thì chẳng khác nào như kẻ không tu vì tu mãi vẫn không thấy kết quả như ý.

b/- ĐIỀU TỨC: Điều Tức nghĩa là điều khiển hơi thở hoặc điều chỉnh hơi thở trong tư thế buông xả nhằm mục đích khiến cho Thân Tâm trở lại trạng thái an lạc. Người tu Thiền muốn điều được Tâm, trước hết phải điều hơi thở. Điều hơi thở có hai mục đích:

1- Hạ thấp hơi thở xuống, nghĩa là điều khiển hơi thở sinh hoạt chậm lại, hơi thở chậm lại cho đến khi nào mình vẫn thở mà không nghe tiếng động của hơi thở, đồng thời kéo dài hơi thở nhầm mục đích giúp cho các bấp thịt trong cơ thể nhả ra và giúp cho các hệ thống Thần Kinh không còn căng thẳng. Trường hợp này cũng giống như người mệt mỏi ngồi nghỉ. Họ thở ra một hơi dài và thở thật chậm liền cảm thấy trong mình khỏe lại như thường. Theo nhà Duy Thức, hơi thở của con người hầu như đều bị Ý Tưởng (Thức Mạt Na) điều khiển nhiều hơn và ít khi được Tâm Thức Alaya tự do điều khiển. Thành thử con người cảm thấy nhịp thở của mình sinh hoạt nhanh hơn bình thường. Hơn nữa Ý Tưởng con người, về phía nội tâm thường bị các phiền não lôi cuốn và về phía ngoại cảnh cũng thường bị các hình ảnh thất tình lục dục chi phối. Do đó Ý Tưởng của họ kích thích nhịp thở khiến cho hơi thở sinh hoạt khi lên khi xuống không chừng mực và khiến cho thân thể dễ bị mệt mỏi, Thần Kinh dễ bị căng thẳng và Tâm Thức dễ bị tán loạn.

Thí dụ: Người đi trên cầu khỉ, Ý Tưởng (Thức Mạt Na) của họ ám ảnh sợ ngã, khiến cho hơi thở của họ trở nên hồi hộp run động và làm cho bước đi của họ trở nên mất thăng bằng, từ đó họ bị ngã xuống sông ngay lập tức. Ngược lại, Ý Tưởng của họ không lo sợ thì hơi thở vẫn sinh hoạt bình thường, thành thử họ đi qua cầu khỉ một cách dễ dàng. Trường hợp khác, người tu tập đi kinh hành cùng với đại chúng trong Chánh Điện, Ý Thức của họ muốn bước chậm lại theo lối hành thiền, nhưng Ý Tưởng của họ điều khiển hơi thở hoạt động quá nhanh, thành thử họ bước đi cảm thấy muốn ngã.

Người tu Thiền hạ thấp hơi thở xuống, nhằm mục đích mang hơi thở trả lại cho Tâm Thức Alaya điều khiển. Hơi thở do Tâm Thức Alaya điều khiển giống như hơi thở của bệnh nhận bị chụp thuốc mê. Bác Sĩ chụp thuốc mê để nhốt Ý Thức của bệnh nhân không cho sinh hoạt. Nhờ đó Bác Sĩ giải phẫu bệnh nhân một cách dễ dàng và không bị Ý Thức phản ứng. Bệnh nhân tuy bất tỉnh bởi thuốc mê, nhưng hơi thở của họ vẫn còn sinh hoạt bình thường. Trong lúc chưa tỉnh cơn mê, bệnh nhân nhờ Tâm Thức Alaya trực tiếp điều khiển hơi thở để giữ thân mạng cho khỏi bị chết. Trong lúc ngồi thiền, người nào điều khiển hơi thở trở về được trạng thái bình thản giống như hơi thở của bệnh nhân đang bị thuốc mê thì Tâm người đó mới thật sự được an lạc hoàn toàn.

2- Buộc tâm niệm vào hơi thở là phương pháp giúp cho Tâm được định. Người tu Thiền cần Tâm được định hơn là cần Tâm được an. Tâm định là yếu tố chính để cho Trí Tuệ được phát sanh, còn Tâm an chỉ giúp con người trở về trạng thái an lạc trong sự lắng đọng. Tâm an chưa phải là Tâm định.

Thí dụ : Người nào đó cảm thấy tâm mình rất an lạc, rất tự tại trong mọi hoàn cảnh, nhưng họ một khi ngồi thiền hoặc tụng kinh vẫn bị phân tâm như thường và nhớ đủ thứ chuyện trong lúc tu tập.

Sự kiện trên cho thấy con người chưa định được tâm mặc dù họ đã an được tâm. Con người an tâm chỉ có thể chận đứng và không cho các phiền não như Tham, Sân, Si v.v... tiếp tục sinh hoạt. Các phiền não nói trên bị chận đứng và chẳng cho sinh hoạt không có nghĩa là chúng nó đã bị tiêu diệt. Những hạt giống phiền não nói trên vẫn nằm yên và còn nguyên vẹn trong Tâm Thức. Chúng nó chờ cơ hội để tiếp tục hoạt động trở lại. Như vậy con người mặc dù đã được an tâm nhưng chưa hẳn đã được giải thoát và cũng chưa chắc đã được thành Phật. Muốn được giải thoát khổ đau sanh tử và muốn được chứng ngộ thành Phật, con người phải diệt tất cả hạt giống phiền não đang nầm ẩn trong Tâm Thức. Trí Tuệ là chất liệu có thể hóa giải tận gốc rễ tất cá hạt giống phiền não nói trên. Muốn có Trí Tuệ để hóa giải phiền não, người tu thiền trước hết phải điều được tâm của mình. Buộc tâm vào hơi thở chính là hình thức Điều Tâm của người tu thiền. Để xác định một lần nữa, điều hơi thở là pháp môn phương tiện nhằm mục đích buộc tâm mình vào đó và không cho tâm bị loạn động. Nhưng pháp môn này không phải cứu cánh có thể giúp mình giải thoát sanh tử hoặc giúp mình chứng ngộ thành Phật như một số người lầm lẫn đề cao. Người tu thiền buộc tâm vào hơi thở cũng không khác nào người tu Tịnh Độ buộc tâm vào câu Niệm Phật hoặc bài Kinh Tụng. Hai hình thức tuy khác nhau, nhưng công dụng cũng như lợi ích của hai bên đều giống nhau và kết quả như nhau.

c/- ĐIỀU THÂN: Điều Thân nghĩa là điều chỉnh thân thể ngồi yên trong tư thế ngay thẳng. Muốn điều hơi thở để tâm trở về trạng thái buông xả, người hành trì trước hết phải điều thân làm nền tảng. Điều thân ở đây tức là chỉ cách thức ngồi thiền như các Kinh Điển đã từng giảng dạy. Người làm việc nhiều thì hơi thở hoạt động càng nhanh và hơi thở hoạt động càng nhanh khiến cho tâm thần càng bị mệt mỏi. Cũng vậy thân

thể càng động thì hơi thở sinh hoạt càng tăng và hơi thở sinh hoạt càng tăng khiến cho Tâm Thức càng bị loạn niệm thêm. Nói cách khác thân thể cũng như thau nước và Tâm Thức cũng như nước trong thau. Thau nước không để yên một chỗ thì khiến cho nước trong thau bị chao động luôn. Do đó bao nhiêu cặn bã trong nước không lắng xuống được và nước trong sạch cũng không thể hiện bày. Người tu tập không ngồi yên một chỗ giống như thau nước không lắng yên và Tâm Thức của họ bị vọng động luôn giống như nước trong thau bị chao động. Cho nên bao nhiêu cặn bã phiền não trong Tâm Thức không lắng xuống được và Trí Tuệ cũng không thể nào hiện bày. Trong ba công thức của Thiền Chỉ, Điều Thân là khởi điểm cho tiến trình tu tập và người tu thiền phải hành trì luôn để đi đến Điều Tức và Điều Tâm. Ngoại trừ những người điều tâm đã được thuần thục thì sự ngồi thiền đối với họ không quan trọng cho lắm. Bởi vì họ đi, đứng, nằm và ngồi đều thể hiện được nếp sống Thiền.

Có thể khẳng định rằng, Điều Tâm, Điều Tức và Điều Thân vừa trình bày chỉ có giá trị ở giai đoạn Thiền Chỉ. Nhưng đối với Thiền Quán, ba công thức này không còn chính yếu trong sự quán chiếu. Chúng ta đừng có triết lý cũng như đừng có thần thánh hóa công thức tu thiền. Lý tưởng của sự quán chiếu là Thiền Quán và chất liệu của sự quán chiếu là Trí Tuệ. Người tu thiền chọn những phương pháp Thiền Quán để làm sự nghiệp cho việc đạt đạo và làm hành trang trên con đường giác ngộ và giải thoát. Như vậy, sao gọi là Thiền Quán?

2/- THIỀN QUÁN:

Thiền Quán là phương pháp quán chiếu ở giai đoạn hai của các vị tư Thiền. Các vị tu Thiền sau khi hoàn tất chương trình Thiền Chỉ liền sử dụng Trí Tuệ đã phát sanh để quán chiếu chiều sâu của mỗi pháp, nhằm mục đích nhận chân được thực thể của vạn pháp. Người thật hành Thiền Quán bằng mọi cách phải đạt cho được hai lãnh vực quán chiếu:

a/- Thứ nhất, họ phải tìm cho ra nguồn gốc phiền não sanh tử nơi trong bản tâm của họ bằng phương pháp quán chiếu và họ hóa giải cho hết gốc rễ phiền não nói trên qua phương pháp quán chiếu. Họ quán chiếu bằng phương pháp thực nghiệm và kiểm chứng mà ở đây họ không phải tin theo lý thuyết suông qua kinh sách ghi lại. Người tu tập nhất định phải thể hiện cho bằng được những sự giải thoát nơi bản thân. Mình không phải tu tập theo kiểu càng tu bao nhiêu thì phiền não càng tăng trưởng bấy nhiêu và bản tính thế gian càng phát triển hơn so với những người chưa tu. Chính đức Phật đã chứng nghiệm sự giải thoát phiền não qua phương cách tu tập của Ngài. Mặc dù đức Phật để lại kinh sách cho đệ tử sau này nương tựa hành trì, những kinh sách chỉ có tánh cách cẩm nang phương tiện trong việc tu tập và nó không phải là diệu lý cứu cánh mầu nhiệm chân thật bất hư. Đức Phật đã từng xác nhận điều đó. Khác nào Bác sĩ chiếu soi bệnh nhân bằng Quang Tuyến X (X-RAY) để tìm ra căn bệnh trị liệu mà ở đây Bác sĩ không phải trị liệu bệnh nhân bằng phương pháp đoán mò qua sách vở chỉ dẫn.

b/- Thứ hai, họ phải tìm cho ra thế giới Chân Như Pháp Tánh bằng phương pháp quán chiếu mà các Kinh điển đã trình bày. Họ tìm thế giới Chân Như Pháp Tánh để làm hướng đi trở về cho đức tin và thế giới đó nhất định không phải như thế giới sanh diệt giả tạo khổ đau này. Thế giới Vô Dư Niết Bàn và Vô Dư Niết Bàn được mang tánh chất Thường Lạc Ngã Tịnh. Đức Phật đã chứng nghiệm thế giới nói trên qua sự quán chiếu của Ngài. Chúng ta hiện nay chỉ biết thế giới Chân Như Pháp Tánh qua kinh sách của Ngài để lại mà không phái qua thực nghiệm tu chứng. Người hành trì Thiền Quán nhất định phải theo dấu chân của Phật bằng cách chứng nghiệm cho được thế giới nói trên qua sự quấn chiếu của họ. Họ không thể tu tập mò mẫm theo kiểu kinh sách.

Thiền Quán cũng có nhiều phương pháp để quán chiếu. Những phương pháp quán chiếu của Thiền Quán gồm có: Tứ Niệm Xứ Quán, Nhân Duyên Quán, Giới Phân Biệt Quán, Duy Thức Quán, Pháp Hoa Tam Quán v.v... và Bát Nhã Tâm Kinh ở đây thì thuộc về loại Ngũ Uẩn Quán. Tất cả phương pháp quán chiếu thường của Thiền Quán đều dùng Trí Tuệ để chiếu soi, thường gọi là Bát Nhã Quán. Trí Tuệ chiếu soi tương tợ như Quang Tuyến X chiếu soi và Trí Tuệ này không phải thứ Trí Tuệ tầm thường như ánh sáng điện. Điều đáng chú ý, nhất là quyển Bất Nhã Tâm Kinh mà chúng ta thường tụng được trình bày bằng phương pháp quán chiếu đặc biệt của Bồ Tát Quán Tự Tại đã dùng Bát Nhã Ba La Mật Đa quán chiếu một cách tuyệt đối soi thấy năm Uẩn đều không, mới độ thoát tất cả khổ ách. Điều đó đã được ghi trong quyển Bát Nhã Tâm Kinh. Lối quán chiếu đây thuộc hạng thượng thặng của các bậc Bồ Tát Đại Thừa, còn các bậc Bồ Tát Quyền Thừa chỉ sử dụng Bát Nhã tương đối để quán chiếu. Các vị ấy chưa có khả năng sử dụng Bát Nhã Ba La Mật Đa thuộc loại tuyệt đối để quán chiếu như Bồ Tát Quán Tự Tại, nguyên do các Ngài tu tập chưa vượt qua khỏi 50 ngôi vị thứ bậc của Bồ Tát Hạnh. Cho nên các Ngài không thể gọi là Bồ Tát Đại Thừa. Kinh Phật gọi các Ngài thuộc về hạng Bồ Tát Quyền Thừa. Bồ Tát Quán Tự Tại mới thật sự là Bồ Tát Đại Thừa. Bởi vì Ngài đã có khả năng sử dụng Bát Nhã Ba La Mật Đa thuộc loại tuyệt đối để quán chiếu như kinh đã dẫn.

 

II.- Ý NGHĨA TÊN KINH:

MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH đã được nhiều nhà Thức giả chú giải diễn dịch, không ngoài mục đích làm sáng tỏ nghĩa kinh. Mỗi nhà nghiên cứu có mỗi cái nhìn và giải thích mỗi cách khác nhau. Riêng chúng tôi được may mắn chuyên về Duy Thức Tông, khi hành trì Bát Nhã qua lối nhìn của Duy Thức, nên diễn giải ý nghĩa tên kinh Bát Nhã có phần hơi khác lạ, nhưng đó là cách trực giải nhằm thể hiện phần nào yếu chỉ của quyển Kinh.

1/- MA HA: Chữ Ma Ha tiếng Phạn là Mahà, nghĩa là to lớn, cao tột và mầu nhiệm (thâm diệu) của Bát Nhã. Bát Nhã to lớn, nghĩa là loại Bát Nhã có khả năng bao trùm cả thế giới Chân Như của chư Phật và cả thế giới mê vọng của muôn loài chúng sanh. Sự to lớn của Bát Nhã nói trên cũng tương tợ như sự to lớn của khối nước đối với loài cá, khối nước bao trùm tất cả loài cá, nghĩa là không có nước thì không có loài cá và loài cá sống được là nhờ có nước. Cũng vậy thế giới Chân Như của chư Phật và thế giới Mê Vọng của muôn loài chúng sanh đều phát sanh từ nơi Bát Nhã này. Do đó Bát Nhã này được gọi là to lớn.

Bát Nhã cao tột, nghĩa là thứ Bát Nhã thuộc hạng trên hết và ngoài Bát Nhã này ra không có Bát Nhã nào so sánh bằng. Sự cao tột của Bát Nhã nói trên cũng tương tợ như sự cao tột của biển cả hoặc sự cao tột của điện lực trong không gian. Nước sông, nước lạch, nước ao, nước hồ v.v... không thể so sánh bằng nước biển cả và chúng đều phát nguồn từ nước biển cả. Điện lực trong con người, trong cỏ cây sông núi, trong máy phát điện, trong bóng đèn v.v... không thể so sánh bằng điện lực trong không gian và chúng nó đều phát nguồn từ điện lực trong không gian. Bát Nhã đây thật cao tột không có Trí Tuệ nào so sánh hơn, cho nên Bát Nhã đây được gọi là cao tột.

Bát Nhã mầu nhiệm, nghĩa là Bát Nhã có năng lực hóa giải tận gốc rễ tất cả phiền não khổ đau của chúng sanh và giúp cho chúng sanh nhận chân được thật tướng của vạn pháp. Năng lực Bát Nhã mầu nhiệm chiếu soi thật tướng của vạn pháp cũng giống như năng lực của Quang Tuyến X chiếu soi vào thân thể con người. Tâm can trong thân thể con người hiện bày ra trước mắt do bởi năng lực chiếu soi của Quang Tuyến X. Cũng vậy, thật tướng của vạn pháp cũng sẽ hiện bày ra ngoài do bởi năng lực mầu nhiệm chiếu soi của Bát Nhã. Năng lực Bát Nhã mầu nhiệm khác hơn năng lực Trí Tuệ của chúng sanh thường sử dụng. Chúng sanh thường sử đụng năng lực Trí Tuệ của Ý Thức thứ sáu. Ý Thức thứ sáu được chuyển hóa thành Trí Tuệ. Năng Lực Trí Tuệ của Ý Thức thứ sáu chỉ có khả năng soi sáng hình tướng bên ngoài vạn pháp và không thể soi sáng thật tướng nằm phía bên trong vạn pháp. Năng lực Trí Tuệ của Ý Thức thứ sáu cũng giống như năng lực ánh sáng của dòng điện nơi bóng đèn. Năng lực ánh sáng của đòng điện nơi bóng đèn chỉ có khả năng soi sáng những sự vật ở phía bên ngoài thân thể con người và không có khả năng soi sáng tâm can nằm phía bên trong thân thể con người giống như sự soi sáng của năng lực Quang Tuyến X. Cho nên Bát Nhã này được gọi là mầu nhiệm.

Tóm lại, Bát Nhã mà Bồ Tát Quán Tự Tại sử dụng để quán chiếu Ngũ Uẩn là loại Bát Nhã không thể nghĩ bàn. Thể của Bát Nhã đây thì to lớn, tướng của Bát Nhã đây thì cao tột và năng lực của Bát Nhã đây thì diệu dụng phi thường. Cho nên Bát Nhã nói trên được gọi là Ma Ha.

2/- BÁT NHÃ: Chữ Bát Nhã tiếng Phạn là Prajnà, thường dịch là Trí Tuệ, nhưng theo Duy Thức Học, Trí không phải là Tuệ. Trí thì thuộc về Thể Động (Dynamic-state) và Tuệ thì thuộc về sự Tác Dụng (Activities) của Trí. Năng lực của Trí một khi tác dụng liền biến thành năng lượng và lưu chuyển mãi trong vũ trụ để duy trì sự sống của vạn pháp. Cho nên Trí được gọi là Thể Động.

Riêng về phương diện quán chiếu, Trí quán chiếu khác hơn Tuệ quán chiếu. Trí quán chiếu thường gọi là Quán Chiếu Bát Nhã. Trí quán chiếu sự vật có tánh cách xác định minh bạch, nhằm quyết đoán cụ thể về thật tướng bên trong của vạn pháp. Trái lại Tuệ quán chiếu sự vật có tính cách quan sát nhằm hiểu biết về hình tướng bên ngoài của vạn pháp. Hơn nữa, Tuệ tác dụng luôn luôn bị chi phối bởi hệ thống giác quan của vạn pháp, mặc dù Tuệ phát sanh từ nơi Trí. Cho nên Tuệ được gọi là Dụng (sự tác dụng) của Trí.

Thí dụ: Trí cũng như điện lực của dòng điện và Tuệ cũng như ánh sáng điện chiếu soi. Điện lực tự nó không có chiếu sáng, tự nó không có phát nhiệt và tự nó không có hạn lượng 15 Watts, 20 Watts hay 100 Watts v.v... Trái lại, ánh sáng chiếu soi hay sức nóng phát nhiệt của điện đều bị chi phối bởi bóng đèn cũng như bị lệ thuộc bởi máy phát nhiệt, mặc dù chúng nó đều phát sanh từ nơi điện lực của dòng điện. Bóng đèn hay máy phát nhiệt thì có nhiều loại khác nhau, có loại nhỏ, có loại lớn, có loại 15 Watts, có loại 20 Watts hay 100 Watts v.v...Thành thử ánh sáng của điện chiếu soi cũng có nhiều thứ không giống nhau, có thứ sáng xa, có thứ sáng gần v.v... Cho đến sức nóng của điện phát nhiệt cũng vậy, cũng có nhiều loại khác nhau, có loại nóng nhiều, có loại nóng ít v.v...

Luận Duy Thức 100 Pháp và Luận Câu Xá 715 Pháp đều giải thích sự khác nhau giữa Trì và Tuệ trên lãnh vực sinh hoạt nhận thức vạn pháp như sau:

"Trí thì có khả năng minh định được lẽ chánh tà, chân vọng, phải trái, đúng sai về đạo lý của sự vật. Sự minh định của Trí bằng lối quyết đoán và không có vấn đề nghi hoặc trong đó, còn Tuệ thì chỉ có khả năng hiểu biết và nhận thấy mọi vật bằng sự quan sát".

Về sau các nhà nghiên cứu nhận thấy giữa Trí và Tuệ có sự liên hệ chặt chẽ trong lãnh vực quán chiếu để nhận thức vạn pháp, nên ghép chúng lại với nhau thành danh từ kép gọi là Trí Tuệ. Trí Tuệ mặc dù được ghép chung thành một danh từ, nhưng vẫn hàm súc hai ý nghĩa và giá trị khác nhau. Người nào muốn nhận thức đúng ý nghĩa và giá trị của Trí Tuệ thì phải quán chiếu cả hai lãnh vực Thể và Dụng trong sự thực nghiệm.

Căn cứ trên lãnh vực Thể và Dụng của Trí Tuệ, các bậc Đại Thừa phân loại và thiết lập rất nhiều tên. Mỗi tên của Trí Tuệ mang một ý nghĩa sâu xa và thâm hậu.

Đặc biệt, Kinh Nhập Lăng Già, quyển 5, phân tích Trí Tuệ gồm có ba loại: Thế Gian Trí, Xuất Thế Gian Trí và Xuất Thế Gian Thượng Thượng Trí.

a/- THẾ GIAN TRÍ: Là Trí Tuệ của ngoại đạo và của chúng sanh thuộc hạng phàm phu. Trí Tuệ này của họ còn bị ràng buộc bởi các phiền não và còn chấp trước tất cả pháp sanh diệt của thế gian.

b/- XUẤT THẾ GIAN TRÍ: Là Trí Tuệ của các vị Thinh Văn và Duyên Giác. Trí Tuệ này của họ có khả năng phân biệt được Tự Tướng (Tướng riêng biệt của mỗi chúng sanh) và Đồng Tướng (Tướng chung của đồng loại) hư vọng trong thế gian.

c/- XUẤT THẾ GIAN THƯỢNG THƯỢNG TRí: Là Trí Tuệ của các vị Bồ Tát và của chư Phật. Trí Tuệ này của các Ngài có khả năng quán sát được Thật Tướng không sanh và không diệt của tất cả pháp. Trí Tuệ đây đã thoát ra ngoài phạm vi bệnh chấp "có" và bệnh chấp "không" của chúng sanh phàm phu và của bậc Nhị Thừa (bậc Thinh Văn và bậc Duyên Giác).

Đại Thừa Duy Thức Tông thiết lập Trí Tuệ nói trên thành bốn loại khác nhau. Bốn loại Trí Tuệ được giải thích như sau:

1- Năm Tâm Thức hữu lậu của chúng sanh hữu tình chuyển thành Trí Tuệ vô lậu gọi là Trí Thành Sở Tác.

2- Ý Thức hữu lậu của chúng sanh hữu tình chuyển thành Trí Tuệ vô lậu gọi là Trí Diệu Quan Sát.

3- Thức Mạt Na hữu lậu của chúng sanh hữu tình chuyển thành Trí Tuệ vô lậu gọi là Trí Bình Đẳng Tánh.

4- Thức Alaya hữu lậu của chúng sanh hữu tình chuyển thành Trí Tuệ vô lậu gọi là Trí Đại Viên Cảnh.

Bát Nhã mà Bồ Tát Quán Tự Tại sử dụng để quán chiếu chính là năng lực Trí Tuệ của Đại Viên Cảnh thuộc Đại Thừa Duy Thức Tông hoặc năng lực Trí Tuệ của Xuất Thế Gian Thượng Thượng thuộc Kinh Nhập Lăng Già nói trên. Năng lực Trí Tuệ của Đại Viên Cảnh hoặc năng lực Trí Tuệ của Xuất Thế Gian Thượng Thượng đều thuộc về Quán chiếu Bát Nhã.

3/- BA LA MẬT ĐA: Chữ Ba La Mật Đa là dịch âm của tiếng Phạn "Pàramità", nghĩa là đến bờ bên kia. Ngôn từ "Bờ Bên Kia" dừng để chỉ cho thế giới Giác Ngộ của chư Phật. Thế giới Giác Ngộ của chư Phật cũng gọi là bờ bên kia (Bỉ ngạn). Thế giới bờ bên kia được thành lập nhằm đối diện với thế giới bờ bên này (Thử ngạn). Thế giới bờ bên này ở đây là ám chỉ cho thế giới mê vọng của chúng sanh. Thế giới giác ngộ thuộc bờ bên kia (thế giới bỉ ngạn) và thế giới mê vọng thuộc bờ bên này (thế giới thử ngạn) được giải thích như sau:

Thích Thiền Ba La Mật Thứ Đệ Pháp Môn, quyển 1 giải thích: "Không gian vô tận có hai loại thế giới: Thế giới mê vọng và thế giới giác ngộ. Thế giới mê vọng thì thuộc về thế giới sanh tử lưu chuyển. Thế giới mê vọng do nghiệp và phiền não tạo nên. Thế giới này được gọi là Thử Ngạn (Thế giới thuộc bờ bên này). Ngược lại Thế giới giác ngộ thì thuộc về thế giới chân thật thường tại. Thế giới giác ngộ không bị sanh diệt biến hoại giống như thế giới mê vọng. Thế giới giác ngộ được gọi là Bỉ Ngạn (Thế giới thuộc bờ bên kia)".

Kinh Thắng Mạn, Chương Điên Đảo Chân Thật giải thích thế giới thuộc bờ bên kia gồm có bốn Đức Ba La Mật, thường gọi là bốn đức Niết Bàn. Bốn đức này thể hiện tánh chất, giá trị, ý nghĩa và công dụng của thế giới Niết Bàn thuộc bờ bên kia. Bốn đức Niết Bàn nơi Ba La Mật gồm có:

a/- THƯỜNG BA LA MẬT: Nghĩa là tánh chất của thế giới Niết Bàn thuộc về chân thường, không sanh diệt, không biến đổi, nên gọi là "Thường Ba La Mật".

b/- LẠC BA LA MẬT: Nghĩa là công dụng mầu nhiệm của thế giới Niết Bàn thuộc về tự tại tuyệt đối, không bị vọng niệm phân biệt chấp trước, nên gọi là "Lạc Ba La Mật".

c/ NGÃ BA LA MẬT: Nghĩa là giá trị chân ngã của thế giới Niết Bàn thuộc về vô lậu (không bị sa rớt trong vòng sanh tử) chân thật tuyệt đối và không phải thứ Ngã giả tạo hư huyễn kết hợp, nên gọi là "Ngã Ba La Mật".

d/- TỊNH BA LA MẬT: Nghĩa là ý nghĩa biểu hiện của thế giới Niết Bàn thuộc về thanh tịnh sáng suốt tuyệt đối nên gọi là "Tịnh Ba La Mật".

Như sự trình bày ở trên, Ba La Mật Đa là danh từ dùng để xác định vị trí của Bát Nhã. Bát Nhã Ba La Mật Đa có nghĩa là Trí Tuệ đến bờ bên kia. Bát Nhã Bà La Mật Đa biểu thị cho Trí Tuệ rốt ráo nơi thế giới Giác Ngộ thuộc bờ bên kia. Bát Nhã Ba La Mật Đa cũng không phải chỉ cho những thứ Trí Tuệ thuộc loại phân ly như, Trí Thành Sở Tác (thuộc loại năm Tâm Thức hữu lậu chuyển hóa thành), Trí Diệu Quan sát (thuộc loại Ý Thức hữu lậu chuyển hóa thành), Trí Bình Đẳng Tánh (thuộc loại Mạt Na Thức hữu lậu chuyển hóa thành) v.v. . . nơi thế giới của bờ bên này (nơi thử ngạn). Bát Nhã Ba La Mật Đa ở đây chính là Trí Tuệ Đại Viên Cảnh (của Thức Alaya hữu lậu được chuyển hóa thành) biểu tượng cho thật tướng của Chân Tâm nơi thế giới Giấc Ngộ thuộc bờ bên kia. Thế nên Trí Tuệ này được gọi là Ba La Mật Đa.

4/- TÂM KINH: Chữ Tâm trong Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh đã được nhiều nhà nghiên cứu giải thích. Chữ Tâm ở đây có nhà giải thích là Tinh Yếu, có nhà giải thích là Kinh nói về Tâm v.v... Nhưng cặp mắt Duy Thức có lối nhìn hơi đặc biệt về chữ Tâm trong Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. Lối nhìn đặc biệt về chữ Tâm của Duy Thức sẽ được trình bày cụ thể sau đây:

Theo quan niệm của Duy Thức, chữ Tâm Kinh có một số giảng giả giải nghĩa là "Kinh nói về Tâm" và giảng giả cho rằng "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa là tên khác của chữ Tâm", Lối giải nghĩa đây thật ra không sai ý đối với quyển Bát Nhã Tâm Kinh, nhưng lối giải thích trên có hơi tổng quát và khiến cho người đọc khó nắm vững yếu chỉ của quyển kinh. Như phần Lời Nói Đầu đã đề cập, mỗi quyển kinh đều có một yếu chỉ riêng. Chúng ta hiểu được yếu chỉ của một quyển kinh nào tức là giác ngộ được tinh thần của quyển kinh đó. Quyển Bát Nhã Tâm Kinh cũng có yếu chỉ riêng của nó. Bồ Tát Quán Tự Tại muốn cho chúng ta một yếu chỉ tu tập để đạt đạo bằng phương pháp quán chiếu qua ngưỡng cửa Ngũ Uẩn mà chính Bồ Tát đã chứng nghiệm. Yếu chỉ đó của Bồ Tát đã được ghi lại toàn bộ trong quyển Bát Nhã Tâm Kinh. Như vậy, chữ Tâm của Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa mà Bồ Tát Quán Tự Tại sừ dụng để quán chiếu thuộc về loại Tâm gì và Tâm đó ít được ai trình bày rõ ràng. Nguyên do, chữ Tâm trong Phật Giáo có nhiều loại khác nhau như là, Chân Tâm, Vọng Tâm, Tâm Trí, Tâm Thức v.v... Riêng Tâm Trí cũng có nhiều loại như là, Tâm Như Lai Tạng, Tâm Đại Viên Cảnh, Tâm Bình Đẳng Tánh, Tâm Diệu Quan Sát, Tâm Thành Sở Tác v.v... Chúng ta minh định được chữ Tâm trong Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh thuộc về loại nào tức là nắm được yếu chỉ của quyển kinh Bát Nhã nói trên.

Thiền Tông chủ trương điều Tâm là phương pháp căn bản của người tu Thiền, nhưng Duy Thức Tông cho rằng, điều Tâm ở đây không khác nào điều khiển Ý Thức thứ sáu không cho phân Tâm. Tâm định tức là ám chỉ cho Ý Thức thứ sáu tập trung và Trí Tuệ phát sanh tức là Trí Diệu Quan Sát của Ý Thức thứ sáu thể hiện. Phần đông người tu Thiền thường sử dụng Trí Diệu Quan Sát của Ý Thức thứ sáu để hiểu biết vạn pháp. Ngoài Trí Diệu Quan Sát này ra, người tu Thiền ít ai có khả năng sử dụng đến Trí Tuệ nào khác để quán chiếu. Chúng ta nếu như tư duy thì sẽ nhận thấy giá trị của Trí Diệu Quan Sát cũng giống như giá trị của Ý Thức thứ sáu. Giá trị của Trí Diệu Quan Sát được nhận định như sau:

Trí Diệu Quán Sát nghĩa là Trí Tuệ hiểu biết vạn pháp một cách mầu nhiệm qua phương pháp quan sát. Có hai loại hiểu biết, một loại hiểu biết bằng phương pháp quan sát và một loại hiểu biết bằng phương pháp quán chiếu. Một loại hiểu biết bằng phương pháp quan sát thì có tính cách phân biệt. Một loại hiểu biết bằng phương pháp quán chiếu thì có tính cách nhận thức. Trí Diệu Quan sát ở đây thuộc về loại phân biệt để hiểu biết vạn pháp. Như trước đã trình bày, năng lực Trí Diệu Quan sát chỉ có khả năng soi sáng hình tướng bên ngoài của vạn pháp để hiểu biết và Trí Tuệ này không thể soi sáng thật tướng nằm phía bên trong của vạn pháp để nhận thức. Nguyên do Trí Diệu Quan sát được chuyển hóa từ nơi Ý Thức thứ sáu. Cho nên Trí Diệu quan sát phải nương vào sáu Giác Quan (sáu Căn) mới có thể sanh hoạt để hiểu biết. Trí Diệu Quan Sát nương vào thân thể Ngũ Uẩn để quan sát vạn pháp thì không khác nào Ý Thức thứ sáu nương vào thân thể con người để hiểu biết sự vật. Trí Diệu Quan Sát nương vào thân thể Ngũ Uẩn để quan sát vạn pháp thì sẽ gặp những trở ngại sau đây:

a. Trí Diệu Quan Sát nương vào năm hệ thống Thần Kinh cảm giác (Nervous-systems) cửa thân thể Ngũ Uẩn để quan sát vạn pháp thì sự hiểu biết bị ngăn cách cũng giống như Ý Thức thứ sáu hiểu biết bị gián đoạn mỗi khi con người ngủ và thức. Năm hệ thống Thần Kinh cám giác của Ngũ Uấn theo nhà Duy Thức gọi là Năm Tịnh Sắc Căn (năm hệ thống cảm giác nhạy bén). Năm hệ thống Thẩn Kinh cảm giác này nếu như không còn hoạt động thì Trí Diệu Quan sát không thể quan sát để hiểu biết vạn pháp. Trường hợp người ngủ mê, người bị chụp thuốc mê, người bị ngất xỉu bất tỉnh (To Lose Consciousness), trong lúc đó Trí Diệu Quan sát Của họ không còn sinh hoạt để hiểu biết vạn pháp.

b. Về phương diện ngoại quán, Trí Diệu Quan sát muốn hiểu biết những sự vật bên ngoài cũng phải nhờ đến năm Tâm Thức như, Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức Thiệt Thức và Thân Thức cung cấp những dữ kiện (những tài liệu). Trí Diệu Quan Sát không biết nương vào đâu để quan sát vạn pháp, nếu như năm Tâm Thức không chịu cung cấp những dữ kiện của sự vật bên ngoài. Những dữ kiện của sự vật bên ngoài như, hình sắc, âm thanh, hương thơm, mùi vị và cảm xúc do năm Tâm Thức cung cấp cũng đều là những hình ảnh méo mó mà nhà Duy Thức gọi là Ảnh Tử (Cause's Images of Illusions) làm đối tượng cho Trí Diệu Quan sát sinh hoạt để hiểu biết. Nói cách khác, Trí Diệu Quan sát chỉ có khả năng quan sát những Ảnh Tử méo mó của hình sắc, của âm thanh, cửa hương thơm, của mùi vị, của cảm xúc nơi một sự vật bên ngoài do năm Tâm Thức cung cấp để có hiểu biết. Trí Diệu Quan sát không thể quan sát một cách trực tiếp đến hình sắc, âm thanh, hương thơm, mùi vị và cảm xúc của một sự vật bên ngoài. Như vậy, Trí Diệu Quan sát có thể nói hoàn toàn bất lực trong việc quán chiếu chiều sâu của vạn pháp.

c. Về phương diện nội quán, Trí Diệu Quan sát cũng không thể hiểu biết một cách trực tiếp đến những hạt giống (Memories) vạn pháp hiện đang nằm yên trong Tâm Thức Alaya thứ tám, nếu như những dữ kiện đó không được Tâm Thức Mạt Na thứ bảy cung cấp. Vạn pháp mà Tâm Thức Mạt Na thứ bảy cung cấp cho Trí Diệu Quan Sát hiểu biết cũng chỉ là hình ảnh méo mó của những hạt giống trong Tâm Thức Alaya thứ tám. Có những trường hợp, Trí Diệu Quan Sát không thể nhớ được một vài sự việc cần thiết về quá khứ để quan sát. Sự trở ngại này của Trí Diệu Quan sát là do Tâm Thức Mạt Na thứ bảy không chịu cung cấp những dữ kiện nói trên. Trái lại, Trí Diệu Quan sát không thể quên được những hình ảnh làm trở ngại cho sự quán chiếu mà Trí Diệu Quan sát không muốn nhớ nữa. Nguyên do Tâm Thức Mạt Na thứ bảy cứ trình diện những dữ kiện trở ngại trên để phá hoại chương trình hiểu biết của Trí Diệu Quan Sát. Hơn nữa Trí Diệu Quan Sát không thể biết được những hạt giống phiền não như, tham, sân, si v.v... còn hay đã mất trong Tâm Thức của mình và chỉ biết được khi nào chúng nó xuất hiện sinh hoạt. Chẳng những thế, Trí Diệu Quan sát cũng hoàn toàn bất lực trong việc quán chiếu chiều sâu của hạt giống vạn pháp trong nội Tâm.

d. Nhìn xa hơn nữa, so với vũ trụ vô minh nghiệp tướng bao la trong ba cõi nơi bờ mê bên này, Trí Diệu Quan sát của loài người chiếu soi giống như ánh sáng bóng đèn điện 5 Volt chiếu soi giữa bầu trời tối tăm mờ mịt. Vũ trụ vô minh nghiệp tướng bao la trong ba cõi ngăn cách sự chiếu soi của Trí Diệu Quan Sát loài người. Cũng giống như vũ trụ khối nước ngăn cách sự chiếu soi của Trí Diệu Quan sát loài cá. Nghĩa là vũ trụ khối nước chuyển hóa cạn khô thì loài cá sẽ chết. Ngay lúc đó Trí Diệu Quan Sát của loài cá cũng bị chuyển hóa theo và không còn chiếu soi để hiểu biết vạn pháp theo kiểu loài cá nữa. Loài người cũng vậy, vũ trụ vô minh nghiệp tướng không còn thì loài người sẽ bị tiêu diệt. Ngay lúc đó Trí Diệu Quan Sát của loài người cũng bị biến tướng theo và không còn chiếu soi để hiểu biết vạn pháp theo kiểu loài người nữa.

Đặc biệt nhất, Trí Diệu Quan Sát của loài người so với Trí Diệu Quan Sát của các đức Phật, của các vị Đại Bồ Tát nơi bờ giác ngộ bên kia thì thật quá nhỏ bé, nhỏ bé không khác nào Trí Diệu Quan Sát của các giống vi trùng so với Trí Diệu Quan sát của loài người. Trí Diệu Quan Sát của mỗi loại sở dĩ có khác nhau là do thân tướng của mỗi loại không giống nhau. Cho nên Trí Diệu Quan sát nơi nhục thân (Thân thể bằng xác thịt) của loài người không thể nào sánh bằng Trí Diệu Quan sát nơi Pháp Thân thanh tịnh của các đức Phật, nơi Hiện Đại Hóa Thân của các vị Đại Bồ Tát, nhất là không thể nào so sánh bằng Trí Diệu Quan sát nơi Hiện Đại Hóa Thân của Bồ Tát Quán Tự Tại.

Theo Bát Thức Quy Củ Tụng của Ngài Huyền Trang dịch, về mục Năm Thức Trước giải thích rằng, thân thể của Bồ Tát Đại Thừa cao một ngàn Trượng (một trượng là mười thước ta). Thân thể của Bồ Tát Tam Hiền cao một trượng sáu thước, còn thân thể của hàng phàm phu chúng ta cao lắm là một thước tám tấc. Trái lại Pháp Thân của các đức Phật thì cao không thể nghĩ bàn. Bởi lẽ đó, Trí Diệu Quan sát của chúng ta so với Trí Diệu Quan sát của các vị nói trên thật vô cùng bé nhỏ và nhỏ bé đến nỗi không thể gọi Ma Ha được. (Chúng ta nên xem lại giá trị của sự nhận thức, trang 254 trong quyển Khảo Nghiệm Duy Thức Học cùng một tác giả do Ban Văn Hóa Xã Hội Chùa Phật Tổ ấn hành).

5/ Bát Nhã có ba loại: Thật Tướng Bát Nhã, Quán Chiếu Bát Nhã và Phương Tiện Bát Nhã (Kinh Nhị Khóa Hiệp Giải của Ngài Quán Nguyệt do Hòa Thượng Thích Khánh Anh dịch, trang 106, đã giải thích).

A. THẬT TƯỚNG BÁT NHÃ: Nghĩa là tướng chân thật của Trí Tuệ. Tướng chân thật của Trí Tuệ chính là hình tướng của chân tâm, nên gọi là Thật Tướng Bát Nhã. Thật Tướng Bát Nhã cũng gọi là Tâm Như Lai Tạng. Thật Tướng Bát Nhã còn có tên khác nữa là Trí Đại Viên Cảnh của Thức Tạng (Thức Thể Alaya). Thật Tướng Bát Nhã không bao giờ sanh diệt, tăng giảm, nhiễm tịnh. Thật Tướng Bát Nhã bao trùm cả thế giới chân thật của chư Phật và cả thế giới mê vọng của chúng sanh.

B. QUÁN CHIẾU BÁT NHÃ: Nghĩa là Trí Tuệ Quán Sát bằng cách chiếu soi. Quán Chiếu Bát Nhã khác hơn Trí Diệu Quan Sát (của Ý Thức hữu lậu). Trí Diệu Quan Sát hiểu biết vạn pháp bằng cách quan sát hình tướng bên ngoài để phân biệt, còn Quán Chiếu Bát Nhã hiểu biết vạn pháp bằng cách quán chiếu thật tướng chiều sâu bên trong để nhận thức. Trí Diệu Quan Sát phải nương vào Pháp Thân của các đức Phật hay Nhục Thân của các chúng sanh để sinh hoạt. Trái lại Quán Chiếu Bát Nhã phát sanh từ nơi Thật Tướng Bát Nhã (Tâm Như Lai Tạng) và không quan hệ nhiều với Pháp Thân của các đức Phật hay với Hiện Đại Hóa Thân của các vị Đại Bồ Tát. Giá trị Quán Chiếu Bát Nhã cũng giống như giá trị Tâm Thức Mạt Na thứ bảy so với Ý Thức thứ sáu của con người. Tâm Thức Mạt Na thứ bảy và Ý Thức thứ sáu đều phát sanh từ nơi Tâm Thức Alaya thứ tám, nhưng Ý Thức thứ sáu thì phải nương vào Thân Xác Thịt của con người hay Thân Ngũ Uẩn của chúng sanh để sinh hoạt. Trái lại Thức Mạt Na thứ bảy sinh hoạt không liên hệ vào Thân Xác Thịt hay Thân Ngũ Uẩn giống như Ý Thức Thứ sáu.

C. PHƯƠNG TIỆN BÁT NHÃ: Nghiã là Bát Nhã phương tiện hiện thân hóa độ. Phương Tiện Bát Nhã tức là Trí Thành Sở Tác. Trí Thành Sở Tác được chuyển hóa từ nơi năm Tâm Thức ở trước. Theo Bát Thức Quy Củ Tụng, Phương Tiện Bát Nhã tùy theo chủng loại chúng sanh phương tiện hiện ra nhiều thân tướng khác nhau để hóa độ. Tổng quát có ba loại thân tướng do Bát Nhã này phương tiện hóa hiện: Hiện Đại Hóa Thân, Tiểu Hóa Thân và Tùy Loại Hóa Thân.

a. HIỆN ĐẠI HÓA THÂN: Cũng gọi là Thắng Ứng Thân. Hiện Đại Hóa Thân là một loại thân được hóa hiện vô cùng to lớn nhằm mục đích dùng để hóa độ chúng sanh. Thắng Ứng Thân là một loại thân ứng hiện rất thù thắng và ngoài thân này ra không có thân nào khác thù thắng hơn.

b. TIỂU HÓA THÂN: Cũng gọi là Liệt Ứng Thân. Tiểu Hóa Thân là một loại thân được hóa hiện nhỏ hơn so với Hiện Đại Hóa Thân. Liệt Ứng Thân là một loại thân được ứng hiện có phần yếu kém hơn so với Hiện Đại Hóa Thân.

c. TÙY LOẠI HÓA THÂN: Nghĩa là thân này tùy theo chủng loại chúng sanh khác nhau được hóa hiện ra nhiều hình tướng sai biệt nhằm mục đích để hóa độ muôn loài. Thân này tùy theo duyên của muôn loài, có khi hiện ra hình tướng con người, có khi hiện ra hình tướng súc sanh v.v... không giống nhau.

Tóm lại, câu "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa" là ngôn từ dùng để chỉ cho Thật Tướng Bát Nhã rốt ráo, cao tột và mầu nhiệm của thế giới Niết Bàn nơi bờ giác ngộ bên kia. Thật Tướng Bát Nhã là tên khác của Tâm Như Lai Tạng và cũng gọi là Trí Đại Viên Cảnh. Tâm Như Lai Tạng, theo Đại Thừa Khởi Tín và Lăng Già Tâm Ấn chính làTrí Tuệ nguồn gốc. Trí Tuệ này phát sanh ra thế giới Chân Như Niết Bàn của các Đức Phật. Ngài Huyền Trang căn cứ theo ý nghĩa đây đặt tên cho quyển kinh. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh nghĩa là quyển Kinh trình bày sự to lớn, sự mầu nhiệm và sự rốt ráo về Thật Tướng Bát Nhã của chân tâm nơi thế giới Niết Bàn thuộc bờ giác ngộ bên kia.

 

III.- NỘI DUNG BÁT NHÃ TÂM KINH:

Các nhà nghiên cứu phần đông chỉ giải thích ý nghĩa văn tự của quyển Bát Nhã Tâm Kinh. Quyển kinh nói trên ít được ai trình bày đến yếu chỉ của nó. Như chúng ta đã biết, mỗi quyển Kinh đều có yếu chỉ riêng và vị Phật nói Kinh đó nhằm mục đích trao truyền yếu chỉ cho các đệ tử hành trì. Quyển Bát Nhã Tâm Kinh cũng có yếu chỉ mà Bồ Tát Quán Tự Tại đã ghi lại những điều chứng ngộ của Ngài làm thành cẩm nang để trao truyền cho hậu thế nương tựa tu tập. Việc làm của Bát Nhã Tâm Kinh Qua Cái Nhìn của Duy Thức không ngoài mục đích phơi bày yếu chỉ đã được ghi lại trong nội dung nơi quyển Bát Nhã Tâm Kinh.

A.- LẬP TRUỜNG TU TẬP NGŨ UẨN QUÁN:

Phần trước đã giải thích, Ngũ Uẩn Quán là một trong những phương pháp tu tập của Thiền Quán. Trên lãnh vực Thiền Quán, mỗi vị tu tập có một lập trường quán chiếu khác nhau theo sở thích của mình. Có người thích đứng trên lập trường Tứ Niệm Xứ để quán chiếu, có người thích đứng trên lập trường Mười Hai Nhân Duyên để quán chiếu, có người thích đứng trên lập trường Giới Phân Biệt để quán chiếu hoặc có người thích đứng trên lập trường Pháp Hoa v.v... để quán chiếu. Ở đây, Bồ Tát Quán Tự Tại lại đứng trên lập trường Ngũ Uẩn để quán chiếu. Toàn bộ quyển Bát Nhã Tâm Kinh đều trình bày lập trường của Bồ Tát Quán Tự Tại trên lãnh vực Ngũ Uẩn Quán, nghĩa là Bồ Tát Quán chiếu Chân Không và Bồ Tát sử dụng năng lực Bát Nhã Ba La Mật Đa để chiếu soi Ngũ Uẩn. Đó là lối tu đặc biệt của Bồ Tát Quán Tự Tại.

1/- GIÁ TRỊ NGŨ UẨN QUÁN:

Giá trị Ngũ Uẩn Quán mà Bồ Tát Quán Tự Tại tu tập đã được ghi lại thành yếu chỉ trong nội dung quyển Bát Nhã Tâm Kinh. Phần nhập đề của quyển Bát Nhã Tâm Kinh đã nói lên giá trị Ngũ Uẩn: " ... Chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không độ nhứt thiết khổ ách", nghĩa là chiếu soi thấy năm Uẩn đều không có tự tánh nên thoát khỏi tất cả khổ đau ách nạn. Đoạn này Bồ Tát Quán Tự Tại trình bày giá trị của Ngũ Uẩn Quán và nhờ đó Bồ Tát mới vượt thoát khỏi những khổ đau ách nạn.

Hai chữ "GIAI KHÔNG" trong đoạn văn "Chiếu kiến Ngũ Uẩn giai Không" không có nghĩa là trống rỗng (Empty, chẳng có chi hết, trống rỗng giống như Huyễn Không của các pháp hay khoảng Không của sự vật). Hai chữ "GIAI KHÔNG"  trong đoạn văn trên ám chỉ cho Nhân Ngũ Uẩn đều có mặt ở trạng thái Không. Vấn đề này được thấy trong hai mệnh đề sau:

Như câu: "Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức diệc phục như thị", nghĩa là Sắc chẳng khác gì Không, Không không khác gì Sắc. Sắc đột biến thành Không, Không đột biến thành Sắc. Thọ, Tưởng, Hành và Thức đều cũng như thế. Đoạn này cũng trình bày giá trị trạng thái Nhân Không của Ngũ Uẩn Quán và nhờ đó Bồ Tát nhận chân được thật tướng của vạn pháp.

2/- PHƯƠNG PHÁP QUÁN CHIẾU:

Riêng về phương diện sử dụng Trí Tuệ để quán chiếu Ngũ Uẩn, Bồ Tát Quán Tự Tại lại đặc biệt thật hành Bát Nhã Ba La Mật Đa để chiếu soi. Bát Nhã Ba La Mật Đa thuộc loại Quán Chiếu Bát Nhã, một thứ năng lực của Thật Tướng Bát Nhã (Tâm Như Lai Tạng) và Thật Tướng Bát Nhã tức là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa, nhưng đứng trên nguyên lý của Pháp Tánh mà nhận xét, Quán Chiếu Bát Nhã khác hơn Thật Tướng Bát Nhã. Quán Chiếu Bát Nhã thì thuộc về Thể Động, còn Thật Tướng Bát Nhã thì thuộc về Thể Tĩnh. Mặc dù Quán chiếu Bát Nhã được phát sanh nơi Thật Tướng Bát Nhã. Từ đó Bồ Tát Quán Tự Tại thật hành Bát Nhã Ba La Mật Đa (Quán Chiếu Bát Nhã) tức là sử dụng năng lực thuộc thể động của Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa (Thật Tướng Bát Nhã) để quán chiếu Ngũ Uẩn. Điều này cũng được trình bày trong phần nhập đề nơi quyển Bát Nhã Tâm Kinh:

Câu: "Hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không ..." đã chứng minh cho tư tưởng nói trên. Bồ Tát Quán Tự Tại khi thật hành Bát Nhã Ba La Mật Đa một cách thâm sâu chiếu soi thấy năm Uẩn đều không có tự tánh, nghĩa là Bồ Tát sử dụng Năng Lực của Thật Tướng Bát Nhã để quán chiếu Ngũ Uẩn. Nói cách khác, Bồ Tát Quán Tự Tại thật hành Quán Chiếu Bát Nhã để chiếu soi Ngũ Uẩn. Quán chiếu Bát Nhã thường gọi là Năng Lực Bát Nhã. Quán Chiếu Bát Nhã hay Năng Lực Bát Nhã đều là tên khác của Bát Nhã Ba La Mật Đa. Bát Nhã Ba La Mật Đa mới thật sự là Năng Lực của Thật Tướng Bát Nhã hoặc của Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa nói trên.

Tóm lại, Bồ Tát Quán Tự Tại đứng trên lập trường Ngũ Uẩn Quán để tu tập và áp dụng phương pháp Quán Chiếu Bát Nhã (Bát Nhã Ba La Mật Đa) để nhận chân được thật tướng của vạn pháp. Lối tu đặc biệt về phương pháp quán chiếu Ngũ Uẩn của Bồ Tát Quán Tự Tại được thấy trong quyển Bát Nhã Tâm Kinh. Nhờ lối tu này, Bồ Tát mới vượt thoát khỏi những khổ đau ách nạn và đạt đến bờ Giác Ngộ Chân Không thuộc thế giới bên kia.

B.- NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG QUÁN CHIẾU:

Cũng trong lãnh vực Ngũ Uẩn Quán, Bồ Tát Quán Tự Tại đã thành công qua những chặng đường quán chiếu. Bồ Tát thành công từ nguyên lý Nhân Không của các pháp cho đến thành công cuối cùng về nguyên lý Chân Không của pháp tánh. Nguyên lý Chân Không của Pháp Tánh không phải nguyên lý Nhân Không của các pháp và nguyên lý Chân Không này hoàn toàn không có dấu vết chút nào về nguyên lý Nhân Không của các pháp nói trên. Bồ Tát quán chiếu từ sự đến lý, từ tướng đến tánh, từ dụng đến thể và vượt qua mọi trở ngại để rồi đạt đến Niết Bàn Tịch Tịnh mốt cách tự tại. Tiến trình đạt đạo của Bồ Tát được ghi lại rõ ràng trong nội dung quyển Bát Nhã Tâm Kinh. Chúng ta muốn nắm vững yếu chỉ chứng đắc của Bồ Tát Quán Tự Tại, trước hết phải tìm hiểu giá trị Ngũ Uẩn mà Bồ Tát đã liễu ngộ trong sự quán chiếu.

1.- Ý NGHĨA NGŨ UẨN:

Ngũ uẩn, tiếng Phạn là Panca-skandha, tiếng Pali là Panca-khandha, nghĩa là năm yếu tố kết hợp lại với nhau để tạo thành các pháp hữu vi. Tất cả chúng sanh trong thế gian đều do năm yếu tố trên kết thành thân thể. Năm yếu tố trên bởi mang tánh chất nhơ bẩn, cho nên làm ô nhiễm tất cá pháp hữu vi trong thế gian. Bởi lẽ đó năm yếu tố vừa kể được gọi là Ngũ Uẩn. Ngũ Uẩn gồm có: Sắc Uẩn, Thọ Uẩn, Tưởng Uẩn, Hành

Uẩn và Thức Uẩn.

a/- SẮC UẨN: (Tiếng Phạn Rũpa-skandha), nghĩa 1à yếu tố ô nhiễm về sắc chất. Sắc Uẩn ở đây không phải chỉ cho hình sắc. Hình Sắc là một Trần trong năm Trần. Năm Trần gồm có: Hình Sắc, Âm Thanh, Hương Thơm, Mùi Vị và Cảm Xúc. Sắc Uẩn thuộc về loại Sắc chất và bao gồm cả Tứ Đại (Đất, Nước, Gió, Lửa). Sắc Chất phân làm hai thứ: Nhân sắc chất và Quả sắc chất. Nhân sắc chất nghĩa là hạt giống của Sắc Chất. Nhân Sắc Chất tức là chỉ cho năng lực (Power) của Tứ Đại ở trạng thái hạt giống và hạt giống năng lực của Tứ Đại đều sống biệt lập với nhau, nghĩa là hạt giống năng lực của Đất sống riêng biệt với hạt giống năng lực của Nước, của Gió và của Lửa. Hạt giống năng lực của Nước, của Gió và của Lửa cũng thế, nghĩa là mỗi hạt giống năng lực đều sống riêng biệt và không bao giờ hòa hợp lẫn nhau, còn Quả sắc chất nghĩa là Sắc Chất đã tác dụng hiện thành kết quả. Quả Sắc Chất tức là chỉ cho Tứ Đại ở trạng thái biến thể và chúng đã kết hợp lẫn nhau để làm nguyên liệu cho việc kiến tạo thân thể của vạn pháp, nghĩa là trong Đất đã có Nước, có Gió và có Lửa và chúng không còn thuần chất như ở trạng thái năng lực nguyên thể nữa. Nhân sắc chất gọi là Sắc Uấn, nguyên vì bốn yếu tố này có tánh cách ô nhiễm và khiến cho vạn pháp trở nên nhơ bẩn, còn Quả sắc chất gọi là Tứ Đại Hợp Chất, nguyên vì bốn yếu tố này đã tác dụng lẫn nhau và cùng nhau hòa hợp để trở thành chất liệu cho việc xây dựng thân thể vạn pháp. Chúng ta mỗi khi đề cập đến Sắc Uẩn là nghĩ ngay đến nguyên lý của Tứ Đại với hình thức hạt giống năng lực chưa biến thể. Nguyên lý của Tứ Đại có danh từ chung gọi là Sắc Uẩn hay Sắc Ấm và Sắc Uẩn cũng như Sắc Ấm đều hoàn toàn chỉ cho Nhân của sắc chất cả.

Sắc Uẩn cũng không phải Sắc Pháp. Nguyên do Sắc Pháp là hình sắc của vạn pháp và sắc pháp đây được biểu hiện bởi sắc chất. Hình sắc của vạn pháp chính là hình tướng của các pháp hữu vi. Cho đến Sắc Uẩn cũng không phải Sắc Ấm, mặc dù Sắc Ấm và Sắc Uẩn đều cùng một tánh chất Tứ Đại. Sắc Uẩn thì thuộc về loại Trược Khí và Sắc Ấm thì thuộc về loại Thanh Khí. Sắc Uẩn tạo nên thân thể nhơ nhớp và nặng nề cho chúng sanh. Riêng Sắc Ấm chỉ tạo nên thân thể ngăn che cho chúng sanh. Thân thể chúng sanh do sắc ấm kết hợp, theo kinh Liễu Sanh Thoát Tử gọi là Thân Trung Ấm. Thân Trung Ấm thuộc loại Sắc Ấm giống như thân thể con người trong giấc ngủ mơ.

Về phương diện tư tưởng, mỗi danh từ chuyên môn của Phật Giáo đều mang một ý nghĩa khác nhau. Trong Phật Giáo, mỗi danh từ chuyên môn nhằm diễn tả giá trị sai biệt về trạng thái của vạn pháp. Trong vũ trụ bao la, vạn pháp có nhiều trạng thái không giống nhau, cho nên Phật Giáo có nhiều danh từ chuyên môn hoàn toàn khác nhau về tánh chất. Nhà nghiên cứu không nên trộn lẫn những danh từ chuyên môn không cùng một tánh chất.

b/- THỌ UẨN: (Tiếng phạn Vedana-skandha) nghĩa là yếu tố ô nhiễm về cảm thọ. Danh từ Cảm Thọ dùng để chỉ cho sự hành động của một nguyên nhân, như cảm thọ về phương diện khổ, cảm thọ về phương diện vui và cảm thọ về phương diện xả (không khổ cũng không vui), còn nguyên nhân tác dụng để cảm thọ chính là Ý Thức thứ sáu, một yếu tố trong Ngũ Uẩn. Ý Thức thứ sáu mới thực sự là nguyên nhân để có cảm thọ. Ý Thức thứ sáu nếu như không sinh hoạt thì nhất định không có cảm thọ. Trường hợp này được nhận thức như sau:

Tôi đi phố nhìn thấy anh Tâm, nhưng không để ý, nghĩa là tôi thấy anh Tâm bằng trực giác mà trong lúc đó Ý Thức thứ sáu của tôi không có hợp tác. Cho nên tôi không có cảm thọ về anh Tâm, nghĩa là tôi không biết anh Tâm ăn mặc bộ đồ gì, đi đâu, đi với ai v.v... Mặt khác tôi cầm cây viết nguyên tử trong tay, nhưng tôi không để ý trong lúc mình đang cầm và lại hối hả đi tìm cây viết nguyên tử khắp nơi. Trường hợp này, tôi không có cảm thọ về cây viết nguyên tử, bởi vì tôi trong lúc cầm cây viết nguyên tử không được Ý Thức thứ sáu hợp tác để cảm thọ. Hơn nữa, người bị chụp thuốc mê không có chút cảm thọ nào cả. Lý do Ý Thức thứ sáu của họ lúc đó bị thuốc mê ngăn chận không cho sinh hoạt, nên họ không biết cảm thọ khổ vui như thế nào. Đến như người bị tê liệt phân nửa thân thể cũng thế, nghĩa là chỗ bị tê liệt không còn cảm thọ, nguyên vì Ý Thức thứ sáu của họ không thể sinh hoạt đến chỗ bị tê liệt.

Bản chất Ý Thức thứ sáu thì không có vấn đề ô nhiễm, nhưng sự sinh hoạt của Ý Thức thứ sáu lại bị liên hệ quá nhiều nơi sáu căn (sáu giác quan) để cảm thọ sáu trần. Vì lý do đó Ý Thức thứ sáu trở nên ô nhiễm về cảm thọ. Sau này các nhà Duy Thức phân loại và tách rời Cảm Thọ lập thành Tâm Sở riêng gọi là Tâm Sở Thọ, một trong năm Tâm Sở Biến Hành. Cảm Thọ là tâm lý thuộc đối tượng không riêng gì Ý Thức thứ sáu và còn đối tượng chung cho cả Tám Thức Tâm Vương.

c/- TƯỞNG UẨN: (Tiếng Phạn Samjna-skandha), nghĩa là yếu tố ô nhiễm về ý tưởng. Ý Tưởng là tư tưởng của Tâm Ý và Tâm Ý ở đây tức là chỉ cho Tâm Thức Mạt Na (Manas) thứ bảy. Chữ Mạt Na nghĩa là Ý. Nói cách khác Tâm Thức Mạt Na thứ bảy là yếu tố ô nhiễm về tư tưởng, nên gọi là Ý Tưởng. Ý Tưởng thì luôn luôn sinh hoạt những sự việc không có đối tượng, còn Ý Thức thứ sáu thì hiểu biết những sự việc cần có đối tượng. Những người chưa biết nước Mỹ thì tưởng tượng (Ý Tưởng) cho rằng người dân nước Mỹ rất sung sướng, nhưng họ một khi được sống trong nước Mỹ thì ý tưởng xưa kia của họ trở nên sai lầm. Nguyên do họ đã Ý Thức được sự thật về nước Mỹ.

Bản chất Tâm Thức Mạt Na thứ bảy thì không có ô nhiễm, nhưng các phiền não như: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến v.v... làm ô nhiễm Tâm Thức Mạt Na thứ bảy. Cho nên Tâm Thức này luôn luôn diễn dịch và suy luận những sự việc không đối  tượng thành vọng tưởng điên đảo. Do đó Tâm Thức Mạt Na thứ bảy được gọi là Tưởng Uẩn. Về sau các nhà Duy Thức phân loại và tách rời Tưởng Uẩn lập thành Tâm Sở gọi là Tâm Sở Tưởng, một trong năm Tâm Sở Biến Hành. Tưởng Uẩn là tâm lý đối tượng không riêng gì Tâm Thức Mạt Na thứ bảy và còn đối tượng chung cho cả tám Thức Tâm Vương.

d/- HÀNH UẨN: (Tiếng Phạn Samskàra-skandha), nghĩa là yếu tố ô nhiễm về hành động tạo tác. Nghiệp Lực chính là yếu tố hành động tạo tác về ô nhiễm. Nghiệp được dịch là hành động tạo tác. Nghiệp có hai loại: Nghiệp Nhân và Nghiệp Quả. Nghiệp Nhân là chỉ cho năng lực của Nghiệp. Năng lực của Nghiệp được tích tụ và cô đọng thành hạt giống (Nghiệp Nhân) nằm trong Tâm Thức Alaya. Nghiệp Quả là chỉ cho sự

tác dụng của Nghiệp Nhân, lôi cuốn và thúc đẩy chúng sanh gây tạo những Nghiệp Nhân khác, nên gọi là Hành. Nghiệp Nhân thuộc loại xấu ác nếu như không chuyển hóa thì Nghiệp Quả nhất định không thể nào trở nên tốt đẹp được. Hành Uẩn là căn cứ nơi Nghiệp Quả để định giá trị của Nghiệp Nhân.

Nghiệp có hai tánh chất: Nghiệp Tướng và Nghiệp Lực. Nghiệp Tướng (Forms) là hình tướng của Nghiệp. Nghiệp Tướng ở đây tức là chỉ cho tướng trạng của mỗi chúng sanh. Nghiệp Tướng gồm có Ngã Tướng và Pháp Tướng. Ngã Tướng thì thuộc về loại nghiệp tướng của chúng sanh hữu tình. Pháp Tướng thì thuộc về loại nghiệp tướng của chúng sanh vô tình. Ngã Tướng và Pháp Tướng thường được gọi chung một danh từ là Ngã Pháp. Ngã Pháp hay Ngã Tướng và Pháp Tướng đều chỉ cho Nghiệp Tướng cả.

Nghiệp Lực (Power) là năng lực của Nghiệp. Nghiệp Lực mặc dù ở trạng thái hạt giống hay ở trạng thái tác dụng đều không có hình tướng. Ở trạng thái hạt giống trong Tâm Thức, Nghiệp Lực có tánh cách nội kết giống như mùi hương không có hình tướng. Mùi Hương ướp vào nước gọi là nước hoa, ướp vào trà gọi là trà thơm v.v... Nghiệp Lực nội kết (Tập Khí) vào Tâm Thức gọi là Nghiệp Tập Khí. Nghiệp Lực mỗi khi tác dụng chỉ thúc đẩy chúng sanh hành động theo sự lôi cuốn của Nghiệp. Cụ thể như Sân Hận là một nghiệp lực và nghiệp lực này có hạt giống trong Tâm Thức với tánh cách nội kết như một Tập Khí. Nghiệp Sân Hận không có hình tướng và chỉ biết được nó qua cử chỉ của con người. Con người hành động hoặc nói năng theo sự thúc đẩy và lôi cuốn của Nghiệp Sân Hận. Nghiệp Lực cũng thế, cũng không có hình tướng và chỉ thể hiện qua hình tướng của chúng sanh. Hành Uẩn ở đây là danh từ chỉ cho Nghiệp Lực và nó không phải chỉ cho Nghiệp Tướng.

e/- THỨC UẨN: (Tiếng Phạn Vijnàna-skandha), nghĩa là yếu tố ô nhiễm về sự hiểu biết. Danh từ Thức Uẩn không phải chỉ cho Ý Thức thứ sáu, cũng không phải chỉ cho Tâm Thức Mạt Na thứ bảy và lại càng không phải chỉ cho năm Tâm Thức ở trước. Danh từ Thức Uẩn chính thực là chỉ cho Tâm Thức Alaya thứ tám. Tâm Thức Alaya thứ tám mới đúng nghĩa thuộc loại Tâm Thức hiểu biết. Tâm Thức Alaya thứ tám có khả năng xây dựng hệ thống bộ máy vô cùng phức tạp và tinh vi trong cơ thể của tất cả chúng sanh. Điều đó chứng tỏ trình độ hiểu biết của Tâm Thức Alaya thứ tám thật vô cùng siêu đẳng và ngoài Tâm Thức đây ra không còn ai có khả năng hơn trong việc kiến tạo hệ thống bộ máy vạn pháp.

Bản chất của Tâm Thức Alaya thứ tám thì không có ô nhiễm, nhưng Tâm Thức này luôn luôn bị Nghiệp Lực lôi cuốn và Nghiệp Lực thúc đẩy Tâm Thức này xây dựng vạn pháp theo mô hình Nghiệp Tướng. Thành thử vạn pháp trở nên ô nhiễm bởi Nghiệp Lực, cũng như ô nhiễm bởi Nghiệp Tướng qua Tâm Thức Alaya thứ tám kết hợp. Cho nên Tâm Thức Alaya thứ tám được gọi là Thức Uẩn.

Tóm lại, Ngũ Uẩn là những yếu tố tạo nên vạn pháp. Chính đức Phật Thích Ca đã xác định lời nói này và lời xác định của đức Phật Thích Ca được thấy trong các Kinh Điển. Nhứt là Kinh Lăng Nghiêm, trang 288, đức Phật Thích Ca giải thích Ngũ Ấm là nguyên lý tạo ra vạn pháp. Ngũ Ấm hay Ngũ Uấn tuy khác nhau về hình thức, nhưng chúng giống nhau về tánh chất. Điều đặc biệt, đức Phật Thích Ca luôn luôn đứng trên lập trường Nhân Quả để giải thích vạn pháp. Lối giải thích vạn pháp của đức Phật Thích Ca thường bất đầu khởi điểm từ Quả Tướng để xác định giá trị của Nhân Tướng và đức Phật dẫn dắt đệ tử nhận chân được Nhân Tướng của vạn pháp qua hình thức Quả Tướng. Trường hợp như đức Phật Thích Ca đầu tiên trình bày Khổ Đế (Quả Tướng) để nhận thức được giá trị Tập Đế (Nhân Tướng), cũng như trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật Thích Ca căn cứ nơi Mất Thấy (Quả Tướng) để chỉ rõ tánh chất Cái Thấy (Nhân Tướng).

Vấn đề Ngũ Uẩn trong Bát Nhã Tâm Kinh cũng được giải thích theo đường hướng Nhân Quả nói trên, nghĩa là Bồ Tát Quán Tự Tại cũng căn cứ nơi Quả Tướng của Sắc Uẩn, Thọ Uẩn, Tưởng Uẩn, Hành Uẩn và Thức Uẩn nơi vạn pháp để trình bày giá trị Nhân Tướng của Ngũ Uẩn trong trạng thái Không. Nhân Tướng của Ngũ Uẩn là những yếu tố tạo nên vạn pháp qua hình thức Quả Tướng. Người học Phật muốn nhận chân những yếu tố Nhân Tướng của Ngũ Uẩn trước hết phải bắt đầu quán chiếu Ngũ Uẩn qua hình thức Quả Tướng nơi vạn pháp. Có như thế, người học Phật mới thật sự hiểu biết đúng ý nghĩa của Ngũ Uẩn.

2.- QUÁN CHIẾU NGUYÊN LÝ NHÂN KHÔNG:

Về nguyên lý Không, Kinh sách Phật Giáo trình bày rất nhiều khía cạnh qua nhiều kinh nghiệm khác nhau. Mỗi khía cạnh có một kinh nghiệm độc đáo nhằm mục đích lột trần được chân giá trị của nguyên lý Không. Nhờ những kinh nghiệm độc đáo nói trên, Phật Giáo trở nên phong phú về mặt tư tưởng. Tư tưởng về nguyên lý Không, tuy rằng được nhiều kinh sách trình bày tường tận, nhưng tóm lược không ngoài bốn lãnh vực sau đây: Hư Không, Huyễn Không, Nhân Không và Chân Không.

A/- HƯ KHÔNG (Không Đại): Hư Không là không gian, khoảng cách, không khí hay môi trường sống. Hư Không, theo Phật Giáo có nghĩa là môi trường sống của vạn pháp. Nguyên vì Hư Không là một trong bảy yếu tố quan trọng (Thất Đại) để sanh khởi vạn pháp, nên gọi là Không Đại. Không Đại là một trong Thất Đại. Thất Đại (Bảy yếu tố quan trọng) gồm có: Địa Đại, Thủy Đại, Hỏa Đại, Phong Đại, Không Đại, Kiến Đại và Thức Đại (Kinh Lăng Nghiêm, quyển 3).

Hư Không, xét cho kỹ không phải yếu tố dùng để sanh khởi vạn pháp giống như sáu Đại kia. Hư Không ở đây chỉ là môi trường sống của vạn pháp, còn sáu Đại kia mới thật sự là nhân tố quan trọng trong việc kết thành vạn pháp. Vạn pháp sở dĩ được hiện hữu, được phát triển, được tồn tại trong vũ trụ đều nhờ Hư Không bao trùm, che chở, bảo vệ và nuôi dưỡng. Đặc biệt hơn nữa, sự hiện hữu , sự phát triển và sự tồn tại của vạn pháp, tất cả đều thể hiện ở phía bên trong nội tâm của Hư Không. Giả sử Hư Không nếu như không được thành lập thì vạn pháp nhứt định không có mặt trong thế gian, cho nên đức Phật ghép Hư Không vào một yếu tố quan trọng gọi là Không Đại, một trong Thất Đại.

Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển 3, của Dịch Giả Thích Nhơn Giám, đức Phật giải thích Hư Không có hai loại: Tánh Hư Không và Tướng Hư Không.

1/- TÁNH HƯ KHÔNG:

Tánh Hư Không, đức Phật giải thích: "A-nan! Ngươi phải biết trong Tạng Như-lai, "Tánh-giác" tức là thiệt hư-không, "hư không" tức là "thiệt Tánh-giác" thanh-tịnh bản-nhiên, đầy khắp pháp-giới ..."

Theo Đại Thừa Khởi Tín, Ngài Mã Minh nói: "Tâm Chơn-như là cái tâm tánh bất sanh bất diệt, Thể và Tướng nó to lớn bao trùm tất cả các pháp" (Nhứt pháp giới đại tổng tướng pháp môn thể).

Hai đoạn kinh trên cho thấy, Tánh Giác của Tạng Như Lai ở bên Kinh Thủ Lăng Nghiêm giải thích chính là Tâm Chân Như của Đại Thừa Khởi Tín trình bày, nguyên vì Tạng Như Lai theo Đại Thừa Khởi Tín là hình tướng của Tâm Chân Như. Tánh Giác của Tạng Như Lai và Tâm Chân Như, cả hai đều bao trùm cả pháp giới. Hơn nữa Tánh Giác tức là Tánh Hư Không. Thế nên Tánh Hư Không không ngoài Tâm Chân Như, đều thuộc môi trường sống của vạn pháp, có công năng bao trùm cả thế giới Chân Như và cả thế giới mê vọng của muôn loài chúng sanh trong mười pháp giới. Bởi lý do trên, đức Phật mới gọi Tánh Hư Không là Không Đại.

2/- TƯỚNG HƯ KHÔNG:

Tướng Hư Không, cũng theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển 3, đức Phật giải thích: "Chẳng qua theo nghiệp của chúng sanh, mà phát hiện ra đó thôi". Tướng Hư Không này "như một giống hư không, ứng lượng của chúng sanh ... đầy khắp mười phương". Chỗ nào có phương hướng xứ sở là chỗ đó có Tướng Hư Không.

Tướng Hư Không của loài cá là khối lượng nước, thuộc môi trường sống của loài cá. Khối lượng nước nếu như cạn khô thì loài cá bị chết ngạt, nhưng khối lượng nước nói trên không phải là Tướng Hư Không của loài người; nguyên vì loài người khác giống với loài cá. Tướng Hư Không của loài người là không khí, thuộc môi trường sống của loài người, không khí nếu như bị cháy tan thì loài người cũng bị ngạt thở mà chết. Tướng Hư Không của loài người không phải là Tướng Hư Không của loài Ngạ Quỷ, của loài Địa Ngục, của loài A Tu La và của các cõi Trời; nguyên vì loài người khác giống với loài Ngạ Quỷ , loài Địa Ngục, loài A Tu La và các cõi Trời. Cho đến loài Ngạ Quỷ, loài Địa Ngục, loài A Tu La và các cõi Trời cũng thế, nghĩa là mỗi loài mỗi cõi khác nhau thì môi trường sống của họ hoàn toàn không giống nhau về Tướng Hư Không.

Tướng Hư Không của cõi Dục không phải là Tướng Hư Không của cõi Sắc và cõi Vô Sắc. Tướng Hư Không của cõi Sắc không phải là Tướng Hư Không của cõi Dục và cõi Vô Sắc. Cho đến Tướng Hư Không của cõi Vô Sắc cũng thế, nghĩa là cũng không phải là Tướng Hư Không của cõi Dục và của cõi Sắc. Mỗi cõi đều có môi trường sống riêng nên không cùng một Tướng Hư Không.

Điều đáng chú ý, Tánh Hư Không của Tâm Chân Như không phải là Tướng Hư Không của tất cả chúng sanh trong ba cõi. Tướng Hư Không của tất cả chúng sanh trong ba cõi sở dĩ khác nhau là do bởi nghiệp tướng của mỗi loại không giống nhau tạo nên. Nhưng đặc biệt nhất, Tướng Hư Không của tất cả chúng sanh trong ba cõi thảy đều thể hiện ở phía bên trong Tánh Hư Không của Tâm Chân Như và được Tánh Hư Không của Tâm Chân Như che chở với hình thức bao trùm. Giá trị trên đưa đến nhận thức, Tướng Hư Không của tất cả chúng sanh trong ba cõi không thể tìm thấy ngoài Tánh Hư Không của Tâm Chân Như. Ngược lại Tánh Hư Không của Tâm Chân Như cũng không thể tìm thấy ngoài Tướng Hư Không của tất cả chúng sanh trong ba cõi. Nguyên do trong vọng có chơn và trong chơn có vọng, cũng như trong lý tánh có sự tướng và trong sự tướng có lý tánh tàng ẩn, tất cả đều không ngăn ngại với nhau.

Thí dụ: Tánh Hư Không của Tâm Chân Như tương tợ như không gian của cái nhà, còn Tướng Hư Không của tất cả chúng sanh tương tợ như không gian của ngọn đèn xanh, của ngọn đèn đỏ, của ngọn đèn trắng, của ngọn đèn vàng v.v... không gian của cái nhà không phải là không gian của ngọn đèn xanh, của ngọn đèn đỏ của ngọn đèn trắng, của ngọn đèn vàng v.v... Không gian của những ngọn đèn xanh, ngọn đèn đỏ, ngọn đèn trắng, ngọn đèn vàng v.v... sở dĩ khác nhau là do nghiệp tướng từ nơi bóng đèn xanh, bóng đèn đỏ, bóng đèn trắng, bóng đèn vàng v.v... không giống nhau tạo nên. Nhưng đặc biệt nhất, không gian của những ngọn đèn xanh, ngọn đèn đỏ, ngọn đèn trắng, ngọn đèn vàng v.v... nói trên thảy đều thể hiện ở phía bên trong không gian của cái nhà và được không gian của cái nhà che chở với hình thức bao trùm. Giá trị trên đưa đến nhận thức, không gian của của tất cả ngọn đèn xanh, đỏ, trắng, vàng v.v... không thể tìm thấy ngoài không gian của cái nhà. Ngược lại, không gian của cái nhà cũng không thể tìm thấy ngoài Không gian của những ngọn đèn nói trên. Nguyên do, trong không gian, ngọn đèn xanh có không gian ngọn đèn đỏ, ngọn đèn trắng, ngọn đèn vàng v.v... đồng thời có luôn cả không gian của cái nhà tàng ẩn. Những ngọn đèn khác đều cũng giống như thế, nghĩa là trong cái này có cái kia và trong cái kia cũng có cái này, tất cả đều không ngăn ngại với nhau.

Tóm lại, trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển 3, đức Phật chỉ trình bày về tánh chất và giá trị của bảy Đại nhằm mục đích quy về Tạng Như Lai. Ở đây, đức Phật không phải giải thích yếu tố bảy Đại tạo nên vạn pháp.

Riêng về Không Đại, đức Phật phân làm hai loại Hư Không: Tánh Hư Không và Tướng Hư Không. Theo đức Phật, Tánh Hư Không thì thuộc về Tâm Chân Như sanh khởi và Tướng Hư Không thì thuộc về nghiệp tướng sanh khởi, nhưng giá trị cả hai đều là môi trường sống của các bậc Thánh Đức Giác Ngộ và cũng như của các hạng chúng sanh phàm phu trong ba cõi.

Trái lại, Quyển Bát Nhã Tâm Kinh thì không liên hệ chút nào với Hư Không hay Không Đại của bảy Đại trong Kinh Thử Lăng Nghiêm. Kinh Thủ Lăng Nghiêm và Bát Nhã Tâm Kinh có hai hướng đi khác nhau. Kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Phật chỉ giải lý vạn pháp nhằm mục đích giúp cho đệ tử liễu ngộ được Chân Như trên lãnh vực Văn Huệ, còn Bát Nhã Tâm Kinh, Bồ Tát Quán Tự Tại thì lại trình bày phương pháp tu tập về Ngũ Uẩn quán để giúp cho hậu thế sớm được chứng ngộ Chân Không trên lãnh vực Tu Huệ. Thế nên Quan niệm về nguyên lý Không của Bát Nhã Tâm Kinh chủ trương thì hoàn toàn không ảnh hưởng đến quan niệm về nguyên lý Không Đại của Kinh Thủ Lăng Nghiêm diễn đạt.

B/- HUYỄN KHÔNG: Huyễn là giả tạo, không thật thể. Huyễn Không nghĩa là đứng về phương diện nguyên lý Không, vạn pháp hoàn toàn không có thật thể. Huyễn Không còn có tên khác nữa là Ngoang Không. Ngoang Không nghĩa là đứng về phương diện nguyên lý Không, vạn pháp hoàn toàn trống rỗng không lưu lại chút dấu tích nào cả. Huyễn Không là danh từ dùng để chỉ cho những sự vật thuộc về đối tượng của Huyễn Hữu.

1/- HUYỄN HỮU: nghĩa là vạn pháp hiện có mặt (hiện hữu) trong thế gian đều là giả tạo, mang tánh chất nhân duyên sanh và không có thật thể. Vạn pháp sở dĩ được góp mặt trong thế gian là do Ngũ Uẩn tạo thành. Vạn pháp thật sự không có danh nghĩa. Danh của vạn pháp là do ý Tưởng tưởng tượng đặt tên cho dễ phân biệt. Nghĩa của vạn pháp là do Ngũ Uẩn kết hợp và xây dựng nên. Ý Tưởng nếu như không tưởng tượng để đặt tên thì vạn pháp không có Danh để gọi. Ngũ Uẩn nếu như không kết hợp với nhau để xây dựng thì vạn pháp nhất định không bao giờ có mặt trong thế gian. Không có Ngũ Uẩn là không có con người, không có Ngũ Uẩn là không có địa cầu, không có các hành tinh v.v... Chúng ta nếu như tách rời Ngũ Uẩn riêng rẽ từng loại một thì không tìm thấy vạn pháp. Ngũ Uẩn là những yếu tố tạo nên vạn pháp. Cho nên vạn pháp được gọi là Huyễn Hữu.

2/- HUYỄN KHÔNG: Vạn pháp đã không thật thể về mặt Huyễn Hữu và cũng không thật thể về mặt Huyễn Không. Riêng về phương diện nguyên lý Không, vạn pháp chỉ có hình bóng với tánh cách Nghiệp Tướng được lưu lại trong Tâm Thức. Nghiệp Tướng gồm có Ngã Tướng và Pháp Tướng, gọi tất là Ngã Pháp. Nghiệp Tướng một khi bị xóa đi thì vạn pháp không còn chút nào dấu vết cả. Cho nên về mặt nguyên lý

Không, vạn pháp cũng hoàn toàn không có thật thể nên gọi là Huyễn Không.

Trên hai lãnh vực Huyễn Hữu và Huyễn Không, đức Phật Thích Ca đã suốt mười hai năm trường trình bày rất tường tận về các mặt khổ, không, vô thường và vô ngã của vạn pháp. Vấn đề Khổ, Không, Vô thường và Vô ngã thường gọi là Tứ Niệm Xứ. Người chuyên tu tập quán chiếu về lãnh vực này được gọi là Tứ Niệm Xứ Quán. Đức Phật trình bày Tứ Niệm Xứ nhằm phủ định sự có mặt của vạn pháp để đả phá sự mê lầm chấp có của chúng sanh và ngoại đạo.

3/- Quyển Bát Nhã Tâm Kinh có thể khẳng định rằng không phải trình bày về nguyên lý Huyễn Không của vạn pháp. Nội dung quyển kinh Bát Nhã nói trên chỉ trình bày về nguyên lý Nhân Không của Ngũ Uẩn và nguyên lý Chân Không của Pháp Tánh. Đây là yếu chỉ của quyển Bát Nhã Tâm Kinh. Nguyên lý Nhân Không của Ngũ Uẩn và nguyên lý Chân Không của Pháp Tánh không phải là nguyên lý Huyễn Không của

vạn pháp. Chúng ta căn cứ nơi nguyên lý Huyễn Không của vạn pháp để giải thích quyển Bát Nhã Tâm Kinh thì hoàn toàn sai lập trường của Bồ Tát Quán Tự Tại. Phần nhập đề quyển kinh Bát Nhã, chúng ta đã thấy lập trường của Bồ Tát Quán Tự Tại một cách rõ ràng là: " ... Thời ch