Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Luận


...... ... .

 

Khảo nghiệm Duy Thức Học

Tác giả: HT Thích Thắng Hoan

---o0o---

CHƯƠNG VI

 

NHỮNG NGUYÊN LÝ QUAN HỆ VÀ SỰ HÌNH THÀNH VẠN PHÁP

 

A.- MINH ĐỊNH VẤN ĐỀ THỨC VÀ TÂM

Vấn đề THỨC và TÂM sở dĩ được phân định khác nhau là căn cứ nơi sự khảo luận về hiện tượng vạn pháp và về bản thể của các pháp mà thành lập danh nghĩa. Khảo luận về hiện tượng vạn pháp nghĩa là khai thác về hiện tượng vạn pháp trong thế gian để xác định nghĩa lý. Khảo luận về bản thể của các pháp nghĩa là quán chiếu về nguồn gốc phát sanh ra hiện tượng vạn pháp trong thế gian để xác định giá trị. Đứng về phương diện hiện tượng mà nhận xét, THỨC thì thuộc về dụng của TÂM, nghĩa là TÂM tác dụng biến thành ra THỨC, nguyên do THỨC có hình tướng và đã được thể hiện qua hình tướng của các pháp. Hơn nữa THỨC mới có sự hiểu biết và đã được thể hiện qua sự hiểu biết của chúng sanh. THỨC nếu như không có sinh hoạt thì chúng sanh không có hiểu biết, còn đứng về phương diện bản thể mà nhận xét, TÂM thì thuộc về thể tánh căn bản của THỨC, nguyên do TÂM không có hình tướng và cũng không có hiểu biết như THỨC. THỨC chính là biệt danh của TÂM, phát sanh từ nơi TÂM và nương tựa nơi TÂM để làm bản thể, nên gọi là Tâm Thể. THỨC thì không thể phát sanh ngoài TÂM và cũng như vạn pháp không thể phát sanh ngoài THỨC, nên gọi là Thức Dụng. Sự tác dụng của TÂM THỂ để phát sanh ra THỨC DỤNG đã được minh định như sau:

I.- THỂ VÀ DỤNG CỦA TÂM:

Theo luận Đại Thừa Khởi Tín của ngài Mã Minh, TÂM ở đây là chỉ cho Chân Tâm, tức là Tâm chân như bình đẳng, thanh tịnh sáng suốt. Chân Tâm này không có vấn đề sanh hay diệt, đến hay đi, tăng hay giảm, ô nhiễm hay trong sạch. Chân Tâm chính thuộc về thể tĩnh (Static State), nghĩa là thể của Chân Tâm thì ở trạng thái tĩnh lặng, hoàn toàn không có chút gì hình tướng của thế giới Mê Vọng ở trong, cho đến cũng không có hình tướng của thế giới Chân Như lưu tồn. Chân Tâm này là thể chung (tổng thể) của tất cả chư Phật trong mười phương và cũng là thể chung của tất cả chúng sanh trong ba cõi. Ba cõi là, cõi Dục (Dục Giới), cõi Sắc (Sắc Giới) và cõi Vô Sắc (Vô Sắc Giới). Thể của Chân Tâm thì bao trùm cả muôn pháp trong thế giới Chân Như và cũng bao trùm cả muôn pháp trong thế giới Mê Vọng. Hình tướng của Chân Tâm là Tạng Như Lai, một loại Trí Tuệ thuộc về thể động (Dynamic State) của Chân Tâm. Cho nên Tạng Như Lai được gọi là Tâm Như Lai Tạng. Tâm Như Lai Tạng có khả năng tàng trữ vô lượng tánh công đức của chư Phật trong mười phương, cho nên Tâm Như Lai được gọi là Tạng. Tâm Như Lai Tạng này cũng gọi là Tâm Địa (Tâm là miếng đất hay là nơi chốn), nguyên vì Tâm này là nền tảng căn bản để phát sanh tất cả thế giới Chân Như của chư Phật. Diệu dụng của Tâm Như Lai Tạng luôn luôn hoá hiện thế giới y báo trang nghiêm thanh tịnh của chư Phật trong mười phương và cũng như luôn luôn thể hiện Pháp Thân chánh báo hảo tướng quang minh của các đức Phật một cách mầu nhiệm trong mười pháp giới. Những thế giới y báo trang nghiêm thanh tịnh của chư Phật trong mười pháp giới như, thế giới Cực Lạc, thế giới Hoa Nghiêm, thế giới Pháp Hoa, thế giới Tịnh Lưu Ly của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai..v..v...

Thí dụ, Chân Tâm cũng như tấm gương soi mặt. Tạng Như Lai của Chân Tâm cũng như ánh sáng trong suốt của tấm gương và diệu dụng của Tạng Như Lai, cũng như sự trong sáng của ánh gương có công dụng là thâu nhận muôn pháp ảnh hiện trong tấm gương. Muôn pháp chỉ ảnh hiện ở phía trong tấm gương và không thể ảnh hiện ở phía ngoài tấm gương. Ánh sáng trong suất thâu nhận muôn pháp vào tấm gương một cách bình đẳng không phân biệt.

Nói cách khác, Chân Tâm thì thuộc về thể tĩnh của thế giới Chân Như, còn Tạng Như Lai của Chân Tâm thì thuộc về thể động của thế giới Chân Như. Tạng Như Lai chính là hình tướng trí tuệ của Chân Tâm, thường gọi Tạng Như Lai là Trí Tướng. Trí Tướng nghĩa là trí tuệ sáng suốt của Tạng Như Lai. Người tu tập thiền quán sở dĩ biết được hình tướng của Chân Tâm là nhờ quán chiếu nhìn thấy hình tướng trí tuệ sáng suốt của Tạng Như Lai thể hiện. Cũng từ đó hình tướng của Chân Tâm được gọi là Tạng Như Lai. Tạng Như Lai thuộc về thể động của Chân Tâm cho nên có khả năng thân nhận, tàng trữ và phát sanh muôn pháp của thế giới chân như nên gọi là Tâm Như Lai Tạng. Muôn pháp của thế giới chân như được phát sanh và tồn tại từ Tạng Như Lai nên gọi là Chân Như Duyên Khởi.

1). Tánh chất của chân tâm:

Chân Tâm là thể tánh chân thật rốt ráo của vạn pháp ở trạng thái tĩnh lặng Chân Tâm không có hình tướng, không bị biến thể và cũng không bị thời gian chi phối, nghĩa là không bị sanh tử lưu chuyển theo dòng thời gian, tức là không bị trôi lăn từ quá khứ vô lượng kiếp về trước cho đến vị lai muôn đời về sau. Thế nên Tâm này được gọi là Tâm Chân Như. Thể tánh của Chân Tâm thì cũng không có không gian và chính Chân Tâm này là không gian của tất cả thế giới Chân Như và cũng là không gian của tất cả thế giới Mê Vọng. Không gian của thế giới Chân Như cho đến không gian của thế giới Mê Vọng đều hiện hữu ở phía trong thể tánh của Chân Tâm và chọn lấy Chân Tâm làm không gian cho chính mình. Điều này cũng giống như không gian của ngọn đèn xanh, không gian của ngọn đèn đỏ, không gian của ngọn đèn trắng, không gian của ngọn đèn vàng v.v... đều hiện hữu phía bên trong không gian của căn phòng và các ngọn đèn đều chọn lấy không gian của căn phòng làm không gian chiếu tỏa cho mình. Chân Tâm nếu như không có thực thể thì thế giới của mười phương chư Phật và thế giới của muôn loài chúng sanh không thể nào hiện khởi. Trường hợp đây cũng tương tợ như không gian của một căn phòng và ánh sáng của các ngọn đèn điện. Giả sử căn phòng nếu như không có không gian thì các ngọn đèn không thể chiếu tỏa để thể hiện không gian cho chính mình. Cũng vì lý do trên, Chân Tâm được mệnh danh là thể chung (tổng thể) cho các thế giới của chư Phật và cho các thế giới của muôn loài chúng sanh. Thế nên Chân Tâm bao trùm cả muôn pháp của chân như và bao trùm cả vạn pháp của mê vọng.

Tóm lại, Chân Tâm là loại Tâm Thể thuộc tĩnh lặng, không hình tướng, không sanh diệt, không dơ sạch, không tăng giảm và không biến đổi bản chất. Nhờ tĩnh lặng, thanh tịnh và thường hằng, Chân Tâm đây tồn tại muôn đời để làm nền tảng căn bản cho muôn pháp của chân như và kể cả cho vạn pháp của mê vọng cùng nhau nương tựa hiện khởi. Thế nên Chân Tâm này được liệt vào hạng thuộc loại "Chân Thật Không".

2). Tánh chất của thế giới chân như:

CHÂN: là chân thật, không hư giả, không mê vọng và không sanh diệt.

NHƯ: là bình đẳng không sai biệt, không chênh lệch về hình thức lớn nhỏ thấp cao, sang hèn, quí tiện..v..v...

CHÂN NHƯ: là thể tánh và hình tướng của vạn pháp nơi thế giới chân như đều chân thật, bình đẳng, tồn tại và bất diệt.

THẾ GIỚI CHÂN NHƯ: là thế giới y báo (cảnh giới để nương tựa) và pháp thân chánh báo (thân Phật) của chư Phật trong mười phương đều chân thật, bình đẳng, thanh tịnh, sáng suốt, không sai biệt, không hư vọng và không sanh diệt. Thế giới Chân Như được thành lập là do diệu dụng của Chân Tâm thể hiện. Diệu dụng của Chân Tâm tùy theo duyên thể hiện thế giới Chân Như một cách huyền diệu để hoá độ chúng sanh, nên gọi thế giới này là Chân Như Thật Tướng. Chân Như Thật Tướng nghĩa là hình tướng của thế giới Chân Như thì chân thật, thanh tịnh, không ô nhiễm, không huyễn vọng và không biến dị. Thế giới Chân Như luôn luôn hiện hữu một cách vi diệu trong thể tánh chân không của Chân Tâm (trung không diệu hữu).

Chánh Báo của mười phương chư Phật gọi là Phật Thân, tức là chỉ cho Pháp Thân của chư Phật. Chư Phật đều có thân thể riêng của các ngài để sinh hoạt. Thân thể riêng đó được kết hợp bằng chất liệu trí tuệ giác ngộ nên gọi là Phật Thân và cũng gọi là Pháp Thân chánh báo. Trái lại, thân thể của chúng sanh phàm phu được kết hợp bằng xác thịt ô trược nên gọi là Nhục Thân hoặc gọi là Nghiệp Thân, còn cảnh giới của chư Phật an trụ có tên là Pháp Giới Tánh. Điều đáng chú ý là Pháp Thân chánh báo của chư Phật và Pháp Giới Tánh y báo của chư Phật an trụ được gọi chung là Thế Giới Chân Như. Thế Giới Chân Như lại lấy Chân Tâm làm thể và lấy Tạng Như Lai làm tâm địa để sanh khởi. Tạng Như Lai làm chất liệu để xây dựng và hình thành Pháp Thân và Pháp Giới Tánh (Dharmadhàtu).

Chân Tâm thanh tịnh và sáng suất thì thế giới Chân Như thanh tịnh và sáng suốt, nên gọi là Thế Giới Chân Tịnh. Chân Tâm tồn tại và bất diệt thì thế giới Chân Như thường còn và không hoại, nên gọi là Thế Giới Chân Thường. Hình tướng của Chân Tâm bản chất vô lậu (không bị sa rớt trong vòng sanh tử) và không giả huyễn thì thế giới Chân Như thuộc loại thật ngã và giá trị thuộc loại chân thể, nên gọi là Thế Giới Chân Ngã. Diệu dụng của Chân Tâm không phải vọng niệm và cũng không phân biệt thì thế giới Chân Như thể hiện tự tại và không bị chấp trước, nên gọi là Thế Giới Chân Lạc.

Sự biến hiện thế giới Chân Như của Chân Tâm trong các học thuyết Phật Giáo gọi là Chân Như Duyên Khởi. Thế giới Chân Như luôn luôn hiện hữu ở phía bên trong (nội tại) của Chân Tâm và nương tựa nơi không gian của Chân Tâm làm không gian cho mình. Ngoài không gian của Chân Tâm, thế giới Chân Như không thể hiện hữu và không có Tạng Như Lai làm chất liệu cho việc hiện hữu.

Thế giới Chân Như cũng là nguyên nhân chính yếu để phát sanh ra thế giới hiện tượng đầu tiên trong ba cõi. Từ nơi thế giới Chân Như, đầu tiên thế giới hiện tượng trong ba cõi sở dĩ được thể hiện là do các Thánh Chúng động niệm phân biệt tạo nên. Thế giới hiện tượng trong ba cõi là thuộc về thế giới ảnh tử mang tánh chất đại mộng (Great Dream) của thế giới Chân Như biến hiện. Trường hợp này cũng giống như thế giới mộng mơ (Dream) trong Trung Giới. Thế giới mộng mơ là thuộc về ảnh tử, mang tánh chất tiểu mộng (Little Dream) của thế giới hiện tượng lưu xuất (lưu lại và xuất hiện). Thế giới Chân Như giả sử không hiển lộ ảnh tượng thì thế giới hiện tượng trong ba cõi nhất định không thể thành hình, cũng như thế giới hiện tượng nếu như không lưu ảnh thì thế giới mộng mơ trong Trung Giới nhất định không thể phát sanh. Con người khi thức giấc thì mới biết mình đang nằm mơ trong giấc mộng con, cũng như con người khi giác ngộ thành Phật thì mới biết mình đang chìm đắm trong giấc mộng lớn sanh tử lưu chuyển của khổ đau.

II - NGUYÊN NHÂN HIỆN KHỞI VÔ MINH NGHIỆP TƯỚNG:

Từ vô lượng kiếp về trước, những hàng Thánh Chúng ở các cõi trong thế giới Chân Như gồm có, thế giới Hoa Nghiêm, thế giới Pháp Hoa, thế giới Cực Lạc..v..v..... đều là những vị chưa chứng được quả Phật, chưa được lên ngôi Chánh Giác để được diện kiến trực tiếp nơi Chân Tâm, nghĩa là họ chưa trực nhận được Phật Tánh. Bởi họ chưa thành Phật, cho nên các Thánh Chúng trong các cõi trên liền khởi Tâm động niệm và mong muốn sớm thành chánh quả như các đức Phật. Do bởi Tâm bị động, các vị Thánh Chúng kia liền sanh khởi niệm niệm phân biệt trong khi tu tập. Nguyên vì sử dụng tâm niệm niệm phân biệt để tu tập thiền quán, cho nên các vị Thánh Chúng nói trên hành trì không đúng phương pháp thực tập để rồi đi đến kết quả tâm họ bị động niệm bất an và cũng từ đó họ bị sa rơi vào vọng tưởng điên đảo của thế giới vọng hiện. Sự động niệm bất an ở đây là nguyên nhân tạo nên sự bất giác đầu tiên (sự hôn mê đầu tiên) và cũng vì sự bất giác đầu tiên này khuấy động thêm, các vị Thánh Chúng trở nên bị loạn niệm mê vọng lôi cuốn sa rơi từ thế giới Chân Như liền vào thế giới vọng hiện để sinh hoạt. Sự bất giác nêu trên chính là chất liệu của vô minh căn bản hiện khởi, nghĩa là cội gốc của sự không sáng suốt thành hình.

Thí dụ, con người, khi đối diện trước vấn đề khủng khiếp đưa đến một cách bất ngờ. Lúc đó tâm trí của họ liền bị loạn động bất an và họ trở thành con người mất bình tĩnh trong sự xét đoán. Sự kiện trên khiến cho họ sinh hoạt không bình thường. Vì họ sinh hoạt không bình thường, tâm trí của họ càng bị tăng thêm sự loạn động cực độ. Tâm trí của họ lúc bấy giờ không còn thông minh sáng suốt để giải quyết những vấn đề khó khăn trước mắt nữa. Trường hợp này gọi là vô minh hiện khởi để chân đứng trí tuệ không cho phát sanh. Tâm trí họ bị loạn động và mất bình tĩnh là nguyên nhân chính sanh ra sự bất giác (không giác ngộ). Sự bất giác này gọi là Chi Mạt Vô Minh, nghĩa là sự không sáng suốt này đối với Căn Bản Vô Minh thuộc về ngọn ngành.

Do sự bất giác nổi lên, các vị Thánh Chúng nói trên đã bị mê hoặc che lấp tâm tri của mình, liền khởi vọng tưởng phân biệt điên đảo về Phật Tánh của Chân Tâm, nghĩa là phân biệt Phật Tánh của Chân Tâm bằng sự tưởng tượng mê tâm và nhận định không đúng như thật. Sự phân biệt vọng tưởng điên đảo về Phật Tánh của Chân Tâm nên gọi là Lầm Tưởng. Sự lầm tưởng về Phật Tánh của chân tâm ở đây chính là nguyên nhân khiến cho hình tướng vô minh hiện khởi.

Thí dụ, người Việt Nam chưa từng đến nước Mỹ lần nào. Họ chỉ biết qua sách báo giới thiệu tổng quát về nước Mỹ hoặc họ được nghe những người đã đến nước Mỹ nhiều lần kể lại những kỳ quan, những thắng cảnh tốt đẹp của nước này. Họ liền khởi tâm động niệm, tưởng tượng những cái đẹp cái hay của nước Mỹ và cho rằng, người dân sống tại nước này thật sung sướng, thật hạnh phúc. Rồi họ ước mơ vượt biên để được sang nước Mỹ. Khi đến được nước Mỹ, họ nhiều dân trực tiếp nhìn thấy được tình trạng sự thật của người dân sống tại đây. Họ mới vỡ lẽ và tự hối tiếc rằng: Trước kia mình đã lầm tưởng về nước Mỹ. Đó là hiện tượng nói lên sự phân biệt vọng tưởng (tưởng tượng sai lầm không đúng sự thật) của tâm.

Các vị Thánh Chúng nói trên, nguyên vì sự bất giác (không giác ngộ) mê hoặc (mê lầm) nên phút giây hành động theo vọng tưởng và tạo thành nghiệp lực mang tánh chất vô minh. Nghiệp lực của vô minh này được cô đọng lại thành hạt giống (chủng tử) và hạt giống đó lại rơi vào trong Tạng Như Lai làm ô nhiễm tâm trí. Hạt giống nghiệp lực của vô minh trong Tạng Như Lai chính là Vô Minh Nghiệp Tướng (Nghiệp Lực hiện thành hình tướng mang tánh chất vô minh). Đây là nguyên nhân đầu tiên hiện khởi Vô Minh Nghiệp Tướng do các Thánh Chúng trong thế giới Chân Như tạo nên. Các vị Thánh Chúng chỉ mê lầm vọng tưởng trong phút giây nào đó nơi thế giới Chân Như, thôi thì khiến cho thế giới hiện tượng ba cõi bị vọng hiện, bị sanh diệt và bị lưu chuyển bất an suốt cả hằng tỷ tỷ năm.

Trường hợp này cũng giống như con người vì mê vọng quá nhiều cho nên đêm đến nằm mơ lúc nào không biết (bất giác). Trong lúc nằm mơ, con người lại gây nghiệp trong mộng. Khi tỉnh thức, mặc dù những cảnh trong mơ không còn hiện khởi, nhưng nghiệp lực mà con người đã gây trong mộng không mất, lại nội kết thành hạt giống trong Tâm Thức của con người nằm mơ nói trên. Hạt giống nghiệp lực nội kết này chính là nguyên nhân khiến cho con người nằm mơ, sau khi chết bị luân hồi sanh tử ở kiếp sau. Trái lại con người nằm mơ kia, nếu như không gây nghiệp trong mộng thì không ảnh hưởng chút nào ở kiếp sau cả.

III.- NGUYÊN NHÂN SANH RA TÂM THỨC:

Nơi thế giới Chân Như, Thức ở đây chính là trí tuệ, thuộc diệu dụng của Chân Tâm và nương vào Chân Tâm làm thể để sanh khởi sự hiểu biết. Danh từ Thức được thành lập là căn cứ nơi chiều hướng mê vọng của trí tuệ để đặt tên và thường gọi là Tâm Thức, còn Trí Tuệ là danh từ căn cứ nơi chiều hướng giác ngộ để định danh và thường gọi là Tâm Trí. Từ đó, bản chất của Tâm Thức không khác gì trí tuệ và được phát sanh từ trí tuệ, nguyên vì trí tuệ được chuyển từ Tâm Thức. Theo nhà Duy Thức trong mỗi con người, Tâm Thức có tám loại sinh hoạt khác nhau, cho nên khi được chuyển thành trí tuệ có nhiều loại không cùng tên với nhau. Những Trí Tuệ được chuyển từ nơi Tâm Thức tổng quát gồm có bốn loại khác tên nhau:

1 - Năm Tâm Thức ở trước như là: Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức và Thân Thức được chuyển thành trí tuệ gọi là Trí Thành Sở Tác. Trí Thành Sở Tác thuộc loại trí tuệ chỉ dùng vào việc làm nơi chốn, làm thành trì, làm cơ sở cho Tạng Như Lai của Chân Tâm nương tựa để thể hiện Pháp Thân Phương Tiện với danh nghĩa Ứng Thân hay Hoá Thân. Ứng Thân và Hoá Thân thể hiện với mục đích cứu độ chúng sanh trong mười phương. Trong khi cứu độ chúng sanh trong mười phương, Ứng Thân hay Hoá Thân thường hoá hiện vào các quốc độ tùy theo hạnh nguyện của từng người để hoá độ. Phật nghĩa là giác ngộ, như vậy thân thể của chư Phật đích thực là thân giác ngộ. Thân Giác Ngộ của chư Phật lại lấy Trí Thành Sở Tác làm Pháp Thân Phương Tiện và Pháp Thân Phương Tiện này chỉ hoá hiện vào việc hoá độ chúng sanh. Nói cách khác, chư Phật lấy Trí Tuệ giác ngộ làm Pháp Thân Phương Tiện để hoá độ chúng sanh trong mười phương, cho nên Trí Tuệ giác ngộ thuộc loại Pháp Thân Phương Tiện này được gọi là Trì Thành Sở Tác.

2.- Ý Thức thứ sáu dược chuyển biến thành trí tuệ gọi là Trí Diệu Quan Sát của chư Phật trong Pháp Thân thanh tịnh. Trí Diệu Quan Sát có khả năng quán chiếu căn cơ của tất cả chúng sanh trong mười pháp giới để tùy duyên hoá độ.

3.- Thức Mạt Na (Manas) thứ bảy được chuyển biến thành trí tuệ gọi là Trí Tánh Bình Đẳng không phân biệt của Pháp Thân chư Phật. Trí Tánh Bình Đẳng này đối với các pháp trong thế giới Chân Như không có vấn đề chấp trước hoặc xả bỏ, nghĩa là Trí Tánh Bình Đẳng của Pháp Thân chư Phật không bao giờ phân biệt chấp trước các pháp của thế giới Chân Như, mỗi khi các pháp này ảnh hiện trong Tạng Như Lai và cũng không lưu lại trong Tạng Như Lai một chút dấu tích nào, mỗi khi các pháp đó đến đi tự do.

Thí dụ, trường hợp trên cũng giống như tấm gương soi mặt. Một khi các hình ảnh hiện vào, tấm gương đây cũng không phân biệt tốt xấu, phải quấy..v..v... và một khi các hình ảnh đó không còn hiện lên nữa, tấm gương đây cũng không lưu luyến chút nào dấu tích. Các cảnh bên ngoài hiện ảnh vào tấm gương cũng như biến dạng ra khỏi tấm gương đều là tự tại và bình đẳng. Các cảnh đó đến và đi không bị tấm gương soi mặt phân biệt khen chê. Trí Tánh Bình Đẳng của chư Phật đối với các cảnh giới lưu xuất trong thế giới Chân Như cũng không khác tấm gương soi mặt vừa kể trên.

4.- Thức Alaya thứ tám (Thức Tạng) được chuyển biến thành trí tuệ gọi là Trí Đại Viên Cảnh, tức là Trí Tướng của Tạng Như Lai. Trí Đại Viên Cảnh hay Trí Tướng đều là tên khác của Tạng Như Lai và Tạng Như Lai tức là tướng trí của Chân Tâm. Trí Đại Viên Cảnh của Tạng Như Lai khi an trụ vào Chân Ngã Phật Tánh gọi lã Pháp Thân chánh báo của chư Phật. Pháp Thân chánh báo là báo thân chân thật của chư Phật trong mười Pháp Giới. Pháp Thân này luôn luôn hiện hữu thường trụ và thanh tịnh. Các đức Phật trong mười pháp giới một khi đã chứng ngộ đều có thân thể riêng, có cảnh giới riêng của mỗi vị an trụ. Các đức Phật khi chứng quả không phải thành một khối năng lượng hỗn hợp không hình tướng, không tri giác như mọi người lầm tưởng. Thân thể riêng của mỗi vị Phật chứng ngộ thường gọi là Chân Ngã Phật Tánh. Chân Ngã Phật Tướng là một loại ngã tướng chân thật của chư Phật và ngã tướng này chọn lấy thể tánh của trí tuệ nơi Tạng Như Lai làm bản ngã chân thật. Chân Ngã Phật Tánh của chư Phật đều giống nhau một loại hình tướng pháp Thân và nó không phải là nghiệp tướng sai biệt của chúng sanh. Nghiệp Tướng của chúng sanh thì có nhiều loại ngã tướng hay pháp tướng không giống nhau. Pháp Thân chánh báo thường trụ của chư Phật chính là Trí Đại Viên Cảnh của Tạng Như Lai đã an trụ vào Chân Ngã Phật Tánh. Từ đó cho thấy, Tạng Như Lai là nền tảng, là Tâm Địa để phát sanh Pháp Thân chánh báo và phát sanh cảnh giới y báo Chân Như của chư Phật trong mười phương an trụ, nên gọi là Chân Như Duyên Khởi.

I). NGUYÊN NHÂN SANH KHỞI THỨC TẠNG (THỨC ALAYA):

Thức Tạng là một loại Tâm Thức có khả năng tàng trữ tất cả hạt giống của muôn pháp trong thế gian. Danh từ Thức Tạng được dịch từ Thức Alaya. Thức Alaya nghĩa là Thức Tạng. Theo Luận Đại Thừa Khởi Tín của Ngài Mã Minh, Thức Tạng ở đây là chỉ cho Tâm Sanh Diệt. Thức Tạng thì được sanh ra từ nơi Như Lai Tạng. Bản chất của Thức Tạng có một phần chân và có một phần vọng, nghĩa là Tạng Như Lai hay là Như Lai Tạng có một phần mê và một phần giác hoà hợp lẫn nhau. Một phần mê gọi là Thức Tạng (Thức Alaya) và một phần giác gọi là Như Lai Tạng. Nguyên nhân nào Tạng Như Lai sanh ra Thức Tạng?

Như trước đã trình bày, hạt giống Vô Minh Nghiệp Tướng đầu tiên được thành hình là do bởi phút giây động niệm của các vị Thánh Chúng nơi thế giới Chân Như. Các vị Thánh Chúng động niệm theo vọng tưởng phân biệt về Phật Tánh của Chân Tâm là nguyên nhân tạo nên sự bất giác đầu tiên (Vô Minh đầu tiên hiện khởi). Sự Bất Giác khiến cho các Thánh Chúng hành động tâm lạc theo vọng tưởng phân biệt liền nội kết trong Tạng Như Lai thành một tiềm năng với hình tướng hạt giống. Hạt giống Vô Minh Nghiệp Tướng tự nó có năng lực gọi là Hành, tức là một loại nghiệp lực mang tánh chất vô minh. Hành của Vô Minh Nghiệp Tướng khiến cho Tạng Như Lai bị vẩn đục và bị ô nhiễm bởi chất liệu vô minh liền biến thành Thức Tạng (Thức Alaya). Thức Tạng là nền tảng để tạo thành thế giới sanh diệt trong ba cõi. Hành Nghiệp của Vô Minh cũng giống như Nghiệp Lực của Si Mê. Nghiệp Lực của Si Mê mỗi khi tác dụng khiến cho ý Thức con người không sáng suất trong sự hành động. Ý Thức bị Nghiệp Lực của Si Mê thúc đẩy, khiến cho con người không sáng suốt trong việc hành động tạo Nghiệp. Nghiệp Lực của Si Mê gọi là Chi Mạt Vô Minh, nghĩa là một loại vô minh thuộc về chi nhánh của Vô Minh Nghiệp Tướng căn bản.

Hành của Vô Minh Nghiệp Tướng tác dụng hai chiều hướng: chiều hướng dẫn phát (Repulsive-force) và chiều hướng dẫn nạp (Attractive-force).

CHIỀU HƯỚNG DẪN PHÁT (REPULSIVE FORCE):

Chiều hướng dẫn phát (sức đẩy), Hành của Vô Minh Nghiệp Tướng đầu tiên thúc đẩy Tạng Như Lai biến động liên tục không ngừng và khuấy đục Tạng Như Lai ô nhiễm bởi chất liệu vô minh. Vì bị kích động bởi Hành Nghiệp và bị ô nhiễm bởi chất liệu vô minh, Tạng Như Lai không được an trú nơi tự tánh của mình (bất thủ tự tánh), liền trở thành Thức Năng Lượng (Energy) đầu tiên. Thức Năng Lượng này, Lăng Già Tâm Ấn gọi là Thức Lưu Trú, nghĩa là loại Tâm Thức an trú lưu trữ trong trạng thái Thức Tướng.

Thí dụ, một ngọn lửa nhỏ phát cháy ở một vị trí nào đó, liền bị gió động thổi mạnh. Khi bị gió động thổi mạnh, một ngọn lửa nhỏ không thể an trú được nơi tự tánh của mình (bất thủ thự tánh) lên bừng cháy thành một ngọn lửa cao vút. Một ngọn lửa cao vút này không còn trở lại được nơi tự thể của nó (bất hoàn tự thể) và bị gió kích động thêm mạnh lên, đồng thời kết hợp được những bùi nhùi khác liền phát cháy thành nhiều đám lửa mới và lan tràn khắp vùng. Những đám lửa cháy lan tràn này đều phát nguồn từ một đóm lửa ban đầu không giữ được tự tánh của mình (bất thủ tự tánh) mà sanh khởi.

CHIỀU HƯỚNG DẪN NẠP (ATTRACTIVE FORCE):

Theo chiều hướng dẫn nạp (sức hút), Hành của Vô Minh Nghiệp Tướng cùng lúc khi Tạng Như Lai bị biến động liền thu hút Thức Lưu Trú (Năng Lượng) an trú vào trong Vô Minh Nghiệp Tướng để biến thành Thức Tạng gọi là Thức Alaya. Thức Tạng so với Tạng Như Lai chỉ là một điểm ô nhiễm nhỏ của Vô Minh Nghiệp Tướng. Đây là nguyên nhân sanh ra Thức Tạng gọi là Thức Alaya và Thức Alaya được lưu xuất từ nơi Tạng Như Lai.

Thí dụ, điện thể trong không gian ở trạng thái không hình tướng chỉ là năng lực và năng lực đó biến khắp cả vũ trụ cũng tương tợ như Tạng Như Lai. Điện thể này không giữ được tự tánh tĩnh lặng của mình và bị biến động thành năng lượng cũng tương tợ như Thức Lưu Trú. Năng lượng của điện thể trong không gian không trở về được nguyên thể tĩnh lặng của mình, lại tác dụng ở hai vị trí khác nhau tạo thành hai tướng Âm và Dương. Điện âm và Điện Dương trong không gian tiếp tục bị biến động liền tác dụng lẫn nhau để phát sanh điện sấm chớp, ánh sáng và nhiệt lượng v.v...

Thức Tạng (Thức Alaya) là thể động của Chân Tâm trên lãnh vực mê vọng và Tạng Như Lai cũng thuộc về thể động của Chân Tâm trên lãnh vực chân giác. Thức Tạng là biến tướng của Tạng Như Lai. Cũng như điện sấm chớp, điện đèn.. v..v.... đều phát sanh từ nơi điện thể trong không gian và nương nơi điện thể trong không gian làm thể tánh của mình. Thức Tạng gồm có một phần chân (giác) và một phần vọng (mê) hoà hợp nhau. Vì thế, Thức Tạng có hai tướng: chân tướng và vọng tướng. Chân tướng của Thức Tạng chính là Tạng Như Lai và Vọng Tướng của Thức Tạng tức là Vô Minh Nghiệp Tướng.

Thí dụ, Chân Tướng cũng như bình pha lê trong suốt và Vọng Tướng cũng như bình pha lê đó bị đổ nước màu vào liền biến thành cái bình màu sắc.

2). NGUYÊN NHÂN SANH KHỞI BẢY THỨC:

Khi Tạng Như Lai biến thành Thức Tạng và nằm trong Vô Minh Nghiệp Tướng, Năng lực dẫn phát của Hành (sức đẩy) liền thúc đẩy năng lực Thức Tạng chuyển biến thành năng lực phân biệt và năng lực phân biệt đây là chỉ cho Kiến Phần Thức Alaya (phần tác dụng của Thức Tạng). Năng lực phân biệt của Thức Tạng (Kiến Phần Thức Alaya) liền kết duyên với căn tánh (tánh chất giác quan căn bản) của bảy Trí từ nơi Pháp Thân chư Phật trong thế giới Chân Như và khiến cho căn tánh của bảy Trí này vọng hiện thành bảy Căn Thức (bảy hình tướng của Tâm Thức), tức là bảy cái nghiệp tướng Chứng Tự Chứng Phần của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và mạt na. Năng lực phân biệt của Thức Tạng lại chun vào hình tướng của bảy Căn Thức trên (Chứng Tự Chứng Phần) liền biến thành hạt giống bảy Thức gọi là Tự Chứng Phần. Hạt giống bảy Thức này luôn luôn an trú trong Thức Tạng và nương tựa nơi Thức Tạng làm thể của mình. Riêng Thức Mạt Na thì có năng lực chấp trước và quản lý tất cả hạt giống muôn pháp thiện ác của chúng sanh từ vô lượng kiếp về trước không cho hoại diệt.

Nhờ năng lực chấp trước và quản lý của Thức Mạt Na, những hạt giống thiện ác nói trên mới có cơ duyên đề kết thành những quả báo khổ vui cho chúng sanh hưởng thụ ở kiếp sau. Còn sáu Thức trước thì có năng lực phân biệt những cảnh giới thuộc sáu trần bên ngoài nên gọi là Phân Biệt Sự Thức, nghĩa là những loại Tâm Thức chỉ có khả năng phân biệt các sự vật đối tượng bên ngoài như, sắc, thinh, hương, vị xúc và pháp. Sáu Tâm Thức này còn có tên là Phân Ly Thức, nghĩa là những loại Tâm Thức chuyên nghiệp phân biệt vạn pháp một cách chi ly để hiểu biết.

3). NGUYÊN NHÂN SANH RA HIỆN TƯỢNG BA CÕI:

Kiến Phần Thức Alaya (Thức Năng Phân Biệt) có khả năng sinh hoạt trên hai lãnh vực: Lãnh vực chân như và lãnh vực hiện tượng.

Lãnh vực chân như:

Trước hết, Kiến Phần Thức Alaya có khả năng kết duyên với các Pháp Thân chánh báo và những Cảnh Giới y báo của chư Phật nơi thế giới Chân Như. Khi sinh hoạt kết duyên, Kiến Phần Thức Alaya khiến cho Pháp Thân và Cảnh Giới của chư Phật nơi thế giới Chân Như ảnh hiện qua lớp màng Vô Minh Nghiệp Tướng để nội kết thành những hạt giống ảnh tử của thân thể (thân căn) và của cảnh giới hiện tượng trong Thức Thể Alaya. Những hạt giống ảnh tử của thân thể và của cảnh giới hiện tượng trong Thức Thể Alaya chính là nguyên nhân đầu tiên cho việc sanh khởi vạn pháp của Thế Giới Vọng Hiện và cũng là nguyên nhân đầu tiên cho việc sanh khởi vạn pháp của Thế Giới Nghiệp Duyên về sau. Tánh chất những hạt giống ảnh tử của thân thể và của cảnh giới hiện tượng được nội kết trong Thức Thể Alaya đều mang tánh chất nghiệp tướng và những nghiệp tướng này hoàn toàn không có thể chất chân thật, cho nên nhà Duy Thức cho thế giới hạt giống này thuộc về thế giới Vô Chất Tánh Cảnh. Vô Chất Tánh Cảnh nghĩa là tánh chất của những cảnh giới thuộc hạt giống đều không có thể chất chân thật.

Thí dụ, dòng điện Kiến Phần Thức Alaya tác dụng qua bóng đèn màu Vô Minh Nghiệp Tướng liền hiện thành thế giới màu sắc. Thế giới màu sắc này là hình tướng ảo vọng của thế giới chân thật bên ngoài được xuất hiện qua bóng đèn màu.

Thế giới màu sắc thể hiện bên trong nội Tâm là hình bóng của thế giới Chân Như được phát xuất từ tâm điểm (O) của bóng đèn Vô Minh Nghiệp Tướng. Ánh sáng Kiến Phần Thức Alaya liền chun vào và an trú trong vô số ảnh tử hình màu (sắc tướng) của thế giới màu sắc. Những ảnh tử hình màu ở đây đều xuất hiện từ bóng đèn màu Vô Minh Nghiệp Tướng chiếu tỏa và tràn khắp cả vũ trụ màu sắc. Vũ trụ màu sắc đều hiện bày trong tầm tay của dòng điện Kiến Phần Thức Alaya sinh hoạt, nghĩa là ánh sáng Kiến Phần Thức Alaya sinh hoạt đến đâu thì thế giới màu sắc hiện bày đến đó.

Lãnh vực hiện tượng:

Những hạt giống ảnh tử của thân thể và của cảnh giới hiện tượng nói trên đầu tiên sở dĩ được lưu Xuất trong Thức Thể Alaya là do Kiến Phần Thức Alaya mê vọng Pháp Thân chánh báo và Cảnh Giới y báo nơi thế giới Chân Như hiện bày để làm đối tượng cho bảy Tâm Thức ở trước (Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức, Ý Thức, Mạt Na Thức) phân biệt và chấp trước. Nguyên do bảy Tâm Thức này không có khả năng duyên trực tiếp đến Pháp Thân chánh báo và Cảnh Giới y báo nơi thế giới Chân Như. Những hạt giống ảnh tử của thân thể và của cảnh giới hiện tượng trong Thức Thể Alaya như đã giải thích ở trên đêu thuộc về loại Nghiệp Tướng và cũng thuộc về loại Vô Chất Tánh Cảnh. Những hạt giống thế giới Nghiệp Tướng thuộc Vô Chất Tánh Cảnh trong Thức Thể Alaya vừa mới trình bày chính là nguyên nhân đầu tiên tạo thành Thế Giới Vọng Hiện. Những chúng sanh hữu tình cũng như những cảnh giới hiện tượng trong thế giới Vọng Hiện đều thuộc về hình ảnh và được phát sanh từ Pháp Thân chánh báo và Cảnh Giới y báo nơi thế giới Chân Như qua hình thức hạt giống trong Thức Thể Alaya.

Bảy Tâm Thức của các chúng sanh hữu tình trong thế giới Vọng Hiện nhân vì sinh hoạt theo sự phân biệt và chấp trước những cảnh giới mê vọng nói trên, gây tạo vô số nghiệp nhân sanh tử cho sự lưu chuyển ở kiếp sau. Cũng vì bảy Tâm Thức của các chúng sanh hữu tình nơi thế giới Vọng Hiện phân biệt và chấp trước, thành thử những hạt giống nghiệp duyên (nghiệp tướng) hữu lậu đầu tiên lại được xuất hiện và được nội kết lần thứ hai trong Thức Thể Alaya. Những cảnh giới hạt giống Nghiệp Duyên hữu lậu được nội kết lần thứ hai trong Thức Thể Alaya cũng thuộc loại Nghiệp Tướng và cũng thuộc về loại Vô Chất Tánh Cảnh. Những cảnh giới hạt giống nghiệp duyên hữu lậu này là nguyên nhân cho những thế giới Nghiệp Duyên thực chất sau này hiện khởi. Hữu Lậu nghĩa là những hạt giống nghiệp duyên bị sa rớt trong vòng sanh tử luân hồi. Kiến Phần Thức Alaya lại nương nơi những cảnh giới hạt giống nghiệp duyên hữu lậu đã được nội kết lần thứ hai trong Thức Thể Alaya xây dựng thành thế giới Nghiệp Duyên có thực chất bằng cách chuyển biến nghiệp tướng (chuyển tướng) trong hạt giống nghiệp duyên để tạo thành thế giới Hiện Tướng thuộc Nghiệp Báo. Thế giới Hiện Tướng thuộc Nghiệp Báo này được gọi là Hữu Chất Tánh Cảnh. Hữu chất Tánh Cảnh nghĩa là những cảnh giới có tánh chất chân thật, tức là có sức sống ở trong. Kiến Phần Thức Alaya đứng ra xây dựng thế giới Hiện Tướng thuộc Nghiệp Báo nói trên được gọi là Alaya Duyên Khởi.

Tóm lại, Thức là chỉ cho dụng của Tâm, phát sanh từ nơi Chân Tâm và nhơn nơi Chân Tâm làm thể của mình. Thức có tám loại, gọi là tám Thức Tâm Vương. Bảy Thức kia đều được phát sanh từ nơi Thức Alaya thứ tám. Kiến Phần Thức lại an trú vào bảy cái nghiệp tướng Chứng Tự Chứng Phần của bảy Căn Thức (bảy hình tướng của Tâm Thức) để biến thành bảy Thức Thể khác biệt nhau. Bảy Thức Thể này được gọi là Tự Chứng Phần.

Riêng Thức Thể Alaya lại phát sanh từ nơi Tạng Như Lai. Tạng Như Lai là loại trí tuệ thuộc về hình tướng của Chân Tâm và nương nơi Chân Tâm làm thẻ của mình. Tạng Như Lai bị hành nghiệp làm biến động và an trụ vào Vô Minh Nghiệp Tướng để trở thành Thức Thể Alaya.

Nguyên nhân sanh ra Vô Minh Nghiệp Tướng chính là do một số các vị Thánh Chúng nơi thế giới Chân Như trong phút giây động niệm Phật Tánh của Chân Tâm tạo nên. Vô Minh Nghiệp Tướng từ đó ô nhiễm và khiến cho Tạng Như Lai biến thành Thức Tạng, gọi là Thức Alaya.

Thức Thể Alaya làm nền tảng căn bản để phát sanh ra thế giới hiện tượng trong ba cõi. Thế giới hiện tượng trong ba cõi đều do Thức Thể Alaya làm trợ duyên để sanh ra nên gọi là Alaya Duyên Khởi. Thế giới Chân Như đều do Tạng Như Lai làm duyên để sanh ra nên gọi là Chân Như Duyên Khởi. Tạng Như Lai và Thức Tạng đều thuộc về thể động, được phát sanh từ nơi Chân Tâm và nương nơi Chân Tâm làm thể của mình, còn Chân Tâm thì thuộc về thể tĩnh. Bản chất của Chân Tâm luôn luôn bao trùm và che chở cho cả thế giới Chân Như cùng với thế giới Hiện Tượng Mê Vọng nương tựa để sanh khởi.

Như vậy thế giới Hiện Tượng Mê Vọng đầu tiên được phát sanh từ nơi thế giới Chân Như và bị cuốn trôi theo dòng sanh tử lưu chuyển qua lăng kính Vô Minh Nghiệp Tướng, còn người tu tập thì lại bắt đầu khởi hành từ nơi cõi sanh tử lưu chuyển, trở về thế giới Chân Như để được giác ngộ và giải thoát. Người tu tập nào hồi đầu tỉnh ngộ để quay về là người đó thật sự đã quy y Phật xong.

B.- TÁNH CHẤT CHỦNG TỬ:

Chủng Tử nghĩa là hạt giống. Vạn pháp hiện có mặt trong vũ trụ với nhiều hình tướng khác nhau thì nguồn gốc phát sanh ra những hình tướng đó cũng có vô số hạt giống không giống nhau. Những hạt giống đó đều được tàng trữ và bảo trì trong Thức Thể Alaya. Hơn nữa những hạt giống đây lại còn nương tựa và châm rễ nơi Thức Thể Alaya để sanh khởi vạn pháp. Xét về mặt tánh chất của mỗi loại hạt giống, nhà Duy Thức tóm lược phân làm hai loại: loại thứ nhất là Bản Hữu Chủng Tử và loại thứ hai là Thỉ Khởi Chủng Tử.

I.- ĐỊNH NGHĨA:

1/ BẢN HỮU CHỦNG TỮ:

BẢN nghĩa là nguồn gốc.

HỮU nghĩa là có.

BẢN HỮU nghĩa là có nguồn gốc, có căn nguyên và căn nguyên đó vốn sẵn từ bao giờ.

CHỦNG Tử nghĩa là hạt giống nguyên thể. Danh từ chủng tử cũng giống như danh từ nguyên tử của các nhà Khoa Học thường dùng. NGUYÊN Tử là nghĩa hạt giống nguyên thể.

BẢN HỮU CHỦNG Tử nghĩa là những hạt giống có nguồn gốc, có năng lực nguyên thể và những hạt giống này vốn sẵn từ vô thỉ. Những hạt giống có nguồn gốc nói trên đều được phát sanh từ nơi Tâm Trí và cũng là nguyên liệu thiết yếu cho sự sanh khởi vạn pháp. Bản Hữu Chủng Tử còn có thêm một tên nữa là BẢN TÁNH TRỤ CHỦNG. BẢN TÁNH TRỤ CHỦNG nghĩa là bản tánh của những hạt giống có nguồn gốc đều an trụ nơi Chân Tâm để thành hình.

2/- THỈ KHỞI CHỦNG TỬ:

THỈ nghĩa là đầu mối, mới đây, mới có đây, mới bắt đầu có.

KHỞI nghĩa là nổi dậy, mọc lên, mới có mặt, mới sanh sau này, mới nội kết (huân tập) thành hình tướng.

HUÂN TẬP nghĩa là xông ướp, chứa nhóm, như trà xông ướp hương sen, gọi là trà sen.

THỈ KHỞI CHỦNG TỬ nghĩa là những hạt giống mới bắt đầu sanh khởi về sau, mới nội kết thành hình tướng sau này. Những hạt giống mới sanh này lẽ tất nhiên không có thật thể và cũng không được phát sanh từ nơi Tâm Trí giống như Bản Hữu Chủng Tử đã được trình bày ở trên. Thỉ Khởi Chủng Tử cũng còn có thêm một tên nữa là TẬP SỞ THÀNH CHỦNG TỬ. TẬP SỞ THÀNH CHỦNG TỬ nghĩa là những hạt giống do huân tập kết thành. Những hạt giống do huân tập kết thành đều là những nghiệp duyên được nội kết từ nơi hình tướng của các pháp bên ngoài. Những hạt giống đó được tàng trữ và tồn tại ở bên trong Thức Thể Alaya.

II.- TÁNH CHẤT:

Như trên đã trình bày, Chủng Tử có hai loại: một loại là Bản Hữu Chủng Tử và một loai là Thỉ Khởi Chủng Tử. Tánh chất của Bản Hữu Chủng Tử cũng như tánh chất của Thỉ Khởi Chủng Tử khi ở trạng thái nguyên thể chỉ là những loại hạt giống riêng biệt, thuần chất, không ảnh hưởng với nhau và không bị các hạt giống liên hệ khác làm biến chất. Bản chất của những hạt giống Bản Hữu thì hoàn toàn thuộc về năng lực của Trí Tuệ, mặc dù những năng lực đó đã bị ô nhiễm bời chất liệu vô minh, còn bản chất của những hạt giống Thỉ Khởi thì có hai loại: một loại thuộc về Nghiệp Lực và một loại thuộc về Nghiệp Tướng. Hai loại hạt giống thỉ khởi nầy đêu được nội kết từ nơi thế giới nghiệp duyên trong thế gian. Tất cả hạt giống Bản Hữu và Thỉ Khởi đều được tàng trữ và nằm yên một cách độc lập trong Thức Thể Alaya, mong chờ thuận duyên để được sanh khởi. Những nguyên nhân rất quan yếu cho việc sanh khởi vạn pháp trong thế gian chính là những hạt giống Bản Hữu và Thỉ Khởi nói trên. Chúng nó không thể thiếu mặt ở bất cứ trường hợp nào trong việc kiến tạo thế giới nghiệp duyên sau này.

Còn đứng trên lãnh vực sanh khởi mà nhận xét, những hạt giống nguyên thể của Bản Hữu và của Thỉ Khởi một khi tác dụng liền bị biến chất, cũng như bị biến tướng do bởi các hạt giống liên hệ khác chuyển hóa để cùng nhau hình thành vạn pháp. Thật ra hiện tượng vạn pháp trong thế gian chỉ là hình tướng tổng hợp của nhiều hạt giống nguyên thể hoà hợp lẫn nhau trong sự tác dụng. Hình tướng tổng hợp của vạn pháp vừa kể ở trên được gọi là Tổng Tướng của các hạt giống nguyên thể đã được chuyển tướng trong sự hoà hợp lẫn nhau. Riêng tánh chất thuần nhất của những hạt Bản Hữu và Thỉ Khởi khi chúng chưa bị tác dụng đã được trình bày sau đây:

1.- BẢN HỮU CHỦNG TỬ:

Tánh chất của Bản Hữu Chủng Tử ở trạng thái nguyên thể khi chưa bị tác dụng được nhận định trên hai dạng thức: một loại thuộc về vật lý và một loại thuộc về tâm lý.

a/. Dạng thức vật lý:

Dạng thức vật lý nghĩa là hình thức về nguyên lý của vật chất. Nguyên lý của vật chất ở đây là chỉ cho bốn nguyên lý đất, nước, gió và lửa, gọi là nguyên lý Tứ Đại. Bốn nguyên lý hạt giống này khi chưa bị tác dụng vẫn còn ở vị trí năng lực đơn thuần của đất, nước, gió và lửa. Bốn nguyên lý Tứ Đại ở trạng thái năng lực đêu thuộc về bản thể của vật chất và cũng là nguyên nhân để sanh ra vật chất.

Nguồn gốc phát sanh ra bốn nguyên lý Tứ Đại chính là Thức Alaya, nguyên vì thể tánh của Thức này cũng là năng lực. Thức Alaya nếu như không chịu sinh hoạt thì bốn nguyên lý Tứ Đại không thể góp mặt để làm nguyên liệu cần thiết cho việc sanh khởi vạn pháp về vật chất. Thức Alaya nương nơi các duyên của vô minh phiền não để tạo nên bốn năng lực của nguyên lý Tứ Đại. Thức Alaya là một thực thể, cho nên bốn năng lực của nguyên lý Tứ Đại được phát sanh từ nơi Thức Alaya cũng thuộc về loại hạt giống thực thể. Bốn năng lực của nguyên lý Tứ Đại chỉ thực thể nơi thế gian có vật chất và không thực thể nơi thế giới Chân Như không vật chất, nguyên vì chúng nó đã biển thể trong thế giới Chân Như. Nơi thế giới hiện tượng, bốn năng lực của nguyên lý Tứ Đại được gọi là Pháp Tánh. Pháp Tánh nghĩa là thể tánh của vạn pháp về vật chất và chúng nó không phải là thể tánh của Chân Tâm. Bốn năng lực của Tứ Đại chính là bốn loại hạt giống thực thể của thế gian để làm nguyên lý cho việc sanh ra vạn pháp về vật chất trong thế gian. Thế nên bốn năng lực của nguyên lý Tứ Đại này được ghép vào loại Bản Hữu Chủng Tử của thế giới hiện tượng.

b/. Dạng thức tâm lý:

Dạng thức tâm lý nghĩa là hình thức thuộc về nguyên lý của Tâm Thức. Nguyên lý của Tâm Thức ở đây là chỉ cho tánh chất nguyên thể của hạt giống tám Thức Tâm Vương. Tánh chất nguyên thể của hạt giống tám Thức Tâm Vương chính là chỉ cho tánh chất Trí Tuệ của Tạng Như Lai. Tánh chất Trí Tuệ của Tạng Như Lai an trụ trong Pháp Tướng của mỗi Tâm Thức để biến thành hạt giống tám Thức Tâm Vương. Pháp Tướng của tám Thức Tâm Vương là hình tướng của Pháp Tánh được ảnh hiện từ nơi Pháp Thân chư Phật để làm chỗ nương tưa cho trí tuệ an trụ. Trí tuệ sau khi an trụ vào Pháp Tướng của tám thức Tâm Vương liền biến thành Tự Chứng Phần cho mỗi Tâm Thức. Do đó Pháp Tướng của tám Tâm Thức, nhà Duy Thức gọi là Chứng Tự Chứng Phần. Đối với Pháp Thân chư Phật, Pháp Tướng này chỉ là những hình tướng. chân thật của Phật Thân lưu ảnh và bản chất của Pháp Tướng thì thanh tịnh, nguyên vì Pháp Thân của chư Phật đều hoàn toàn thanh tịnh. Pháp Tướng khi bị ô nhiễm bởi Vô Minh Nghiệp Tướng liền trở thành Chứng Tự Chứng phần. Ngay lúc đó Trí Tuệ của Tạng Như Lai an trú trong những pháp Tướng ô nhiễm trên liền biến thành hạt giống của tám Thức Tâm Vương. Hạt giống của tám Thức Tâm vương thường gọi là Chủng Tử Thức.

Trường hợp này cũng  giống như điện tử trong Television. Bản chất của Điện tử thì không có màu sắc. Trái lại những hình ảnh (Forms) trong Video-tape thì có màu sắc. Vô số điện tử khi an trú trong những hình ảnh màu sắc lên biến thành ánh sáng màu sắc.

Cũng thế, Trí Tuệ khi an trú vào những pháp Tướng đã bị ô nhiễm liền biến thành những hạt giống Tâm Thức ô nhiễm. Hạt giống Tâm Thức trong những pháp Tướng ô nhiễm trên, nhà Duy Thức gọi là Tự Chứng Phần.

Bản tánh trí tuệ nguyên thể của tám Thức Tâm Vương điều thuộc về thể tánh giác ngộ hồn nhiên và sáng suốt. Thể tánh giác ngộ này không có vấn đề so đo và chấp trước, không có quan niệm chủ thể (Subject) hay đối tượng (Object). Thế nên, dù cho chúng sanh bị biến tướng ở bất cứ hình thức nào và cũng như dù cho chúng sanh bị lưu chuyển ở bất cứ nơi chốn nào, bản tánh trí tuệ nguyên thể của tám Thức Tâm Vương vẫn nhất định là thanh tịnh sáng suốt và trong đó không có vấn đề sanh diệt hay tăng giảm. Riêng đứng về phương diện sanh khởi, Trí tuệ này mỗi khi tác dụng để sinh hoạt thì mới có sự sai khác về hình tướng, hoặc gọi là bốn Trí hay gọi là tám Thức Tâm Vương.

Bốn Trí là Trí Thành Sở Tác, Trí Diệu Quan Sát, Trí Bình Đẳng Tánh và Trí Đại Viên Cảnh. Bốn trí này sở dĩ được thiết lập là đứng về phương diện giác ngộ để định Danh, còn đứng về phương diện mê hoặc vọng động để nhận xét, bốn Trí này sở dĩ được phân thành tám Thức Tâm Vương là căn cứ theo tánh chất và giá trị của mỗi loại để minh định. Bản tánh hạt giống của tám Thức Tâm Vương như đã xác định ở trên đều thuộc về loại trí tuệ đã được cô đọng và an trụ trong Pháp Tướng Chứng Tự Chứng Phần, cho nên nhà Duy Thức gọi tám hạt giống này là Bản Hữu Chủng Tử.

Đã là trí tuệ cô đọng và an trụ, đặc tánh của Bản Hữu Chủng Tử lẽ tất nhiên đều thuần chất, thanh tịnh và sáng suốt không bị sanh diệt hay tăng giảm và cũng không bị chi phối bởi thiện ác của thế gian. Cho nên Bản Hữu Chủng Từ của tám Thức Tâm Vương cũng gọi là Chủng Tử Vô Lậu. Chủng Tử Vô Lậu nghĩa là những hạt giống không bị sa rớt trong ba cõi sanh tử. Bản Hữu Chủng Tử của tám Thức Tâm Vương chỉ khi nào phát sanh tác dụng với hình thức Kiến Phần để sinh hoạt thì mới bị chi phối bởi vấn đề sanh diệt và mới bị ô nhiễm bởi vấn đề thiện ác trong thế gian. Kiến Phần của tám Thức Tâm Vương một khi sinh hoạt liền bị ô nhiễm bởi vấn đề thiện ác trong thế gian, gây tạo vô số nghiệp nhân sanh tử hữu lậu. Những nghiệp nhân sanh tử hữu lậu do Kiến Phần của tám Thức Tâm Vương gây tạo được nội kết trong Thức Thể Alaya liền trở thành hạt giống nghiệp duyên sanh tử. Những hạt giống nghiệp duyên sinh tử này, nhà Duy Thức gọi là Chủng Tử Hửu Lậu. Chủng Tử Hữu Lậu nghĩa là những hạt giống bị sa rớt trong ba cõi sinh tử. Để xác định rõ hơn, hạt giống của tám Thức Tâm Vương thì thanh tịnh và vô lậu, chỉ có Kiến Phần của tám Thức Tâm  Vương thì mới bị ô nhiễm và hữu lậu.

Thí dụ bản tánh của điện thể trong không gian thì không có vấn đề sanh hay diệt. Chỉ khi nào tác dụng, điện thể hiện khởi thì gọi là sanh và điện thể không hiện khởi thì gọi là diệt. Ánh sáng của điện không có vấn đề tăng hay giảm. Chỉ khi nào tác dụng, điện chun vào vị trí khác nhau của các bóng đèn 15w, 20w, 100w v.v... thì phát sanh ra ánh sáng có tăng và có giảm không đồng nhau. Ánh sáng của điện đều thuần nhất là một tánh chất nghĩa là không có màu sắc, chỉ khi nào điện tác dụng xuyên qua bóng đèn màu sắc thì ánh sáng mới phát sanh ra màu sắc khác nhau nào là màu xanh, màu vàng, màu trắng, màu đỏ v.v...  Thế nên, ánh sáng trí tuệ không bị chi phối bởi màu sắc, chỉ vì chúng sanh chuyên sống trong màu sắc xanh đỏ v.v... cho nên ánh sáng trí tuệ mới bị ảnh hưởng bởi chúng nó.

Trên lãnh vực tu tập, các chúng sanh thường áp dụng nhiều pháp môn hành trì của Phật chỉ dạy, nhằm mục đích phát huy những bản tánh hạt giống nguyên thể thanh tịnh vô lậu kia để được giác ngộ và giải thoát. Họ tu tập bằng cách chuyển tâm thức biến thành trí tuệ bát nhã. Nguyên vì trình độ của chúng sanh không đồng nhau, cho nên giáo pháp của Phật chỉ dạy cho chúng sanh tu tập có nhiều pháp môn cao thấp khác nhau. Vì tu tập theo các pháp môn khác nhau, những người chứng ngộ có nhiều đẳng cấp không giống nhau. Những bậc đạt đạo qua các pháp môn sai biệt này, nhà Duy Thức xếp họ vào hai hạng: một hạng gọi là Nhị Thừa Chủng Tánh và một hạng gọi là Đại Thừa Chủng Tánh.

a] Nhị thừa chủng tánh:

Nhị Thừa Chủng Tánh nghĩa là những hạt giống mang tánh chất Nhị Thừa. Nhị Thừa ở đây thường được chỉ cho các bậc Thinh Văn và Duyên Giác. Các bậc Thinh Văn và Duyên Giác do chuyên tâm tu tập các pháp môn Nhị Thừa nên được giác ngộ thành hạt giống. Những người tu tập các pháp môn Nhị Thừa thì chỉ đoạn trừ được chứng bệnh Ngã Chấp; nhưng họ vẫn chưa tiêu diệt được chứng bệnh Pháp Chấp. Nguyên vì còn chứng bệnh Pháp Chấp, cho nên họ chưa thấu triệt được nguyên lý của vạn pháp đều do Tâm sanh. Hay nói cách khác, họ chưa nhận chân được nguyên lý của vạn pháp đều do Thức biến. Bởi lẽ đó, hạng này cứ mãi quan niệm rằng, nguyên lý của vạn pháp luôn luôn hiện hữu, luôn luôn biệt lập và đối lập của Tâm Thức. Những chứng bệnh cố chấp của họ không thể hoá giải và trí tuệ của họ chỉ có khả năng hiểu biết đến mức độ đó mà không thể hiểu biết thêm được nữa. Cũng vì chứng bệnh cố chấp này của hạng Thinh Văn và Duyên Giác, cho nên đức Phật mới xếp họ vào hạng Nhị Thừa Chủng Tánh. Nhị Thừa Chủng Tánh gồm có hai bậc:

1).- Thinh văn chủng tánh:

Thinh Văn Chủng Tánh nghĩa là những hạt giống mang tánh chất thuộc hạng Thinh Văn. Hạng Thinh Văn gồm có bốn bậc: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán. Những bậc thuộc hạng Thinh Văn nhờ công phu tu tập pháp Tứ Đế nên được giác ngộ, gọi là Thinh Văn Chủng Tánh. Những người tu tập pháp môn này chỉ phát sanh được tánh chất hạt giống của bậc Thinh Văn và họ cũng chỉ có khả năng giác ngộ được lý pháp thể hiện trong phạm vi của bậc Thinh Văn mà thôi.

2).- Duyên giác chủng tánh:

Duyên Giác Chủng Tánh nghĩa là những hạt giống mang tánh chất thuộc hạng Duyên Giác. Những bậc thuộc hạng Duyên Giác là nhờ công phu tu tập quán chiếu, giác ngộ được nguyên lý Duyên Sanh của vạn pháp, nên gọi là Duyên Giác Chủng Tánh. Duyên Giác Chủng Tánh còn có tên nữa là Độc Giác Chủng Tánh. Độc Giác Chủng Tánh nghĩa là những hạt giống mang tánh chất tự giác ngộ độc lập không nhờ vả người khác điểm đạo, nên gọi là Độc Giác Chủng Tánh. Những người đã giác ngộ đến bậc Duyên Giác hay Độc Giác Chủng Tánh thì cao hơn Thinh Văn Chủng Tánh một cấp. Nhưng họ cũng chỉ giác ngộ được "LÝ DUYÊN SANH" của vạn pháp, còn vấn đề "NGUYÊN LÝ CỦA DUYÊN SANH VẠN PHÁP" thì họ chưa thấu triệt được, nghĩa là những hạng này chỉ biết rằng, vạn pháp bị sanh diệt theo nguyên lý Duyên Sanh, còn nguyên lý của vạn pháp từ đâu sanh ra và tại sao sanh ra phải theo luật tắc mười hai Nhân Duyên thì họ hoàn toàn chưa thông suốt. Do đó họ còn bị bệnh chấp trước chưa diệt.

b].- Đại thừa chủng tánh:

Đại Thừa Chủng Tánh nghĩa là những hạt giống mang tánh chất của các bậc Đại Thừa Bồ Tát. Hạng Đại Thừa Bồ Tát nhờ công phu tu tập pháp Lục Độ vạn hạnh của bậc Bồ Tát nên được giác ngộ thành hạt giống. Hạng Đại Thừa Bồ Tát đã dứt trừ hẳn bệnh chấp ngã và chấp pháp của chúng sanh cũng như của Nhị Thừa. Nhờ đó họ chứng được Nhứt Thiết Chủng Trí, nghĩa là họ đã thành Phật. Cho nên họ được gọi là bậc Đại Thừa Chủng Tánh.

Ngoài ra còn một loại Chủng Tánh nữa không liên hệ đến hai loại Chủng Tánh trên gọi là Bất Định Chủng Tánh. Bất Định là không nhất định. Chủng Tánh là tánh chất của những hạt giống. Bất Định Chủng Tánh nghĩa là tánh chất hạt giống sẵn có của các chúng sanh không nhất định thuộc về hạng Nhị Thừa hay hạng Đại Thừa Bồ Tát. Thật sự tánh chất hạt giống của các chúng sanh không có vấn đề cấp bậc Thinh Văn, cấp bậc Duyên Giác hay cấp bậc Bồ Tát. Sở dĩ cấp bậc Thinh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát được thành lập là căn cứ nơi trình độ đạt đạo của mỗi chúng sanh để định mức giá trị giác ngộ. Những chúng sanh mang tánh chất hạt giống Bất Định thì không bao giờ bị bệnh cố chấp và bị đóng khung trong sự kiến giải của bậc Nhị Thừa hay của bậc Đại Thừa, nghĩa là họ không nhất định an trú và chấp trước vào Thừa nào cả. Họ tuy là hạng Nhị Thừa, nhưng có thể tăng tiến để trở thành Đại Thừa và họ tuy là hạng Đại Thừa, nhưng có thể tiến tu đạo nghiệp để trở thành Phật Thừa. Cho nên họ được gọi là Bất Định Chủng Tánh. Ngược lại, những bậc Nhị Thừa Chủng Tánh thường bị bệnh cố chấp cho rằng: "Chỉ có pháp môn thuộc bậc Thinh Văn hay bậc Duyên Giác của mình đã chứng được thì mới đúng với chánh pháp. Ngoài ra các pháp môn khác đều

thuộc về tà pháp". Cũng vì bị bệnh cố chấp nói trên, chỗ giác ngộ của bậc Nhị Thừa còn bị hạn hẹp và không được dung thông giống như sự sự giác ngộ của bậc Đại Thừa Bồ Tát.

2.- THỈ KHỞI CHỦNG TỬ:

Thỉ Khởi là mới phát khởi, mới phát sanh. Thỉ Khởi Chủng Tử nghĩa là những hạt giống mới phát sanh sau này. Những hạt giống mới phát sanh chỉ là những nghiệp tướng và những nghiệp lực được nội kết thành hạt giống. Tự thể của những hạt giống mới phát sanh thì không có bản chất chân thật và chúng nó không phải được xuất thân từ nơi thể tánh Chân Tâm, cho nên những hạt giống này được gọi là Thỉ Khởi Chủng Từ. Ngoài những hạt giống của tám Thức Tâm Vương, của Tứ Đại thuộc Bản Hữu Chủng Tử, tất cả hạt giống khác đều thuộc Thỉ Khởi Chủng Tử. Tất cả hạt giống thuộc Thỉ Khởi Chủng Tử thì hoàn toàn hữu lậu, không thật thể và bị sanh tử lưu chuyển trong ba cõi.

Trước hết, những hạt giống thuộc loại Nghiệp Tướng đều là những ảnh tử ảo vọng nằm trong Thức Thể Alaya. Những hạt giống này có loại được phát sanh từ nơi thế giới vọng hiện và có loại được phát sanh từ nơi thế giới nghiệp duyên. Đã là do mê vọng hiện bày hay là do nghiệp duyên nội kết, những hạt giống Nghiệp Tướng nói trên hoàn toàn thuộc về hữu lậu và không có thể chất chân thật, nghĩa là chúng nó không bao giờ có mặt trong thế giới Chân Như. Nhà Duy Thức cho những hạt giống Nghiệp Tướng đây là Vô Chất Tánh Cảnh. Những hạt giống Vô Chất Tánh Cảnh trên cũng thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử.

Thí dụ, hình ảnh của thành phố Sài Gòn, chùa thành phố Washington D.C., hay của thành phố Paris v.v... không thể có mặt trong thế giới Chân Như, nhưng chúng vẫn có mặt trong thế giới nội tâm của Thức Thể Alaya với hình thức hạt giống, nguyên vì những hình ảnh thành phố Sài Gòn, thành phố Washington D.C., thành phố Paris v.v... có khi xuất hiện trong mơ. Những hình ảnh thế giới trong mơ là những cảnh giới không có thể chất chân thật nên gọi là Vô Chất Tánh Cảnh và cũng thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử.

Còn những hạt giống thuộc loại Nghiệp Lực đều là những năng lực của thiện, ác và vô ký nghiệp đã được nội kết thành tập khí (Fetters), nằm trong Thức Thể Alaya. Những hạt giống Nghiệp Lực này, có loại được phát sanh từ nơi Vô Minh Nghiệp Tướng và có loại được phát sanh từ nơi Vô Minh Chi Mạt (vô minh thuộc ngọn ngành của Tham, Sân, Si tạo nên). Những hạt giống này cũng thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử.

Thí dụ, nghiệp lực Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến..v..v... tất cả đều không thể có mặt trong thế giới Chân Như, nhưng chúng vẫn có mặt trong thế giới nội Tâm của Thức Thể Alaya với hình thức hạt giống, nguyên vì những hạt giống tham, sân, si ... thường xuất hiện trong hành động. Những nghiệp lực Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến v.v... sở dĩ được thành hình là do Thân Nghiệp, Khẩu Nghiệp và Ý Nghiệp của chúng sanh hữu tình tạo thành hạt giống qua hành động, lời nói và ý tưởng. Những hạt giống Tham, Sân, Si..v..v... cũng thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử, mặc dù chúng nó mang tính chất phiền não căn bản.

Riêng thế giới Vọng Hiện, những cảnh giới này đều là hình tướng của thế giới Chân Như đã được ảnh hiện qua lớp màn Vô Minh Nghiệp Tướng để hiện hữu trong Thức Thể Alaya. Hình ảnh của những cảnh giới Vọng Hiện cũng giống như hình ảnh của những cảnh giới mộng mơ. Nguồn gốc phát sanh ra hình ảnh của những cảnh giới Vọng Hiện chính là Kiến Phần Thức Alaya. Đầu tiên, Kiến Phần Thức Alaya nương theo những hình ảnh của những cảnh giới Chân Như biến hiện qua lớp màn Vô Minh Nghiệp Tướng lưu ảnh thành thế giới Vọng Hiện trong Thức Thể Alaya. Những cảnh giới trong thế giới Vọng Hiện là những hình ảnh ở trạng thái không có thể chất chân thật. Vì thế nhà Duy Thức cho những cảnh giới này là Vô Chất Tánh Cảnh và cũng gọi là Thỉ Khởi Chủng Tử.

Thí dụ, cảnh trí núi rừng trên đất liền do ánh sáng mặt trời ảnh hiện dưới đáy sông hồ. Sông hồ là biểu tượng cho Thức Thể Alaya. Ánh sáng mặt trời là biểu tượng cho Kiến Phần Thức Alaya. Cảnh trí dưới đáy sông hồ đều là hình ảnh của cảnh trì núi rừng chân thật trên đất liền. Cảnh trí núi rừng dưới đáy sông hồ đều thuộc về thế giới Vô Chất Tánh Cảnh.

Kiến Phần Thức Alaya khi bị Hành Nghiệp của Vô Minh Nghiệp Tướng kích động và lôi cuốn liền nương nơi hình ảnh của những cảnh giới Vọng Hiện trong Thức Thể Alaya xây dựng thành những cảnh giới sống động trong thế giới Vọng Hiện để cho bảy Tâm Thức của các chúng sanh hữu tình sinh hoạt. Những cảnh giới sống động này cũng thuộc về loại thế giới Vọng Hiện. Nhà Duy Thức cho những cảnh giới sống động trên là Hữu Chất Tánh Cảnh. Hình tướng của những cảnh giới sống động chính là hình ảnh thật sự chưa bị biến tướng của thế giới Chân Như, mặc dù những hình ảnh đó đều là ảnh tử của thế giới Chân Như lưu xuất. Những cảnh giới sống động đây cũng thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử.

Trường hợp như thế giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là một trong bốn cõi của Vô Sắc Giới. Thế giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là những cảnh giới Vọng Hiện của thế giới Chân Như lưu xuất qua bức màn Vô Minh Nghiệp Tướng và được Kiến Phần Thức Alaya xây dựng thành thế giới sống động để cho bảy Tâm Thức của các chúng sanh hữu tình trong thế giới đó sinh hoạt. Thế giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ giao thoa với thế giới Chân Như. Thế giới này cũng thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử.

Xác định một lần nữa, tất cả hạt giống thuộc loại ảnh tử trong Thức Thể Alaya, mặc dù là hình ảnh vọng hiện của thế giới Chân Như, nhưng chúng đều thuộc về loại Vô Chất Tánh Cảnh và chúng hoàn toàn không có thể chất chân thật, nhưng tất cả hạt giống thuộc loại ảnh tử nói trên đích thực là những nguyên nhân rất cần thiết cho việc sanh khởi những cảnh giới vọng hiện sống động thuộc Hữu Chất Tánh Cảnh trong thế gian. Tất cả hạt giống ảnh tử trong Thức Thể Alaya đều thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử.

Đặc biệt hơn, những hạt giống thuộc Nghiệp Duyên trong Thức Thể Alaya đều được ghép vào loại Thỉ Khởi Chủng Tử. Trong Thức Thể Alaya, những hạt giống Nghiệp Duyên cũng có hai loại, một loại thuộc về Ảnh Tử Lạc Tạ và một loại thuộc về Chủng Tử Nghiệp Lực. Hai loại hạt giống thuộc Vô Chất Tánh Cảnh này là nguyên nhân sanh thành những cảnh giới Nguyệt Duyên thuộc Hữu Chất Tánh Cảnh trong thế gian.

Điều cần biết, những hạt giống Ảnh Tử Lạc Tạ trong Thức Thể Alaya là do Kiến Phần sáu Tâm Thức (từ Nhãn Thức cho đến Ý Thức) của các chúng sanh hữu tình thuộc kiếp trước tạo nên. Kiến Phần sáu Tâm Thức nương nơi những cảnh giới nghiệp duyên thuộc Hữu Chất Tánh Cảnh của kiếp trước phân biệt và chấp trước thành hạt giống Ảnh Tử Lạc Tạ nằm trong Thức Thể Alaya. Những hạt giống đây đều thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử. Những hạt giống Ảnh Tử Lạc Tạ là nguyên nhân để tạo thành những cảnh giới thực chất nơi thế giới Nghiệp Duyên trong thế gian.

Ngoài ra, Kiến Phần sáu Tâm Thức còn nương theo những cảnh giới nghiệp duyên thuộc Hữu Chất Tánh Cảnh nói trên phân biệt và chấp trước qua sự điều khiển của Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến ... tạo thành hạt giống mang danh nghĩa Chủng Tử Nghiệp Lực. Chủng Tử Nghiệp Lực là những hạt giống thuộc loại tập khí cũng được nội kết trong Thức Thể Alaya giống như các hạt giống khác. Các hạt giống nghiệp lực đây cũng thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Từ. Các hạt giống Nghiệp Lực là nguyên nhân thúc đẩy Kiến Phần Thức Alaya xây dựng thành thế giới Nghiệp Duyên thuộc Hữu Chất Tánh Cảnh trong thế gian và còn khiến cho các chúng sanh hữu tình nơi thế giới Nghiệp Duyên nói trên hưởng thọ quả báo khổ vui trong thế gian.

Kiến Phần sáu Tâm Thức của các chúng sanh hữu tình ngay từ bây giờ chẳng những mang vào hai loại hạt giống, một loại thuộc Chủng Tử Nghiệp Lực và một loại thuộc Ảnh Tử Lạc Tạ từ nơi những cảnh giới nghiệp duyên Hữu Chất Tánh Cảnh hiện tại để cất giữ trong Thức Thể Alaya. Kiến Phần sáu Tâm Thức này vẫn còn tiếp tục mang vào hai loại hạt giống nói trên từ vô lượng kiếp về trước cho đến muôn đời về sau, qua các thế hệ chúng sanh hữu tình nhiều kiếp, luôn luôn tàng trữ nơi Thức Thể Alaya để làm nhân duyên cho việc sanh khởi những thế giới sanh tử lưu chuyển trong ba cõi. Từ đó có thể nhận thấy, tất cả hạt giống Ảnh Tử Lạc Tạ và Chủng Tử Nghiệp Lực trong Thức Thể Alaya do Kiến Phần sáu Tâm Thức của các chúng sanh hữu tình tạo nên đều hoàn toàn không có thể chất chân thật, nghĩa là chúng nó không bao giờ có mặt trong thế giới Chân Như. Cho nên chúng nó được gọi là Thỉ Khởi Chủng Tử hoặc gọi là Tập Sở Thành Chủng Tử.

III.- GIÁ TRỊ:

Những hạt giống thuộc thế giới vọng hiện cho đến những hạt giống thuộc thế giới nghiệp duyên từ vô lượng kiếp về trước cho đến ngày nay đã được tàng trữ quá nhiều trong Thức Thể Alaya không thể nghĩ bàn. Nhà Duy Thức cho vô số hạt giống không thể nghĩ bàn với danh nghĩa là Nhút Thiết Chủng Tử. Thức Thể Alaya tàng trữ vô số hạt giống này được nhà Duy Thức đặt cho một danh hiệu là Nhứt Thiết Chủng Thức. Mặc dù hạt giống chứa trong Thức Thể Alaya nhiều vô số, nhưng giá trị của chúng có thể phân ra ba loại khác nhau: một loại Thiện, một loại Ác và một loại Vô ký.

1/- MỘT LOẠI THIỆN:

Thiện nghĩa là những điều lành có lợi ích cho chúng sanh về phương diện phước nghiệp hữu lậu trong thế giới sanh tử. Những điều thiện của phước nghiệp như là những công hạnh thuộc công tác bắt cầu, đắp đường, bố thí v.v... Những thiện nghiệp này cũng được nội kết trong Thức Thể Alaya để thành hạt giống. Những pháp thiện trên đây mặc dù đã được thành nghiệp, nhưng vẫn còn thuộc về loại tạp nhiễm, chỉ có giá trị trong thế giới sanh tử và chúng nó hoàn toàn không có giá trị trong thế giới Chân Như thanh tịnh. Tất cả hạt giống thiện nghiệp nói trên đều thuộc về loại Hữu Lậu Thiện.

Thí dụ, những điều thiện của đạo thờ Bò không thể có trong đạo thờ Heo, cũng như những điều thiện theo quan niệm tập quán của quốc gia này, của thế giới này không thể có trong quốc gia khác hay trong thế giới khác.

2/- MỘT LOẠI ÁC:

Ác nghĩa là những điều trái ngược với pháp thiện ở trên. Những điều ác thường gây tổn hại cho chúng sanh chẳng những ở đời này, cho đến muôn đời về sau. Những điều ác được thành hình là do bởi hành động, lời nói và ý tưởng của các chúng sanh hữu tình tạo nên. Những điều ác được minh định như sau:

a/- VỀ HÀNH ĐỘNG:

Ba điều ác do hành động của chúng sanh hữu tình gây nên chính là sát hại, trộm cướp và dâm dục. Tánh chất của ba điều ác được xây dựng từ nơi thân nghiệp tạo nên. Ba điều ác đây được nội kết thành nghiệp lực trong Thức Thể Alaya với dạng thức hạt giống. Hành động của ba điều ác được trình bày như sau:

Sát Hại: nghĩa là hành động chém giết, đánh đập và hành hạ các loài hữu tình (những loài có tình cảm và hiểu biết), trong đó chủ yếu là giết người. Những người có nghiệp háo sát thường ham thích chém giết làm nghề thú vui. Họ chẳng những tự mình hại chúng sanh và còn khuyến khích kẻ khác đi chém giết hoặc tán thành sự chém giết của kẻ khác. Nghiệp sát hại cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

Trộm Cướp: nghĩa là hành động trộm cắp, hoặc dùng bạo lực tước đoạt của cải, quyền lợi của chúng sanh hữu tình bằng mọi thủ đoạn không chân chánh, nên gọi là trộm cướp Những người có nghiệp trộm cướp thường ham thích đi cướp đoạt những vật sở hữu của kẻ khác bằng mọi cách và khiến cho họ trở nên đau khổ, nghèo đói và bệnh tật. Nghiệp trộm cướp cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

Dâm Dục: nghĩa là hành động háo sắc bất chánh, say đắm dục lạc quá độ, không biết chừng mực trong sự tiết dục. Những người có nghiệp dâm dục thường ham thích say đắm dục lạc với những người khác phái, hay phá hoại hạnh phúc gia cang của chúng sanh và khiến cho thân thể của họ trở nên bệnh tật, yếu đuối và mất dần trí tuệ. Nghiệp dâm dục cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

b/. VỀ LỜI NÓI:

Bốn điều ác do miệng lưỡi của chúng sanh hữu tình gây nên từ lời nói không chân chánh. Bốn điều ác đây được nội kết thành nghiệp lực trong thức thể Alaya. Bốn điều ác như là:

Vọng Ngôn: nghĩa là nói dối, nói không thật, vu khống, chụp mũ. Chuyện không có tội lại ghép cho là có tội và chuyện có tội lại che chở cho là không tội. Chuyện phải lại cho là quấy và chuyện quấy lại cho là phải. Người vọng ngữ là kẻ thường hay nói những điều không đúng sự thật. Lời nói vọng ngôn cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

Ý Ngữ: nghĩa là nói quanh co, nói dua nịnh, nói dụ dỗ, nói lường gạt qua những lời đường mật nhằm mục đích lợi dụng lòng tin của mọi người. Người ỷ ngữ là kẻ thường hay nói những lời không đúng đắn, không chân chánh. Lời nói ỷ ngữ cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

Lưỡng Thiệt: nghĩa là nói hai lưỡi, tức là đến người này nói chuyện xấu của người kia và đến người kia lại nói chuyện xấu của người này, khiến cho hai bên thù nghịch lẫn nhau. Người lưỡng thiệt là kẻ thường hay gây sự bất hoà giữa người này với người khác. Lời nói lưỡng thiệt cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

Ác Khẩu: nghĩa là lời nói hung dữ, độc ác. Những lời nói ác khẩu như là, chửi mắng, nguyền rủa, doạ nạt, thề thốt v.v... khiến cho người nghe bị đau khổ bứt rứt tâm can. Lời nói ác khẩu cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

c/- VỀ Ý  TƯỞNG:

Ba điều ác do ý tưởng của chúng sanh hữu tình gây nên. ý tưởng của chúng sanh hữu tình thường hay thúc đẩy miệng lưỡi và thân thể gây nên ba điều ác qua nói năng và hành động. Ba điều ác sau khi được ý tưởng chỉ huy tạo nghiệp liền nội kết trong Thức Thể Alaya thành hạt giống nghiệp lực. Ba điều ác này cũng là nguyên nhân khiến cho chúng sanh hữu tình bị luân hồi sanh tử lưu chuyển mãi trong ba cõi. Ba điều ác như là:

Tham Lam: nghĩa là ham muốn, tham đắm, nhiễm trước những điều mà mình ưa thích và say mê chạy theo năm dục lạc của thế gian, như là: tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ, vì lòng ham muốn không đáy, chúng sanh hữu tình luôn luôn tự gây tạo không biết bao nhiêu tội lỗi sinh tử trong ba cõi. Người hành động tham lam theo ý tưởng chỉ đạo cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong thức Thể Alaya.

Sân Hận: nghĩa là giận ghét, thù hận mỗi khi gặp phải những hoàn cảnh trái nghịch, khổ đau, thất vọng. Người sân hận thường hay thù ghét, tức giận những ai cản trở sự tham muốn của mình và luôn luôn đối nghịch với những kẻ phá hoại công trình mà mình đang xây dựng theo chiều dục vọng lôi cuốn. Người sân hận thường tìm cách hãm hại những kẻ mà họ đã thù ghét. Người hành động sân hận theo ý tưởng chỉ đạo cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

Si Mê: nghĩa là ngu si, mê muội, không sáng suốt, không minh định được rõ ràng những vấn đề phải quấy, chánh tà, chân vọng của vạn pháp. Người si mê là người không tin nhân quả, không tin chánh pháp, thường hay cuồng tín, mù quáng chạy tin theo những pháp bất chánh và hành động theo những tà giáo có tánh cách mê tín dị đoan. Người hành động si mê theo ý tưởng chi đạo cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

Mười điều ác vừa kể trên sở dĩ được tạo thành hạt giống và được dung chứa trong Thức Thể Alaya là do hành động gây nên bởi thân thể, là do phát ngôn bất chánh bởi miệng lưỡi và cũng là do kế hoạch chỉ đạo bởi ý tưởng. Tánh chất của những hạt giống nghiệp lực này đều thuộc về loại Chủng Tử Hữu Lậu.

3/- MỘT LOẠI VÔ KÝ:

VÔ nghĩa là không.

KÝ nghĩa là ghi nhận, nhất định.

VÔ KÝ nghĩa là không nhất định thiện hay ác. Có những sự việc do chúng sanh hữu tình gây tạo không thể xác định giá trị là thiện và cũng không thể xác định giá trị là ác, nghĩa là những sự việc đó có mang một phần tánh chất của thiện và cũng có mang một phần tánh chất của ác, nên gọi là Vô Ký. Một số hành động của các chúng sanh hữu tình ở thời gian quá khứ cũng như một số hành động của các chúng sanh hữu tình ở thời gian hiện tại nếu cho là thiện thì cũng không thể được, nguyên vì những hành động đó thuộc loại bất thiện. Ngược lại, một số hành động của các chúng sanh hữu tình vừa kể trên nếu cho là ác thì cũng không thể được, nguyên vì những kẻ gây nên nghiệp nhân đó lại hoàn toàn không cố tâm chủ mưu, cho nên những hành động này được gọi chung là Vô Ký. Những hành động không phải thiện và những hành động không phải ác vừa mới trình bày đều được nội kết thành một loại hạt giống mệnh danh là Ký Nghiệp Nhân. Hạt giống Vô Ký Nhân là nguồn gốc để đi đến kết quả phải trả ở kiếp sau cho được tương xứng, nên gọi là Vô Ký Quả. Quả vô Ký ở đây mà chúng sanh hữu tình phải hưởng thọ lấy chính là sự kết quả đưa đến cho họ trong tình trạng bất ngờ, như là sự kiện chết bất đắc kỳ tử. Sự kiện chết bất đắc kỳ tử nghĩa là những kẻ bị chết bởi tai nạn bất ngờ hiện đến. Những kẻ bị chết đi trong tình trạng bất ngờ do bởi những hành động tạo nên không cố tâm chủ mưu của họ nên gọi là chết bất đắc kỳ tử thuộc Quả Vô Ký.

Thí dụ, một thanh niên bị động viên đi lính. Anh thanh niên này cố nhiên không muốn giết người, nhưng hoàn cảnh bắt buộc anh phải giết kẻ địch. Anh nếu như không giết kẻ địch thì kẻ địch trở lại giết anh. Vì lý do tự vệ, anh đành phải thi hành nghĩa vụ giết người. Sự hành động giết người của anh, nếu cho là thiện thì cũng không thể được, nguyên vì anh đang thi hành chém giết. Ngược lại, hành động đó của anh nếu cho là ác thì lại cũng không thể được, nguyên vì tâm của anh không muốn đi lính. Sự hành động của anh ở đây được gọi là Vô Ký Nghiệp Nhân. Đã tạo nên Vô Ký Nghiệp Nhân thì anh thanh niên kia nhất định phái trả quả ở kiếp sau bằng cách bị chết trong tình trạng bất đắc kỳ tử của Vô Ký Nghiệp Quả.

Tóm lại, về phương diện Bản Hữu Chủng Từ, hạt giống Tự Chứng Phần của tám Thức Tâm Vương chính là trí tánh của Tạng Như Lai. Trì tánh của Tạng Như Lai đã tác dụng và lưu trú trong cái vỏ (Form) Chứng Tự Chứng Phần để hiện thành hình tướng hạt giống. Do đó bản tánh của tám Thức Tâm Vương thì vốn sẵn có từ vô thỉ và không có vấn đề sanh diệt, tăng giảm hay nhơ sạch. Cho nên bản tánh của tám Thức này thuộc về loại Bản Hữu Chủng Tử thuần thiện vô lậu (hạt giống hoàn toàn thuần thiện, đã có bản chất từ vô thỉ và không bị sa rớt vào vòng sanh tử lưu chuyển trong ba cõi).

Còn bản tánh của Tứ Đại là chỉ cho bốn năng lực thực thể của đất, nước, gió và lửa. Bốn năng lực này đều phát sanh từ nơi Thức Thể Alaya để làm yếu tố cần thiết cho sự sanh khởi vạn pháp về vật chất. Vì phát sanh từ Thức Thể Alaya, cho nên bốn năng lực Tứ Đại cũng thuộc về loại Bản Hữu Chủng Tử. Bản Hữu Chủng Tử của bốn năng lực Tứ Đại thì vốn sẵn có từ vô thỉ và cũng không có vấn đề nhơ sạch hay tăng giảm, nhưng chúng thuộc về thuần thiện nhưng cố một điều là hữu lậu, vì chúng bị biến thể.

Riêng về phương diện tu chứng để phát huy Chủng Tánh (tánh chất hạt giống) của tám Thức Tâm Vương, nhà Duy Thức căn cứ theo trình độ tu tập của mỗi chúng sanh hữu tình chia thành bốn hạng: Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Bất Định. Hạng Thinh Văn Chủng Tánh và Duyên Giác Chủng Tánh tuy là đã phá được bệnh chấp ngã, nhưng họ vẫn còn bị bệnh chấp pháp kiên cố không thể hoá giải, còn hạng thuộc Bất Định Chủng Tánh thì không cố chấp và cũng không an trú một cách cố định vào những địa vị tu chứng nào của những hạng nêu trên. Hạng Bất Định Chủng Tánh chỉ mong cầu thành Phật làm mục đích cuối cùng.

Đặc biệt hạng Bồ Tát Đại Thừa Chủng Tánh thì đã hoàn toàn phá được sự chấp ngã, sự chấp pháp và chứng đến bậc Nhứt Thiết Chủng Trí, tức là đã thành Phật, thuộc ngôi vị tột cùng của đạo giải thoát.

Trái lại, tất cả hạt giống thuộc loại Thỉ Khởi Chủng Tử, từ thế giới Vọng Hiện cho đến thế giới Nghiệp Duyên đã mang tánh chất thiện, ác và vô ký thì hoàn toàn hữu lậu, nghĩa là chúng nó đều thuộc về những loại hạt giống giả tạo của sanh tử luân hồi. Những hạt giống Thỉ Khởi Chủng Tử đã được nội kết một cách liên tục, từ lâu đời và cũng đã được nội kết thành tiềm năng do sự phân biệt, do sự chấp trước cố định của các chúng sanh hữu tình trong vô lượng kiếp về trước. Những hạt giống này đã được nội kết từ nơi sáu Tâm Thức ở trước mê hoặc vọng hiện tạo nên và chúng nó hoàn toàn không có thể tánh chân thật trong Tâm Chân Như cho nên những hạt giống thuộc loại Thỉ Khởi Chủng Tử ở đây cũng gọi là Vô Chủng Tánh (hạt giống không có thể tánh chân thật).

C.- VẤN ĐỀ TỰ BIẾN VÀ CỘNG BIẾN:

Vấn đề tự biến và cộng biến được thành lập là căn cứ nơi tánh chất của vạn pháp để phân loại, nhằm mục đích làm sáng tỏ lập trường "VẠN PHÁP ĐỀU DO DUY THỨC BIẾN HIỆN". Vạn pháp trong vũ trụ, có loại hiện ra hình tướng nhìn thấy được như là hiện tượng vật chất, có loại chỉ biết qua sự tác dụng của chúng như là hiện tượng tâm linh, tất cả đều mang tánh chất nghiệp báo để hiện tướng, mặc dù chúng nó vẫn do Duy Thức biến hiện. Nguyên vì mang tánh chất nghiệp báo, vạn pháp do Duy Thức biến hiện đều phát khởi từ nghiệp nhân và bị chuyển thành nghiệp quả để cảm thọ những điều khổ đau hoặc những điều vui sướng không giống nhau. Riêng vấn đề nghiệp báo, có loại thuộc về cộng nghiệp (nghiệp chung) và có loại thuộc về biệt người (nghiệp riêng). Cho nên vạn pháp do Duy Thức biến hiện cũng có hai loại: một loại thuộc về Cộng Biến và một loại thuộc về Tự Biến.

I.- ĐINH NGHĨA:

TỰ: là mìmh, riêng mình, chính mình, nghịã là chỉ có riêng mình sinh hoạt một cách độc lập và sự sinh hoạt của riêng  mình hoàn toàn không liên hệ chút nào đến kẻ khác trong mọi công việc.

CỘNG: là chung, cùng nhau, nghĩa là sự sinh hoạt của từng cá nhân rất quan hệ chặt chẽ với nhiều người chung quanh trong mọi công việc.

BIẾN: là biến đổi, chuyển biến để hiện ra, nghĩa là trạng thái này biến đổi ra trạng thái khác, biến đổi từ hình tướng này sang hình tướng khác. Những trạng thái hay những hình tướng của vạn pháp đã có sẵn gốc rể trong Thức Thể Alaya và chúng phải nhờ đến Kiến Phần Thức Alaya giúp đỡ để hiện ra hình tướng, nên gọi là biến.

TỰ BIẾN: nghĩa là những pháp chỉ do Kiến Phần Thức Alaya riêng mỗi cá nhân của chúng sanh hữu tình tự biến hiện ra để tự hưởng thụ. Những pháp do kiến Phần Thức Alaya riêng mỗi cá nhân tự biến bằng cách xây dựng hệ thống sinh lý riêng biệt cho những pháp đó để tự sử dụng và không quan hệ với nhiều Kiến Phần Thức Alaya khác của nhiều chúng sanh hữu tình chung nhau đóng góp trong sự hợp tác, nên gọi là Tự Biến.

CỘNG BIẾN: nghĩa là những pháp được thành hình phải nhờ đến nhiều Kiến Phần Thức Alaya của các chúng sanh hữu tình liên hệ cùng nhau biến hiện. Nhiều Kiến Phần Thức Alaya liên hệ biến hiện bằng cách, trước hết kết hợp các yếu tố cần thiết để cùng nhau xây dựng cho những pháp hội đủ điều kiện nhân duyên. Những pháp do nhiều Kiến Phần Thức Alaya liên hệ hợp tác xây dựng được gọi là Cộng Biến. Các chúng sanh hữu tình nhờ những pháp thuộc loại cộng biến mới có chỗ sinh hoạt và hưởng thụ. Nếu như không có sự đóng góp chung của nhiều Kiến Phần Thức Alaya liên hệ, những pháp thuộc loại cộng biến nhất định không thể hiện hữu một cách độc lập. Hơn nữa một Kiến Phần Thức Alaya của riêng từng chúng sanh hữu tình cũng không thể tự động xây dựng thành những pháp thuộc loại cộng biến nêu trên. Cho nên những pháp hiện hữu được nhiều Kiến Phần Thức Alaya liên hệ chung nhau xây dựng đều gọi là Cộng Biến.

II.- TÁNH CHẤT VẠN PHÁP:

 Đứng trên lập trường nghiệp báo để khảo sát, chúng ta nhận thấy vạn pháp hiện cố mặt trong vũ trụ, mặc dù có hình tướng hay không có hình tướng, mặc dù là sự vật nhỏ nhoi như vi trần, như cát bụi v.v...cho đến sự vật lớn như sông núi, địa cầu, hành tinh v.v... đều là kết quả của những nghiệp tướng do Duy Thức biến hiện. Sự kết quả về nghiệp tướng của vạn pháp nêu trên được gọi là nghiệp báo. Nghiệp báo nghĩa là những nghiệp nhân đã được kết thành quả báo. Vạn pháp thuộc nghiệp báo có hai loại, một loại thuộc chánh báo và một loại thuộc y báo. Những loại thuộc chánh báo là những loại chịu ảnh hưởng trực tiếp của nghiệp nhân, còn những loại thuộc y báo là những loại chịu ảnh hưởng gián tiếp của nghiệp nhân.

Thí dụ, anh A là người thuộc về chánh báo và nhà cửa, cơm ăn, áo mặc v.v... là những sự vật thuộc về y báo để anh A sử dụng. Những sự vật thuộc về y báo chính là những sản phẩm của anh A biến hiện. Anh A tận dụng mọi khả năng biến hiện những sản phẩm trên bằng cách sáng tạo thành vật dụng theo nhu cầu hưởng thụ.

 1/- THUỘC VỀ CHÁNH BÁO:

Những chúng sanh thuộc về chánh báo là những loại hữu tình có thể chất chân thực, nghĩa là những loại có Kiến Phần Thức Alaya ở trong. Kiến Phần Thức Alaya ở trong những chúng sanh hữu anh nối trên bằng cách thể hiện sức sống để duy trì sự có mặt của chúng tồn tại trong thế gian. Quả báo của mỗi chúng sanh hữu tình được gọi là Chánh Báo. Tất cả chúng sanh hữu tình hiện có mặt trong thế gian đều thuộc về chánh báo. Chúng sanh hữu tình là chỉ cho những chúng sanh có tình cảm, có hiểu biết, trong đó gồm có các loài động vật và hẳn nhiên kể cả loài người. Trong tất cả chúng sanh hữu tình, mỗi cá thể đều được xây dựng theo biệt nghiệp để họ tự hưởng thụ quả báo. Tất cả chúng sanh hữu tình thuộc chánh báo đều làm chủ trong mọi sự sinh hoạt và cảm thọ quả báo. Những chúng sanh hữu tình này, nếu như Kiến Phần Thức Alaya của mỗi loại không chịu xây dựng và không chịu duy trì sanh mạng thì nhất định không thể nào góp mặt trong thế gian. Nói cách khác, sự có mặt của họ trong thế gian chính là nhờ sự góp phần xây đựng của mỗi Kiến Phần Thức Alaya để duy trì sanh mạng được tồn tại. Nhà Duy Thức cho tất cả chúng sanh hữu tình hiện có mặt trong thế gian đều là thành quả của Duy Thức Biến.

2/- THUỘC VỀ Y BÁO:

Chúng sanh chánh báo thuộc hữu tình đã được xây dựng thì nhất định thế giới y báo thuộc vô tình cũng phải được thành lập để họ nương tựa và sanh trưởng. Những thế giới y báo thuộc vô tình đều là thế giới đối tượng nhằm mục đích làm chỗ nương tựa cho chúng sanh chánh báo thuộc hữu tình sinh hoạt (sở duyên). Từ đó cho thấy, những thế giới y báo đều thuộc về cộng nghiệp của tất cả chúng sanh chánh báo sinh hoạt. Những thế giới cộng nghiệp được thành lập là do biệt nghiệp của tất cả chúng sanh hữu tình hợp tác xây dựng để cùng nhau nương tựa. Sự xây dựng những thế giới