Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

 Luận


......... .

 

 


DUY THỨC TAM THẬP TỤNG LƯỢC GIẢI

Thích Trí Châu

 

Thanh Lương Thiền Thất

Phật Lịch 2549, 2005

 

Mục Lục

 

Lời Tựa

Sơ Lược Tiểu Sử Thầy Thích Trí Châu

Mở Đầu

Tiểu Sử Bồ Tát Thế Thân

Duy Thức Tam Thập Tụng

Ba Mươi Bài Tụng Duy Thức

Chương I Các Thức Năng Biến Trong Duy Thức Học

Chương II  Đại Cương Về A Lại Da Thức

Chương III  Đặc Tánh Của A Lại Da Thức

Chương IV Mạt Na Thức

Chương V Liễu Biệt Cảnh Thức

Chương VI Các Tâm Sở Thiện, Phiền Não Và Bất Tịnh

Chương VII  Sắc Pháp Và Tiền Lục Thức

Chương VIII Duyên Cảnh và Lượng

Chương IX  Căn Thân Và Thế Giới

Chương X  Bất Tương Ưng Hành Pháp

Chương XI  Tam Tánh

Chương XII  Tam Vô Tánh

Chương XIII  Các Địa Vị Tu Tập

Chương XIV  Tóm Tắt

Tìm Một Hướng Đi

 

 

LỜI TỰA ^

 

Đây là bài nghiên cứu đầu tay, được bắt đầu soạn thảo từ năm 1995, nhưng vì bận du phương tầm đạo nên bây giờ mới tạm hoàn chỉnh để giới thiệu đến những ai hằng muốn bước vào ngưỡng cửa của Duy thức mà chưa có dịp tìm hiểu.

 

Tập Lược Giải về Duy Thức Tam Thập Tụng này được ra mắt quý vị là do công sức đóng góp của rất nhiều bạn đồng đạo gồm cả tăng sĩ  lẫn tục gia mà danh tánh đều muốn để trong thầm lặng.

 

Đặc biệt xin đa tạ giáo sư Nghiêm Xuân Hồng đã có hứng thú khi đọc các bản sơ thảo khiến tác giả có được sự hăng say để viết tập sách đầu tay này. Rất tiếc tập sách nhỏ này không kịp ra mắt khi giáo sư còn tại thế. Xin lưu lại những ân tình sâu đậm ở đây với bài thơ Luân Vũ Xoay Tròn mà giáo sư đã trao tặng vào giữa mùa xuân năm 1997:

 

Ta tìm ai chiều nay qua mấy kiếp

Trong không hư nhìn lại mảnh hồn đau

Giấc liêu trai chiều nay ta vẫn thiếp

Cánh sông hồ bàng bạc chuyện xưa sau...

 

Xưa hay sau? Ô hay kỳ lạ nhỉ!

Xưa là xưa hay xưa lại là sau?

Thở xưa ấy quanh co và kỳ ảo

Chìm vào không rồi lại nở ngàn sau...

 

Nên kiếp sống là vòng tròn mộng huyễn

Sanh rồi không rồi lại nở ra hình

Cái Không ấy là ông vua chú thuật

Hiện ra hình rồi lại biến vào Không.

 

Hình nộm ấy mang theo nhiều hệ lụy

Lụy ăn uống, lụy nhớ tưởng, lụy tình duyên

Hồn lắm lúc bồng bềnh như gió nhốt

Muốn hư vô mà chẳng hề có hư vô.

 

Tâm với cảnh thiên thu dìu gót bước

Thấy như hai mà chẳng phải là hai

Nhịp luân vũ chập chùng và bất tuyệt

Ta là ai mà chẳng phải là ai!

 

Vào giữa mùa xuân năm 2000, cụ Hồng từ chối ở lại nhà thương để điều trị với lý do muốn tịch tại nhà. Trên đường về nhà, cụ nhìn lên bầu trời và than: "Ô hay! Bầu trời hôm nay đổi sắc". Thế rồi sau một buổi tối ngủ vùi, cụ ra đi vào sáng sớm hôm sau.

 

Xin đốt lên một nén hương lòng, và xin nguyện cùng nhau gặp gỡ lại, cùng đi trên con đường giải thoát.

 

Nếu tập sách này có giúp ích một chút gì cho những ai thì xin hồi hướng công đức đến tất cả mọi loài. Còn nếu có những gì sơ sót thì riêng mình xin nhận chịu.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Viết tại Thiền Thất Thanh Lương

Santa Ana, California, USA

Mùa Phật Đản, Phật Lịch 2547, 2003

 

Thích Trí Châu

PO Box 1522

Westminster, CA 92684, USA.
 

 

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ THẦY THÍCH TRÍ CHÂU ^

 

Thầy Thích Trí Châu, pháp danh là Minh Trí, pháp hiệu là Trí Châu, là đệ tử Việt nam duy nhất ở bên Mỹ được truyền thừa dòng thiền Vân Môn từ Thiền Sư Phật Nguyên Diệu Tâm bên Trung Hoa.

 

Chuyên thực hành Thiền Tông Trung Hoa, trải nhiều thời gian tu tập tại những thiền đường vắng vẻ, trong núi rừng như Tuyết Sơn Tự và tu viện Long Beach thuộc hệ thống Vạn Phật Thành, tu viện Kim Sơn, thiền viện của Thiền Sư Thánh Nghiêm ở Mỹ; trong rừng Thái Lan thuộc Tăng Đoàn Thiền Lâm Quốc Tế (International Forest Sangha) của hệ thống Ajahn Cha, Ajahn Chan và Ajahn Sumedho; trong thiền đường Mahasi Sayadaw ở Miến Điện; trong các thiền viện Trung Hoa, Hồng Kông và Đài Loan.

 

Đã từng tham vấn và tiếp cận rất nhiều thiền sư danh tiếng như Cố Đại Lão Thiền Sư Dharmawara Mahathera (thọ 112 tuổi) người Cam Bốt và Thiền Sư Thánh Nghiêm tại Mỹ Quốc; Cố Hòa Thượng Tâm Cẩn tại chùa Diên Hựu, Thiền Sư Thanh Từ và Thiền Sư Thông Lạc tại Việt Nam; các Thiền Sư Trung Hoa như Thiền Sư  Đức Lâm tại Cao Mân Thiền Tự, Thiền Sư Như Thành tại Ngọa Long Thiền Tự, Thiền Sư Nhất Thành tại Nam Hoa Thiền Tư, Thiền Sư Phật Nguyên tại Vân Môn Thiền Tự; Thiền Sư Thánh Nhất tại Bảo Lâm Thiền Tự ở Hồng Kông; Thiền Sư Truyền Bố và Cố Thiền Sư Trí Xuân ở Nam Đầu, Đài Loan.

 

Tại Đài Loan thầy Trí Châu đã từ chối tiếp nhận thiền viện của Lão Thiền Sư Truyền Bố, một cao đồ của Cố Hòa Thượng Quảng Khâm, vì lý do còn muốn du phương tầm đạo và chưa muốn dừng chân tại Đài Loan.

 

Đặc biệt được truyền thừa tông phái Vân Môn từ Đại Hòa Thượng Diệu Tâm Phật Nguyên tại Vân Môn Thiền Tự.

 

Thiền Sư Phật Nguyên khi xưa là thị giả của cố Thiền Sư Hư Vân, từng là phương trượng  của Nam Hoa Thiền Tự, hiện là phương trượng của Vân Môn Thiền Tự ở Quảng Châu, Trung Hoa.

 

Cố Thiền Sư Hư Vân (1840-1959) trụ thế 120 năm, là vị thiền sư  Trung Hoa danh tiếng cận đại, là người đã khôi phục lại 5 tông phái Thiền Tông Trung Hoa gồm Lâm Tế, Tào Động, Quy Ngưỡng, Pháp Nhãn và Vân Môn.

 

Cố Thiền Sư Hư Vân được coi là vị Tổ Sư Thiền thứ 12 của tông phái Vân Môn, sau Tổ Vân Môn Văn Yển 11 đời. Thiền Sư Phật Nguyên thuộc đời thứ 13. Thầy Trí Châu thuộc đời thứ 14 của tông phái Vân Môn, hiện đang hướng dẫn khóa Thiền và Thư Giãn tại 12441B Magnolia St., Garden Grove, California, USA.

E-mail liên lạc: vanmon_chan@yahoo.com.

 

 

 

MỞ ĐẦU ^

 

Xin kính lễ bậc Toàn Giác

Thế Gian Giải, Thiên Nhơn Sư

Với lòng tin bất thối chuyển

Nguyện cho bài lược giải này

Đạt được nghĩa chân thật nhất

Đem lợi lạc đến mọi người.

 

Giáo lý đạo Phật đặt căn bản trên hai hệ thống Nguyên Thủy và Phát Triển mà khi xưa thường gọi là Tiểu Thừa và Đại Thừa.

 

Hệ thống nguyên thủy dựa trên tư tưởng A tỳ đạt ma, còn hệ thống phát triển dựa trên tư tưởng Duy thức học. Cả hai đều nghiên cứu về tâm thức của con người. A tỳ đạt ma chia tâm thức ra làm 6 thức. Sáu thức đó là: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý thức. Duy thức học thì ngoài 6 thức trên còn nói đến hai thức nữa là mạt na thức và a lại da thức. A tỳ đạt ma chia tất cả các pháp ra làm 75 pháp, còn Duy thức học chia các pháp ra làm 100 pháp, gọi là Bách pháp minh môn luận.

 

Duy Thức Tam Thập Tụng là một tác phẩm Đại Thừa Phật Giáo gồm 30 bài kệ do Bồ tát Thế Thân trước tác. Theo đó thì tất cả các hiện tượng và ý niệm đều không thật có, chúng đều duyên khởi, do Chân Tâm bị vọng niệm quấy động mà chuyển biến và biểu hiện ra. Tánh chất chân thực của tất cả các hiện tượng và các ý niệm không thể do tri kiến thường tình mà giải thích được mà phải là sự trực nhận do kết quả của sự tu tập thiền định khi đạt được sự đột biến nội tại nơi tâm thức.

 

Phải có lòng tin vững chắc và sự phát tâm bất thối chuyển, nhất tâm kiên cố tu trì theo giáo lý Phật Đà cho đến khi phá tan được tất cả những vô minh vi tế nhất của phiền não chướng và sở tri chướng đã tích tập từ thuở vô thủy thì Chân Tâm mới hiển lộ và hành giả mới thâm nhập và trực nhận được thật tánh của các pháp.

 

Trước khi trước tác Duy Thức Tam Thập Tụng này, ngài Thế Thân đã viết A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận. Câu Xá Luận này cũng trình bầy về tâm thức nhưng theo quan niệm của Phật Giáo Tiểu Thừa, theo đó tất cả các hiện tượng và các ý niệm chỉ bao gồm trong 75 pháp.

 

Sau khi được người anh là Vô Trước điểm hóa, Thế Thân chuyển hướng theo Đại Thừa và trước tác nhiều tác phẩm đại thừa, chẳng hạn như: Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận, Duy Thức Nhị Thập Tụng cùng chú giải và Duy Thức Tam Thập Tụng, theo đó thì tất cả các hiện tượng và ý niệm của tam giới lục đạo gom lại thành 100 pháp.

 

Tác phẩm Duy Thức Nhị Thập Tụng khác với Duy Thức Tam Thập Tụng ở chỗ tác phẩm thứ nhất chỉ nhằm mục đích phá vỡ các lập luận của các phái ngoại đạo, còn tác phẩm thứ nhì thì trình bầy tất cả khía cạnh của tâm thức, hiển bầy ra cái lý nhất thiết pháp duy tâm tạo, rồi đưa ra phương pháp tu tập thiền định, nương vào hiện tướng của các pháp mà nhập được vào thể tánh Chân Như. Vì thế mà phương pháp tu tập của Duy Thức còn được gọi là tùng tướng nhập tánh.

Khi ngài Thế Thân trước tác ra Duy Thức Tam Thập Tụng, ngài chưa viết lời chú giải. Sau này có tới 10 luận sư chú giải, trong số này có các luận sư Nan Đà (Nanda), An Huệ (Sthiramati) và Hộ Pháp (Dharmapala). Nhưng hầu hết các bản chú giải này đều bị ngoại đạo ở Ấn Độ tiêu hủy. Hiện nay chỉ có bản chú giải của ngài An Huệ bằng tiếng Phạn còn lưu truyền ở Tây Tạng.

 

Vào khoảng tiền bán thế kỷ thứ bẩy pháp sư Huyền Trang (599-664) từ Trung Hoa sang Ấn Độ cầu pháp. Ngài đã được luận sư Giới Hiền (Silabhadra) truyền dậy về Duy Thức tại học viện Na Lan Đà (Nalanda) trong khoảng thời gian từ năm 633 đến năm 637. Ngài Giới Hiền khi xưa là đệ tử của ngài Hộ Pháp, lúc ấy đã trên 100 tuổi và là một luận sư nổi tiếng về Duy Thức.

 

Sau khi tham học bên Ấn Độ được 16 năm (629-645) trở về Trung Hoa, ngài Huyền Trang đã phiên dịch, chú giải và trước tác rất nhiều kinh luận Đại Thừa, trong đó có Thành Duy Thức Luận, chú giải 30 bài tụng về Duy Thức của bồ tát Thế Thân.

 

Các chú giải của pháp sư Huyền Trang về Thành Duy Thức Luận là tập hợp những chú giải của các luận sư nổi tiếng khi xưa nhưng phần chính là dựa trên chú giải của ngài Hộ Pháp.

 

Vì muốn làm hiển lộ thật tướng của Chân Tâm, một việc mà không có một ngôn từ nào có thể diễn tả được, nên Duy Thức Học đã phải tạm đặt ra các danh từ mới để đặt tên cho các hiện tượng, khái niệm cùng tánh chất của tất cả các pháp, rồi từ đó lý giải ra cái chân lý rốt ráo của đạo Phật. Các danh từ dùng trong Duy Thức đều rất trừu tượng và mới lạ. Các danh từ nầy lại bắt nguồn từ tiếng Phạn, rồi lại được chuyển dịch ra tiếng Trung Hoa nên môn Duy Thức Học càng trở nên khó khăn và rắc rối.

 

Cuốn Duy Thức Tam Thập Tụng Lược Giải nầy được trình bầy theo lối huân tập nhằm cho những người mới nghiên cứu về Duy Thức làm quen được với những danh từ và những lý luận mới lạ của Duy Thức.

 

Khi nghiên cứu về Duy Thức, xin cứ thong thả để ý kỹ từng danh từ và những giải thích về ý nghĩa của các danh từ đó. Nếu thấy vẫn còn chưa nắm vững xin cứ tiếp tục đọc, các vấn đề đó sẽ được lập lại và từ từ sẽ được thông suốt.

 

Cuốn lược giải này được viết dựa theo các tác phẩm về Duy Thức của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa, Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, Thiền Sư Nhất Hạnh. Có nhiều đoạn đã được lấy ở tác phẩm Lăng Nghiêm Ảnh Hiện và Lăng Kính Đại Thừa của Giáo Sư Nghiêm Xuân Hồng. Cũng có nhiều phần dựa vào các băng giảng về các kinh Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm và Lăng Già Tâm Ấn của Thiền Sư Thanh Từ cùng các băng giảng về Duy Biểu Học của Thiền Sư Nhất Hạnh. Tuy nhiên không phải vì vậy mà kiến giải ở đây hoàn toàn giống những kiến giải trong các tác phẩm và băng giảng nêu trên. Sự khác biệt này không phải để bàn luận đúng và sai mà chỉ muốn được ghi lại những kiến giải về Duy Thức Học của một cá nhân trong thời điểm này. Tuy nhiên mọi sự phê bình và chỉ dẫn đều được hoan hỷ đón nhận.

Đặc biệt xin đa tạ giáo sư Nghiêm Xuân Hồng đã hoan hỷ cho phép tùy nghi trích dẫn và sao chép lại các đoạn văn trong các tác phẩm của giáo sư.

 

Mục đích của cuốn Lược Giải này là muốn làm một chiếc bè nhỏ để tạm đưa quý vị lênh đênh trên dòng sông Duy Thức. Nếu đã tắm mình trên dòng sông đó rồi thì xin đừng để ý gì đến chiếc bè nhỏ này. Cũng xin đừng mê mẩn mãi trong dòng sông đó mà quên đi sự tu trì hầu quay về được với Chân Tâm.

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Viết tại tu viện Long Beach

Long Beach, CA, USA.

Mùa thu năm 1995.

Thích Trí Châu

 

 

 

TIỂU SỬ BỒ TÁT THẾ THÂN ^

 

Bồ tát Thế Thân sanh tại Bá Lộ Sa (Purusapura) còn gọi là Phú Lâu Sa Bổ La, bây giờ là thành phố Peshawar thuộc vương quốc Kiền Đà La (Gandhara) ở Bắc Ấn vào khoảng năm 316 Tây Lịch tức 860 năm sau khi đức Phật diệt độ. Ngài là người con thứ hai của một gia đình Bà La Môn, cha là Kiều Thi Ca (Kausika), mẹ là Tỷ Lân Trì (Virinci).

 

Khi ngài mới ra đời thì anh ngài là Vô Trước (Asanga) đã là tu sĩ theo Phật Giáo Đại Thừa. Ngài có người em là Tỷ Lân Trì Tử (Virincivatsa), theo Phật Giáo Tiểu Thừa. Riêng ngài thì thuở ban đầu theo Phật Giáo Tiểu Thừa, về sau được ngài Vô Trước điểm hóa nên chuyển theo Đại Thừa.

 

Tên tiếng Phạn của ngài là Vasubandhu, dịch âm là Bà Tu Bàn Đầu, có nghĩa là vị thân thuộc của trời nên dịch theo nghĩa là Thế Thân hoặc Thiên Thân. Còn tên của anh ngài có nghĩa là không chấp chước tức không bị dính mắc vào đâu cả. Tên của em ngài thì lấy theo tên mẹ, Tỷ Lân Trì (Virinci) là tên mẹ, Tử (vatsa) là con.

 

Vô Trước tu theo Đại thừa, vì muốn giác ngộ lý rốt ráo của các kinh điển nên ngài bỏ vào rừng tu thiền định trong suốt 12 năm. Theo truyền thuyết thì ngài đã nhập định lên cõi trời Đâu Xuất và được bồ tát Di Lặc đọc cho năm bộ luận để truyền lại cho hậu thế. Năm bộ luận đó là:

1. Du Già Sư Địa Luận

2. Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận

3. Thập Địa Kinh Luận

4. Trung Biên Phân Biệt Luận

5. Kim Cang Bát Nhã Luận

 

Ban đầu Thế Thân theo học với phái Nhất Thiết Hữu Bộ thuộc Tiểu Thừa, lấy Đại Tỳ Bà Sa Luận (Vaibhasika) làm căn bản. Khi nghiên cứu luận Đại Tỳ Bà Sa, có nhiều điểm ngài còn nghi ngờ nên ngài hóa trang để đi đến Ca Thấp Di La tức Kashmir bây giờ để điều nghiên thêm về Đại Tỳ Bà Sa vì Ca Thấp Di La là nơi giảng giải luận chính thống Đại Tỳ Bà Sa.

 

Tại Ca Thấp Di La, ngài nhập chúng và theo học với ngài Ngộ Nhập được 4 năm, trong khoảng năm 342 đến 346 Tây Lịch.

 

Bị phiền não vì Thế Thân hay đưa ra những ý kiến riêng để lập luận và bác bỏ những phân tích quá giáo điều và chi li của các vị thầy, ngài Ngộ Nhập bèn nhập định và biết được Thế Thân không thuộc hệ phái của Ca Thấp Di La. Ngài liền khuyên Thế Thân nên trở về Kiền Đà La trước khi bị nguy hiểm vì chân tướng bị phát giác.

 

Thế Thân trở về Kiền Đà La, chuẩn bị thực hiện một dự án vĩ đại mà ngài có trong đầu từ lâu. Để không bị bó buộc và thực hiện được dự án của mình, Thế Thân ở tịnh xá riêng trong trung tâm của Bá Lộ Sa, tự túc sinh sống bằng cách thuyết giảng giáo lý Phật Đà cho công chúng. Cứ sau mỗi buổi thuyết giảng, ngài đúc kết những lời giảng thành những bài kệ, tất cả tổng cộng đến hơn 600 bài kệ, giải nghĩa toàn thể hệ thống Đại Tỳ Bà Sa, tạo thành bộ A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (Abhidharma-kosa), nói lên tất cả những chỗ thiếu sót và không hợp lý của Đại Tỳ Bà Sa và trình bầy kiến giải của mình. Bộ luận nầy cũng được gởi đến Ca Thấp Di La theo lời yêu cầu của những học giả ngưỡng mộ ngài ở địa phương đó.

 

Chúng Hiền (Sanghabhadra) là một luận sư về chính thống Đại Tỳ Bà Sa, đã từng cùng với Thế Thân tham học với ngài Ngộ Nhập ở Ca Thấp Di La, nghe ngài Thế Thân sau khi tham học về đã làm luận Câu Xá bài phá nhiều điểm cổ truyền của bản tông, liền viết ra hai bộ luận gọi là phá tà hiển chánh, A Tỳ Đạt Ma Bảo Luận và A Tỳ Đạt Ma Hiển Tông Luận, để phản bác lại luận cứ của ngài Thế Thân.

 

Tuy nhiên vì hai bộ nầy chấp theo cựu thuyết nên nội dung còn nhiều chỗ lủng củng không được thông suốt nên các học giả trong Hữu Bộ khi nghiên cứu giáo lý bản phái chỉ tham cứu bộ A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận của ngài Thế Thân mà thôi, còn hai bộ luận của ngài Chúng Hiền biên soạn thì bị coi là phản bội với giáo nghĩa của Hữu Bộ. Câu Xá Luận sau này được gọi là Tân Tỳ Bà Sa Luận, và ngài Thế Thân được coi là tân giáo chủ của phái Hữu Bộ. Sau khi đúc kết xong bộ Câu Xá Luận, Thế Thân thường du phương hoằng hóa. Cho tới bấy giờ ngài không những không thèm để ý đến những bộ luận Du Già của người anh mà còn phỉ báng tất cả các kinh luận Đại Thừa, cho đó chỉ là lý thuyết suông.

 

Biết được thái độ của nguời em như vậy, Vô Trước quyết đưa em mình vào con đường Đại Thừa. Ngài phái hai đệ tử mang kinh luận Đại Thừa đến tìm cách đọc cho Thế Thân nghe. Sau khi nghe hết các bộ kinh và luận Đại Thừa đó, Thế Thân nhận ra Phật Giáo Đại Thừa thật ra rất thâm sâu cả về lý thuyết lẫn thực hành, chứ không phải chỉ lý thuyết suông như ngài hằng nghĩ trước kia. Hối hận vì xưa kia đã phỉ báng Đại Thừa, ngài muốn cắt lưỡi tự tử. Các đệ tử của Vô Trước vội khuyên can và khẩn thiết yêu cầu ngài tới thăm Vô Trước.

 

Thế Thân trở về Bá Lộ Sa gặp Vô Trước và trong cuộc đàm luận với người anh về Phật Giáo Đại Thừa, ngài đã nắm được các yếu chỉ của giáo lý Đại Thừa. Vô Trước khuyên Thế Thân không nên tự tử mà nên dùng tài uyên bác của mình để quảng bá giáo lý Đại Thừa hầu chuộc lại lỗi lầm phỉ báng Đại Thừa khi xưa.

 

Cũng có thuyết cho rằng vì muốn thuyết phục em mình quay về với Đại Thừa, Vô Trước đã viết thư cho Thế Thân báo rằng mình đang đau nặng và chỉ có thể yên tâm nhắm mắt nếu Thế Thân hứa làm cho một việc, đó là đọc tất cả các kinh Đại Thừa cho mình nghe. Dĩ  nhiên là Thế Thân bằng lòng thỏa mãn lời yêu cầu của người anh. Sau khi đọc hết các bộ kinh Đại Thừa mà Vô Trước đưa cho, Thế Thân hoát nhiên ngộ nhập được ý nghĩa thâm sâu của Đại Thừa. Ngài hối hận tỏ ý muốn cắt lưỡi tự tử để tạ cái tội đã phỉ báng Đại Thừa, nhưng Vô Trước đã can ngăn và khuyên ngài hãy dùng cái lưỡi đã phỉ báng Đại Thừa khi xưa để hoằng dương chánh pháp Đại Thừa.

 

Từ đó về sau, Thế Thân chỉ chuyên tu trì, nghiên cứu, hoằng dương và trước tác các luận giải thuộc Đại Thừa mà thôi. Ngài trước tác trên 500 luận giải Đại Thừa, trong đó có các luận giải sau:

 

1. Chú giải về Trung Biên Phân Biệt Luận

2. Duy Thức Nhị Thập Tụng và chú giải

3. Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận

4. Duy Thức Tam Thập Tụng

5. Tam Tự Tánh

6. Phật Tánh Luận

 

Ngài tịch tại A Du Đà (Ayodhya) thuộc Trung Ấn năm 396 Tây Lịch tức Phật Lịch 940, thọ 80 tuổi. Cũng có thuyết cho rằng ngài tịch tại xứ Nepal thuộc Bắc Ấn.

 

 

 

DUY THỨC TAM THẬP TỤNG ^

(âm hán)

 

 

1

Do giả thuyết ngã pháp

Hữu chủng chủng tướng chuyển

Bỉ y thức sở biến

Thử năng biến duy tam

2

Vị: Dị thục, Tư lương

Cập Liễu biệt cảnh thức

Sơ A lại da thức

Dị thục, Nhất thiết chủng

3

Bất khả tri Chấp Thọ

Xứ Liễu.Thường dữ Xúc

Tác ý, Thọ, Tưởng, Tư

Tương ưng duy Xả tho

4

Thị vô phú vô ký

Xúc đẳng diệc như thị

Hằng chuyển như bộc lưu

A la hán vị xả

5

Thứ đệ nhị năng biến

Thị thức danh Mạt na

Y bỉ chuyển duyên bỉ

Tư lương vi tánh tướng

6

Tứ phiền não thường câu

Vị: ngã si, ngã kiến

Tinh ngã mạn, ngã ái

Cập dữ xúc đẳng câu

7

Hữu phú vô ký nhiếp

Tùy sở sanh sở hệ

A la hán, Diệt định

Xuất thế đạo vô hữu

8

Thứ đệ tam năng biến

Sai biệt hữu lục chủng

Liễu cảnh vi tánh tướng

Thiện, bất thiện câu phi

9

Thử tâm sở biến hành

Biệt cảnh, thiện, phiền não

Tùy phiền não, bất định

Giai tam thọ tương ưng

10

Sơ biến hành xúc đẳng

Thứ biệt cảnh vị: dục

Thắng giải, niệm, định, huệ

Sở duyên sự bất đồng

11

Thiện vị: tín, tàm, quý

Vô tham đẳng tam căn

Cần, an, bất phóng dật

Hành xả cập bất hại

12

Phiền não vị: tham, sân

Si, mạn, nghi, ác kiến

Tùy phiền não vị: phẫn

Hận, phú, não, tật, xan

13

Cuống, siễm dữ hại, kiêu

Vô tàm cập vô quý

Trạo cử dữ hôn trầm

Bất tín tinh giải đãi

14

Phóng dật cập thất niệm

Tán loạn, bất chánh tri

Bất định vị: hối, miên

Tầm, tứ, nhị các nhị

15

Y chỉ căn bản thức

Ngũ thức tùy duyên hiện

Hoặc câu hoặc bất câu

Như đào ba y thủy

16

Ý thức thường hiện khởi

Trừ sanh vô tưởng thiên

Cập vô tâm nhị định

Thùy miên dữ muộn tuyệt

17

Thị chư thức chuyển biến

Phân biệt, sở phân biệt

Do thử bỉ giai vô

Cố nhất thiết duy thức

18

Do nhất thiết chủng thức

Như thị như thị biến

Dĩ triển chuyển lực cố

Bỉ bỉ phân biệt sanh

19

Do chư nghiệp tập khí

Nhị thủ tập khí câu

Tiền dị thục ký tận

Phục sanh dư dị thục

20

Do bỉ bỉ biến kế

Biến kế chủng chủng vật

Thử biến kế sở chấp

Tự tánh vô sở hữu

21

Y tha khởi tự tánh

Phân biệt duyên sở sanh

Viên thành thật ư bỉ

Thường viễn ly tiền tánh

22

Cố thử dữ y tha

Phi dị phi bất dị

Như vô thường đẳng tánh

Phi bất kiến thử bỉ

23

Tức y thử tam tánh

Lập bỉ tam vô tánh

Cố Phật mật ý thuyết

Nhất thiết pháp vô tánh

24

Sơ tức tướng vô tánh

Thứ vô tự nhiên tánh

Hậu do viễn ly tiền

Sở chấp ngã pháp tánh

25

Thử chư pháp thắng nghĩa

Diệc tức thị Chân Như

Thường như kỳ tánh cố

Tức Duy Thức Thật Tánh

26

Nãi chí vị khởi thức

Cầu trụ duy thức tánh

Ư nhị thủ tùy miên

Do vị năng phục diệt

27

Hiện tiền lập thiểu vật

Vị thị duy thức tánh

Dĩ hữu sở đắc cố

Phi thật trụ duy thức

28

Nhược thời ư sở duyên

Trí đô vô sở đắc

Nhĩ thời trụ duy thức

Ly nhị thủ tương cố

29

Vô đắc bất tư nghì

Thị xuât thế gian trí

Xả nhị thô trọng cố

Tiện chứng đắc chuyển y

30

Thử tức vô lậu giới

Bất tư nghì thiện thường

An lạc giải thoát thân

Đại Mâu Ni danh pháp 

 

 


 

 

BA MƯƠI BÀI TỤNG DUY THỨC ^

(phiên dịch)

 

 

1

Ngã và pháp không thật

Các chủng tướng chuyển hiện

Đều là do thức biến

Thức năng biến có ba

2

Là Dị thục, Tư lương

Và thức Liễu biệt cảnh

Thứ nhất A lại da

Dị thục, Nhất thiết chủng

3

Không thể biết thọ thân

Xứ nào. Thường cùng Xúc,

Tác ý, Thọ, Tưởng, Tư

Chỉ tương ưng Xả thọ

4

Tánh vô phú vô ký

Các biến hành cũng vậy

Hằng chuyển như nước dốc

A la hán thì xả

5

Thức năng biến thứ hai

Gọi là thức Mạt na

Nương kia chuyển, duyên kia

Tư lương làm tánh tướng

 

6

Tương ưng bốn phiền não

Là ngã si, ngã kiến

Cùng ngã mạn, ngã ái

Và tâm sở xúc thẩy

7

Tánh hữu phú vô ký

Sanh theo A lại da

Chứng La hán, Diệt định

Xuất thế đạo không còn

8

Thức năng biến thứ ba

Có sáu loại khác nhau

Tánh tướng là biết cảnh

Thiện, bất thiện, vô ký.

9

Các tâm sở biến hành

Biệt cảnh, thiện, phiền não

Tùy phiền não, bất định

Đều tương ưng ba thọ

10

Các biến hành: xúc thẩy

Các biệt cảnh gồm: dục

Thắng giải, niệm, định, huệ

Cảnh sở duyên không đồng.

11

Thiện gồm: tín, hổ, thẹn

Không tham thẩy ba thứ

Chăm, yên, không phóng dật

Xả bỏ và không hại

 

12

Phiền não gồm: tham, sân

Si, mạn, nghi, ác kiến.

Tùy phiền não gồm: phẫn

Hận, phú, não, tật, xan

13

Dối, nịnh và hại, kiêu

Không hổ và không thẹn

Trạo cử với hôn trầm

Không tin cùng giải đãi

14

Phóng dật và mất niệm

Tán loạn, không chánh tri

Bất định gồm: hối, miên

Tầm, tứ, hai đều hai

15

Nương nơi thức căn bản

Năm thức hiện theo duyên

Hoặc cùng hoặc chẳng cùng

Như sóng nương nơi nước

16

Ý thức thường hiện khởi

Trừ sanh trời vô tưởng

Và hai định vô tâm

Ngủ say và chết giấc

17

Tất cả thức chuyển biến

Phân biệt, bị phân biệt

Do đây kia đều không

Nên tất cả duy thức

 

18

Do thức nhất thiết chủng

Biến như vậy, như vậy

Vì năng lực triển chuyển

Kia kia phân biệt sanh

19

Do tập khí các nghiệp

Cùng tập khí hai thủ

Nên dị thục trước hết

Lại sanh dị thục sau

20

Do kia kia biến kế

Biến kế chủng chủng vật

Biến kế sở chấp này

Tự tánh vô sở hữu

21

Tự tánh y tha khởi

Do duyên phân biệt sanh

Viên thành thật nơi đó

Xa lìa biến kế trên

22

Nên nó cùng y tha

Chẳng khác không chẳng khác

Như các tánh vô thuờng

Thấy đây mới thấy kia

23

Nương nơi ba tánh kia

Lập ba không tánh này

Nên Phật mật ý nói

Tất cả pháp không tánh

 

24

Trước là tướng không tánh

Kế không tự nhiên tánh

Sau đó lìa tánh trước

Là tánh chấp nghã pháp

25

Đây thắng nghĩa các pháp

Cũng tức là Chân như

Vì tánh thường như vậy

Tức Thật Tánh Duy Thức

26

Khi chưa khởi được thức

Cầu trụ Duy Thức Tánh

Thì hai thủ tiềm ẩn

Vẫn chưa thể diệt trừ

27

Nếu còn một chút gì

Cho là Duy Thức Tánh

Là còn có Sở Đắc

Chẳng thật trụ Duy Thức

28

Nếu khi đối sở duyên

Trí đều không sở đắc

Mới thật trụ Duy Thức

Vì đã lìa hai thủ

29

Không đắc chẳng nghĩ bàn

Là trí xuất thế gian

Xả hết hai trọng chướng

Nên chứng quả chuyển y

 

30

Đấy là cõi vô lậu

Thiện Thường chẳng nghĩ bàn

Thân giải thoát an vui

Gọi là Đại Mâu Ni

 


 

CÁC THỨC NĂNG BIẾN TRONG DUY THỨC HỌC ^

 

Duy thức học là một môn học nghiên cứu và khảo sát tất cả các tính chất của tâm thức con người và các hiện tướng của vũ trụ vạn vật. Từ đó Duy Thức Học chứng tỏ được rằng tất cả các pháp đều từ nơi Chân Tâm mà chuyển hiện ra, được gọi là Pháp Tướng. Chân Tâm là nguồn gốc của tất cả các pháp, là thể tánh chân như của các pháp, được gọi là Pháp Tánh.

 

Nguồn gốc của Duy Thức có thể tìm thấy trong các bài kinh, bài tụng hay các bài luận giải của Phật giáo nguyên thủy và đại thừa như kinh A Hàm, kinh Hoa Nghiêm, kinh Giải Thâm Mật, kinh Lăng Già Tâm Ấn, kinh Lăng Nghiêm, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận, Du Già Sư Địa Luận, Bách Pháp Minh Môn Luận, Duy Thức Nhị Thập Tụng, Duy Thức Tam Thập Tụng, Bát Thức Qui Củ Tụng, v.v...

 

Bồ tát Thế Thân đã trước tác ra bộ Bách Pháp Minh Môn Luận, theo đó thì tất cả mọi hiện tượng, nhận thức, khái niệm và tư tưởng đều không ra ngoài 100 pháp. Tất cả Pháp Tướng đều nằm trong 100 pháp đó. Ngài cũng viết 30 bài tụng gọi là Duy Thức Tam Thập Tụng để giải thích mọi khía cạnh của vũ trụ và vạn vật để sau đó chỉ ra được cái thật tánh của tất cả các pháp. Thật tánh này chính là cái Pháp Tánh hay là cái Chân Tâm đã nói ở trên. Do đó phương pháp của ngài được gọi là Tùng Tướng Nhập Tánh, nương nơi hiện tướng mà nhập được thể tánh chân như.

 

Theo Duy Thức Học thì tất cả pháp đều không thật có, chúng chỉ là biểu hiện của Tâm Thức, không có tự thể chân thật, luôn luôn sanh diệt và biến chuyển không ngừng. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật bảo ông A Nan: A Nan phải biết, diệu tánh vốn viên minh, rời các danh tướng, xưa nay không có thế giới và chúng sanh. Nhơn vọng có sanh, nhơn sanh có diệt, sanh diệt gọi là vọng, diệt vọng gọi là chơn.

 

Thật tánh của chúng sanh vốn trong sáng cùng khắp. Do cái tự tánh trong sáng đó, chúng sanh lại vọng tưởng là có tánh sáng mà đem ra chiếu soi nên chân tâm bị chuyển biến thành ra tâm thức. Tâm thức còn được gọi là tâm hay là thức. Từ nơi chân như rốt ráo thanh tịnh lại khởi ra phân biệt cái có và cái không. Cứ thế tâm vọng tưởng phân biệt cứ huân tập tới lui không ngưng nghỉ trong tâm thức tạo ra các hình ảnh, các hiện tướng mà Duy Thức gọi là chủng tử hiện hành.

 

Các chủng tử và hiện hành cứ chập chùng xoay vần, chiếu soi lẫn nhau. Các chiếu soi này, lúc là năng, lúc là sở, lúc là chủ thể, lúc là đối tượng, liên tục lập đi lập lại, huân tập, tăng thượng, sanh diệt chuyển biến không ngưng nghỉ, tạo nên vô lượng các loại chủng tử và hiện hành mới. Khi đầy đủ nhân duyên thì các chủng tử và hiện hành này chín mùi, chuyển biến thành một chúng sanh chánh báo trong một thế giới y báo. Chánh báo đó là cái thân xác ngũ uẩn của chúng ta, còn gọi là ngã; y báo là thế giới và vạn vật nơi chúng ta nương tựa và sinh sống, còn gọi là pháp. Chánh báo và y báo là cái nghiệp báo mà chúng ta nhận lãnh, là quả báo của vô lượng các hành nghiệp mà chúng ta đã tạo ra trong vô lượng kiếp quá khứ. Chánh báo hay ngã là nghiệp quả riêng của mỗ