NHỮNG THUỘC TÍNH
CỦA THỨC THỨ
TÁM
T/S Lâm Như Tạng
I/. TÍNH THIỆN
Mặc dù trong nhiều bộ luận về Duy Thức Học có nhiều
nhận xét khác nhau về tính chất của Thức Thứ Tám nhưng theo tôi thì vì thứ
nầy là Căn Bản Thức nên nó có đủ các tính chất mà các thức khác có . Do
đó những tính chất sau đây đều là thuộc tính của nó .
A/ Thiện có tính cách luân lý
Theo các nhà nghiên cứu và so sánh các tôn giáo trên
thế giới thì Phật Giáo là một tôn giáo chú trọng luân lý đạo đức vào bậc
nhất . Theo lời Phật dạy trong các Kinh là muốn đạt đến giải thoát rốt ráo
trước hết phäi thật hành những luân lý là “tránh mọi điều ác, làm các việc
thiện, giữ tâm trong sạch : đó là lời dạy của chư Phật’’ .
Như chúng ta đã khảo sát ở các phần trước, Tâm tức là
Thức, là căn bản thức là Thức Thứ Tám , khảo sát về tính thiện của Tâm
cũng là khảo sát về thuộc tính của Thức Thứ Tám .
Tiêu chuẩn thiện ở đây được đặt ra như thế nào ? Luận
Thành Thật quyển 8 , phẩm 100, có đoạn : ‘’Bất luận nghiệp nào có thể làm
cho người khác những điều tốt lành, thì gọi là thiện. Làm cho người khác
được vui thì gọi là hảo, cũng gọi là thiện, cũng gọi là phúc’’.
Theo lập trường Phật Giáo khi ta làm việc thiện cho
người khác cũng chính là lúc ta làm việc thiện cho chính mình, đem lại
hạnh phúc cho người khác cũng chính là lúc ta có hạnh phúc . Việc thiện ở
đây có nghïa lợi tha trong Phật Giáo.
Con đường tự lợi lợi tha nầy thể hiện trong pháp tắc
luân hồi nghiệp báo . Khi làm một việc gì đối với mình dù không có lợi ,
nhưng nếu nó tăng thêm hạnh phúc cho người khác thì cuối cùng chính mình
cũng được quả báo hạnh phúc, theo ý nghĩa ấy việc làm đó chính là việc
thiện ( tham khảo atthasalini p, 38, f. The expositor I, pp. 48-49).
Thành Duy Thức Luận quyển 5 (Ðại Chính 31 trang 26) có
đoạn : “có thể làm cho đời nầy, đời khác thuận lợi ích thì gọi là thiện’’
. dđó là tự lợi và lợi tha trong Phật Giáo . đó là thuộc tính thiện của
Thức Thứ Tám .
B/ Thiện có ý nghĩa hạnh phúc
Bản tính con người là luôn mưu cầu hạnh phúc , nhưng
hạnh phúc trong quan niệm của Phật Giáo là hạnh phúc vĩnh cửu không bị
thời gian chi phối đó là giải thoát , là đạt đến vô sinh, Niết Bàn , quả
vị vô thượng chánh đẵng chánh giác .
Như thế trong tính thiện có hửu-lậu-Thiện và
vô-lậu-Thiện.
Nhưng hành vi mưu cầu hạnh phúc hiện thế và vị lai đó
là hửu-lậu-Thiện .
Nhưng người thực hành lời Phật dạy không chú trọng đến
phương diện mưu cầu hạnh phúc theo nghĩa thông thường trong xã hội là tìm
cầu thoải mãn những dục lạc tầm thường theo dục vọng vật chất có nhiều
thay đổi và bản chất có nhiều chông gai cạm bẩy trên bước đường thỏa mãn
những hạnh phúc được coi là dục lạc đó .
Những người con Phật luôn luôn thực hành những hành vi
xã li mọi dục vọng ở hiến thế , tu tĩnh tìm cầu giải thoát tối cao đó là
vô lâu thiện , là hướng đến hạnh phúc vĩnh cửu Niết Bàn .
Trong luận Bà Sa quyển 51 (Ðại Chính 27, trang 263) có
đoạn : “Nhửng pháp khéo giữ gìn, có thể chiêu cảm quả báo ưa thích, tính
an ổn thì gọi là thiện. Khéo giữ gìn là tỏ Ðạo Ðế , có thể chiêu cảm quả
ưa thích là tỏ Khổ, Tập đế, tức hửu-lậu-Thiện, tính an ổn là tỏ Diệt Ðế .
Lại nữa nếu những pháp có thể chiêu cảm quả khả ái, quả
lạc thụ thì gọi là Thiện . Nếu các pháp có thể nẩy sinh ra mầm móng khả ái
, mầm móng giải thoát thì gọi là thiện ...’’
Tất cả những định nghĩa về thiện dù là hửu-lậu-Thiện
nhưng sau cùng cũng đều hướng về vô lậu Thiện giải thoát trong giáo lý
giải thoát của Ðức Phật .
C/ Tâm căn tự tính thiện
Luận về Thức Thứ Tám là nói đến động cơ phát xuất từ
nội tâm . Ðó là động cơ luận không phải chú trọng đến hành vi bên ngoài .
Khi phân tích những tác dụng nội tâm cũng chính là lúc chúng ta tìm ra Tâm
Căn Tính Thiện , thuộc tính sâu thẳm của Thức Thứ Tám .
Khi đề cập đế động cơ nội tâm tùy theo luận sư hoặc sự
lý luận của các phái mà có sự bất đồng .
Theo luận Bà Sa quyển 51 (Ðại Chính 17, trang 2630 )
thì tự tính thiện có thể là tàm, quý, hoặc là vô tham , vô sân, vô si .
Tuy có nhiều ý kiến bất đồng nhưng tâm căn là căn bản
của những hành vi đạo đức và phải tùy thuôc vào đó mà thẫm định giá trị
của những hành vi thiện khởi lên từ tâm .
Trong trường hợp lấy tàm, qúy làm tự tính thiện , theo
sự giải thích của A Tỳ đạt Ma , ‘’tàm’’ có thể nói là tâm trong đạo đức
hay là tâm tự thấy hổ thẹn với lương tri của chính mình .
Quý là tâm sợ tội ác , hay là thẹn với người (theo
luận Câu Xá quyển 3).
Theo sự giải thích như trên thì theo ngôn ngử hiện tại
có thể được coi như là lương tâm . Bản tính thiện phát xuất từ lương tâm
lương thiện .
Có thể nói được rằng đạo đức quan của A Tỳ đạt Ma lấy
lương tâm làm căn bản , làm nền tảng cho nguyên lý của đạo đức . Có nhiều
người còn gọi đây là trực quan phái . Theo A Tỳ Ðạt Ma thì từ hành vi tàm
và quý đó sẽ đưa lại kết quả là tự lợi, lợi tha , đó là hành vi Thiện.
Theo luân Ðại Tỳ Bà Sa thì có 4 loại Thiện như sau :
(1) tự tính, (2)tương ưng, (3)dẵng khởi, (4)thắng nghĩa .
“Tự tính, tương ưng, đẵng khởi là nói theo lâp trường
tâm lý luận, còn thắng- nghĩa là nói về hạnh phúc tối cao. Tự tính tức là
tự tính của tâm thiện căn. Tương ưng là tác dụng của tâm , lấy tâm làm
trung tâm để phát khởi ra hành động thiện . Ðẵng khởi là do từ tâm căn mà
phát khởi ra ý chí hành động . Thắng nghĩa là cảnh giới rốt ráo Niết
Bàn.”
Ðó là chỉ mới khái lược qua các danh từ . Nếu đi sâu
thêm nữa thì những tác dụng tâm lý ấy như thế nào ? Trường hợp nầy có rất
nhiều ý kiến khác nhau . Ta hãy nghe một vài ý kiến chủ yếu như sau : Theo
Vụ Tôn Giả thì : “Tự tính có nghĩa là tự tính thiện hoặc gọi là Tàm, Quý
hay ba thiện căn . Tương ưng tức là tự tính tương ưng với các pháp tâm và
tâm sở . Ðẵng khởi là khởi thiện tức là nó không tương ưng (bất tương ưng
hành) với những hành vi do hai nghiệp thân và khẩu phát khởi . Thắng nghĩa
là thắng nghĩa thiện , tức là Niết Bàn an ổn nên gọi là thiện’’ .
Theo Hiếp Tôn Giả thuộc Hửu Bộ thì : “ như lý tác ý
(phán đoán chính xác) là tự tính thiện , phi lý tác ý là tự tính bất
thiện, nhưng tác dụng tâm tương ứng và cùng khởi (đẵng khởi) với những
tính trên là đẵng lưu quả của chúng , vì thế mỗi tác dụng đều được coi là
thiện hoặc bất thiện (luận Bà Sa quyển 51, Ðại Chính 27, trang 263) .
Nhũng trường hợp nêu trên được xem như tương tự với
tự-do-ý-chí trong triết học tây phương . Ðức Phật đã bài xích tất cả những
thần-ý-luận, tạo-tác-luận, ngẫu-nhiên-luận . Nhưng ngài đã thừa nhận sự
hoạt động tự phát của ý chí hậu thiên, thường cho hửu ý (tác ý) là trách
nhiệm đạo đức .
Nói đến tác ý chính là nói đến tâm căn , là bản tính có
liên hệ đến dị thục quả . Tại sao ? Vì có người sinh ra và lớn lên trong
những môi trường xã hội mà việc làm từ thiện đối với họ là lẽ tự nhiên .
Ngược lại có những con người sinh ra trong môi trường không có điều kiện
thuận lợi để họ có thể làm những điều thiện mà chỉ bị nghịch cảnh đưa đẩy
họ vào con đường ác.
Như thế khiến ta phải suy luận ra rằng tâm căn thiện
phát xuất từ dị thục quả , có liên hệ đến tiền nghiệp của người đó .
Do đó mà trong A Tỳ Ðạt Ma luận thư ta thường thấy nói
đến ý-chí-luận là tự do luận thường thức . Tuy nhiên tiến xa hơn nữa tự do
ý chí đó có liên quan đến tiền nghiệp . Chính tiền nghiệp chứ không phải
thường thức luận mà có thể quyết định được .
Trường hợp nầy vai trò tàng trử nghiệp , công năng của
Thức Thứ Tám lại được hiển hiện
D/ Những tính thiện căn bản trong tâm sở
Mục đích người làm thiện là để xã bỏ ngã chấp , ngã
dục tâm được trong sáng tiến tu trên con đường tiến đến giải thoát .
Cả hai luận bộ Nam phương và Bắc phương đều cho rằng vô
tham, vô sân và vô si là 3 thiện căn.
Trong Câu Xá Luận lại nhấn mạnh đến hai yếu tố căn bản
là Tàm và Quý . Luận nầy cho rằng hai yếu tố nầy mới đích thực là căn
nguyên của tất cả các món thiện tâm .
Theo Câu Xá Luận quyển 4 thì Tàm có nghĩa là đối với
pháp đạo đức, tỏ lòng cung kính . Còn Quý là tác dụng tâm cảm thấy sợ tội
lỗi .
Những tác dụng nầy có khi được cho là lương tâm theo
giải thích của A Tỳ Ðạt Ma .
Ngoài ra tùy theo mỗi bộ luận mà con số của thiện tâm
sở có khác nhau . Ví dụ kể từ Phẩm Loại Túc Luận đến Câu Xá Luận là 10,
đến Duy Thức luận là 11, A Tỳ Ðạt Ma Pháp Yếu luận của A Nâu Lâu Ðà là 19
, nghĩa là không có số nhất định về những món thiện tâm sở nầy .
Theo Duy Thức luận có 11 món như sau : tín, tàm, quý,
vô tham, vô sân, vô si, tinh tấn , khinh an, bất phóng dật , hành xã, bất
hại .
Tín : là tin , đức tin . đối tượng là Tam Bảo, các pháp
Tứ Diệu đế, nhân quả v.v..
Niềm tin khiến cho tâm được trong sáng vắng lặng đó là
điều thiện .
Tinh-tiến và bất-phóng-dật : trong Câu Xá luận thì
tinh tiến là tác dụng hăng hái dũng cảm để thực hành các điều thiện . Bất
phóng dật là thu nhiếp tâm để tu thiện . Hai món nầy thuộc về ý chí lực .
Khinh an và Xã là lúc nào trạng thái tâm hồn cũng thanh
thãn nhẹ nhàng , trống không, rỗng rang không vướn mắc một điều gì .
Trong Câu Xá luận thì chỉ nói đến tâm khinh an , nhưng
A Nâu Lâu đà thì chia hai thành Tâm khinh an và Thân khinh an .
Xã cũng gần như trạng thái khinh an vì đó là trạng thái
nhẹ nhàng trống không, không bị buồn phiền não loạn , chính đó là những
điều thiện là nguồn gốc phát sinh ra những hành động thiện .
BÃt hại : không làm tổn hại chính mình và tha nhân .
Nó xuất phát từ thiện cảm, từ long từ bi chang chứa đến mọi loài chúng
sinh . Tại Ấn Ðộ, đó có thể coi là một tác dụng tâm lý có tính cánh độc
lập .
Khi thiện tâm phát khởi nó gồm tất cả những món thiện
tâm đó chung khởi . Ðó mới gọi là thiện tâm chân chính . Ðó là những thiện
pháp mà tất cả những tâm lý đặc thù đều lấy đó làm cơ sở. Chính vì lẽ đó
mà trong luận Bà Sa và luận Câu Xá v.v.. ghi rằng khi thiện tâm sinh khởi
có 22 món tâm sở cùng sinh khởi . Ðó là Thập-Ðại-Ðịa-pháp,
Thập-thiện-Ðịa-pháp (xin xem lại chương trước) , Tầm và Tư (tham khảo Câu
Xá luận quyển 4).
“A Tỳ Ðạt Ma chia tâm lý thiện căn bản thành mười loại
nhưng không có Ái và Từ Bi, lý do tại sao vậy ? Hai món nầy là hai thiện
tâm sở căn bản nhưng theo A Tỳ Ðạt Ma thì giữa Ái và Từ Bi có sự khu biệt
. Từ Bi có một phẩm vị đạo đức cao đẳng nhưng không phải là cơ sở bởi
thế đức mục do tu dưỡng mà có không được thêm vào Ðại-thiện-Ðịa-pháp.
Ái tuy có ý nghïa cơ sở nhưng trên tính chất ái được
chia làm hai loại : một là luyến ái có nhiễm ô, chấp trước ; còn một là
kính ái không nhiễm ô, tức lòng kính yêu đối với bậc tôn trưỡng’’ .
Theo Câu Xá luận thì luyến ái (theo nghĩa thông thường
của nhân gian) không thuộc về thiện tâm sở.
Kính ái thuộc về “Tín’’ do đó nó được để riêng mà không
nhập vào Ðại-thiện-Ðịa-pháp (tham khảo luận Câu Xá quyển 4) .
II/- TÍNH BẤT THIỆN
A/ Bất thiện là gì?
Tiếng Phạn gọi là Akusalamula (sanscrit)
Tiếng Anh gọi là : contrary to the right and harmful to
present and future life.
Tiếng Pháp : mal, mauvais
Tiếng Nhật : fusen
Chữ Nho có những từ như : ngủ nghịch, thập ác, bất
thiện luật nghi, phi luật nghi, bất pháp , bất thiện giới…
Chẵng lành, ác. Trái ngược với lý, lẽ phải, làm tổn
hại đời nầy và đời sau.
Trong sách Nho có câu rất hợp ý với kinh Phật: “tác
thiện giáng chi bá tường, tác bất thiện giáng chi bá ương (làm lành thì
trời (tức là quả báo) cho trăm sự phước lợi, làm ác thì trời bắt chịu trăm
sự tai họa).
Sự bình giá về Thiện, Ác tùy thuộc vào kinh nghiệm,
thời gian và không gian do đó mà có sự bất đồng rất rộng lớn .
Do đó biên giới giữa thiện và bất thiện rất khó phân
biệt . Thế nhưng thử tham khảo những dẫn chứng sau đây để minh định vấn đề
cho rõ hơn .
Thành Thật Luận quyển 8, phẩm Tam Nghiệp 100 nói :
“…Nếu kẻ làm hại người, kết cuộc hại đến chính mình, đời nầy dẫn đến đời
sau, đều phát xuất từ gốc bất thiện tâm.”
Trong Thành Duy Thức Luận quyển 5, (Ðại Chánh 31, trang
26) : “Có thể làm những gì thuận ích cho đời nầy nhưng không thuận ích cho
đời khác thì không gọi là thiện. Làm cho đời nầy , đời khác tổn hại thì
gọi là bất thiện. Quả báo ở ác thú, tuy đối với đời nầy có thể làm vi tổn
nhưng không vi tổn đối với đời khác cũng gọi là bất thiện .”
Hành động bất thiện gây ra hại người thậm chí có thể tự
hại mình có nhiều nguyên nhân . Ðó là những hành động xãy ra nhiều khi do
phản ứng của những chuổi dài nguyên nhân sâu xa mà chính chủ thể gây ra
hành động đó đã đánh mất sự kiểm soát hành động của chính mình. Ðôi khi vì
không thể kiểm soát nỗi những hậu quả của những hành động thiện ban đầu mà
đưa đến kêt quả bất thiện .
Trong luận Bà Sa quyển 51, khi bàn về tính bất thiện có
đưa ra nhiều thuyết như sau :
“Nếu pháp không khéo giữ gìn, có thể chiu cảm quả không
ưa thích, tính không an ổn, thì gọi là bất thiện. Nếu những Pháp chiêu cảm
quả không khả ái, quả khổ thụ thì gọi là bất thiện . Tất cả đều tỏ Khổ,
Tập đế, tức mọi ác pháp.Nếu các pháp có thể khiến sinh vào ác thú thì gọi
là bất thiện. Các pháp đọa Lưu-chuyễn-phẩm, tính nặng nề , gọi là bất
thiện .. . (Bà Sa Luận , quyển 51, Ðại Chính 27, trang 263).
Tất cả những nhận xét về tính bất thiện kể trên có mục
đích tránh những ác pháp đó để hướng đến vô lậu thiện, giải thoát , đạt
đến Niết Bàn tịch tịnh .
B/ Tính bất thiện trích trong kinh tạng Pali (theo Phạm
Công Thiện trích và dịch)
1/- Kinh Majjhima Nikàya
Có 16 đặc tính của tâm bất thiện được nêu ra như sau :
Abhijjhà visama lobha (thèm thuồng, thèm muốn,tham lam,
khao khát, thèm khác)
Vyàpàda (xấu bụng, ác tâm, ác ý, hiểm ác)
Kodha (tức giận, giận dữ)
Upanàha (thù hận, thù địch, ác cảm, hận thù, hằn học)
Makkha (thịnh nộ, cuồng bạo, mê cuồng nổi xung giận
điên)
Palàsa (hiểm độc, ác tâm, thủ đoạn, xảo trá)
Issà (ghen tuông, ghen tị, ghen hét, đố kỵ, ngờ vực)
Macchariya (hám lợi, tham, hà tiện)
Màyà (dối trá, lừa đảo, lừa gạt, lừa bịp, lọc lừa, lầm
lẫn)
Sàtheyya (phản bội, phụ bạc, bội bạc, lừa lọc, dối trá)
Thambha (ngoan cố, bướng bỉnh, cứng đầu, khó bảo, dai
dẵng, khó chữa)
Sàrambha ( bốc đồng, hăng tiết)
Màna (mạn, tự cao, tự phụ, tự hào, kiêu hãnh, hãnh
diện)
Atimàna (kiêu ngạo, tự cao tự đại, tự cho là cái rốn
của vũ trụ)
Mada (say sưa, dâm dục quá độ)
Pamàda (lười biếng, biếng nhác)
2/- Kinh Samyutta Nikàya
Trong kinh Samyutta Nikàya có năm món bất thiện , loạn
tâm bẩn dơ , ô uế (cittassa, upakkilesà), năm thứ chướng ngại bất thiện
(panca-nivaranà) như sau :
Kàmacchanda (kích thích, kích động dục tính)
Vyàpàda (ác cảm, ác tâm, ác ý)
Thìnamiddha (uể oải, lười biềng, mê muội)
Uddhacca-kukkuccca (náo động, bối rối, xôn xao, lo
lắng, lo âu, phiền muộn)
Vicikicchà (nghi ngờ, ngờ vực, nghi ngại, hồ nghi, lúng
túng, rắc rối, phức tạp, lộn xộn)
Những món loạn tâm bất thiện (akusala-mùla) kể trên đều
bắt nguồn từ ba gốc rễ loạn tâm bất thiện như sau :
Lobha (tham lam, thèm khát)
Dosa (ác ý, ác tâm, sân hận)
Moha (hỗn loạn, ngu si, mê muội, lộn xộn, ngu xuẩn)
3/- Kinh Dhammapada
Cũng theo Phạm Công Thiện trích và dịch đoạn kinh mà
ông gọi là hay nhất , phong phú nhất và thơ mộng nhất của kinh Dhammapada
nhu sau :
Dùrangamam ekacaram
Asarìram guhàsayam
Ye cittam sannamessanti
Mokkhanti màrabandhanà
(Cái tâm đi rong chơi thật xa, lang thang cô độc, không
hình hài, nằm ẩn dụ trong hang sâu.
Kẻ nào điều phục tâm ấy thì khỏi bị ma trói buộc) .
Nếu không điều phục được tâm ấy thì bị ma trói buộc ,
theo dục vọng mà tạo ra vô số điều bất thiện như những tính chất xấu ác
bất thiện kể trên .
C/ Tâm căn tự tính bất thiện
Tại sao lại phải đề cập đến tâm căn ? Vì Phật Giáo chủ
trương động cơ luận trong tâm thức thay vì chú trọng đến hành vi bên ngoài
.
Tính bất thiện dĩ nhiên là phản nghĩa của tính thiện .
Do đó nếu vô tham, vô sân, vô si là thiện căn thì ngược lại tham, sân, si
là bất thiện căn . Lại nữa nếu vô tàm, vô quý là tự tính thiện thì tàm,
quý là căn nguyên của bất thiện . Tất cả những món bất thiện đều bắt
nguồn từ Thức Căn Bản sâu thẳm bên trong nên được gọi là tâm căn .
Do đó nếu số tâm sở Ðại-thiện-địa-pháp là mười thì
Ðại-bất-thiện-địa-pháp đương nhiên cũng là mười ; mà nếu
đại-thiện-địa-pháp là 11 thì bất thiện địa pháp cũng phải là 11. Ngoài
thiện và bất thiện ra, Phật giáo còn nói đến những tâm sở được mệnh danh
là phiền não. Nhưng phần lớn là bất thiện, song, đối với ý nghĩa luân lý
tất nhiên cũng có những phiền não khó có thể bảo được là tác dụng tâm bất
thiện, do đó, sự giới hạn giữa bất thiện và phiền não tự nhiên cũng khó mà
thuyết minh được.
Trong Giới-thân-túc luận của Thế-Hữu, tuy có nói đến
đại-địa-pháp, đại-phiền-não-địa-pháp, tiểu-phiền-não-địa-pháp, nhưng đã
phân loại thiện, ác.
Ðến Phẩm-loại-túc luận thì tuy có thêm
Thập-đại-thiện-địa-pháp, nhưng lại không có bất-thiện-địa-pháp đến
Ðại-tỳ-bà-sa-luận mới thành lập bất-thiện-địa-pháp và lấy năm tâm-sở vô
tàm, vô quý, vô minh, hôn trầm và trạo cử làm bất-thiện-địa-pháp. Ðến Câu
Xá luận thì vô minh, hôn trầm, trạo cử được nhiếp vào
đại-phiền-não-địa-pháp, như vậy, bất thiện-địa –pháp-chỉ còn lại hai là
vô tàm, vô quý mà thôi.
Nhưng, đến Duy thức luận thì vô tàm, vô quý lại được
thu vào tùy-phiền-não, do đó, bất-thiện-địa-pháp độc lập cuối cùng đã mất
hẳn. Trường hợp đem đối chiếu với Luận bộ Nam Phương thì trong
A-tỳ-đạt-ma-pháp-yếu-luận, tuy có liệt kê thập-tứ-đại-bất-thiện-địa-pháp
nhưng trong đó không có phiền-não-địa-pháp, bởi thế, bất thiện chẳng qua
chỉ là phiền não gọi khác đi mà thôi.
Trong pháp tướng A-tỳ-đạt-ma, địa vị của bất-thiện
pháp đã trở nên rất lờ mờ.
Như thế bất thiện là mặt đối khán của thiện , và cũng
còn được gọi bằng danh từ khác nữa là “phiền não” .
D/ Phiền não trong ý nghĩa tâm căn bất thiện
“Phiền não” là gì, và nó được bắt nguồn từ đâu ?
Nếu xét theo nghĩa rộng thì “phiền não” đồng nhĩa với
tội lỗi, nếu đứng trên quan điểm giải thoát của Phật Giáo thì phiền não
là một cản trở lớn trong tiến trình tu chứng giải thoát .
Phiền não có gốc rễ sâu xa từ Vô Minh mà ra . Phiền não
là toàn bộ tác dụng tâm lý lấy ngã chấp, ngã dục làm cơ sở , lấy việc thỏa
mãn ngã chấp, ngã dục làm mục đích một cách có ý thức hay vô ý thức mà
thành hình . Phiền não làm nguyên động lực chính trói buộc đưa con người
vào vòng sinh tử luân hồi . Do đó nếu không đoạn diệt phiền não thì không
thể thoát khỏi luân hồi sinh tử được .
Luận Câu Xá quyển 19, phẩm Tùy Miên (phiền não) viết :
“Tại sao Tùy Miên có thể có gốc? Vì khi các phiền não sinh khởi có thể
khiến cho mười điều bất thiện sinh khởi :
(1) kiên căn bản(do phiền não kiên cố mà có), (2)lập
tương tục, (3) trị tự điền (những điều làm cho ý, thân khởi lên não loạn)
, (4) dẫn đẵng lưu, (5) Phát nghiệp hửu, (6) nhiếp tự cụ (làm tư lương
cho chính phiền não), (7) mê sở duyên, (8) đạo thức lưu, (9) việt thiện
phẩm, ( 10) quảng phược nghĩa . Những điều đó làm cho không thể vượt ra
ngoài tự giới được” .
Ngoài ra trong nhiều kinh luận khi nói đến phiền não ta
thường gặp những từ khác cũng có nghĩa là phiền não như : tùy miên,
triền, cái, kết …
Thế nhưng thử xem phiền não có bao nhiêu thứ và sự phân
loại nó như thế nào ? Ðó là việc làm rất phức tạp và rất thay đổi tùy
từng bộ phái …
Thế nhưng theo các luận thư cho ta biết rằng phương
cách phân loại của A-tỳ-đạt-ma thuộc thời kỳ đầu rất rỏ ràng .
Trong Xá Lợi Phất A Tỳ Ðàm luận, phẩm Phiền Não (Ðại
Chánh, 28, trang 644) ta đọc được :
“Trước hết là một pháp, tức mỗi phiền não độc lập như :
cậy mình (khoe khoang), nịnh hót, tà kinh, v.v…đại loại có trên trăm thứ.
Kế tiếp là hai pháp, tức là phiền não cùng một loại đi
song đôi với nhau như : thất-niệm và bất-hánh-tri , vô-minh và hửu-ái,
tương đối kể đến 10 loại. Ba pháp , như tam tập (trong, ngoài, cả trong
ngoài), tam bất thiện căn, tam triền (dục, huệ, si) , tam ái (dục , hửu,
vô hửu), kể ra đến số mười.v.v…(tham khảo Xá Lợi Phất A Tỳ Ðàm luận quyển
18-20).
Ðó là cách phân loại phiền não rất ư là phức tạp !
Nhưng ta thử xét xem trong các loại phiền não ấy những loại nào là căn
bản?
Theo Phẩm Loại Túc Luận , Bà Sa luận , Tạp Tâm luận
v.v…thì căn bản là 10 loại sau đây : bất tín, giải đãi, thất niệm, tâm
loạn, vô minh, bất chánh tri, phi lý tác ý, tà thắng giải, trạo cử, phóng
dật (Phẩm Loại Túc Luận quyển 2, Ðại Chánh 26, trang 698).
Ðến Câu Xá Luận thì bỏ bớt đi 4 loại là : tà thắng
giải, phi lý tác ý, bất chánh tri, và thất niệm, chỉ còn lại 6 . Ðược
giải thích rằng vì 4 loại nầy là tác dụng ngoài tâm sở trong Thập Ðại Ðịa
Pháp.
Theo Thành Duy Thức Luận thì thâu nhiếp vào Tiểu Phiền
Não: tham, sân , si, mạn, nghi, ác kiến làm căn bản .
Căn bản phiền não : tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến
Tùy Phiền Não , kể từ Phẩm Loại Túc Luận (Ptrakarama)
của Thế Hửu đến nay, thông thường tiểu-phiền-não được kể 10 loại là : phẫn
(giận), phú (che dấu), xan (bỏn xẻn), tật (ghen ghét), não, hại, hận,
xiểm (nịnh hót), cuống (dối trá), kiêu (kiêu ngạo) .Cuối cùng đến
tùy-phiền-não của Duy Thức (quyển 6, Ðại Chánh 31, trang 33) là 20 loại
tất cả . Như trên đã kể đó là tiểu-tùy-phiền-não có 10 món. Kế đến là
trung-tùy có 2 : Vô tàm, vô quí. Ðại Tùy có 8 món : trạo cử, hôn trầm,
bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri.
Những phân loại nhỏ hơn nữa : có thể phân loại phiền
não nhỏ hơn nữa như sau : Tam lậu: dục lậu, hửu lậu, vô minh lậu. Tứ bộc
lưu : dục bộc lưu, hửu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu . Tứ thủ :
dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã ngữ thủ (sự chấp trước ở Dục Giới,
Sắc Giới, (tham khảo Câu Xá quyển 9). Cửu Kết : ái kết, huệ kết, mạn kết,
vô minh kết, kiến kết, thủ kết, nghi kết, tật kết, xan kết. Ngủ hạ phận
kết : hửu thân kiến, giới cấm thủ, nghi, dục tham, sân huệ . Ngủ thượng
phận kết: sắc tham, vô sắc tham, trạo cử, mạn, vô minh (tham khảo trong
Pháp Uẩn Túc Luận, quyển 9, Tạp Sự phẩm; Câu Xá quyển 21, Tùy Miên Phẩm;
Xá Lợi Phất A Tỳ Ðàm luận, quyển 18-20, Phiền Não Phẩm; Tỳ Bà Lăng Già,
Tiểu Sự phẩm v.v…) .
Tóm lại có thể gôm tất cả các món phiền não nêu trên
thành hai loại , đó là :
Kiến hoặc : tức là trí mê chấp,phán đoán sự vật một
cách sai lầm.
Tư hoặc hay Tu hoặc: đó là tình mê chấp nghĩa là tuy
đã hiểu biết về mặt trí thức nhưng lại không thể ức chế về mặc tình ý
.
III/- TÍNH KHÔNG THIỆN KHÔNG ÁC
Tính không thiện không ác còn được gọi là Vô Ký .
Avyàkrta hoặc là Avyàkhyàta trong tiếng Phạn .
Unrecordable (either as good or bad); neutral, neither
good nor bad; things that are innocent or cannot be classifield under
moral categories .
Tiếng Nhật gọi là Muki .
Vô ký là gì? Ðó là những hành vi lấy tự tính, tương
ưng và đẵng khởi làm đầu mà quan hệ ở khoảng giữa thắng nghĩa thiện và bất
thiện .Theo Tỳ Bà Sa luận quyển 51, Ðại Chánh 27, trang 363, thì thiện
không ghi lại, mà ác cũng không ghi lại, cho nên kết quả cũng không có
thiện ác, do đó gọi là Vô Ký .
Tuy là ở trạng thái trung gian nhưng nếu khảo sát kỹ ta
cũng sẽ thấy trong tác dụng tâm đó có sự khu biệt quan hệ giữa phiền não
và hoàn toàn không phiền não . Có thể các luận thư Trước Tỳ Bà Sa luận
chưa có phân biệt nầy, nhưng về sau đã có phân biệt rõ rệt hơn . Do đó Vô
Ký được phân làm hai là Hửu Phú Vô Ký và Vô Phú Vô Ký .
Hửu Phú Vô Ký (defiled-non-defined moral species)
Hửu Phú tự nó không phải thiện, không phải ác nhưng
thuộc về “phiền não sở vi”. Ðại Tỳ Bà Sa luận đã đưa ra 3 loại : vô
minh, hôn tầm và trạo cử . Ba loại nầy tự nó tuy không phải là ác nhưng
nó làm chướng ngại cho việc tu tập , che lấp tâm giác ngộ nên nó được gọi
là Hửu Phú Vô Ký . Ðứng trên phương diện phiền não luận mà xét thì 3 loại
đó đều được coi là trọng yếu .
Vô Phú Vô Ký (non-defiled-non-defined moral species)
Vô Phú Vô Ký hoàn toàn là trung gian trạng thái, tuy
không phải là thiện nhưng lại chỉ cái tâm thái không phải bất thiện hay
phiền não.
Mười tâm sở : xúc, tác-ý, thọ, tưỡng, tư, dục,
thắng-giải, niệm, định, huệ của Ðại Tỳ Bà Sa Luận thuộc loại nầy. Nhưng
đứng về mặt hoạt động tâm lý cụ thể, luận nầy lại chia thành bốn thứ mà nó
đã trở thành cách phân chia mẫu mực kể từ Bà Sa Luận trở về sau .
Ðó là : (1) dị thục, (2) uy nghi lộ, (3) công xảo
xứ, (4) thông quả.
Dị Thục : cái tâm do nghiệp đời trước mà cảm được, tự
thể của nó không thiện, không ác do đó gọi là Vô Ký tâm.
Uy nghi lộ: tâm uy nghi lộ là tâm thái sinh khởi khi đi
đứng nằm ngồi đúng theo uy nghi, tâm nầy cũng không nhứt định thiện hay
ác nên gọi là Vô Ký tâm.
Công xảo xứ: khi xem các tác phẩm nghệ thuật như điêu
khắc , hội họa, hoặc nghe âm nhạc, ngâm thơ, ca hát v.v…mà không có tà
niệm nên gọi là Vô Ký Tâm .
Thông quả : nghĩa là tâm sinh khởi khi nhờ vào các
thần thông như thiên nhãn, thiên nhĩ v.v.. mà sinh khởi biến hóa Trường
hợp nầy cũng không phải thiện cũng không phải ác nên gọi là Vô Ký Tâm.
(tham khảo Câu Xá Luận quyển hai) .
Tóm lại Vô Ký đặc biệt là Vô Phú Vô Ký là trạng thái
hoạt động tinh thần, chủ yếu là về tâm thái đẹp . Những trạng thái tâm lý
không chính , không tà, không thiện, không ác .
Nếu đứng về phương diện đạo đức thì những trạng thái
tâm lý nầy không cần được tưởng lệ. Nhưng về phương diện phá chấp, tu
chứng thì cần phải được lưu ý buông xã hết để đạt đến mục đích giải thoát
cuối cùng của hành giả .
---o0o---
Cập nhật: 01-05-2005