o0o
A/- Ba Tự Tánh giải thích theo Duy
Thức Tam Thập Tụng
Mục đích của Duy Thức Học là tìm hiểu thực
thể của vạn sự vạn vật. Tìm hiểu thể tính của các pháp ấy là
gì? Tự tính của các sự vật ấy là gì? Theo Duy Thức Học mà Alya
là Thức Căn Bản thì mỗi sự vật đều có ba loại tự tính. Ðó là
Biến Kế Sở Chấp Tự Tánh, Y Tha Khởi Tự Tánh, Viên Thành Thật Tự
Tánh.
1/ Biến Kế sở chấp tự tánh:
Trong Duy Thức Tam Thập Tụng có 4 câu về tự
tánh nầy như sau :
|
Do bỉ bỉ biến kế. |
Biến kế chủng chủng vật. |
|
Thử biến kế sở chấp |
/Tự tánh
vô sở hửu. |
|
(Yena yena vikalpena |
Yad yad vastu vikalpyate |
|
Parikalpita eva asau |
Svabhãvo na sa vidyate) |
Dịch:
|
Do tánh biến kế đó |
Chấp trước tất cả vật. |
|
Biến kế sở chấp đó |
Tự tánh không thật có |
(Như Tạng dịch từ Hán văn ra tiếng Việt)
Biến nghĩa là phổ biến. Kế nghĩa là xét
nghiệm, so đo. Tự tánh nầy không phụ thuộc vào bản chất các
pháp. Nó không phải là tự tánh của các pháp. Tự tánh ấy chỉ do
sự so đo xét nghiệm của Ý Thức mà có. Một là cho rằng mỗi pháp
đều có đặc tính riệng của nó. Hai là cho rằng tất cả các đặc
tính đều có bản thể. Ví dụ nghe đồn nhà bên cạnh có con quỉ đêm
đêm hiện về khuấy phá. Khi nhe như vậy người nầy tưởng tượng ra
hình thù con quỉ mặt xanh nanh vàng. Người khác tưởng tượng ra
con quỉ mặt đỏ nanh trắng v.v… Thực ra những hình ảnh đó là do Ý
Thức tưởng tượng ra mà có chứ thực thể không có thật. Nên bài
tụng nói tánh biến kế nầy không có tự tánh là nghĩa như vậy.
Ta có thể suy luận ra 4 loại biến kế như sau:
Biến mà không kế, kế mà không biến, có biến và có kế, không
biến cũng không kế.
(1)- Biến mà không kế:
Nghĩa là khi hành giả tu tập đã chuyễn Thức
thành Trí rồi thì thấu rõ vạn pháp không ngăn ngại. Sự thông
suốt là do Trí Giác mà biết chứ không do kế đạt phân biệt mà
biết nên gọi là tri giác phổ biến mà không do kế đạt phân biệt.
Do đó nên gọi là biến mà không kế.
(2)- Kế mà không biến:
Nghĩa là hành tướng của Mạt Na Thức. Thức Mạt
Na chấp ngã là cái ngã kiến hư vọng. Ðối tượng của nó chỉ là
phần tri kiến của Thức Alya. Còn những đối tượng nhận thức khác
như về vũ trụ, nhân sinh , sự lý đều thoát ra ngoài sự so đo suy
nghiệm của nó nên gọi là Mạt Na có kế mà không biến.
(3)- Có biến và có kế :
Đó là chỉ cho hành tướng của Ý Thức. Ðối
tượng của Ý Thức là 3 cảnh , tất cả những sắc trần, thinh,
hương, vị, mừng giận… đều là đối tượng của thức nầy nên gọi là
Biến. Ý thức luôn luôn suy nghiệm so đo nên gọi là Kế. Vì kiến
chấp của Ý Thức là do những tác động từ bên ngoài mà có nên gọi
là Y Tha Khởi. Nhưng vì các pháp bên ngoài không có thật thể
nghĩa là không có tự tánh nên Ý Thức dựa vào đó mà phát sinh
nhận thức nên tự tánh của nó cũng không thật có.
Không Biến, không Kế: Ðó là chỉ cho các Thức
Nhãn, Nhĩ , Tỷ , Thiệt, Thân. Các Thức nầy chỉ phân biệt dối
tượng riêng biệt của chúng nên không phải là Biến. Và những phân
biệt theo trực giác chứ không phải theo lối so đo suy niệm nên
không gọi là Kế.
Nói chung tại sao gọi là Biến Kế Sở Chấp Tự
Tánh? Vì sự nhận thức so đo của Ý Thức chấp trước tất cả sự vật
theo cách nhìn thiển kiến của Ý Thức về sự vật dễ đưa đến tình
trạng thiên lệch kiến chấp sai lầm , phát khởi từ những nguyên
nhân sai lầm trùng trùng duyên khởi từ bên ngoài đã thành thói
quen mà mọi người thường cho đó là tự tánh là thể tính. Nhưng
thực ra những chuổi dài nhân duyên đó vốn không có thực thể thì
làm gì có tự tính được. Do đó mà trường họp nầy không có tự tính
thật.
2/- Y Tha Khởi Tự Tánh
Trong Duy Thức Tam Thập Tụng có 2 câu tụng
nói về tự tánh như sau :
Y Tha Khởi tự tánh. Phân
biệt duyên sở sanh.
(Paratantrasvabhãvastu. Vikalpah pratyaya
udbhavah)
Dịch:
Tự tánh Y Tha Khởi. Từ duyên phân
biệt sinh .
( Như Tạng Việt dịch)
“Y” nghĩa là dựa vào. “Tha” là các vật khác.
Y Tha Khởi là dựa vào những vật khác mà sinh ra. Nương vào những
hiện tượng khác mà phát sinh ra hiện tượng nầy. Ðó là tự tánh
của các Pháp. Nói cho cùng thì vật nào cũng phải từ cái khác
liên hệ sinh khởi. Không vật nào hay hiện tượng nào tự nó có thể
sinh khởi mà không nhờ đến các duyên khác. Một vật được sinh ra
là do kết hợp nhiều nguyên nhân và nhiều trợ duyên mới thành. Ðó
là nguyên lý nhân duyên sinh của các pháp. Ðó là tính Y Tha Khởi
của các Pháp.
Nhưng Tự Tính Y Tha Khở nầy cũng không thật
có vì mọi vật nếu hội đủ nhân duyên thì đuợc sinh ra nếu nhân
duyên tan rã thì vật ấy không còn tồn tại. Do đó mà Tự Tính nầy
không thật có. Do đó tuy gọi là Tự Tính nhưng vì nó không thật
có nên không phải là tự tính nữa.
3/- Viên Thành Thật Tự Tánh
Cũng trong Duy Thức Tam Thập Tụng có những
câu như sau:
Viên Thành Thật ư bỉ. Thường
viễn ly tiền tánh.
Cố thử dữ Y Tha. Phi
di phi bất dị.
Như vô thường đẵng tánh. Phi bất kiến thử bỉ.
(Nispannastsya pũrvena. Sadã rahitatã tu yã.
Ata eva sa na eva anyo. Na ananyah
paratantratah.
Anityatã ãdivad vãcyo. Na adrste ‘smin sa
drsyate)
Dịch :
Viên Thành Thật và Y Tha (ư bỉ). Thường xa
lìa tánh trước (biến kế sở chấp).
Vì Tánh đó ( Viên Thành Thật) với Y Tha.
Cũng giống và cũng khác.
Như vô thường chủng tánh . Chẵng thấy đây
(viên thành thật) với kia (y tha khởi).
(Như Tạng Việt dịch và ghi chú)
Tự tánh viên mãn chân thật nầy mới là chân
như. Vì chân như là thể tính cọng thông của tất cả sự lý chân
thực.
Tánh Viên Thành Thật nầy thường xa rời với
tánh Biến Kế Sở Chấp đã nói trước. Nếu nhận rỏ được Biến kế là
hư vọng sẽ hiểu được tánh Y Tha. Khi hiểu được Y Tha thì mới
thấu đạt tánh Viên Thành Thật. Nếu rời Y Tha thì sẽ không nhận
chân được tánh Viên Thành Thật. Do đó tụng nói Y Tha và Viên
Thành Thật “cũng khác, củng chẵng khác” là như vậy. Y Tha được
ví như SÓNG còn Viên Thành Thật ví như nước. Vì có gío nên nước
mới nổi sóng, thế nên sóng với nước không phải “hai” mà cũng
không phải “một”.
Bát Nhã Tông chủ trương thể tính của các
Pháp là Không. Chữ không phải được hiểu là tất cả các Pháp đều
do Alya biến hiện trong ý nghĩa là vạn pháp Duy Thức do đó thể
tính của các pháp là Không. Không là “không phải là biến kế sở
chấp”.
Ðứng về Pháp Tướng Tông thì vạn sự vạn vật sở
dĩ có là do Y Tha Khởi, cái có tương đối giả huyễn cái bản chất
của các hiện tượng giả huyển ắt là không có thực thể. Ðứng về
bản chất pháp tánh mà nói thì các pháp vẫn có bản tính chân thực
của nó. Do đó tất cả những biến tướng của Thức đều là pháp tướng
của Y Tha Khởi. Nhận chân được điều đó thì tánh Viên Thành Thật
của các Pháp sẽ được hiểu là tự tánh chân thật của các Pháp
vậy.
B/- Ba Tự Tánh giải thích theo Thành
Duy Thức Luận
1/ Tự Tánh của Năng Biến Kế
Có ý kiến cho rằng Tám Thức và các Tâm Sở hửu
lậu đều là Năng Biến Kế. Vì tự tánh nó là hư vọng phân biệt ,
hiện ra tương tợ như kiến phần Năng Thủ và Tướng Phần Sở Thủ. A
Lại Da Thức lấy chủng tử vọng chấp về tự tánh biến kế sở chấp
làm sở duyên.
Lại có ý kiến cho rằng Tâm Phẩm thức thứ sáu
, thức thứ bảy chấp ngã và chấp pháp đó mới là năng biến kế.
Nhưng trong Kinh chỉ nói Ý Thức là năng biến kế. Vì Ý và Thức
chung lại gọi là Ý Thức; kế đạt và phân biệt là Năng Biến Kế. Vì
chấp Ngã và Pháp là Tuệ Tâm Sở ; do chấp Ngã và Pháp tất cùng
khởi với vô minh Tâm Sở nên không nơi nào nói vô minh có thiện
tánh cả. Vì chấp Có và chấp Không không thể cùng khởi lên được.
Tâm hửu lậu không chứng thật lý được nên tất cả đều gọi là hư
vọng phân biệt , không thể gọi là năng biến kế.
Khế Kinh nói : “Trí Hậu Đắc của Phật hiện ra
các ảnh tượng thân, và tợ như tấm gương”, nếu không có tác dụng
năng duyên , sở duyên thì không phải là trí. Tuy trong Kinh nói
: “Tạng thức duyên chủng tử của Biến Kế” , nhưng không nói “Duy
chỉ duyên Biến Kế” do đó không phải là lời biện giải hợp lý.
Vì thế nên chỉ có tâm phẩm thứ sáu và thứ bảy
là có tánh Năng Biến Kế .
2/- Tự Tánh của Sở Biến Kế
Luận Nhiếp Đại Thừa nói : “Đó là Y Tha Khởi ,
nó là sở duyên duyên của tâm Biến Kế”.
Có người hỏi Tánh Viên Thành Thật tại sao
không phải là cảnh sở duyên của Biến kế?
Vì Tánh Viên Thành Thật là chơn tánh nên
không thể là cảnh sở duyên của vọng chấp được. Biến kế sở chấp
ngã pháp tuy là cảnh của tâm năng biến kế nhưng không phải là sở
duyên duyên, vì ngã pháp không thật , nó chỉ làm sở duyên, giống
như mặt trăng thứ hai, do đó Viên Thành Thật Tánh không phải là
Sở biến kế.
3/ Tướng của Biến Kế Sở Chấp và sự khác
biệt với Y Tha Khởi
“Nhiều luận sư có ý kiến rằng Tâm và Tâm Sở
hửu lậu trong ba cõi do sự huân tập hư vọng sanh ra tợ như hai
là Kiến Phần và Tướng Phần tức là Năng Thủ và Sở Thủ. Tướng hai
thứ đó gọi là Biến Kế Sở Chấp. Thức thể Tự Chứng Phần làm chổ
nương cho kiến tướng , thức thể thật nương duyên sanh, tánh nó
chẳng phải không, nên gọi là Y Tha Khởi, vì do duyên hư vọng
phân biệt mà sanh ra.
“Vì trong Kinh nói : “Hư vọng phân biệt là Y
Tha Khởi” ; còn hai thủ thì gọi là Biến Kế sở chấp.
Lại có những ý kiến khác cho rằng hết thảy
Tâm và Tâm sở do sức huân tập mà biến ra hai phần là Kiến và
Tướng. Hai phần nầy là do duyên sanh, cũng là Y Tha Khởi. Biến
Kế y vào đó vọng chấp cho rằng nhất định có thật Ngã và Pháp
v.v.. đó mới gọi là Biến Kế Sở Chấp.
“Vì trong các Kinh nói rằng chỉ có Duy Lượng
(thức) , duy hai (kiến , tướng), duy các thứ đó đều được gọi là
Y Tha Khởi. Trong luận nói bốn pháp là tướng, kiến, tự chứng và
chứng tự chứng đều là Y Tha Khởi. Nếu Kiến và Tướng mà không
phải là Y Tha Khởi thì hai phần Kiến và Tướng của Hậu Đắc Trí vô
lậu được gọi là Biến Kế sở chấp. Nếu chấp nhận đó là Biến Kế thì
Thánh Trí không phải duyên hai phần kiến và tướng sanh, hoặc
Thánh Trí duyên hai phần đó không phải thuộc Đạo đế. Nếu không
chấp nhận Kiến và Tướng của Hậu Đắc Trí là Biến Kế Sở Chấp thì
hai phần kiến tướng của tâm hửu lậu cũng vậy.
“Lại nếu nói hai phần Kiến và Tướng là Biến
Kế Sở Chấp thì có thể nói như sừng thỏ, không phải là Sở Duyên
Duyên. Vì thể của Biến Kế Sở Chấp không thật có.
Hai phần Kiến và Tướng đã không thật thì
không huân thành chủng tử , như vậy thức sau sinh ra không có
hai phần.
Các Tập khí là tướng phần của Thức Thứ Tám ,
vả lại là pháp không thật có mà có thể làm nhân duyên sanh ra
Tám Thức hiện hành sao?
“Lại nếu hai phần Kiến và Tướng trong nội
thức do duyên sanh mà không phải là Y Tha Khởi thì Thức Thể (tự
chứng phần) làm chổ nương cho Kiến Phần và Tướng Phần đó cũng
thế , vì nguyên nhân hai bên không khác nhau.
Vì lẽ đó mà hết thảy tự thể Tâm, Tâm sở và
Tướng, Kiến phần do duyên sanh , dù hửu lậu, vô lậu đều là Y Tha
Khởi, tức là y nơi duyên khác mà được sanh khởi.
“Viên Thành Thật nầy với Y Tha Khởi kia chẳng
phải khác chẳng phải không khác. Khác thì hoá ra chơn như không
phải là thật tánh của Y Tha còn không khác thì thật tánh chơn
như nầy hóa ra là vô thường như Y Tha. Y Tha kia , Chơn Như nầy
nếu đều là cảnh tịnh cả hoặc là phi tịnh cả thời trí căn bản và
trí hậu đắc không có công dụng khác nhau (chơn như thì thuần
tịnh còn y tha thì thông cả tịnh và phi tịnh , nên hai trí duyên
hai cảnh có khác nhau. Căn Bản Trí duyên chơn như, hậu đắc trí
duyên Y Tha ).”
4/ Tánh của Viên Thành Thật và Tánh của
Y Tha Khởi chẳng phải một , chẳng phải khác
Trong các pháp vô thường, vô ngã, tánh vô
thường với các pháp nếu là khác , thì các pháp kia chẳng phải vô
thường. Nếu là không khác thì vô thường nầy không phải là cọng
tướng của các pháp kia. Từ đó suy ra Viên Thành Thật nầy với Y
Tha Khởi kia chẳng phải một, chẳng phải khác.
Trong luận có bài tụng như sau :
Phi chẳng thấy chơn
như
Mà rỏ được các hành
Đều như các sự
huyễn
Tuy có mà chẳng
thật
Ý bài tụng nói rằng ba thứ tự tánh đều không
lìa Tâm và Tâm sở Pháp. Tâm, Tâm Sở Pháp và tất cả các pháp được
biến hiện đều do duyên sanh. Giống như những sự huyễn hóa ,
chẵng phải có thật mà trông như có thật. Tất cả những sự vật ấy
đều gọi là Y Tha Khởi tánh. Người không thấu đáo sự việc như
thế đối với các thứ Y Tha Khởi kia vọng chấp ngã và pháp, chấp
có, không, một, khác, câu và bất câu, như hoa đóm giữa hư không
, Tánh lẫn Tướng đều không. Tất cả những thứ chấp đó đều gọi là
Biến Kế Sở Chấp.
Ngã và Pháp vọng chấp dựa trên Y Tha Khởi đó
đều là không thật có, Chơn Tánh của Thức được hiển lộ từ cái
không đó gọi là Viên Thành Thật. Do đó ba tánh nầy đều không
lìa Tâm.
Còn về ba món Hư Không Vô Vi , Trạch Diệt Vô
Vi , Phi Trạch Diệt Vô Vi , Nhiếp về tánh nào?
Cả ba tánh đều dung nhiếp. Tâm và tâm sở biến
ra tợ như tướng hư không v.v… Đó là tùy tâm sanh nên thuộc về
tánh Y Tha Khởi. Người không hiểu đối với tướng đó vọng chấp cho
là thật có , đó chính là Biến Kế Sở Chấp. Nếu từ chơn như giả
đặt ra có Hư Không, Trạch Diệt, Phi Trạch Diệt, Vô Vi thì thuộc
về tánh Viên Thành Thật.
Do tâm Hửu Lậu duyên Vô Vi thì Vô Vi đó thuộc
về Y Tha Khởi. Tâm Vô Lậu duyên Vô Vi thì Vô Vi đó thuộc về hai
tánh. Vì do duyên sanh nên nó thuộc về Y Tha ; do tâm không điên
đảo nên nó thuộc về Viên Thành Thật.
Có người hỏi ba tánh cùng với bảy chơn như
nhiếp vào nhau như thế nào? Bảy chơn như là những món nào?
Bảy chơn như là :
1/ Lưu Chuyễn Chơn Như : Thật tánh của pháp
hửu vi.
2/ Thật Tướng Chơn Như : Thật tánh được hiển
lộ bởi hai vô ngã.
3/ Duy Thức Chơn Như : Thật tánh của Pháp
Nhiễm và Tịnh chính là Duy Thức.
4/ An Lâp Chơn Như : Thật Tánh của Khổ Đế.
5/ Tà Hạnh Chơn Như : Thật tánh của Tập Đế.
6/ Thanh Tịnh Chơn Như : Thật Tánh của Diệt
Đế.
7/ Chánh Hạnh Chơn Như: Thật Tánh của Đạo
Đế.
Vì là cảnh giới của Căn Bản Trí và Hậu Đắc
Trí nên bảy tánh đó nhiếp về Viên Thành Thật.
Vì là vọng chấp tạp nhiễm nên ba thứ Lưu
Chuyễn, Khổ , Tập Chơn Như thuộc về Biến Kế và Y Tha.
Bốn món còn lại thuộc về Viên Thành Thật.
Trong Thành Duy Thức Luận ngài Hộ Pháp có
trích dẫn đoạn Kinh như sau : “Bốn chân thật (thế gian chơn
thật, đạo lý chơn thật, phiền não chướng tịnh chơn thật, sở tri
chướng tịnh chơn thật) nó với ba tánh nhiếp thuộc nhau như thế
nào?
Trong đó Thế gian chân thật và Đạo lý chân
thật nhiếp thuộc về Y Tha Khởi và nhiếp về ba sự là Danh, Tướng
và Phân Biệt.
Hai chân thật còn lại được nhận biết do trí
thanh tịnh ngoài hai chướng phiền não và sở tri thì nhiếp thuộc
về Viên Thành Thật và nhiếp vào hai sự là chánh trí và chân
như.
Luận Biện Trung Biên nói : “Thứ chân thật
theo thế gian chỉ nhiếp thuộc về tánh Biến kế sở chấp” vì đó là
những điều của thế gian cùng chấp nhận. Thứ đạo lý chân thật thứ
hai thì nhiếp thuộc cả ba tánh, vì đạo lý thông cả có chấp ,
không chấp, tạp nhiễm , thanh tịnh. Hai thứ chân thật sau cùng
chỉ nhiếp thuộc về Viên Thành Thật.
Cũng trong Thành Duy Thức Luận Ngài Hộ Pháp
nói về Ba Tánh và Bốn Đế nhiếp thuộc nhau như sau :
Trong mỗi Đế đều có đủ ba tánh.
Trong Khổ Đế , tánh Vô Thường, Vô Ngã v.v…
mỗi mỗi có đủ ba tánh.
Vô Thường có 3:
(a)
Vô Tánh Vô Thường, vì là tánh thường không.
(b)
Khởi tận vô thường, vì có sanh có diệt.
(c)
Cấu tịnh vô thường, vì địa vị chuyễn biến khi cấu khi
tịnh.
“Khổ” có 3 :
(a)
Sở Thủ Khổ , chổ nương tựa , chấp thủ của hai chấp
ngã và pháp.
(b) Sự Tướng Khổ, là tướng ba khổ .
(c) Hòa Hợp Khổ, khổ hợp với khổ.
“Không” có ba :
(a) Vô Tánh Không, vì tánh chẳng phải
có.
(b)
Dị tánh không, vì “Không” với “Vọng Chấp” hai tánh khác
nhau.
(c)
Tự tánh không , dùng chổ hiển lộ của hai không làm tự
tánh.
“Vô Ngã” có ba :
(a)
Vô tướng vô ngã , là ngã tướng không có.
(b)
Dị Tướng vô ngã , vô ngã với tướng ngã chấp hư vọng khác
nhau.
(c)
Tự Tướng vô ngã, là tự tướng do vô ngã hiển lộ.
“Tập Đế” có ba :
(a)
Tập khí tập, tức là chấp tập khí của Biến Kế Sở Chấp Tự
Tánh. Chấp vào tập khí đó, giả lập là tập khí tập.
(b)
Đẳng khởi tập, tức là Nghiệp và phiền não.
(c)
Chưa ly hệ tập, tức Chơn Như chưa lìa chướng.
“Diệt Đế” có ba :
(a)
Tự tánh diệt , tức là tự tánh không sanh.
(b)
Nhị thủ diệt , tức là trạch diệt, hai thủ không còn sanh.
(c)
Bản tánh diệt , tức là Chơn như.
“Đạo Đế” có ba:
(a) Biến tri đạo, là có thể biết tánh Biến
Kế Sở Chấp.
(b) Vĩnh đoạn đạo, là có thể đoạn nhiễm phần
Y Tha Khởi.
(c) Tác chứng đạo, là có thể chứng Viên Thành
Thật.
Biến Tri Đạo có thể thông cả Vĩnh Đoạn Đạo và
Tác Chứng Đạo.
Theo như trên đã kể ta thấy Khổ Đế có 4 lần
3, Tập Đế có 1 lần 3, Đạo Đế có 1 lần 3. Bốn đế cọng lại có 7
lần 3 , theo thứ lớp mà phối hợp với 3 tánh hoặc giả hoặc thật.
Cảnh giới của bai giải thóat môn (Không, Vô
Nguyện, Vô Tướng) nhiếp thuộc nhau như thế nào?
Sự thật thì ba Môn đều thông cả ba Tánh. Còn
theo Tướng thì mỗi môn thông mỗi tánh. Như thứ lớp nên biết, do
tanh Biến Kế Sở Chấp mà lập Không Môn. Do tanh Y Tha Khởi mà lập
Vô Nguyện Môn. Do tanh Viên Thành Thật mà lập Vô Tướng Môn.
Từ đây lại sinh ra ba Vô Sanh Nhẫn :
(a) Bản tánh Vô Sanh Nhẫn.
(b) Tự nhiên Vô Sanh Nhẫn.
( c ) Hoặc khổ Vô Sanh Nhẫn.
Thứ lớp của ba tánh nầy là đối cảnh của ba
nhẫn kia.
Còn về ba tánh nầy đối với ba đế nhiếp
thuộc nhau như thế nào?
Về Thế Tục Đế có đủ cả ba tánh nầy. Thắng
Nghĩa Đế chỉ nhiếp tánh Viên Thành Thật mà thôi.
Thế Tục Đế chia làm ba loại như sau :
Giả Thế Tục , tương ưng với Tánh Biến Kế.
Hành Thế Tục, tương ưng với Y Tha.
Hiển Liễu Thế Tục , tương ưng với Viên Thành
Thật.
Thắng Nghĩa Đế có ba loại là :
Nghĩa Thắng Nghĩa, tức là chơn như.
Đức thắng nghĩa, tức là Niết Bàn.
Hành tháng nghĩa, Tức là thánh đạo.
Thắng nghĩa có nghĩa là hơn hẳn, không điên
đảo, không biến đổi, nhiếp vào Viên Thành Thật.
Biến Kế sở chấp an lập hư vọng nên gọi là
giả; vì nó không có thể thật tướng nên có thể nói chẳng phải
giả, chẳng phải thật.
Tánh Y Tha khởi có thật có giả.
Nếu là tụ tập (khí giới, căn thân), tương
tục (tướng chuyễn dịch của Tâm, Tâm Sở) , phận vị (hai mươi bốn
bất tương ưng), được gọi là giả có ; nhưng Tâm, Tâm Sở và Đắc
thì tùy duyên sanh nên nói là thật có. Trường hợp nếu không có
giả pháp thì thật pháp cũng không có. Vì giả từ nơi thật mà phát
sinh ra.
Tánh Viên Thành Thật chỉ là thật có vì không
sinh ra từ tha duyên.
Tóm lại ba tánh đó không phải một vì vọng
chấp nên có Biến Kế, vì duyên vói cái khác mới khở lên nên có Y
Tha, và cả hai đều từ chơn nghĩa thật tánh nên có Viên Thành
Thật. Thế nhưng cả ba không phải khác vì cùng từ Căn Bản Thức
tức Thức Thứ Tám mà phát sinh ra nên không phải khác.
C/- Ba Tự Tánh trong kinh Giải Thâm Mật
(Sandhi-nirmocara)
(Hòa Thượng Thích Trí Quang dịch từ Hán Văn
và chú giải)
“Đức Bản, tánh của các pháp đại lược có ba
mặt: một là Biến Kế Chấp Tánh, hai là Y Tha Khởi Tánh, ba là
Viên Thành Thật Tánh. Biến kế chấp tánh là thế nào , là tự tánh
và sai biệt của các pháp , được giả thiết bởi danh từ, cho đến
làm cho theo đó mà phát sinh ngôn ngữ.
Y tha khởi tánh là thế nào, là đặc tính duyên
sinh của các pháp, cái nầy có thì cái kia có, cái nầy sinh thì
cái kia sinh, vô minh duyên sinh hành, cho lớn lao.
Viên Thành thật tánh là thế nào, là chân như
nhất quán của các pháp, chân như mà Bồ Tát phải do các duyên tố
tinh tiến dũng mãnh, tác ý đúng lý và tư duy không ngược mới
thông đạt, bằng vào sự thông đạt nầy mà tuần tự tu tập, cho đến
vô thượng chánh biến giác mới chứng ngộ viên mãn.”
“Đức Bản, như người bị bịnh màng mắt, cái
màng mắt ấy Biến Kế chấp tánh cũng vậy. Như người bị bịnh màng
mắt thấy những ảo ảnh tóc lông ong ruồi lá diếp giây sắn hay
xanh vàng đỏ trắng , những ảo tượng ấy Y Tha khởi tánh cũng vậy.
Như người mắt đã trong sáng, hết hẳn màng mắt , bản tính con mắt
trong sáng nhìn thấy cảnh vật không thác loạn, cảnh vật không
thác loạn ấy Viên Thành thật tánh cũng vậy.
“Lại tựa như ngọc bạch châu trong suốt , nếu
nhuộm màu xanh thì thấy như ngoc đế thanh, do ngộ nhận là ngọc
đế thanh mà làm cho người lầm lẫn thác loạn; nếu nhuộm màu đỏ
thì thấy như ngọc hổ phách, do ngộ nhận là ngọc hổ phách mà làm
cho người lẫm lẫn thác loạn; nếu nhuộm màu lục thì thấy như
ngọc sát sắc, do ngộ nhận là ngọc sát sắc mà làm cho người lầm
lẫn thác loạn; nếu nhuộm màu vàng thì thấy như hoàng kim, do
ngộ nhận là hoàng kim mà làm cho người lầm lẫn thác loạn.
“Tương tự nơi ngọc bạch châu trong suốt mà có
màu sắc, nơi Y Tha khởi tánh mà có tập khí ngôn từ của Kiến Kế
chấp tánh thì cũng như vậy; tương tự nơi ngọc bạch châu trong
suốt mà có những ngộ nhận đế thanh hổ phách sát sắc hoàng kim,
nơi Y Tha khởi tánh mà có Biến Kế chấp tánh thì cũng như vậy ;
tương tự ngọc bạch châu trong suốt , Y Tha khởi tánh thì cũng
như vậy; tương tự nơi bạch ngọc châu trong suốt, đế thanh hổ
phách sát sắc hoàng kim luôn luôn và vĩnh viễn không thật có và
không đặc tính, nơi Y Tha khởi tánh, Viên Thành thật tánh mà
Biến Kế chấp tánh luôn luôn và vĩnh viễn không thật có và không
đặc tính thì cũng như vậy.”
Lược giải đoạn trên (của dịch giả) :
Đoạn nầy nói về 3 tánh bằng 2 ví dụ. Tổng
quang nghĩa lý ở kinh nầy cũng như ở các kinh luận khác , có
thể nói 3 tính như sau. A Lại Da mặt ẩn là chủng tử của các pháp
, mặt hiện là hiện hành của các pháp, các pháp ấy là Y Tha khởi
tánh. Ngộ nhận các pháp như vậy là ngã pháp ấy là Biến Kế chấp
tánh. Giác ngộ A Lại Da như vậy vẫn là chân như , chân như ấy là
Viên Thành Thật Tánh. Như ngọc trong hiện ra đủ màu là Y Tha,
lầm màu ấy là thật là Biến Kế, biết ngọc vẫn trong là Viên thành
thật (nói cách khác theo chánh văn, biết màu ấy không thật là
Viên Thành thật).
Chính văn kinh:
“Đức Bản, biết do tướng và danh tương ứng
làm duyên tố thì biết được Biến Kế Chấp tánh; nơi Y Tha khởi
tánh, biết cái chấp của Biến Kế Chấp tánh làm duyên tố thì biết
Y Tha khởi tánh; nơi y tha khởi tánh , biết không có cái chấp
của biến kế chấp tánh làm duyên tố thì biết viên thành thật
tánh.
“Lại nửa, nếu Bồ Tát có thể nơi y tha khởi
tánh của các pháp mà đúng như sự thật biết biến kế chấp tánh,
thì thế là đúng như sự thật biết sự vô tướng của các pháp. Nếu
Bồ Tát đúng như sự thật biết y tha khởi tánh , thì thế là đúng
như sự thật biết sự tạp nhiễm của các pháp. Nếu Bồ Tát đúng như
sự thật biết viên thành thật tánh, thì thế là đúng như sự thật
biết sự thanh tịnh của các pháp. Bồ Tát nếu nơi y tha khởi tánh
mà đúng như sự thật nhận biết sự vô tướng thì có thể hủy diệt sự
tạp nhiễm. Nếu có thể hủy diệt sự tạp nhiễm thì có thể chứng đắc
sự thanh tịnh.
“Đức Bản, Bồ Tát do đúng như sự thật mà biết
biến kế chấp tánh, y tha khởi tánh và viên thành thật tánh, nên
cũng đúng như sự thật mà nhận biết sự vô tướng, sự tạp nhiễm và
sự thanh tịnh. Đúng như sự thật mà nhận biết sự vô tướng nên hủy
diệt sự tạp nhiễm , hủy diệt sự tạp nhiễm nên chứng đắc sự thanh
tịnh. Ngang đây gọi là vị Bồ Tát khéo biết tánh của các pháp, và
cũng ngang đây Như Lai qui định vị Bồ Tát ấy là Bồ Tát khéo biết
tánh của các pháp.
“Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn muốn nói lại ý nghĩa
đã nói nên nói những lời chỉnh cú sau đây.
Nếu không biết rõ
về sự vô tướng
Thì sự tạp nhiễm không thể hủy diệt
Nếu sự tạp nhiễm không thể hủy diệt
Thì sự thanh tịnh không thể chứng đắc
Không hề quán sát lỗi lầm các hành
Sự phóng dật nầy làm hại chúng sinh
Nên trong hai mặt trú pháp động pháp
Sự nhác làm cho đã không lại có
Mất hỏng đến thế thật đáng xót thương.”
Đọc qua những đoạn kinh trên cho chúng ta
thấy từ những lời dạy của Đức Phật mà Tổ Thế Thân đã đúc kết
bằng những lời kệ ngắn gọn để nói lên 3 tánh trong Duy Thức Ba
Mươi Bài Tụng. Sau đó ngài Hộ Pháp v.v. đã giải rộng trong
Thành Duy Thức Luận. Mục đích chính của Đức Phật là chỉ ra ba
tánh cũng chỉ là một vì do vọng chấp mà có ba , nhưng người
thực hành phải hướng đến mục đích thanh tịnh giải thoát nên phải
quán chiếu ba tánh đều không mới đạt đến chân như thanh tịnh.
D/- Ba Tự Tánh trong kinh Lăng Già Tâm
Ấn (Lankâvatâra-Sutra)
“Đại Huệ, Đại Bồ Tát phải rành về ba tự tánh.
Thế nào là ba tự tánh? Nghĩa là vọng tưởng tự tánh, duyên khởi
tự tánh, thành tự tánh.
“Đại Huệ, Vọng tưởng tự tánh từ tướng sanh.
Đại Huệ bạch Phật : Bạch Đức Thế Tôn, tại sao vọng tưởng tự tánh
từ tướng sanh? Phật bảo Đại Huệ, tướng duyên khởi tự tánh sự
tướng, tướng hành hiển hiện sự tướng, chấp trước có hai thứ vọng
tưởng tự tánh. Như Lai ứng cúng đẳng chánh giác kiến lập. Danh
tướng chấp trước tướng, sự tướng chấp trước tướng. Danh tướng
chấp trước tướng là nói chấp trước các pháp trong ngoài. Sự
tướng chấp trước tướng tức là , kia chấp trước tự tướng cộng
tướng trong ngoài như thế. Ấy gọi là hai thứ tướng vọng tưởng tự
tánh. Hoặc y hoặc duyên sanh, ấy là duyên khởi.”
Đoạn trên nói về Biến Kế Sở Chấp (trong kinh
gọi là vọng tưởng tự tánh) tự tánh và Y Tha Khởi (trong kinh
gọi là duyên khởi tự tánh).
“Thế nào là Thành tự tánh? Nghĩa là lìa vọng
tưởng danh, tướng và sự tướng, thánh trí đã được và tự giác
thánh trí thú cảnh giới sở hành. Ấy gọi là Thành tự tánh Như Lai
Tàng Tâm.”
Đoạn trên là nói về Viên Thành Thật Tự Tánh.
“Khi ấy Đức Thế Tôn muốn nhắc lại nghĩa nầy
nên nói bài kệ như sau :
Danh tướng giác tưởng Tự tánh
hai tướng
Chánh trí như như Ấy
là thành tướng
Đại Huệ! Ấy gọi là quán sát ngủ pháp tự tánh
tướng kinh, tự giác thánh trí đến cảnh giới sở hành. Các ông
những Đại Bồ Tát nên phải tu học.”
---o0o---