Giải Thích:
Phẩm Cụ Túc Thứ 81
(Kinh Đại Bát Nhã
hội 2 ghi: Phẩm Không Khuyết thứ 79)
Kinh: Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế
Tôn, nếu Bồ Tát tu sáu Ba la mật, mười tám không, ba mươi bảy
pháp trợ đạo, mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn trí
không ngại, mười tám pháp không chung, không đầy đủ Bồ Tát đạo
thời không thể được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, vậy Bồ
Tát làm thế nào đầy đủ Bồ Tát đạo, có thể được Vô thượng chánh
đẳng chánh giác?
Phật bảo Tu Bồ Đề: Nếu Bồ Tát khi hành
Bát nhã ba la mật, do sức phương tiện nên hành Thí Ba la mật,
không thấy có bố thí, không thấy có người thí, không thấy có
người nhận thí, cũng không xa lìa pháp ấy hành bố thí thời
chiếu sáng Bồ Tát đạo. Như vậy, Bồ Tát do sức phương tiện nên
đầy đủ Bồ Tát đạo; đầy đủ rồi có thể được Vô thượng chánh đẳng
chánh giác. Trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí
tuệ cho đến mười tám pháp không chung, cũng như vậy.
Xá lợi phất bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn,
Bồ Tát làm thế nào tập hành Bát nhã ba la mật?
Phật bảo Xá lợi Phất: Như Bồ Tát hành Bát
nhã ba la mật, dùng sức phương tiện không hoại sắc, không theo
sắc, vì sao? Vì sắc ấy tính không có nên không theo, không
hoại; cho đến thức cũng như vậy. Này Xá lợi phát, Bồ Tát hành
Bát nhã, do sức phương tiện nên bố thí không hoại, không theo,
vì sao? Vì bố thí tính không có; cho đến mười tám pháp không
chung, cũng như vậy.
Xá lợi phất bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn,
nếu các pháp không có tự tính có thể hoại, có thể theo, thời
Bồ Tát làm thế nào có thể tập hành Bát nhã và chỗ sở học của
các Bồ Tát, vì sao? Vì Bồ Tát không học Bát nhã thời không
thể được Vô thượng chánh đẳng chánh giác?
Phật bảo Xá lợi phất: Như lời ông nói, Bồ
Tát không học Bát nhã thời không thể được Vô thượng chánh đẳng
chánh giác, vì không thể lìa sức phương tiện mà có thể được.
Nếu Bồ Tát hành Bát nhã hoặc thấy có một pháp có được thời nên
thủ lấy, nếu không có thể được thời thủ lấy cái gì? Nghĩa là
cho đây là Bát nhã ba la mật, cho đây là Thiền Ba la mật, cho
đến đây là Thí Ba la mật; đây là sắc, thọ, tưởng, hành, thức,
cho đến đây là Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Này Xá lợi
phất, Bát nhã không thể thủ tướng, cho đến hết thảy Phật pháp
không thể thủ tướng; ấy gọi là Bát nhã không thủ tướng, cho
đến Phật pháp không thể thủ tướng, là chỗ Bồ Tát nên học. Bồ
Tát khi học ở trong ấy, tướng học cũng không thể có được,
huống gì Bát nhã, pháp Phật, pháp Bồ Tát, pháp Bích chi Phật,
pháp Thanh văn, pháp người phàm phu, vì sao? Vì không có một
pháp nào có tự tính. Pháp không có tự tính như vậy thời cái
gì là người phàm phu, Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la
hán, Bích chi Phật, Bồ Tát và Phật? Nếu không có các hiền
thanh ấy thời làm thế nào có pháp? Vì biết pháp ấy nên phân
biệt nói đây là người phàm phu, đây là Tu đà hoàn cho đến là
Bồ Tát, là Phật.
Xá lợi phất bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn,
nếu pháp không có tự tính, không thật, không có căn bản thời
làm thế nào biết đó là người phàm phu cho đến biết đó là Phật?
Phật bảo Xá lợi phất: Chỗ người phàm phu
đắm trước là sắc có tự tính có thật chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn, chỉ do tâm điên
đảo mà thấy có; thọ, tưởng, hành, thức cho đến mười tám pháp
không chung, cũng như vậy.
Này Xá lợi phất, Bồ Tát khi hành Bát nhã,
do sức phương tiện nên thấy các pháp không có tự tính, không
có căn bản nên có thể phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh
giác.
Xá lợi phất bạch Phật: Bồ Tát làm thế nào
khi hành Bát nhã do sức phương tiện nên thấy các pháp không có
tính, không có căn bản nên có thể phát tâm Vô thượng chánh
đẳng chánh giác?
Phật bảo Xá lợi phất: Bồ Tát khi hành Bát
nhã không thấy căn bản các pháp mà ỡ trong ấy sinh tâm giải
đãi thoái thất. Này Xá lợi phất, căn bản các pháp thật không
có ngã, không có sở hữu, tính thường không, chỉ vì ngu si điên
đảo nên chúng sinh chấp trước năm ấm, mười hai nhập, mười tám
giới. Bồ Tát thấy các pháp không có sở hữu, tính thường không;
khi tự tính không mà hành Bát nhã thời tự an lập như huyễn sư,
vì chúng sinh mà thuyết pháp: Dạy bố thí cho người tham, dạy
trì giới cho người phá giới, dạy nhẫn nhục cho người sân hận,
dạy tinh tấn cho người giải đãi, dạy thiền định cho người loạn
tưởng, dạy trí tuệ cho người ngu si, khiến chúng sinh trú
trong bố thí cho đến trí tuệ, vậy sau mới nói thánh pháp có
thể giải thoát khổ; dùng pháp ấy nên được quả Tu đà hoàn cho
đến quả A la hán, đạo Bích chi Phật, quả Vô thượng chánh đẳng
chánh giác.
Xá lợi phất bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn,
Bồ Tát thấy chúng sinh ấy không có sở hữu nên dạy khiến bố
thí, trì giới cho đến trí tuệ, vậy sau nói thánh pháp có thể
giải thoát khổ, do pháp ấy nên được quả Tu đà hoàn cho đến Vô
thượng chánh đẳng chánh giác?
Phật bảo Xá lợi phất? Bồ Tát khi hành Bát
nhã, không có tội lỗi có thể có được, vì sao? Vì Bồ Tát khi
hành Bát nhã, không thấy có chúng sinh, chỉ vì "pháp không"
tương tục nên gọi là chúng sinh. Bồ Tát dùng hai đế vì chúng
sinh thuyết pháp, là thế đế và đệ nhất nghĩa đế. Trong hai đế
ấy, chúng sinh tuy không thể có được, song vì Bồ Tát hành Bát
nhã, dùng sức phương tiện nên vì chúng sinh thuyết pháp.
Chúng sinh nghe pháp ấy biết ta, tôi đời nay còn không thể có
được, huống gì pháp được dùng và người được Vô thượng chánh
đẳng chánh giác! Như vậy, Bồ Tát khi hành Bát nhã, do sức
phương tiện nên vì chúng sinh thuyết pháp.
Xá lợi phất bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn,
tâm Bồ Tát rộng lớn, không có pháp có thể có được, hoặc một
tướng, hoặc khác tướng, hoặc dị tướng mà có thể trang nghiêm
lớn như vậy. Vì trang nghiêm ấy nên không sinh cõi Dục, không
sinh cõi
Sắc, không sinh cõi Vô sắc; không thấy pháp hữu vi, không thấy
pháp vô vi mà ở trong ba cõi độ thoát chúng sinh, cũng không
thấy có tướng chúng sinh, vì sao? Vì chúng sinh không trói
không mở; vì chúng sinh không trói không mở nên không nhơ
không sạch; vì không nhơ không sạch nên không có phân biệt sáu
đướng; vì không có phân biệt sáu đường nên không có nghiệp,
không có phiền não; vì không có nghiệp, không có phiền não nên
cũng không có quả báo; và vì có quả báo ấy mà sinh trong ba
cõi.
Phật bảo Xá lợi phất; Như vậy, như vậy.
Như lời ông nói, nếu chúng sinh trước có mà sau không thời chư
Phật, Bồ Tát có tội lỗi. Các pháp sáu đường sinh tử cũng như
vậy, nếu trước có mà sau không thời chư Phật, Bồ Tát có tội
lỗi. Này Xá lợi phất, có Phật hay không có Phật thì tướng các
pháp vẫn thường trú không khác; trong pháp tướng ấy còn không
có ngã, không có chúng sinh, không có thọ mạng, cho đến không
có kẻ biết kẻ thấy, huống gì có sắc, thọ, tưởng, hành, thức!
Nếu không có pháp ấy, làm thế nào có qua lại sáu đường mà kéo
chúng sinh ra khỏi? Này Xá lợi phất, các pháp tính ấy thường
không, vì thế nên Bồ Tát từ chỗ chư Phật quá khứ nghe pháp
tướng ấy mà phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, trong đó
không có pháp mà ta sẽ được, cũng không có chỗ chúng sinh đắm
trước nhất định không thể kéo ra; chỉ vì chúng sinh điên đảo
nên đắm trước. Vì thế nên Bồ Tát phát tâm đại trang nghiêm,
thường không thoái chuyển đối với Vô thượng chánh đẳng chánh
giác. Bồ Tát không nghi rằng: Ta sẽ không được Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, hay ta sẽ chắc chắn được Vô thượng
chánh đẳng chánh giác? Được Vô thượng chánh đẳng chánh giác
rồi, dùng thật pháp làm lợi ích chúng sinh, khiến ra khỏi điên
đảo. Thí như vị thầy huyễn thuật hóa hiện ra trăm ngàn vạn
ức người, đêm đồ ăn uống bố thí khiến cho được no đủ, hoan hỷ
xướng lên rằng: ta được phước lớn, ta được phước lớn! Ý ông
nghĩ sao, trong đây thật có người ăn uống đầy đủ chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn.
Phật dạy: Như vậy, Xá lợi phất, Bồ Tát từ
khi mới phát tâm lại đây, hành sáu Ba la mật, bốn thiền cho
đến mười tám pháp không chung, đầy đủ Bồ Tát đạo, thành tựu
tuệ giác cho chúng sinh, nghiêm tịnh cõi Phật mà không có
chúng sinh có thể độ.
Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, thế
nào là Bồ Tát đạo? Bồ Tát hành đạo ấy có thể thành tựu tuệ
giác cho chúng sinh, nghiêm tịnh cõi Phật?
Phật bảo Tu Bồ Đề: Bồ Tát từ khi mới phát
tâm lại đây co hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định, trí tuệ cho đến mười tám pháp không chung, mà
thành tựu tuệ giác cho chúng sinh, nghiêm tịnh cõi Phật.
Tu Bồ Đề thưa: Bồ Tát làm thế nào hành bố
thí có thể thành tựu tuệ giác cho chúng sinh?
Phật dạy: Bồ Tát khi hành bố thí, tự mình
bố thí, cũng dạy chúng sinh bố thí, nói rằng: Các thiện nam
từ, các ông chớ đắm trước bố thí. Các ông vì đắm trước bố thí
nên lại phải thọ thân; vì lại phải thọ thân nên chịu nhiều khổ
não. Này các thiện nam tử, trong các pháp tướng không có bố
thí, không có người thí, không có người nhận thí, ba pháp ấy
tự tính đều không. Pháp tính không ấy không thể thủ, và tướng
không thể thủ là tính không. Như vậy, Bồ Tát khi hành bố thí,
bố thí cho chúng sinh, trong ấy không thấy có bố thí, người bố
thí, người nhận thí, vì sao? Vì bố thí không thể có được; ấy
gọi là Bố thí Ba la mật. Bồ Tát không thấy có ba pháp ấy nên
có thể giáo hóa chúng sinh khiến được quả Tu đà hoàn cho đến
quả A la hán, đạo Bích chi Phật cho đến Vô thượng chánh đẳng
chánh giác. Bồ Tát khi hành bố thí thành tựu tuệ giác cho
chúng sinh, tự mình hành bố thí, cũng dạy người hành bố thí,
tán thán pháp bố thí, hoan hỷ tán thán người hành bố thí. Bồ
Tát bố thí như vậy được sinh vào dòng lớn Sát lợi, dòng lớn Bà
la môn, đại gia cư sĩ, hoặc làm Tiểu vương, hoặc làm Chuyển
luân Thánh vương; khi ấy đem bốn việc nhiếp thủ chúng sinh.
Bốn việc đó là bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự. Lấy vốn
việc ấy nhiếp thủ chúng sinh rồi, chúng sinh dần dần trú ở
trong giới, ở trong bốn thiền cho đến tám phần thánh đạo,
không, Vô tướng, Vô tác tam muội, vào chính vị mà được quả Tu
đà hoàn cho đến quả A la hán hoặc đạo Bích chi Phật; hoặc dạy
khiến được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nói rằng: Này các
thiện nam tử, các ông hãy phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh
giác, Vô thượng chánh đẳng chánh giác dễ được, vì sao? Vì
không có pháp nhất định. Những điều chúng sinh đắm trước chỉ
vì do điên đảo nên sinh đắm trước. Thế nên các ông tự xa lìa
sinh tử, cũng dạy người khác xa lìa sinh tử; các ông hãy phát
tâm tự mình làm lợi ích, cũng làm lợi ích những điều hư vọng
ấy mà nổi sân giận để phải đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và
các đường ác, chịu vô lượng khổ. Các ông chớ vì những điều hư
vọng không thật ấy mà gây tội nghiệp để vì tội nghiệp ấy còn
không được làm thân người, huống gì được sinh ra đời gặp
Phật. Này các thiện nam tử, sinh ra đời có Phật khó gặp, thân
người khó được, các ông chớ bỏ mất thời giờ quý báu; nếu bỏ
mất thời giờ quý báu thời không thể cứu được. Bồ Tát như vậy
giáo hóa chúng sinh, tự mình hành nhẫn nhục, cũng dạy người
khác hành nhẫn nhục, tán thán pháp nhẫn nhục, hoan hỷ tán thán
người hành nhẫn nhục. Bồ Tát khiến chúng sinh trú trong nhẫn
nhục dần dần do pháp ba thừa được dứt hết khổ. Như vậy, Bồ
Tát trú trong Thí Ba la mật khiến chúng sinh an trú trong nhẫn
nhục.
*Lại nữa, Tu Bồ Đề, Bồ Tát làm thế nào trú
trong Thí Ba la mật khiến chúng sinh tinh tấn? Bồ Tát thấy
chúng sinh giải đãi, nói rằng: Các ông vì sao giải đãi?
Chúng sinh đáp: Vì thiếu nhân duyên. Bồ Tát khi hành bố thí,
nói với các chúng sinh rằng: Ta sẽ làm cho các ông đầy đủ
nhân duyên, hoặc bố thí, hoặc trì giới hoặc nhẫn nhục. Chúng
sinh ấy được nhân duyên lợi ích nên thân tinh tấn, miệng tinh
tấn, tâm tinh tấn. Thân tinh tấn, tâm tinh tấn nên hết thảy
thiện pháp đầy đủ, tu thánh pháp vô lậu; tu thánh pháp vô lậu
nên được quả Tu đà hoàn cho đến quả A la hán, Bích chi Phật
đạo hoặc Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Như vậy, Bồ Tát khi
hành bố thí trú trong Tinh tấn Ba la mật nhiếp thủ chúng sinh.
*Lại nữa, Tu Bồ Đề, Bồ Tát làm thế nào khi
hành bố thí, giáo hóa chúng sinh khiến tu thiền định?
Phật bảo Tu Bồ Đề: Bồ Tát thấy chúng sinh
loạn tâm, nói rằng: Các ông có thể tu thiền định. Chúng sinh
đáp: Chúng tôi thiếu nhân duyên. Bồ Tát nói: Ta sẽ làm cho
các ông đủ nhân duyên. Nhờ nhân duyên ấy khiến tâm các ông
không chạy theo giác quán, tâm không tán loạn. Chúng sinh do
nhân duyên ấy nên dứt giác quán vào sơ thiền, nhị thiền, tam
thiền, tứ thiền, tu tâm từ, bi, hỷ, xả. Chúng sinh do nhân
duyên thiền định và tâm vô lượng ấy nên có thể tu bốn niệm xứ
cho đến tám phần thánh đạo. Khi tu ba mươi bảy pháp trợ đạo
dần dần vào ba thừa mà được Niết bàn, trọn không mất đạo. Như
vậy, Bồ Tát khi hành bố thí, lấy thiền định nhiếp thủ chúng
sinh khiến hành Thiền Ba la mật.
*Lại nữa, Tu Bồ Đề, Bồ Tát làm thế nào hành
bố thí do Bát nhã nhiếp thủ chúng sinh? Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát
thấy chúng sinh ngu si không có trí tuệ, nói rằng: Các ông cớ
gì không tu trí tuệ? Chúng sinh đáp: Vì thiếu nhân duyên.
Bồ Tát nói rằng: Các ông cần được đầy đủ trí tuệ, hãy theo ta
mà lấy; nghĩa là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền
định. Nhân duyên ấy đầy đủ rồi, các ông suy nghĩ như vầy:
Bát nhã có pháp có thể được chắng? hoặc ta, hoặc chúng sinh,
hoặc thọ mạng cho đến kẻ biết kẻ thấy có thể được chăng? hoặc
sắc, thọ, tưởng, hành, thức; hoặc cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô
sắc; hoặc sáu Ba la mật; hoặc ba mươi bảy pháp trợ đạo; hoặc
quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bích chi Phật;
hoặc Vô thượng chánh đẳng chánh giác có thể được chăng? Khi
chúng sinh suy nghĩ như vậy thời đối với Bát nhã không có pháp
có thể được, có thể đắm trước; nếu không đắm trước pháp, khi
ấy không thấy pháp có sinh có diệt, có nhơ có sạch; không phân
biệt ấy là địa ngục, là súc sinh, là ngạ quỷ, là chúng A tu
la, là trời, là người, là trì giới, là phá giới, là Tu đà
hoàn, là Tư đà hàm, là A na hàm, là A la hán, là Bích chi
Phật, là Phật. Như vậy, Bồ Tát khi hành bố thí do Bát nhã
nhiếp thủ chúng sinh.
*Lại nữa, Tu Bồ Đề, Bồ Tát làm thế nào trú
trong bố thí do Giới Ba la mật, Nhẫn Ba la mật cho đến Bát nhã
ba la mật, cho đến do ba mươi bảy pháp trợ đạo nhiếp thủ chúng
sinh? Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát trú trong bố thí lấy cúng dường
làm lợi ích chúng sinh. Do nhân duyên của sự lợi ích ấy nên
chúng sinh có thể tu bốn niệm xứ, bốn chánh cần cho đến tám
phần thánh đạo; chúng sinh tu ba mươi bảy pháp trợ đạo ấy được
giải thoát sinh tử. Như vậy, Bồ Tát do thánh pháp vô lậu
nhiếp thủ chúng sinh.
*Lại nữa, Tu Bồ Đề, Bồ Tát khi giáo hóa
chúng sinh, nói như vầy: Này các thiện nam tử, các ông hãy
theo ta lấy vật cần dùng: Hoặc đồ ăn uống, hoặc y phục, đồ
nằm, hương hoa cho đến bảy báu, các thứ cần dùng để nuôi sống.
Các ông nên lấy việc ấy nhiếp thủ chúng sinh. Các ông suốt
đêm dài được lợi ích an vui, chớ nghĩ rằng vật ấy chẳng phải
sở hữu của ta, ta suốt đêm dài vì chúng sinh chứa nhóm các vật
ấy. Các ông hãy lấy các vật ấy như vật của mình không khác.
Giáo hóa chúng sinh khiến hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục,
tinh tấn, thiền định, trí tuệ, cho đến khiến được ba mươi bảy
pháp trợ đạo, mười lực của Phật cho đến mười tám pháp không
chung, cũng khiến được thánh pháp vô lậu, đó là Tu đà hoàn cho
đến quả A la hán, đạo Bích chi Phật, Vô thượng chánh đẳng
chánh giác. Như vậy, Bồ Tát khi hành bố thí nên giáo hóa
chúng sinh như vậy, khiến được xa lìa ba đường ác, cho đến xa
lìa hết thảy khổ qua lại trong sinh tử.
*Lại nữa, Tu Bồ Đề, Bồ Tát trú trong Giới
Ba la mật giáo hóa chúng sinh, nói rằng: Này chúng sinh, các
ông thiếu nhân duyên gì mà phá giới? Ta sẽ cho các ông đầy đủ
nhân duyên: Hoặc bố thí cho đến trí tuệ và các vật cần dùng
để nuôi sống. Bồ Tát trú trong Trì giới Ba la mật làm lợi ích
chúng sinh khiến tu mười thiện đạo, xa lìa mười đạo bất
thiện. Chúng sinh ấy trì giới, không phá giới, không khuyết
giới, không ô trược giới, không tạp giới, không thủ giới, dần
dần do pháp ba thừa mà dứt hết khổ. Lấy việc trì giới làm đầu
giống như bố thí, nói bốn Ba la mật khác cũng như vậy.
Luận: Hỏi: Trước nói Bồ Tát tu sáu Ba la
mật và các pháp trợ đạo không đầy đủ Bồ Tát đạo thời không
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nay Tu Bồ Đề nên tự biết
tu sáu Ba la mật đầy đủ Bồ Tát đạo mà được Vô thượng chánh
đẳng chánh giác, cớ gì còn hỏi?
Đáp: Tu Bồ Đề không nghi làm sao được Vô
thượng chánh đẳng chánh giác, nay chỉ hỏi làm sao đầy đủ Bồ
Tát đạo, được Vô thượng chánh đẳng chánh giác?
Phật đáp: Nếu Bồ Tát tu sáu Ba la mật...
do hòa hợp với sức phương tiện nên có thể tu hành, khi ấy đầy
đủ Bồ Tát đạo. Sức phương tiện là không chắc chắn có được ba
việc về bố thí, cũng không xa lìa ba việc ấy mà hành bố thí,
khi ấy chiếu rõ Bồ Tát đạo. Chiếu rõ và đầy đủ cùng một
nghĩa. Nếu Bồ Tát chắc chắn thấy có ba việc về bố thí thời
rơi vào điên đảo chấp thường, bị lỗi thủ tướng chấp trước
pháp; nếu không thấy có ba việc ấy thời rơi vào điên đảo chấp
đoạn, chấp trước Không, trở lại khởi lên các phiền não tà
kiến, liền xa lìa Bồ Tát đạo. Nếu Bồ Tát lìa hai bên ấy, nhân
nơi Không mà xả bỏ pháp bố thí giả danh hư vọng ấy, nhân nơi
thật tướng mà xa lìa chấp Không, không có người thí, không có
người nhận, như tướng Vô thượng chánh đẳng chánh giác, quán bố
thí cũng như vậy không khác. Bồ Tát hành như vậy gọi là đầy
đủ, cho đến mười tám pháp không chung cũng như vậy.
Xá lợi phất ở giữa hội chúng nghe Phật cùng
với Tu Bồ Đề nói quả báo sâu xa của Bát nhã rất có lợi ích,
tuy có lợi ích mà không có tính chắc chắn thời làm sao có thể
tập hành?
Phật đáp: Bồ Tát khi hành Bát nhã không
hoại sắc, không theo sắc, như vậy gọi là tập hành Bát nhã. Bồ
Tát khi mới phát tâm, vì biết thật pháp nên thường hành Bát
nhã, thứ lớp tùy chỗ thích hợp hành bố thí... thế nên thường
nói Bồ Tát khi hành Bát nhã là hành pháp bố thí...
Không hoại sắc là không nói sắc ấy vô
thường, không nói sắc ấy không, không có sở hữu, ấy gọi là
không hoại sắc.
Không theo sắc là không như mắt thấy sắc
thủ tướng sinh ra chấp trước. Lại, không nói sắc ấy hoặc
thường hoặc vô thường, hoặc khổ hoặc vui... ấy gọi là không
theo sắc, vì thấy thường, vô thường đều chẳng phải là thật
tướng của sắc.
*Lại nữa, không nói sắc ấy căn bản ấy từ
trong thế tính lại, hoặc từ trong vi trần lại, hoặc từ trong
cõi trời Đại tự tại lại, hoặc từ trong thời gian lại, hoặc từ
trong tự nhiên sinh ra, hoặc không nói không nhân không duyên,
miễn cưỡng sinh ra. Như vậy gọi là không theo sắc, không hoại
sắc. Trong đây Phật tự nói nhân duyên: Sắc ấy tính không có,
nên không theo, không hoại.
Tính không có là sắc ấy từ bốn đại hòa hợp,
giả gọi là sắc, mà trong ấy không có một pháp nhất định gọi là
sắc, như trong phẩm Phá sắc ở trước đã nói. Sắc ấy từ nhân
duyên hòa hợp sinh nên không có tự tính; nếu không có tự tính
tức thời là tính không. Nếu nắm được sắc tướng tính không ấy
tức là tập hành Bát nhã, cho đến mười tám pháp không chung,
cũng như vậy.
Lại hỏi: Bạch đức Thế Tôn, nếu các pháp
không có tự tính có thể hoại, có thể theo thời Bồ Tát làm thế
nào tập hành Bát nhã ba la mật? Không học Bát nhã thời không
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác?
Phật chấp thuận ý Xá lợi phất và tự nói
nhân duyên: Nếu Bồ Tát dùng sức phương tiện tu sáu Ba la mật
thời tuy biết các pháp tính không mà có thể khởi lên Bát nhã
ba la mật. Nếu Bồ Tát tìm hết thảy pháp mảy may có tính
nhất định có thể được, thời có thể thủ, có thể chấp trước.
Nhưng nay Bồ Tát thật tìm hết thảy pháp không có được tính
nhất định gọi là Bát nhã ba la mật, Thiền Ba la mật cho đến
mười tám pháp không chung. Các pháp ấy đều không thể có được,
vì không thể có được thời thủ cái gia? ấy gọi là Bồ Tát đối
với Bát nhã ba la mật không thủ. Bồ Tát nên học Bát nhã không
có chấp thủ ấy. Không có chấp thủ còn không thể có được,
huống gì chấp thủ Bát nhã và các pháp, vì hết thảy pháp không
có tự tính?
Xá lợi phất lại hỏi: Nếu hết thảy pháp
không có tự tính, làm thế nào biết đó là phàm phu, đó là Phật?
Phật dạy: Hết thảy pháp tuy không có tướng
căn bản nhất định, nhưng vì phàm phu điên đảo nên chấp trước.
Bồ Tát tuy hành Bát nhã, do sức phương tiện nên thấy hết thảy
pháp không có căn bản mà phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh
giác. Bồ Tát ấy hành sâu tính không nên không thấy hết thảy
pháp có căn bản, vì không thấy nên không giải đãi, thoái mất;
biết rõ ràng hết thảy pháp vô ngã, không có tính sở hữu, tính
thường không, chỉ vì chúng sinh ngu si điên đảo nên chấp trước
đó là năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới. Khi ấy Bồ Tát suy
nghĩ, trù lượng tướng tịch diệt sâu xa của các pháp mà chúng
sinh đắm trước một cách hư vọng điên đảo. Bồ Tát tự ví mình
như vị thầy huyễn thuật, dùng thần thông biến hóa thuyết pháp
độ người. Việc làm như huyễn, tâm bình đẳng thuyết pháp không
thương, không ghét; đối với người xan tham dạy sáu Ba la mật
bố thí...; lại dạy pháp thù thắng hơn khiến ra khỏi sinh tử,
được quả Tu đà hoàn cho đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Hỏi: Ngoài sáu Ba la mật còn có pháp gì
hơn chăng, nên vì sao đây lại nói là pháp hơn?
Đáp: Trong đây không nói Ba la mật mà chỉ
dạy bố thí cho người, cho đến dạy trí tuệ cho người ngu si.
Pháp của chư Phật, Bồ Tát có đầu có sau. Pháp đầu là bố thí,
trì giới, thọ giới, quả báo bố thí, được phước lạc sinh cõi
trời dạy cho biết vị ngọt của năm dục lợi ích ít mà hại nhiều,
phải thọ thân ở thế gian, chỉ bị suy khổ; tán thán pháp dứt ái
xa lìa thế gian, chỉ bị suy khổ; tán thán pháp dứt ái xa lìa
thế gian, vậy sau mới dạy bốn đế khiến được quả Tu đà hoàn.
Trong đây Bồ Tát chỉ muốn dạy khiến chúng sinh được Phật đạo
nên trước tiên dạy khiến tu sáu pháp đầu. Trong đây trí tuệ
lành không nhiếp thuộc ba môn giải thoát. Trí tuệ lành ấy có
thể phát sinh thiện pháp bố thí, có thể dứt xan tham, sân hận,
các ác pháp, có thể khiến chúng sinh được sinh cõi trời, vì
sao biết lại có pháp hơn? Vì pháp hơn là pháp bốn thánh đế:
Pháp xuất, pháp sở hành của các bậc thánh gọi là thánh pháp;
pháp làm cho ra khỏi sinh tử của ba cõi gọi là pháp xuất. Lấy
bốn đế thuyết pháp nên tùy căn cơ của chúng sinh khiến được
quả Tu đà hoàn cho đến được trí Nhất thiết chủng. Trong dây
tuy không nói sáu pháp đầu; nói bố thí... nên biết đã thu
nhiếp vào trong ấy.
*lại nữa, Bồ Tát vì Phật đạo nên thuyết sáu
háp ấy, chỉ vì tâm chúng sinh hèn kém, tự thủ lấy Tiểu thừa,
thế nên không nói sáu pháp đầu là bố thí, trì giới, quả báo
sinh cõi trời...
Xá lợi phất bạch Phật: Trước nói Bồ Tát là
rốt ráo không thể có được, nay vì chúng sinh không có sở hữu
mà thuyết pháp, khiến được pháp không có sở hữu là quả Tu đà
hoàn cho đến trí Nhất thiết chủng. Bạch Thế Tôn, Bồ Tát vì
được pháp không có sở hữu nên có thể làm cho chúng sinh được
pháp không có sở hữu, không có sở đắc ấy là có sở đắc ư?
Phật dạy: Bồ Tát khi hành Bát nhã ba la
mật không có lỗi có sở đắc, vì sao? Vì Bồ Tát khi hành Bát
nhã ba la mật không thấy chúng sinh và pháp, chỉ thấy nhân
duyên hòa hợp giả gọi là chúng sinh. Bồ Tát trú trong hai đế
vì chúng sinh thuyết háp, không chỉ thuyết không, không chỉ
thuyết hữu; vì chúng sinh ái trước nên đắm trước không; vì
chúng sinh thủ tướng chấp trước không nên thuyết hữu, giữa hai
chỗ có và không, không nhiễm trước. Do sức phương tiện như
vậy mà vì chúng sinh thuyết háp. Thân ta và ta của chúng sinh
hiện tại còn không thể có được, huống gì sẽ được Vô thượng
chánh đẳng chánh giác?
Xá lợi phất hoan hỷ bạch Phật: Tâm rộng
lớn là Bồ Tát. Tâm rộng lớn là không có pháp có thể được,
hoặc nhất tướng, hoặc dị tướng. Như người bán giữa chợ tức
cần có trao đổi; người có tâm lớn thời không như vậy, không có
nương tựa vào đâu mà có thể phát tâm trang nghiêm lớn; vì
trang nghiêm lớn nên không sinh vào ba cõi, cũng kép chúng
sinh ra khỏi ba cõi, song chúng sinh không thể có được, vì
chúng sinh không trói không mở, nên hết thảy pháp không. Từ
lâu xa lại đây vì phiến não điên đảo hư dối không thật, thế
nên gọi là không trói; vì không trói nên cũng không mở. Trói
tức là nhơ, mở tức là sạch; vì không nhơ không sạch nên không
có phân biệt sáu đường; vì không phân biệt sáu đường nên không
có nghiệp tội phước; vì nghiệp tội phước không có nên không có
phiền não khởi lên nghiệp tội phước; không khởi nghiệp tội
phước thời không thể có quả báo. Như vậy, trong các pháp rốt
ráo không mà trang nghiêm lớn, việc ấy thật là hy hữu; thí như
người trồng cây giữa hư không, cây lá hoa quả làm lợi ích
nhiều.
Phật hứa khả ý Xá lợi phất rằng, Xá lợi
phất vì vấn nạn về không ấy nên Phật cũng đáp, cũng hứa khả;
vì Xá lợi phất nói không, nên Phật hứa khả, vì Xá lợi phất vấn
nạn không, nên Phật đáp. nghĩa là nếu chúng sinh và các pháp
trước có nay không, thời chư Phật thánh hiền có tội lỗi. Tội
lỗi là làm cho chúng sinh vào Vô dư Niết bàn, vĩnh viễn diệt
hết thảy pháp, vào trong không đều không có sở hữu; làm đoạn
diệt hết thảy pháp như vậy nên có tội lỗi. Này Xá lợi phất,
chúng sinh và hết thảy pháp từ trước lại đây không có; hoặc có
Phật, hoặc không có Phật thì pháp ấy vẫn thường trú không
khác, đó là thật tướng các pháp; thế nên không có sáu đường
sinh tử, cũng không có chúng sinh để có thể kéo ra. Này Xá
lợi phất, hết thảy pháp trước không, vì vậy mà Bồ Tát ở chỗ
Phật nghe tướng ấy của các pháp nên phát tâm Vô thượng chánh
đẳng chánh giác, nghĩ rằng: Trong Bồ đề cũng không có pháp có
thể được, cũng không có pháp chơn thật nhất định khiến chúng
sinh đắm trước mà không thể độ; chỉ vì chúng sinh si cuồng
điên đảo nên đắm trước pháp hư dối; thế nên Bồ Tát phát tâm
trang nghiêm lớn, không thoái chuyển đối với Vô thượng chánh
đẳng chánh giác. Lại nghĩ rằng: Ta chắc chắn được Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, chẳng phải chẳng được; được rồi dùng
thật pháp làm lợi ích chúng sinh; vì lợi ích chúng sinh nên
chúng sinh được ra khỏi điên đảo. Muốn làm rõ việc này nên
trong kinh đây nói ví dụ như vị thầy huyễn thuật. Thầy huyễn
thuật tức chỉ cho Bồ Tát. Thầy huyễn thuật tạo dựng vườn
rừng, quán xá, tức là sáu pháp Ba la mật độ chúng sinh; tạo ra
voi ngựa, trai gái, tức là chúng sinh được Bồ Tát độ. Như vị
thầy huyễn thuật một thân, vì sức huyễn, huyễn làm ra các
chúng sinh, vườn rừng, quán xá để làm vui mọi người; nếu thầy
huyễn thuật cho các việc huyễn làm ra ấy là thật, đối với
người huyễn tìm ân huệ tức là người cuồng; Bồ Tát cũng như
vậy. Theo Phật nghe dạy hết thảy pháp tính không, như huyễn
mà dùng việc bố thí lợi ích chúng sinh; lại muốn cầu phước đức
ân huệ thời tức là điên đảo.
Hỏi: Pháp huyễn, chú thuật thật có, còn
các vật huyễn làm ra có thể hư dối; như chúng sinh không, nên
Bồ Tát cũng không; Bồ Tát không hóa làm ra chúng sinh, đâu
được nêu làm ví dụ?
Đáp: Trong thật tướng các pháp, pháp còn
không có, huống gì chúng sinh! Tên khác của chúng sinh gọi là
vị thầy huyễn thuật. Vị thầy huyễn thuật thật không có, cớ gì
nói vị thầy huyễn thuật có mà các việc huyễn làm ra không có?
Như ông cho vị thầy huyễn thuật thật có, còn các việc huyễn
làm ra không có, còn thánh nhân xem vị thầy huyễn thuật và các
việc huyễn làm ra không khác nhau. Vì làm rõ việc ấy nên nói
ví dụ, mà chỉ lấy phần ít giống nhau làm ví dụ, cớ gì nêu ra
toàn phần để vấn nạn? Như sư tử ví dụ cho vua, vì sư tử không
hề sợ hãi giữa các loài thú. Vua cũng như vậy, tự tại, không
chướng ngãi giữa thần dân nên lấy làm ví dụ, đâu có thể trách
rằng sư tử có bốn chân, có lông mao là khác ư? Phật nói tính
không là các pháp đều không mà còn có chúng sinh; thế nên nêu
vị thầy huyễn thuật làm ví dụ. Nay tôi nói ví dụ để phá
chúng sinh, cớ sao ông lại đem chúng sinh ra vấn nạn?
Bấy giờ Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế
Tôn, thế nào là thành tựu tuệ giác cho chúng sinh, nghiêm tịnh
cõi Phật?
Tu Bồ Đề tuy biết Bồ Tát đạo, song vì trong
đây nói tính không sâu xa nên người nghe sinh nghi; vì vậy nên
Tu Bồ Đề hỏi.
Phật dạy: Bồ Tát từ khi mới phát tâm hành
sáu Ba la mật cho đến mười tám pháp không chung, ấy là Bồ Tát
đạo; hành đạo ấy là thành tựu tuệ giác cho chúng sinh, nghiêm
tịnh cõi Phật.
Tu Bồ Đề lại hỏi: Làm sao hành pháp ấy là
thành tựu tuệ giác cho chúng sinh?
Ý Tu Bồ Đề muốn nói: Nếu pháp tự tính
không, chúng sinh cũng tự tính không, làm thế nào có thể được
thành tựu?
Phật dạy: Bồ Tát do sức phương tiện nên
lấy pháp bố thí giáo hóa chúng sinh, không dạy chúng sinh chấp
trước bố thí cho là chân thật.
Sức phương tiện là Bồ Tát nói với chúng
sinh rằng: Này các thiện nam tử, hãy đến đây bố thí, chớ chấp
trước bố thí ấy, như trong kinh đây nói rộng. Chúng sinh do
bố thí được sinh chỗ giàu sang, vì được sinh chỗ giàu sang nên
sinh tâm ngã mạn, kiêu mạn; vì ngã mạn kiêu mạn tăng trưởng
nên phá thiện pháp; vì phá thiện pháp nên đọa vào ba đường
ác. Thế nên Bồ Tát trước tiên dạy rằng: Chớ đắm trước bố
thí, chỉ nhân nơi việc bố thí tu trì giới ấy và đều hồi hướng
đến Niết bàn, vì sao? Vì thật tướng các pháp tính không,
không thể thủ tướng. Như vậy, Bồ Tát do sức phương tiện giáo
hóa chúng sinh khiến được quả Tu đà hoàn cho đến Phật đạo. Bồ
Tát ấy tự mình hành bố thí, cũng dạy chúng sinh bố thí. Nếu
không tự mình bố thí, hoặc có người nói: Nếu bố thí là pháp
hay, cớ sao ông không tự hành? Thế nên Bồ Tát trước tiên tự
mình bố thí.
*Lại nữa, Bồ Tát rất ưa thích thiện pháp,
mà bố thí là cửa ban đầu, thế nên hành bố thí. Lại, Bồ Tát
rất từ bi, thương xót chúng sinh; vì tâm từ bi tuy lớn song
không thể làm đầy đủ cho chúng sinh, thế nên trước tiên bố thí
để làm cho tâm họ được nhu nhuyến, có thể do nhân duyên bố thí
được sinh vào bốn dòng tộc và làm Chuyển lân Thánh vương; rồi
dùng bốn nhiếp pháp nhiếp thủ chúng sinh, dần dần đem pháp ba
thừa dạy bảo khiến cho được Niết bàn. Dạy người khác bố thí,
tán thán pháp bố thí, hoan hỷ tán thán người bố thí; ấy là rất
ưa bố thí. Thế nên thấy người khác cùng hành mà hoan hỷ tán
thán.
*Lại nữa, tâm Bồ Tát thương xót chúng sinh
nếu thấy họ tu phước thời hoan hỷ; như cha lành thấy con làm
việc tốt thời tâm hoan hỷ. Người ấy theo bốn cách hành bố thí
được sinh vào dòng quý Sát lợi, Bà la môn...; lấy bố thí nhiếp
thủ chúng sinh rồi dần dần dạy họ khiến trì giới, thiền định
cho đến được đạo Bích chi Phật. Hoặc thấy chúng sinh người
nào có tâm lớn và có chút ít tâm từ bi, người ấy sợ hãi sinh
tử lâu xa, nên giải đãi thoái mất, thời Bồ Tát dùng sức phương
tiện nói với chúng sinh ấy rằng: Lạ thay, các chúng sinh
kia! Vô thượng chánh đẳng chánh giác dễ được, cớ sao các ông
cho là khó? Chỗ chúng sinh chấp đắm, trong đó không có pháp
chơn thật nhất định có thể ngăn trở, khó hiểu, các ông nên
phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Đã tự mình được độ,
còn độ thoát chúng sinh.
Độ thoát chúng sinh là Bồ Tát tự cưỡi xe
Đại thừa được độ, dùng xe ba thừa tùy theo chỗ thích hợp của
chúng sinh có thể độ mà độ. Đã tự lợi ích mình, cũng lợi ích
người khác.
Lợi ích người khác là tự mình đã thành
Phật, cũng đem pháp ba thừa độ chúng sinh. Nếu Bồ Tát hành
Bát nhã ba la mật được như vậy thời từ khi mới phát tâm về sau
trọn không đọa vào ba đường ác.
Thường làm Chuyển luân Thánh vương là Bồ
Tát phần nhiều sinh cõi Dục, vì sao? Vì trong cõi Vô sắc
không có hình tướng nên không thể giáo hoa; trong cõi Sắc phần
nhiều ưa đắm cái vui thiền định, không có tâm nhàm chán nên
cũng khó hóa giáo; lại cũng không sinh cõi trời Dục giới, vì
sao? Vì đắm cái vui năm dục nên khó giáo hóa. Còn ở trong
nhân đạo đời đời lấy bốn việc nhiếp, nhiếp thủ chúng sinh, nên
làm Chuyển luân Thánh vương. Trong đây Phật tự nói nhân
duyên: Tùy theo chỗ gieo nhân mà được quả báo lớn, như trong
Kinh nói tướng bố thí. Lại có Bồ Tát khi hành Thí Ba la mật,
thấy chúng sinh phá giới liền nghĩ rằng: Các ông vì nhân
duyên không đầy đủ nên phá giới, ta sẽ cấp cho vật cần dùng để
khỏi bị thiếu thốn.
Người phá giới có hai hạng: Một là nhân
duyên trì giới không đầy đủ nên phá, như người nghèo cùng vì
đói khát cấp bách nên trộm cắp. Hai là nhân duyên trì giới
tuy đầy đủ nhưng vì tâm tập theo thói ác, ưa làm việc ác mà
phá giới. Người nghèo cùng phá giới thời Bồ Tát nói với họ:
Ông hãy trì giới, ta sẽ cung cấp cho đầy đủ. Các ông trì giới
rồi dần dần nhờ pháp ba thừa mà được độ thoát; ấy gọi là nhân
bố thí sinh trì giới.
Chúng sinh vì việc không như ý nên nổi giận
là như vì tìm vật không được như ý nên nổi giận, gặp người
không xứng ý nên nổi giận. Bồ Tát tu bố thí tùy theo ý họ mà
cung cấp cho đầy đủ.
Hỏi: Như người nghèo túng thời cấp thí cho
để không nổi giận có thể được, còn người không xứng ý bị làm
xúc não khiến nổi giận thời lại làm sao?
Đáp: Lấy ngọc như ý thí cho thời người ta
đều vừa ý, vì uy đức của ngọc nên người không nổi giận; như
hành giả vào tam muội từ tâm nên người không nổi giận. Thế
nên nói vì thiếu nhân duyên gì nên nổi giận, ta sẽ làm cho
ngươi được đầy đủ.
*Lại nữa, hết thảy pháp tính không, không
có sở hữu, lý do việc ông giận cũng đều hư dối không nhất
định, tại sao ông vì việc hư dối mà nổi giận mắng nhiếc, gia
hại cho đến cướp mạng? Vì tạo tội nặng ấy nên đọa vào ba
đường ác chịu vô lượng khổ. Các ông chớ vì việc hư dối không
thật mà chịu tội lớn. Như trong núi có một bức họa đồ vẽ hình
Phật, trong đó có một phòng riêng, trong có một con quỷ đi đến
khủng bố, xúc não vị đạo nhân nên các đạo nhân đều bỏ phòng mà
đi. Có một khách Tăng đi đến, vị Duy na phân xử chia cho ở
phòng ấy, nói với vị khách tăng rằng: Trong phòng ấy có một
con quỷ ưa xúc não người, ông có thể ở được thì ở. Vị khách
Tăng tự cầm dao trì giới, đa văn mà nói với tiểu quỷ: Ngươi
có khả năng gì ta cũng sẽ hàng phục, liền vào phòng ở. Đêm
xuống lại có một khách Tăng khác đi đến tìm chỗ ở, vị Duy na
cũng chỉ cho ở phòng ấy và nói: Trong phòng có tiểu quỷ hay
xúc não người. Vị khách Tăng kia cũng nói: Tiểu quỷ có khả
năng gì, tôi cũng sẽ hàng phục. Vị khách Tăng vào trước đóng
cửa lại, ngồi ngay thẳng chờ quỷ; vị khách Tăng đến sau trong
đêm tối xô cửa bước vào. Vị khách Tăng trước cho đó là quỷ,
không chịu mở cửa; vị khách Tăng sau dùng hết sức đập cửa. Vị
khách Tăng ở trong lấy dao chắn lại; vị khách Tăng ở ngoài
hơn, xô cửa đi vào. Vị khách Tăng ở trong đánh; vị khách Tăng
ở ngoài cũng cực lực đánh lại nhừ tử. Đến khi trời sáng, nhân
thấy rõ mọi việc mới biết là kẻ đồng học cũ, nên cùng nhau hổ
thẹn mà xin lỗi. Mọi người kéo đến nực cười, cho là quái gỡ.
Chúng sinh cũng như vậy, năm uẩn hòa hợp không có ngã, không
có nhân mà chấp thủ tướng suông để tranh đấu nhau. Nếu bị cắt
xẻ từng mảnh ném xuống đất thời chỉ có xương thịt mà không có
người, không có ta. Thế nên Bồ Tát nói với chúng sinh rằng:
Các ông chớ ở nơi căn bản không, mà tranh đấu, gây tội, vì tội
tranh đấu nên thân người còn không thể có được, huống gì được
gặp Phật! Nên biết thân người khó được, Phật ra đời khó gặp,
thời giờ quý báu dễ qua, một phen rơi vào chỗ hoạn nạn thời
vĩnh viễn không thể sửa trị. Nếu đọa vào địa ngục, bị thiêu
đốt, cắt xẻ thời làm sao giáo hóa được? Nếu rơi vào súc sinh,
tàn hại lẫn nhau, cũng không thể giáo hóa! Nếu rơi vào ngạ
quỷ, đói khát bức não thời cũng không thể giáo hóa! Nếu sinh
vào cõi trời sống lâu, dù ngàn vạn đức Phật qua đi mà vì đắm
trước thiền vị nên cũng không hay biết! Nếu như sinh vào các
nước biên địa, tuy đều là thân người mà ngu si, không thể giáo
hóa! Tuy được sinh vào trung tâm cõi nước mà hoặc tay chân
không hoàn toàn; hoặc mù, điếc, câm, ngọng; hoặc không biết
nghĩa lý; hoặc tuy sáu căn không đầy đủ mà không thông lợi,
hay đắm sâu tà kiến nói rằng không có tội phước, thời cũng
không thể giáo hóa! Thế nên vì họ nói thì giờ quý báu, chớ để
luống qua mà bị đọa vào các chỗ khổ nạn, không thể độ được.
Các Ba la mật khác như trong kinh này nói
rộng, nên ở đây không giải thích.
Hỏi: Ở trong Thí Ba la mật mà hành năm Ba
la mật xong, sao còn nói lại sáu Ba la mật?
Đáp: Trên kia nói tu một độ thứ lớp đầy đủ
năm độ, còn ở đây nói chung cả năm độ cùng tu một lần.
Lại, trước chỉ nói sáu Ba la mật, nay đây
nói luôn cả ba mươi bảy pháp trợ đạo và các đạo quả.
Hỏi: Ba mươi bảy pháp trợ đạo từ tâm xuất
ra, làm sao do nhân duyên giúp được?
Đáp: Bồ Tát cung cấp cho người tọa thiền y
phục, đồ uống ăn, thuốc thang, gậy pháp, thiền sàng, thiền
trấn, làm cho gặp được thầy tốt dạy bảo, được đệ tử tốt thọ
giáo; đưa cho bộ xương người khiến quán, cho thiền kinh khiến
người dạy thiền pháp. Như vậy, là nhân duyên của ba mươi bảy
pháp trợ đạo. Lại khiến người giảng cho pháp Đại thừa rằng:
Các ông cần y phục, đồ uống ăn hãy đều đến đây nhận lấy như
vật của mình, chớ nghi ngại. Các ông được vật ấy rồi tự mình
hành sáu Ba la mật, cũng dạy người khác hành sáu Ba la mật.
Việc bố thí ấy tính không, các ông chớ đắm trước việc bố thí
và quả báo bố thí. Chúng sinh ngộ được tính không ấy, dần dần
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, vào Vô dư Niết bàn.
Như lấy pháp bố thí làm đầu sinh ra năm Ba
la mật khác; nghĩa các Ba la mật khác cũng như vậy.
(Hết cuốn 91 theo bản Hán)