Kinh: Tu Bồ Đề bạch
Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, nếu các pháp như mộng, như tiếng
vang, như ảnh, như sóng nắng, như huyễn, như hóa, không có
thật sự, không có tính sở hữu, tự tướng không, thời làm sao
phân biệt ấy là pháp lành, là pháp chẳng lành, là pháp thế
gian, là pháp xuất thế gian, là pháp hữu lậu, là pháp vô lậu,
là pháp hữu vi, là pháp vô vi, là pháp có thể được quả Tu đà
hoàn cho đến quả A la hán, là pháp có thể được đạo Bích chi
Phật, được Vô thượng chánh đẳng chánh giác?
Phật bảo Tu Bồ Đề:
Người phàm phu ngu si thấy có mộng, thấy người có mông, cho
đến thấy hóa, thấy có người thấy hóa mà khởi lên nghiệp thân,
miệng, ý thiện, bất thiện, vô ký; khởi lên phước nghiệp, tội
nghiệp, bất động nghiệp. Bồ Tát ấy hành Bát nhã ba la mật trú
trong hai không là rốt ráo không và vô thỉ không.
Vì chúng sinh
thuyết pháp rằng: Này các chúng sinh, sắc ấy không, không có
sở hữu; thọ, tưởng, hành, thức ấy không, không có sở hữu; mười
hai nhập, mưới tám giới là mộng. Sắc là tiếng vang, là ảnh, là
sóng năng, là huyễn, là hóa; thọ, tưởng, hành, thức cũng như
vậy. Mười hai nhập, mười tám giới là mộng, là tiếng vang, là
ảnh, là sóng năng, là huyễn, là hóa; trong ấy không có năm
uẩn, mười hai nhập, mười tám giới, không có mộng, cũng không
có người thấy mộng, không tiếng vang, cũng không có người nghe
tiếng vang; không có ảnh , cũng không có người thấy ảnh; không
có sóng nắng, cũng không có người thấy sóng nắng; không có
huyễn, cũng không có người thấy huyễn; không có hóa, cũng
không có người thấy hóa. Hết thảy pháp không có cội gốc, thật
tính không có sở hữu. Các người ở trong chỗ không có năm uẩn
thấy năm uẩn, không có mười hai nhập thấy mười hai nhập, không
có mười tám giới thấy mười tám giới; các pháp ấy đều do nhân
duyên hòa hợp sinh, vì khởi tâm điên đảo, nó thuộc quả báo của
nghiệp, các người cớ gì đối với các pháp không, không có cội
gốc mà chấp thủ tướng cội gốc? Khi ấy Bồ Tát hành Bát nhã ba
la mật dùng sức phương tiện đối với sự xan tham, kép chúng
sinh ra khỏi bằng cách dạy họ hành bố thí, đem công đức bố thí
ấy được quả báo lớn; từ phước báo lớn được ra khỏi rồi dạy họ
khiến trì giới, do công đức trì giới được sinh cõi trời tôn
quý; lại kéo ra khỏi khiến trú vào sơ thiền, do công đức sơ
thiền được sinh cõi phạm thiên; nhị thiền, tam thiền, tứ
thiền, vô biên không xứ, thức xứ, vô sở hữu xứ, Phi hữu tưởng
Phi vô tưởng xứ cũng như vậy. Đối với chúng sinh hành bố thí
và quả báo bố thí ấy, trì giới và quả báo trì giới, thiền
định, và quả báo thiền định ấy dùng mỗi mỗi nhân duyên kéo ra
khỏi mà an trí nơi Vô dư Niết bàn và ở trong đạo Niết bàn, đó
là bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm
lực, bảy giác phần, tám phần thánh đạo, Không, Vô tướng, Vô
tác, giải thoát môn, tám bội xả, định chín thứ lớp, mười lực
của Phật, bốn điều không sợ, bốn trí không ngại, mười tám pháp
không chung, mà an ổn chúng sinh, khiến ở vào thánh pháp vô
lậu, vô sắc, vô hình, vô đối. Thấy người có thể được quả Tu đà
hoàn cho đến đạo Bích chi Phật thời khiến an trú quả Tu đà
hoàn cho đến đạo Bích chi Phật; thấy người có thể được Vô
thượng chánh đẳng chánh giác thời an ổn giáo hóa khiến trú
trong Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Tu Bồ Đề bạch Phật
rằng: Bạch Đức Thế Tôn, các Bồ Tát rất hiếm có, khó sánh kịp,
các vị ấy có thể hành Bát nhã ba la mật sâu xa, đối với các
pháp không có tính sở hữu, rốt ráo không, vô thỉ không, mà
phân biệt các pháp là thiện, là bất thiện, là hữu lậu, là vô
lậu cho đến là hữu vi, là vô vi.
Phật bảo Tu bồ đề:
Như vậy, như vậy. Các Bồ Tát rất hiếm có, khó bì kịp, các vị
ấy có thể hành Bát nhã ba la mật sâu xa, đối với các pháp
không có tính sở hữu, rốt ráo không, vô thỉ không mà phân biệt
các pháp. Này Tu Bồ Đề, các ông nếu biết pháp hiếm có, khó bì
của Bồ Tát ấy, thời biết hết thảy Thanh văn, Bích chi Phật
không thể có được, huống gì người khác!
Tu bồ đề bạch Phật
rằng: Bạch Đức Thế Tôn, những gì là pháp hiếm có, khó bì kịp
của Bồ Tát? Các Thanh văn, Bích chi Phật không có được?
Phật bảo Tu bồ đề:
Phải nhất tâm lắng nghe. Có Bồ Tát hành Ba la mật, trú trong
sáu Ba la mật do quả báo được và trú trong năm thần thông do
quả báo được, 37 pháp trợ đạo; trú trong các Đà la ni, các trí
không ngại, đi đến mười phương thế giới; đối với người có thể
do bố thí nhiếp độ, thời dùng bố thí nhiếp độ; đối với người
có thể do trì giới nhiếp độ, thời lấy trì giới nhiếp độ; đối
với người do nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, thời tùy sự
thích ứng mà nhiếp độ; đối với người có thể do sơ thiền nhiếp
độ, thời lấy sơ thiền nhiếp độ; đối với người có thể do nhị
thiền, tam thiền, cho đến Phi hữu tưởng Phi vô tưởng xứ nhiếp
độ, thời tùy theo chỗ thích ứng mà nhiếp độ; đối với người có
thể do tâm từ, bi, hỉ, xả nhiếp độ, thời lấy tâm từ, bi, hỉ,
xả nhiếp độ; đối với người có thể do bốn niệm xứ, cho đến tám
phần thánh đạo, do Không, Vô tướng, Vô tác tam muội nhiếp độ,
thời tùy chỗ thích ứng mà nhiếp độ.
Bạch Đức Thế Tôn,
làm sao Bồ Tát lấy bố thí lợi ích chúng sinh?
Này Tu Bồ Đề, Bồ
Tát khi hành Bát nhã ba la mật, bố thí tùy theo chỗ n cần dùng
hoặc ăn uống, y phục, xu ngựa, hương hoa, anh lạc đều cấp thí
cho, như cúng dường Phật, Bích chi Phật, A la hán, A na hàm,
Tư đà hàm, Tu đà hoàn ngang nhau không khác. hoặc thí cho
người tu tám phần thánh đạo và người phàm, cho đến cầm thú đều
không có phân biệt, bình đẳng bố thí, vì sao? Vì hết thảy pháp
không khác, không phân biệt. Bồ Tát ấy bố thí không khác,
không phân biệt rồi sẽ được quả báo không có phân biệt, đó là
trí Nhất thiết chủng. Này Tu Bồ Đề, nếu Bồ Tát thấy người hành
khất hoặc sinh tâm như vầy: Phật là ruộng phước, ta nên cúng
dường; cầm thú chẳng phải phước điền, không nên cúng dường.
Như vậy chẳng phải pháp Bồ Tát, vì sao? Vì Bồ Tát phát tâm Vô
thượng chánh đẳng chánh giác không nghĩ rằng đối với chúng
sinh này nên bố thí làm lợi ích, đối với chúng sinh kia không
nên bố thí, vì bố thí cho chúng sinh ấy nên được sinh dòng lớn
Sát lợi, dòng lớn Bà la môn, đại gia cư sĩ, cho đến do nhân
duyên bố thí ấy lấy pháp ba thừa độ cho khiến vào Vô dư Niết
bàn. Nếu chúng sinh đi theo Bồ Tát xin, cũng không sinh tâm
phân biệt sai khác: nên cho hay không nên cho. Vì sao? Vì Bồ
Tát ấy vì chúng sinh nên phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh
giác, nếu phân biệt lựa chọn bèn rơi vào chỗ bị quở trách của
chư Phật, Bồ Tát, Bích chi Phật, học nhân, vô học nhân và
trời, người rằng: Ai cầu ông phát tâm cứu chúng sinh, làm nhà
cho chúng sinh, là chỗ thũ hộ cho chúng sinh, làm chỗ nương
cho chúng sinh, mà ông phân biệt, lựa chọn nên cho hay không
nên cho? Lại, nếu Bồ Tát khi hành Bát nhã ba la mật, hoặc
người, chẳng phải người đi đến muốn xin Bồ Tát thân thể, tay
chân, khi ấy không nên sinh hai tâm là hoặc cho hoặc không
cho, vì sao? Vì Bồ Tát vì chúng sinh nên thọ thân, nay chúng
sinh đi đến xin lấy, sao có thể không cho? Ta vì lợi ích chúng
sinh nên thọ thân này, chúng sinh không xin, tự mình nên đem
cho, huống gì chúng sinh đến xin mà không cho! Bồ Tát hành Bát
nhã ba la mật nên học như vậy.
*Lại nữa, Tu Bồ Đề,
Bồ Tát thấy người đến xin nên nghĩ rằng: Trong đây ai cho, ai
nhận, cho vật gì? Vì hết thảy pháp tự tính đều không thể có
được, đều rốt ráo không. Pháp không tướng không có cho, không
có cướp đoạt, vì sao? Vì rốt ráo không, nội không, ngoại
không, nội ngoại không, đại không, đệ nhất nghĩa không, tự
tướng không. Trú trong rốt ráo ấy không bố thí, khi ấy đầy đủ
Thí Ba la mật. Đầy đủ Thí Ba la mật; nếu khi bị dứt pháp bên
trong thân, pháp bên ngoài thân, liền nghĩ rằng: Cắt ta là ai?
Xẻ ta là ai?
*Lại nữa, Ta dùng
mắt Phật thấy các Bồ Tát ở phương đông nhiều như cát sông
Hằng, vào địa ngục lớn để làm tắt lửa, nước sôi nguội; dùng ba
việc giáo hóa: một là thần túc thông, hai là tha tâm thông, ba
là thuyết pháp. Bồ Tát do sức thần thông làm cho lửa địa ngục
lớn tắt, nước sôi nguội; do tha tâm thông đem tâm từ, bi, hỉ,
xả tùy ý thuyết pháp. Chúng sinh ấy đối với Bồ Tát sinh tâm
thanh tịnh, nên từ địa ngục được thoát khỏi, dần dần lấy pháp
ba thừa dứt hết khổ não. Phương nam, tây, bắc, bốn góc, trên,
dưới cũng như vậy.
*Lại nữa, Tu Bồ Đề,
Ta dùng mắt Phật xem mười phương thế giới thấy các Bồ Tát
trong quốc độ nhiều như cát sông Hằng, làm thị giả cho chư
Phật, cúng dường chư Phật, tùy ý hoan hỉ, cúng kính; nếu chư
Phật thuyết pháp đều có thể thọ trì cho đến khi được Vô thượng
chánh đẳng chánh giác trọn không quên mất.
*Lại nữa, Ta dùng
mắt Phật xem thấy Bồ Tát trong mười phương các cõi nước nhiều
như cát sông Hằng, vì súc sinh nên xả bỏ đời sống kia, cắt xẻ
thân thể, phân tán đi các phương. Có các chúng sinh ăn thịt
các Bồ Tát ấy, đều ưa kính Bồ Tát. Vì tâm ưa kính ấy nên liền
được lìa khỏi đường súc sinh, gặp chư Phật, nghe Phật thuyết
pháp như thuyết tu hành, dần dần nhờ pháp ba thừa mà vào Vô dư
Niết bàn. Như vậy, các Bồ Tát làm lợi ích rất nhiều, giáo hóa
chúng sinh khiến phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, như
thuyết tu hành, cho đến khi vào Vô dư Niết bàn.
*Lại nữa, Tu Bồ Đề,
Ta dùng mắt Phật xem thấy Bồ Tát trong mười phương các cõi
nước nhiều như cát sông Hằng, trừ cái khổ đói khát của ngạ
quỷ, các ngạ quỷ ấy đều ái kính Bồ Tát. Do tâm ái kính nên
được lìa khỏi đường ngạ quỷ, gặp chư Phật, nghe Phật thuyết
pháp như thuyết tu hành, dần dần do pháp ba thừa mà vào Vô dư
Niết bàn. Như vậy, Bồ Tát vì độ chúng sinh hành tâm đại bi.
*Lại nữa, Tu Bồ Đề,
Ta dùng mắt Phật thấy Bồ Tát ở trên cõi trời Tứ thiên vương
thuyết pháp; ở trên cõi trời Ba mươi ba, cõi trời Dạ ma, trời
Đâu suất đà, trời Hóa lạc, trời Tha hóa tự tại thuyết pháp.
Các trời nghe Bồ Tát thuyết pháp, dần dần nhờ pháp ba thừa mà
được diệt độ. Trong chúng chư thiên ấy, có người tham trước
năm dục, thời Bồ Tát ấy thị hiện lửa cháy đốt cung điện họ mà
vì họ thuyết pháp, nói rằng: Này chư thiên, hết thảy pháp hữu
vi đều vô thường, đâu được an ổn!
*Lại nữa, Tu Bồ Đề,
Ta dùng mắt Phật xem thấy Bồ Tát trong mười phương các cõi
nước, thấy các Phạm thiên ở trong các cõi nước nhiều như cát
sông Hằng tham trước tà kiến. Các Bồ Tát dạy khiến xa lìa tà
kiến, nói rằng: Các ông làm sao ở trong các pháp tướng không,
hư vọng mà sinh tâm tà kiến? Như vậy, Bồ Tát trú trong tâm đại
từ vì chúng sinh thuyết pháp. Đó là pháp hiếm có khó bì kịp
của các Bồ Tát.
*Lại nữa, Tu Bồ Đề,
Ta dùng mắt Phật xem thấy các Bồ Tát trong mười phương các cõi
nước nhiều như cát sông Hằng, lấy bốn việc nhiếp thủ chúng
sinh. Bốn việc là bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.
Bồ Tát lấy việc bố
thí nhiếp thủ chúng sinh như thế nào? Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát do
hai cách bố thí nhiếp thủ chúng sinh, là tài thí và pháp thí.
Tài thí nhiếp thủ chúng sinh là thế nào? Đó là Bồ Tát lấy
vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, chân châu, mã não, san hô, các vật
báu; hoặc đò ăn uống, y phục, đồ nằm, phòng xá, đèn đuốc, hoa
hương, anh lạc, hoặc trai, hoặc gái, hoặc trâu dê, voi ngựa,
xe cộ, hoặc thân mình cấp thí cho chúng sinh, nói với chúng
sinh rằng: Các ngươi nếu có cần gì hãy đến lấy như lấy vật của
mình, đừng nghi ngại, khó khăn. Bồ Tát thí rồi, dạy ba Quy y
là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Hoặc dạy thọ năm giới;
hoặc dạy thọ giới trong một ngày; hoặc dạy các thiền định, sơ
thiền cho đến Phi hữu tưởng Phi vô tưởng xứ định; hoặc dạy từ,
bi, hỉ, xả; hoặc dạy niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm
giới, niệm xả, niệm thiên; hoặc dạy quán bất tịnh, quán hơi
thở ra vào, hoặc tướng, hoặc xúc; hoặc dạy bốn niệm xứ cho đến
tám phần thánh đạo; hoặc dạy Không, Vô tướng, Vô tác tam muội,
tám bội xả, cho đến mười tám pháp không chung, hoặc dạy đại từ
đại bi, 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình; hoặc dạy quả Tu đà hoàn
cho đến đạo Bích chi Phật Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Như
vậy, Bồ Tát tu Bát nhã ba la mật, do sức phương tiện dạy chúng
sinh tài thí rồi, lại dạy khiến được Niết bàn vô thượng an ổn.
Này Tu Bồ Đề, ấy gọi là pháp hiếm có khó bì kịp của Bồ Tát.
Này Tu Bồ Đề, Bồ
Tát dùng pháp thí nhiếp thủ chúng sinh là thế nào? Này Tu Bồ
Đề, pháp thí có hai là thế gian và xuất thế gian. Pháp thí thế
gian là thế nào? Đó là diễn giải, chỉ bày pháp thế gian, như
quán bất tịnh, quán hơi thở ra vào, bốn thiền, bốn tâm vô
lượng, bốn định vô sắc. Pháp thế gian như vậy là pháp tu chung
với phàm phu; ấy gọi là pháp thí theo thế gian. Bồ Tát pháp
thí theo thế gian như vậy rồi, dùng mỗi mỗi nhân duyên giáo
hóa, khiến xa lìa pháp thế gian. Xa lìa pháp thế gian rồi,
dùng sức phương tiện khiến được thánh pháp vô lậu và thánh quả
vô lậu. Thế nào là thánh pháp và thánh quả vô lậu? Thánh pháp
vô lậu là 37 pháp trợ đạo, ba môn giải thoát. Thánh quả vô lậu
là quả Tu đà hoàn cho đến quả A la hán, đạo Bích chi Phật và
Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
*Lại nữa, Tu Bồ Đề,
thánh pháp vô lậu của Bồ Tát là trí tuệ đối với quả Tu đà hoàn
cho đến quả A la hán; trí tuệ đối với đạo Bích chi Phật; trí
tuệ đối với ba mươi bảy pháp trợ đạo, sáu Ba la mật cho đến
đại từ đại bi; trí tuệ hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian, hoặc
hữu lậu, hoặc vô lậu, hoặc hữu vi, hoặc vô vi. Đối với các
pháp như vậy là trí Nhất thiết chủng, ấy gọi là thánh pháp vô
lậu của Bồ Tát.
Thế nào là thánh
quả vô lậu? Đó là dứt hết thảy phiền não và tập khí, gọi là
thánh quả vô lậu.
Tu bồ đề bạch Phật
rằng: Bạch Đức Thế Tôn, Bồ Tát được trí Nhất thiết chủng
chăng?
Phật dạy: Như vậy,
như vậy, Bồ Tát được trí Nhất thiết chủng.
Tu Bồ Đề thưa: Bồ
Tát với Phật có gì sai khác?
Phật dạy: Có khác.
Bồ Tát được trí Nhất thiết chủng gọi là Phật, vì sao? Vì tâm
Bồ Tát với tâm Phật không có sai khác. Bồ Tát trú trong trí
Nhất thiết chủng đối với hết thảy pháp không có điều gì không
hiểu rõ; ấy gọi là Bồ Tát pháp thí theo thế gian. Bồ Tát nhân
pháp thí theo thế gian mà đầy đủ pháp thí theo xuất thế gian.
Như vậy, Bồ Tát dạy chúng sinh, khiến được pháp thế gian, do
sức phương tiện dạy khiến được pháp xuất thế gian.
Này Tu Bồ Đề, thế
nào là pháp xuất thế gian? Dó là pháp không chung cùng với
pháp phàm phu, như bốn niệm xứ, bốn chánh cần, cho đến tám
phần thánh đọ; ba môn giải thoát, tám bội xả, cho đến mười tám
pháp không chung, 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình, 500 môn Đà la
ni; ấy gọi là pháp xuất thế gian.
Này Tu Bồ Đề, thế
nào là bốn niệm xứ? Là Bồ Tát quán nội thân trên thân, quán
ngoại thân trên thân, quán nội ngoại thân trên thân, siêng
tinh tấn nhất tâm trí tuệ quán thân, quán nhân duyên tập khởi
của thân, quán thân biệt, quán sự tập khời của thân diệt. Hành
đạo ấy không nương tựa gì, đối với thế gian không có ái nhiễm;
quán thọ, tâm, pháp, niệm xứ cũng như vậy.
Này Tu Bồ Đề, thế
nào là bốn chánh cần? Là đối với pháp ác bất thiện chưa sinh,
vì làm cho đừng sinh nên siêng sinh tâm tinh tấn. Đối với pháp
ác bất thiện đã sinh, vì làm cho đoạn dứt nên siêng sinh tâm
tinh tấn. Đối với thiện pháp chưa sinh, vì làm cho phát sinh
nên siêng sinh tâm tinh tấn. Đối với pháp thiện đã sinh, vì
làm cho tăng trưởng đầy đủ nên siêng tâm tinh tấn; ấy gọi là
bốn chánh cần.
Này Tu Bồ Đề, thế
nào là bốn như ý túc? Đó là tu dục tam muội, đoạn phiền não
thành tựu, là như ý túc đầu; tu tinh tấn tam muội, tâm tam
muội, tư duy tam muội, đoạn phiền não thành tựu, là như ý túc
thứ hai, ba, tư.
Thế nào là năm căn?
Đó là tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn và huệ căn.
Thế nào là năm lực?
Đó là tín lực, tấn lực, niệm lực, định lực và huệ lực.
Thế nào là Bảy giác
phần? Đó là niệm giác phần, trạch pháp giác phần, tinh tấn
giác phần, hỷ giác phần, trừ giác phần (tức khinh an giác phần
- ND), định giác phần và xả giác phần.
Thế nào là tám phần
thánh đạo? Đó là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
Thế nào là ba môn
tam muội? Đó là môn Không tam muội, môn Vô tướng, Vô tác tam
muội.
Thế nào là Không
tam muội? Lấy hạnh Không, vô ngã để nhiếp tâm, ấy gọi là Không
tam muội.
Thế nào là Vô tướng
tam muội? Lấy hạnh tịch diệt, hạnh viễn ly nhiếp tâm, ấy là Vô
tướng tam muội.
Thế nào là Vô tác
tam muội? Lấy hạnh vô thường, hạnh khổ nhiếp tâm, ấy là Vô tác
tam muội.
Thế nào là tám bội
xả? Bên trong có sắc tướng bên ngoài quán sắc, là bội xả đầu;
bên trong không có sắc tướng bên ngoài quán sắc là bội xả hai;
tịnh bội xả, là bội xả ba; vượt qua hết thảy sắc tướng, diệt
tướng hữu đối, không nghĩ đến hết thảy tướng sai khác, quán hư
không vô biên, vào vô biên không xứ cho đến vượt qua hết thảy
Phi hữu tưởng Phi vô tưởng xứ vào diệt thọ tưởng bội xả; ấy
gọi là tám bội xả.
Thế nào là Định
chín thứ lớp? Đó là hành giả lìa dục, lìa pháp ác bất thiện,
có giác có quán, lìa dục sinh hỷ lạc vào sơ thiền, nhị thiền,
tam thiền, tứ thiền, cho đến vượt qua Phi hữu tưởng Phi vô
tưởng xứ, vào định Diệt thọ tưởng; ấy gọi là định chín thứ
lớp.
Thế nào là mười lực
của Phật? Đó là trí biết như thật: phải đạo lý, không phải đạo
lý; trí biết các nghiệp, các pháp thọ báo; biết chỗ tạo
nghiệp; biết nhân duyên; biết quả báo của chúng sinh quá khứ,
vị lai, hiện tại; trí biết như thật các thiền định, giải
thoát, tam muội định, phân biệt tướng nhơ, sạch; biết các căn
cao thấp sai khác của chúng sinh; biết các tính dục, kiến giải
sai khác của chúng sinh; biết các tính của thế gian; biết chỗ
đi đến của hết thảy; biết đời trước từ một đời cho đến vô
lượng kiếp; biết như thật thiên nhãn thấy chúng sinh, sinh
đường lành, đường dữ; như thật biết lậu hoặc hết nên được tâm
vô lậu giải thoát; ấy là mười lực của Phật.
Thế nào là bốn điều
không sợ? Đó là Phật nói lời thành thật rằng: Ta là bậc Nhất
thiết trí, hoặc có Sa môn, Bà la môn, trời, ma, Phạm và chúng
sinh khác nói như thật rằng: Pháp ấy Ta không biết, thời cho
đến Ta không thấy có chút mảy may sợ hại. Vì thế Ta được an
ổn, được điều không sợ, an trú chỗ thánh chúa, ở giữa đại
chúng cất tiếng rống Sư tử, chuyển bánh xe pháp phạm ma các Sa
môn, Bà la môn, hoặc trời, ma, Phạm, hoặc các chúng sinh khác
thật không thể chuyển được; đó là điều không sợ thứ nhất.
Phật nói lời thành
thật rằng: Ta sạch hết các lậu hoặc, nếu có Sa môn, Bà la môn,
hoặc trời, ma, Phạm và các chúng sinh khác nói như thật rằng:
Hành đạo ấy không thể đưa ra khỏi thế gian, không thể hết khổ,
thời cho đến Ta không thấy có chút mảy may sợ hãi. Vì thế Ta
được an ổn, được điều không sợ, an trú chỗ thánh chúa, ở giữa
đại chúng cất tiếng rống Sư tử, chuyển bánh xe pháp, các Sa
môn, Bà la môn, hoặc trời, ma, phạm, hoặc các chúng sinh khác
thật không thể chuyển được; đó là điều không sợ thứ tư.
Thế nào là bốn trí
không ngại? Đó là: 1. Trí biết nghĩa, thông suốt không ngại;
2. Trí biết pháp, thông suốt không ngại; 3. Trí biết từ ngữ,
thông suốt không ngại; 4. Trí biết vui nói, thông suốt không
ngại.
Thế nào là trí biết
nghĩa thông suốt không ngại? Đó là trí biết duyên theo nghĩa
lý; ấy là Trí biết nghĩa thông suốt không ngại.
Thế nào là trí biết
pháp, thông suốt không ngại? Là trí tuệ duyên theo giáo pháp,
là Trí biết pháp thông suốt không ngại.
Thế nào là trí biết
từ ngữ, thông suốt không ngại? Là trí duyên theo từ ngữ, là
Trí biết từ ngữ thông suốt không ngại.
Thế nào là trí biết
vui nói, thông suốt không ngại? Là trí tuệ duyên theo sự vui
nói, ấy là Trí biết vui nói thông suốt không ngại.
Thế nào là mười tám
pháp không chung? 1. Là thân Phật không có lỗi; 2. Là Miệng
Phật không lỗi; 3. Tâm niệm Phật không lỗi; 4. Phật không có
dị tưởng; 5. Phật không có tâm bất định; 6. Phật không có tâm
không biết mà xả bỏ; 7. Sự ham muốn không giảm sút; 8. Tinh
tấn không giảm sút; 9. Niệm không giảm sút; 10. Tuệ không giảm
sút; 11. Giải thoát không giảm sút; 12. Giải thoát tri kiến
không giảm sút; 13. Hết thảy thân nghiệp hành theo trí tuệ;
14. Hết thảy khẩu nghiệp hành theo trí tuệ; 15. Hết thảy ý
nghiệp hành theo trí tuệ; 16. Trí tuệ biết đời quá khứ không
ngại; 17. Trí tuệ biết đời vị lai không ngại và 18. Trí tuệ
biết đời hiện tại không ngại.
Thế nào là 32
tướng? 1. Lòng bàn chân bằng phẳng; 2. Lòng bàn chân có tướng
bánh xe đủ ngàn tăm; 3. Ngón tay thon dài; 4. Gót chân rộng và
bằng; 5. Ngón tay, ngón chân có lưới lụa xòe như của chim
Nhạn; 6. Tay chân mềm mại; 7. Mu bàn chân cao và đầy; 8. Bắp
đùi như nai chúa Y nê diên; 8. Khi đứng thẳng, ngón tay sờ đến
đầu gối; 10. Tướng âm tàng như trâu chúa; 11. Thân cao và rộng
cân đối như cây Ni câu loại; 12. Lông trên thân mọc xoay hướng
lên; 13. Mỗi lỗ chân lông có một sợi lông; 14. Thân sắc vàng
như màu hoàng kim; 15. Có ánh sáng một trượng; 16. Da mỏng,
mịn; 17. Bảy chỗ trên thân đều đặn; 18. Dưới hai nách đầy đặn;
19. Phần thân trên như Sư tử; 20. Thân to lớn và thẳng; 21.
Vai tròn và đẹp; 22. Có 40 cái răng; 23. Răng đều đặn; 24.
Răng trắng trong; 25. Hai má như Sư tử; 26. Được thượng vị
trong các vị; 27. Lưỡi rộng, dài; 28. Có âm thanh như của Trời
Phạm thiên; 29. Mắt xanh biếc; 30. Lông mi như trâu chúa; 31.
Nhục kế ở trên đầu; 32. Tướng lông trắng giữa hai chân mày.
(32 tướng này xem giải thích rõ ở trang 173, chương 7, cuốn 4,
tập 1, luận Đại trí độ này). Thân Phật thành tựu 32 tướng,
phóng hào quang chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nếu
muốn chiếu rộng thời khắp mười phương vô lượng vô số thế giới,
vì chúng sinh nên thọ nhận hào quang một trượng ấy. Nếu phóng
vô lượng ánh sáng thời không có số ngày tháng, thời tiết, năm.
Âm thanh của Phật biến khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nếu
muốn âm thanh lớn thời biến khắp mười phương vô lượng vô số
thế giới, tùy theo chúng sinh nhiều ít mà âm thanh đến khắp.
Luận: Hỏi: Từ trước
lại đây, nơi nơi đều nói các pháp tính không, làm sao phân
biệt thế nào là có thiện, bất thiện; từ sau đó trở đi, trong
mỗi phẩm nói nghĩa không khác, cớ gì Tu Bồ Đề cứ mỗi mỗi hỏi
lại?
Đáp: Việc ấy trên
đã đáp rồi. Lại nữa, chúng sinh từ vô thỉ sinh tử lại đây tâm
nhiễm trước sâu nặng, khó hiểu nên Tu Bồ Đề cứ hỏi lại. Lại
nữa, Bát nhã ba la mật muốn nói yếu nghĩa của tính không ấy
nên thường hỏi. Lại nữa, khi Phật ở đời, chúng sinh lợi căn dễ
ngộ; sau Phật diệt độ khoảng 500 năm, chúng sinh trong đời
Tượng pháp ưa đắm Phật pháp, rơi vào chỗ đắm pháp, hoặc nói
các pháp đều không, như mộng, như huyễn, cớ gì lại có thiện,
bất thiện? Vì thế nên Tu Bồ Đề thương xót chúng sinh vị lai
độn căn không hiểu, nên hỏi lại rằng: Bạch Đức Thế Tôn, nếu
các pháp đều không, cớ sao phân biệt có thiện, bất thiện?
Trong đây Phật tự nói nhân duyên: Vì tâm phàm phu điên đảo,
đối với các pháp đều khởi lên dị kiến điên đảo, cho đến không
thấy một pháp nào thật. Phàm phu đối với mộng thời đắm mộng,
đối với người nằm mộng thời đắm việc người thấy mộng, cũng đắm
việc trông thấy trong mộng. Hạng người ấy nếu không tin tội
phước thời khởi lên ba nghiệp bất thiện, nếu tin tội phước
thời khởi lên ba nghiệp thiện.
Nghiệp thiện, bất
thiện, bất động. Nghiệp thiện là nghiệp ở trong cõi Dục, có
quả báo vui thích; nghiệp bất thiện là nghiệp có quả báo ưu
cầu, khổ não; nghiệp bất động là nghiệp có quả báo sinh vào
cõi sắc, cõi Vô sắc. Bồ Tát biết ba thứ nghiệp ấy đều là hư
dối, không thật; ở trong hai Không, vì chúng sinh thuyết pháp,
lấy rốt ráo không, phá chấp pháp; lấy vô thỉ không, phá chấp
tướng chúng sinh. Ở vào trung đạo vì chúng sinh thuyết pháp,
đó là năm uẩn, mười hai nhập, mười tám giới đều là không, như
mộng, như huyễn cho đến như hóa, ở trong ấy không có mộng cũng
không có n thấy mộng. Bồ Tát nói với chúng sinh rằng: Các
người đối với pháp không, vì tâm điên đảo nên sinh chấp trước.
Bồ Tát do sức phương tiện nên từ trong điên đảo kép chúng sinh
ra khoi; thí như xan tham là điên đảo, lấy bố thí phá xan tham
mà chúng sinh lại đắm theo bố thí ấy nên lại nói quả báo bố
thí vô thường, không thật, từ bố thí kép chúng sinh ra khỏi
khiến trì giới. Từ trong trì giới và quả báo trì giới kéo
chúng sinh ra khỏi, nói với chúng sinh rằng: Phước cõi trời
hưởng hết thời vô thường khổ não, kéo chúng sinh ra khỏi, nói
với chúng sinh rằng: Phước cõi trời hưởng hết thời vô thường
khổ não, kép chúng sinh ra khỏi trì giới khiến lìa dục, tu
thiền định; lại nói thiền định và quả báo thiền định hư dối
không thật, hay làm cho chúng sinh đọa vào điên đảo. Dùng mỗi
mỗi nhân duyên nói tội lỗi vô thường của việc bố thí, trì
giới, thiền định để khiến chúng sinh an trú Niết bàn. Phương
tiên được Niết bàn là bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không
chung. Nếu bố thí, trì giới, thiền định là pháp thật, thời
không nên dạy khiến xa lìa; như lấy bố thí, trì giới... phá
pháp phàm phu, ấy là nhân điên đảo phát sinh, tuy lợi ích
chúng sinh thời gian ngắn, nhưng lâu dài thời biến khác, sinh
ra khổ não, nên cũng dạy khiến lìa bỏ. Bồ tát dùng sức phương
tiện, trước dạy chúng sinh bỏ tội, tán thán phước đức bố thí,
trì giới, tiếp đến nói việc bố thí, trì giới; cũng chưa thoát
khỏi khổ não vô thường, nên lại nói các pháp không, chỉ xưng
tán thật pháp, đó là Vô dư Niết bàn. Khi ấy Tu Bồ Đề hoan hỉ
cho là rất hy hữu. Bồ Tát có thể biết thật tướng các pháp như
vậy. Nghĩa là biết rốt ráo không, mà vì chúng sinh thuyết
pháp, khiến đạt đến Vô dư Niết bàn. Phật dạy đó là một việc hy
hữu. Hỏi là lại muốn biết pháp hy hữu của Bồ Tát. Hết thảy
Thanh văn, Bích chi Phật không thể đáp pháp hy hữu của Bồ Tát
ấy, huống gì là người khác!
Tu Bồ Đề hỏi: Thế
nào là lại có pháp hy hữu? Phật đáp như trong kinh đây nói.
Hỏi: Trong kinh này
trước dạy khiến bố thí, trì giới, thiền định, nay lại nói lại,
có gì sai khác?
Đáp: Trước nói về
sinh thân Bồ Tát, này nói về hóa thân; trước nói về một cõi
nước, nay nói vô lượng thế giới, có các sai khác như vậy.
Hỏi: Nếu Bồ Tát
biết Phật là phước điền, chúng sinh chẳng phải phước điền, ấy
là chẳng phải pháp Bồ Tát, vậy Bồ Tát dùng sức gì có thể làm
cho Phật với súc sinh bình đẳng?
Đáp: Bồ Tát dùng
sức Bát nhã, đối với hết thảy pháp tu tâm rốt ráo không; thế
nên đối với hết thảy pháp không có phân biệt. Như súc sinh do
năm uẩn, 12 nhập, 18 giới hòa hợp sinh, gọi là súc sinh. Phật
cũng như vậy, do các pháp lành hòa hợp, giả gọi là Phật. Nếu
người thương xót chúng sinh được vô lượng phước đức thời đối
với Phật sinh tâm chấp trước, khởi lên các ác sẽ mắc vô lượng
tội. Thế nên biết vì hết thảy pháp rốt ráo không nên không
khinh chúng sinh, không tâm ái trước, quý trọng Phật.
*Lại nữa, thật
tướng các pháp là vô tướng, trong vô tướng ấy không phân biệt
là Phật, là chúng sinh; nếu phân biệt tức là chấp thủ tướng,
thế nên xem bình đẳng.
*Lại nữa, Bồ Tát có
hai pháp môn: Một là pháp môn rốt ráo không, hai là pháp môn
phân biệt tốt xấu. Vào pháp môn không thời được quán bình
đẳng; vào pháp môn phân biệt thời các A la hán, Bích chi Phật
còn không bằng Phật, huống gì súc sinh! Vì người kia khinh
chúng sinh, không thương xót bố thí, nên dạy khiến không phân
biệt.
Hỏi: Thân Bồ Tát
chẳng phải cây, đá, cớ sao chúng sinh đến cắt xẻ mà không sinh
tâm dị?
Đáp: Có người nói:
Bồ Tát lâu ngày tu nhẫn Ba la mật nên có thể không sầu não;
như tiên nhân nhẫn nhục, bị người cắt tay chân mà huyết đều
biến làm sữa. Có người nói: Bồ Tát từ vô lượng kiếp lại đây tu
sâu tâm đại từ bi, nên tuy có bị cắt xẻ cũng không ưu sầu, thí
như cây cỏ không có tâm giận. Có người nói: Bồ Tát tu sâu Bát
nhã ba la mật, chuyển đổi thân được quả báo Bát nhã tâm không,
nên không biết rõ ràng. Khi bị cắt thân thể tâm cũng bất động,
như vật bên ngoài bất động, bên trong cũng như vậy, vì được
quả báo Bát nhã nên đối với các pháp không phân biệt gì. Có
người nói: thân Bồ Tát ấy không phải là trong vòng sinh tử, mà
là pháp tính sinh thân ngoài ba cõi, trú trong quả báo thánh
tâm vô lậu, nên thân như cây đá mà có thể thương kẻ đến cắt
xẻ. Bồ Tát ấy sinh tâm được như vậy nên khi bị cắt xẻ, cướp
giựt vật bên trong, bên ngoài, tâm vẫn không lay động; ấy là
pháp hy hữu của Bồ Tát.
*Lại nữa, pháp hy
hữu là như trong Kinh đây nói: Ta dùng mắt Phật xem thấy Bồ
Tát trong mười phương thế giới nhiều như cát sông Hằng vào
trong địa ngục làm lửa tắt, nước sôi nguội; lấy ba việc giáo
hóa chúng sinh như trong Kinh này nói.
Hỏi: Nếu như vậy,
không nên có ba đường ác?
Đáp: Chúng sinh
trong ba đường ác vô biên vô lượng, Bồ Tát tuy vô lượng vô
biên mà số chúng sinh nhiều gấp vô lượng. Bồ Tát tùy theo
chúng sinh có nhân duyên có thể độ, nếu ở trong ba đường ác mà
có các công đức thời Bồ Tát độ, còn kẻ tội trọng thời không
thấy Bồ Tát. Trong tâm Bồ Tát chỉ một tướng, không có phân
biệt, nên không mỗi mỗi tìm kiếm chúng sinh. Thí như việc đại
xá, kẻ tội gần mãn hạn thời được ra khỏi, kẻ không gần mãn hạn
thời không mong ra.
Hỏi: Nếu chúng sinh
cắt xẻ Bồ Tát, hoặc ăn thịt Bồ Tát, thời phải có tội, làm sao
được độ?
Đáp: Bồ Tát có bản
nguyện: Nếu có chúng sinh ăn thịt Ta, ta sẽ làm cho được độ,
như trong kinh đây nói: Chúng sinh ăn thịt Bồ Tát thời sinh
lòng từ; thí như có sắc, thanh, hương, xúc, có người nghe thấy
thời mừng, lại có người nghe thấy thời nổi giận, mùi vị cũng
như vậy, có người nổi giận, có người sinh lòng từ. Như trong
kinh Tỳ ma la cật nói: Ăn cơm cõi Hương Tích mà có người bảy
ngày được đạo, có người không được. Chẳng phải vì ăn thịt nên
được độ, mà vì khởi phát lòng từ nên được khỏi súc sinh, mà
sinh vào thiện xứ, gặp Phật, được độ. Có Bồ Tát trải qua vô
lượng vô số kiếp hành sâu lòng từ, lấy vật bên ngoài cấp thí
cho chúng sinh, ý chưa thỏa mãn, lại tự đem thân bố thí mới
làm đầy đủ. Như trong kinh Pháp Hoa, Bồ Tát Dược Vương lấy vật
châu báu bên ngoài cúng dường Phật, ý chưa thỏa mãn, lại lấy
thân làm đèn cúng dường Phật, bấy giờ mới thỏa mãn.
*Lại nữa, người có
được vật bên ngoài tuy nhiều mà không cho là có ơn, vì sao? Vì
không phải là vật quý trọng đáng ưa. Khi được thân thể kia mới
cảm kích, kính trọng; thế nên lấy thân bố thí. Bồ Tát lại vì
hàng chư thiên thuyết pháp như trong Kinh đây nói rộng.
Lấy bốn việc nhiếp
thủ chúng sinh là bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự. Bố thí
có hai như trong Kinh đây nói rộng.
Hỏi: Cớ gì lược nói
bốn đạo khác, mà nói rộng việc của nhân đạo?
Đáp: Trong ba ác
đạo, vì khổ nhiều nên chúng sinh ít nghi; nếu thấy việc thần
thông hy hữu của Bồ Tát thời tin liền, ưa đắm, nên được độ.
Chư thiên vì có mắt trời, tự thấy nhân duyên quả báo tội
phước, Bồ Tát hiện chút ít thần túc thời liền hiểu. Người vì
mắt thịt, không thấy quả báo tội phước, lại phần nhiều đắm
theo thầy tà ngoại đạo và kinh sách tà kiến. Các phiền não có
hai phần: một là thuộc kiến, hai là thuộc ái. Nếu chỉ có một
phần thời không thể thành tội lớn. Người có ba độc, lại có sức
tà kiến thời có thể làm đủ việc ác nặng; người tà kiến lại có
tham dục, sân giận thời có thể làm việc tội nặng. Như Tu đà
hoàn tuy còn có ba độc, song vì không có tà kiến nên không gây
tội nặng, rơi vào ba đường ác. Thế nên trong loài người, nhiều
người có ba độc tà kiến, mắt không thấy nhân duyên tội phước
cho nên khó độ, vì khó độ nên Phật nói nhiều.
Hỏi: Nếu như vậy,
thời đối với bốn việc, cớ gì nói nhiều về bố thí nói ít về ba
việc kia?
Đáp: Trong bố thí
nhiếp đủ ba việc nên lấy tài khí, pháp thí giáo hóa chúng sinh
thời không việc gì không nhiếp. Lại nữa, trong bốn việc trước
tiên, mở rộng bố thí thời biết ba việc khác cũng như vậy.
Hỏi: Nếu như vậy,
cớ gì nói lược về bố thí mà nói rộng về pháp thí?
Đáp: Tài thí ít,
pháp phí rộng rãi, vì cớ sao? Vì tài thí được quả báo có hạn
lượng, pháp thí được quả báo không có hạn lượng. Tài thí ràng
buộc vào cõi Dục, thọ quả báo ở cõi Dục; pháp thí cũng ràng
buộc và thọ quả báo trong ba cõi và cũng là quả báo ra ngoài
ba cõi. Tài thí hay cho cái vui giàu sang trong ba cõi, pháp
thí hay cho cái vui thường hằng của Niết bàn.
Lại, tài thí từ
pháp thí sinh. Nhờ nghe pháp mà làm bố thí. Lại nữa, quả báo
của tài thí chỉ được giàu vui không có các thứ khác; quả báo
của pháp thí cũng có giàu vui, cũng có các thứ khác, cho đến
được quả báo Phật đạo, Niết bàn. Do nhân duyên ấy nên nói
nhiều về pháp thí.
Hỏi: Trong kinh này
cớ gì Tu Bồ Đề hỏi: Bồ Tát được trí Nhất thiết chủng chăng?
Đáp: Ý Tu Bồ Đề là:
Nếu khi Bồ Tát được trí Nhất thiết chủng thời không còn gọi là
Bồ Tát, làm sao chưa được thành Phật mà có thể được trí Nhất
thiết chủng? Được trí Nhất thiết chủng mới gọi là Phật; nếu
trước đã là Phật thì cần gì đến trí Nhất thiết chủng? Phật
đáp: Nay được trí Nhất thiết chủng gọi là Bồ Tát; đã được trí
Nhất thiết chủng thời gọi là Phật. Nói một cách chơn thật: Bồ
Tát không được, Phật cũng không được, vì sao? Vì Bồ Tát thì
chưa được còn Phật đã được rồi không còn được lại! Theo pháp
thế tục nên nói Bồ Tát nay được, Phật đã được rồi; theo đệ
nhất nghĩa thời không có hết thảy pháp, huống gì có Phật và Bồ
Tát! Lại trong Kinh đây nói: Tâm Phật không khác Bồ Tát, Bồ
Tát không khác tâm Phật; thứ lớp nối nhau không dứt. Lại hai
tâm đều Như, vì không có khác, không có phân biệt.
Hỏi: Định chín thứ
lớp, 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình là pháp thế gian chung có,
cớ gì gọi là pháp không chung của xuất thế gian?
Đáp: Bốn thiền, bốn
định vô sắc, định diệt thọ tưởng gọi là định chín thứ lớp. Đối
với định diệt thọ tưởng chỉ Thánh nhân có được, còn bốn thiền,
bốn định vô sắc từ sơ thiền khởi lên không xen tâm khác mà vào
nhị thiền, từ nhị thiền cho đến vào Diệt tận định, trong mỗi
mỗi niệm thọ nhận không xen tâm khác nên gọi là thứ lớp. Phàm
phu là người tội, độn căn, làm sao có thể được 32 tướng? Như
Chuyển luân Thánh vương, Đề bà đạt đa, Nan đà được tướng ấy,
tên gọi tuy đồng mà về đầy đủ uy đức, trong sạch đúng chỗ thời
không đồng với Phật. Như trước đã phân biệt tướng của Chuyển
luân Thánh vương và tướng của Phật khác nhau. Lại, tướng ấy là
quả báo của thánh pháp vô lậu, quả tự tại theo ý, vô lượng vô
biên, còn tướng của Chuyển luân Thánh vương là do nghiệp phước
đức, không được tự tại, có hạn có lượng.
*Lại nữa, Đề bà đạt
đa, Nan đà chỉ có 30 tướng, không phải có 32 tướng; Chuyển
luân Thánh vương tuy có 32 tướng mà không có uy dức, không đầy
đủ, không đúng chỗ, đi kèm với tham ái, phiền não v.v... Tám
mươi vẻ đẹp tùy hình đầy đủ chỉ Phật và Bồ Tát có được, những
người khác có thể có số ít, hoặc ngón tay thon dài, hoặc bụng
nhỏ mà không có uy đức tốt đẹp nên không nói đến. Thế nên nói,
pháp xuất thế gian không chung với phàm phu, không có lỗi.
Hỏi: Từ trước lại
đây nơi nơi nói các pháp năm uẩn cho đến trí Nhất thiết chủng
mà không nói 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình ấy, nay Kinh này sắp
hết, cớ gì trong mỗi phẩm lại nói?
Đáp: Phật có hai
thân là sinh thân và pháp thân; trong hai thân ấy, pháp thân
là lớn. Pháp thân lớn nên sự lợi ích nhiều, như từ trước lại
đã nói rộng. Nay gần hết kinh, về nghĩa sinh thân cần nên nói,
cho nên nay nói.
*Lại nữa, sinh thân
tướng đẹp trang nghiêm là quả báo của thánh pháp vô lậu, nay
thứ lớp nói, còn trên kia nói xen lẫn với các Ba la mật. Nghĩa
của bốn niệm xứ v.v... như trước nói. Nghĩa của mười lực của
Phật là sâu xa, nay sẽ lược nói.
Hỏi: Mười lực của
Phật là, nếu theo tướng chung mà nói thời chỉ một lực, đó là
lực trí Nhất thiết chủng; nếu theo tướng riêng nói thời có
ngàn, vạn, ức lực, theo mỗi pháp để gọi tên; nay cớ gì chỉ nói
mười lực?
Đáp: Phật thật có
vô lượng trí lực, song chỉ vì chúng sinh không thể có được,
không thể hành được, nên không nói. Mười lực ấy đối với chúng
sinh có thể độ vừa đủ dùng để độ, vì sao? Vì Phật dùng trí lực
thị xứ, phi xứ quyết định biết lẽ nhân quả trong hết thảy
pháp. Nghĩa là tạo nghiệp ác thời đọa vào đường ác, là có lẽ
ấy (thị xứ), tạo nghiệp ác mà sinh lên cõi trời là không có lẽ
ấy (phi xứ); làm nghiệp thiện cũng như vậy. Không lìa năm
triền cái, không tu bảy giác chi mà được đạo, không có lẽ ấy
(phi xứ); lìa năm triền cái, tu bảy giác chi mà được đạo, có
lẽ ấy (thị xứ). Chín trí lực kia đều vào trong trí lực này.
Phật dùng trí lực này trù lượng chúng sinh trong mười phương
sáu đường, kẻ có thể độ, kẻ không thể độ; kẻ có thể độ thời
dùng mỗi mỗi nhân duyên thần thông biến hóa để độ thoát; kẻ
không thể độ thời đối với người ấy tu tâm xả. Thí như thầy
thuốc hay xem tướng trạng của bệnh mà thẩm định biết có thể
sống thời chữa trị, không thể sống thời rời bỏ. Phương tiện độ
chúng sinh của nghiệp lực kia, người do nghiệp mà thọ thân, bị
ràng buộc trong thế gian, do lực thiền định nên được giải
thoát. Hành giả tất phải tìm hiểu khổ từ đâu sinh, do đâu
diệt, thế nên dùng hai lực. Nghiệp lực có hai phần: Một là
nghiệp sách có thể dứt nghiệp ác, hai là nghiệp nhơ. Nghiệp
sạch là thiền, định, giải thoát, các tam muội; nghiệp không
sạch là nghiệp cho thọ thân trong ba cõi. Người có hai hạng:
hạng độn căn vì thọ thân nên tạo nghiệp, hạng lợi căn vì diệt
thân nên tạo nghiệp.
Hỏi: Nếu như vậy,
cớ gì không đều dạy khiến làm nghiệp sạch?
Đáp: Vì chúng sinh
căn có lợi, độn.
Hỏi: Chúng sinh vì
sao có lợi, độn.
Đáp: Vì lực mạnh
của dục, chúng sinh có tâm ác dục, thường vào chỗ ác, nên độn.
Dục là tham muốn. Tham muốn việc tội sinh nghiệp ác, nên độn.
Người ham muốn thiện thời vui đạo, tu các pháp trợ đạo nên
lợi.
Hỏi: Chúng sinh vì
sao không đều ham muốn thiện.
Đáp: Vì thế mà Phật
nói thế gian có mỗi mỗi tính: Tính thiện, tính ác... Người
tính ác ham muốn điều ác, ham muốn ác nên căn độn; như tính
lửa nóng, tính nước ướt, không nên trách vì sao.
Hỏi: Ham muốn ác
tức là tính ác, có gì sai khác mà làm thành hai lực?
Đáp: Có tính trước,
vì muốn được nên phát sinh; thí như trước có ghẻ, vì chạm đến
nên ra máu. Tính ở trong, ham muốn ở ngoài; tính nặng, ham
muốn nhẹ; tính khó trừ, ham muốn dễ bỏ; tính sâu, ham muốn
cạn. Dùng tính tạo nghiệp chắc sẽ thọ báo, dùng ham muốn tạo
nghiệp không chắc thọ báo; có sai khác như vậy.
Lại, có người nói:
Tập thường ham muốn tăng trưởng bèn thành tính. Tính cũng có
thể phát sinh ham muốn. Người ấy nếu đời này hoặc đời sau
thường tập ham muốn thời trở thành tính. Từ tính ấy mà làm ác,
làm thiện; nếu ở tính thiện thời có thể độ, nếu ở tính ác thời
không thể độ. Phật đã biết hai tính của chúng sinh rồi, lại
biết quả báo kia theo đường thiện, đường ác khác nhau. Tính ác
thời đọa vào ba đường ác, tính thiện thời thành bốn đường:
Người, trời, A tu la và Niết bàn.
Hỏi: Trí lực biết
chỗ đến của hết thảy với lực thiên nhãn, có gì sai khác?
Đáp: Lực thiên nhãn
chỉ thấy được khi sinh, khi chết, còn đây là biết được khi
chưa chết. Thiên nhãn thấy nhân biết quả, còn đây thấy quả báo
tội phước hiện tiền, đó là trí lực biết chỗ đến của hết thảy
(chí xứ đạo lực).
Hỏi: Thanh văn,
Bích chi Phật cũng được Niết bàn, cũng có thể giáo hóa chúng
sinh, cớ sao không có lực ấy?
Đáp: Vì thế mà nói
ba lực sau biết việc chúng sinh trong ba đời thông suốt cùng
khắp. Dùng lực biết mạng sống đời trước, biết khắp việc gốc,
ngọn quá khứ của hết thảy chúng sinh. Do lực thiên nhãn sinh
tử, biết khắp vô lượng việc trong đời vị lai của chúng sinh.
Biết như vậy rồi, biết chúng sinh trong hiện tại, người có thể
độ thời vì họ nói pháp dứt hết lậu hoặc. Vì thế nên chỉ có
Phật mới có lực ấy, hàng Nhị thừa không có. Như có một người
ngay trong một ngày có thể được A la hán mà Xá lợi phất nói
trong một ngày không thể có nhân duyên được đạo, bèn bỏ đi mà
không chịu độ. Lúc xế chiều, Phật dùng thần thông túc mạng,
thấy người ấy trải qua hơn tám vạn kiếp trước, có nhân duyên
được độ nay đã thành tựu, nên Phật thuyết pháp cho, liền được
đạo quả A la hán.
*Lại nữa, Phật dùng
trí lực đầu, biết tướng chúng sinh có thể độ hay không thể độ.
Dùng lực thứ hai, biết chúng sinh bị hai chướng ngăn che.
Người không bị ngăn che thời dùng lực thứ ba, biết chúng sinh,
người có thiền định, giải thoát, tịnh, bất tịnh. Dùng lực thứ
tư, biết căn tính chúng sinh có lợi, có độn, có thể thông hiểu
pháp tính, không thông hiểu pháp tính. Dùng lực thứ năm, biết
nhân duyên căn lợi, độn và ham muốn thiện, ác của chúng sinh.
Dùng lực thứ sáu, biết mỗi mỗi tính của hai dục. Dùng lực thứ
bảy, biết căn lợi, độn và bảy chỗ quả báo thiện, ác của chúng
sinh. Dùng lực thứ tám, biết nghiệp thiện, ác đời trước của
chúng sinh chướng ngại hay không chướng ngại. Dùng lực thứ
chín, biết chúng sinh đời nay chưa thể độ, sinh đời sau có thể
độ. Dùng lực thứ mười biết chúng sinh do cửa giải thoát Không
mà vào Niết bàn, hoặc do cửa Vô tướng, Vô tác mà vào Niết bàn
biết chúng sinh đối với kiến đế đạo, tư duy đạo trong mỗi niệm
dứt được bao nhiêu kiết sử. Do mười trí lực ấy, trù lượng nhân
duyên của chúng sinh có thể độ mà vì họ thuyết pháp. Do thế mà
thuyết pháp không uổng lời.
Hỏi: Trí tuệ của
Phật vô lượng, thân tướng Phật cũng vô lượng. Lại thân Phật
hơn các thiên vương, cớ gì Phật đồng với Chuyển luân Thánh
vương, có 32 tướng?
Đáp: Ba mươi hai
tướng không nhiều không ít, nghĩa lý như trước đã nói. Lại
nữa, có n nói: Tướng của Phật và Bồ Tát không hiện nhất định
như trong đây nói. Tùy theo chỗ chúng sinh ưa thích có thể dẫn
dắt tâm họ mà hiện tướng.
Lại, hoặc như có
chúng sinh không quý vàng mà quý các sắc khác, như lưu ly, pha
lê, kim cương. Nếu người thế gian như vậy thời Phật không hiện
sắc vàng mà hiện các sắc đáng ưa khác.
Lại, hoặc có chúng
sinh không quý ngón tay thon, dài và có màn lưới, vì ngón tay
dài, có móng sắt là tướng quỷ La sát; vì màn lưới là tướng
chim Nhạn, làm việc không tiện, như mặc áo v.v.., thời cần
dùng làm gì? hoặc như ở nước Kế tân, Bồ Tát Di đế lệ thi lị
tay có màn lưới, người cha ghét cho là quái dị, lấy dao cắt
đi, nói rằng sao con ta giống như chim. Hoặc có người không ưa
vai tròn lớn, cho là giống như bứu; hoặc cho bụng không hiện
bày như tướng đói; hoặc cũng có người cho mắt xanh là không
đẹp, chỉ ưa mắt trắng, đen, phân minh v..v... Thế nên biết,
Phật tùy chỗ ưa thích của chúng sinh mà hiện tướng. Như vậy,
thường không do nhất định.
Có người nói: 32
tướng ấy là thật có nhất định, do sức thần thông biến hóa
thân, theo chỗ ưa thích của chúng sinh mà hiện tướng.
Có người nói: Phật
có khi thần thông biến hóa, có khi theo chỗ sinh ở thế gian,
chỗ sẽ sinh đến, không được nói do thần thông biến hóa.
Lại, trong ba ngàn
đại thiên thế giới sinh ra theo chỗ chúng sinh có thể độ mà
hiện tướng, như trong kinh Mật tích nói, hoặc hiện thân sắc
vàng, hoặc hiện thân sắc bạc, hoặc hiện sắc mặt trăng, mặt
trời, tinh tú; hoặc dài hoặc ngắn, tùy theo chúng sinh có thể
dắt dẫn mà hiện tướng. Ở đây, tùy theo người nước Thiên Trúc
trong cõi Diêm phù đề ưa thích thời Phật hiện 32 tướng. Người
nước Thiên Trúc đến nay cố sửa bắp vai cho dày, lớn, trên đầu
đều có bện tóc là đẹp. Theo như tướng người, nói tướng năm chỗ
dài là đẹp. Theo như tướng người, nói tướng năm chỗ dài là
đẹp. Theo như tướng người, nói tướng năm chỗ dài là đẹp. Theo
như tướng người, nói tướng năm chỗ dài là đẹp. Tướng mắt, mũi,
lưỡi, cánh tay, ngón tay, đùi, tay, chân; hoặc có bánh xe,
hoặc như hoa sen, hoặc màu trắng ốc, hoặc như mặt trời mặt
trăng; thế nên bàn tay, bàn chân Phật có tướng bánh xe ngàn
tăm, ngón tay thon, dài; mũi cao, đẹp; lưỡi rộng, dài và mỏng.
Những tướng như vậy đều hơn các tướng đã quý như trước, nên
khởi tâm cung kính. Có cõi nước Phật hiện ra ngàn vạn tướng,
hoặc vô lượng vô số tướng, hoặc năm, sáu, ba, bốn tướng; ở đây
vì theo chỗ ưa thích của người Thiên Trúc nên Phật hiện 32
tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình.
(Hết cuốn 88 theo bản Hán)