GIẢI
THÍCH PHẨM
CHÚC LỤY THỨ 66
(Kinh Ðại Bát Nhã
Phần 2 ghi: Phẩm Thật Ngữ Thứ 65)
KINH: Bấy giờ trời Ðế thích bạch Phật
rằng: Bạch đức Thế Tôn! Con nói như vậy, đáp như vậy là
thuận theo pháp chăng? là đáp đúng chăng? Phật bảo trời Ðế
thích: Này Kiều thi ca! Lời ông nói và đáp đều thuận theo
pháp.
Trời Ðế thích thưa: Hy hũu thay! Ðiều
Tu bồ đề vui nói đều là nói về không, vô tướng, vô tác, bốn
niệm xứ cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Phật bảo
trời Ðế thích: Tỳ kheo Tu bồ bồ đề trong khi tu hạnh
"Không", Thí ba la mật còn không thể có được, huống gì người
hành Thí ba la mật, cho đến Bát nhã ba la mật còn không thể
có được, huống gì người hành Bát nhã ba la mật. Bốn niệm xứ
không thể có được, huống gì người tu bốn niệm xứ; cho đến
tám phần Thánh đạo không thể có được, huống gì người tu tám
phần Thánh đạo; thiền, giải thoát, tam muội, định không thể
có được, huống gì người tu thiền, giải thoát, tam muội,
định; mười lực của Phật không thể có được, huống gì người tu
mười lực của Phật;bốn việc không sợ không thể có được, huống
gì người được bốn việc không sợ, bốn trí vô ngại không thể
có được, huống gì người được bốn trí vô ngại; đại từ, đại bi
không thể có được, huống gì người thưc hành đại từ bi, mười
tám pháp không chung không thể có được, huống gì người được
mười tám pháp không chung; Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
không thể có được, huống gì người được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác; Nhất thiết trí, Như lai không thể có được, huống
gì người sẽ làm Như lai; pháp vô sinh không thể có được,
huống gì người chứng pháp vô sinh; ba mươi hai tướng không
thể có được, huống gì người được ba mươi hai tướng; tám mươi
vẻ đẹp tùy hình không thể có được, huống gì người được tám
mươi vẻ đẹp tùy hình. Vì cớ sao? Này Kiều thi ca! Vì Tỳ kheo
Tu bồ đề đối với hết thảy pháp tu hạnh ly tướng, đối với hết
thảy pháp tu hạnh không có sở đắc, đối với hết thảy pháp tu
hạnh không, đối với hết thảy pháp tu hạnh vô tướng, đối với
hết thảy pháp tu hạnh vô tác, đó là sở hành của Tỳ kheo Tu
bồ đề, muốn sánh với Bồ tát tu hạnh Bát nhã ba la mật trăm
phần không kịp một; ngàn, vạn, ức phần cho đến toán số thí
dụ không thể sánh kịp, vì sao? Vì trừ Phật hạnh, Bồ tát ấy
hành Bát nhã ba la mật đối với các hành của Thanh văn, Bích
chi Phật là tối tôn, tối diệu, tối thượng. Vì thế, nên Bồ
tát muốn được tối thượng đối với chúng sinh hãy nên tu hành
Bát nhã ba la mật, vì sao? Vì các Bồ tát khi tu Bát nhã ba
la mật đã vượt quá Thanh văn, Bích chi Phật mà vào Bồ tát
vị, đầy đủ được Phật pháp, được trí Nhất thiết chủng, dứt
hết tập khí phiền não, thành Phật.
Trong hội chúng, trời Ba mươi ba lấy
hoa trời Mạn đà la rải lên trên Phật và Tăng. Khi ấy 800 Tỳ
kheo từ chỗ ngồi đứng dậy lấy hoa rải lên Phật, trạc áo vai
phải chấp tay, gối phải qùy sát đất, bạch Phật rằng: Bạch
đức Thế Tôn! Chúng con sẽ tu hạnh vô thượng ấy, hàng Thanh
văn, Bích chi Phật không thể tu được. Bấy giờ Phật biết tâm
hạnh của các Tỳ kheo bèn mỉm cười. Như pháp của chư Phật có
các thứ ánh sáng đủ màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng, hồ thủy,
từ miệng Phật phóng ra chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế
giới, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi trở lại vào trên đỉnh
Phật.
Bấy giờ A nan trịch áo vai bên phải,
gối phải qùy sát đất bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Nhân
duyên gì nên mỉm cười, chư Phật chẳng vì không có nhân duyên
mà cười.
Phật bảo A nan: Tám trăm Tỳ kheo ấy
vào kiếp Tinh tú sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Các Phật ấy đều có danh hiệu Tán Hoa. Chúng Tỳ kheo Tăng,
cõi nước thọ mạng đều đồng nhau, mỗi mỗi trải qua 10 vạn
năm, xuất gia làm Phật. Khi ấy các cõi nước thường có mưa
hoa trời năm sắc. Vì thế nên Bồ tát muốn tu hạnh tối thượng
hãy nên tu Bát nhã ba la mật.
Phật bảo A nan: Nếu kẻ thiện nam,
người thiện nữ tu được Bát nhã ba la mật thậm thâm, nên biết
Bồ tát ấy đã chết từ trong cõi người và sinh đến đây; hoặc
chết ở cõi trời Ðâu suất lại sinh đến đây; hoặc ở trong cõi
người, hoặc ở trên cõi trời Ðâu suất, khi ấy đã rộng nghe
Bát nhã ba la mật thậm thâm. Này A nan, ta thấy các Bồ tát
ấy tu được Bát nhã ba la mật thậm thâm.
Này A nan! Nếu có kẻ thiện nam người
thiện nữ nghe Bát nhã ba la mật thậm thâm, thọ trì, đọc
tụng, thân cận, nhớ nghĩ đúng, trở lại đem Bát nhã ba la mật
dạy người tu đạo Bồ tát, nên biết Bồ tát ấy từng đối diện
trưóc Phật nghe Bát nhã ba la mật thậm thâm cho đến thân cận
và gieo trồng căn lành ở chỗ Phật. Kẻ thiện nam người thiện
nữ sẽ nghĩ rằng: Chúng ta chẳng phải gieo trồng căn lành đối
với Thanh văn, cũng chẳng từ Thanh văn nghe Bát nhã ba la
mật thậm thâm. Này A nan, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ
thọ trì Bát nhã ba la mật thậm thâm, đọc tụng, thân cận, tu
theo nghĩa, theo pháp, nên biết kẻ thiện nam người thiện nữ
ấy mặt từng thấy Phật. Này A nan, nếu có kẻ thiện nam người
thiện nữ nghe Bát nhã ba la mật thâm thâm, tín tâm thanh
tịnh không thể phá hoại, nên biết kẻ thiện nam người thiện
nữ ấy từng cúng dường Phật, trồng căn lành, đắc ý với thiện
tri thức.
Này A nan! Ở nơi ruộng phước của chư
Phật trồng căn lành, tuy không hư dối nhưng phải được Thanh
văn, Bích chi Phật và Phật mới được giải thoát, nên phải rõ
ràng, sâu xa tu sáu Ba la mật cho đến trí Nhất thiết chủng.
Nếu Bồ tát rõ ràng, sâu xa tu sáu Ba la mật cho đến trí Nhất
thiết chủng, người ấy nếu trụ vào Thanh văn, Bích chi Phật
đạo mà không chứng được Vô thưọng Chánh đẳng Chánh giác,
thời không có lẽ ấy. Thế nên A nan! Ta đem Bát nhã ba la mật
phó chúc nơi ông, nếu ông thọ trì hết thảy pháp, trừ Bát nhã
ba mật hoặc quên, hoặc mất, lỗi ấy nhỏ nhặt không có tội
lớn. Nếu ông thọ trì Bát nhã ba la mật thậm thâm nếu quên
mất một câu, lỗi ấy rất lớn. Nếu ông thọ trì Bát nhã ba la
mật thâm thâm, sau trở lại quên mất, tội ấy rất nhiều. Thế
nên A nan! Ta phó chúc nơi ông Bát nhã ba la mật thậm thâm
ấy, ông hãy khéo thọ trì, đọc tụng cho thông suốt. Này A
nan! Nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ thọ trì Bát nhã ba
la mật thậm thâm, thời là thọ trì Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác của chư Phật, quá khứ, vị lai, hiện tại.
Này A nan! Nếu kẻ thiện nam, người
thiện nữ hiện tại, muốn cung kính, tôn trọng, tán thán, cúng
dường Ta hoa hương, anh lạc, hương bột, hương nước, y phục,
phan lọng, hãy nên thọ trì Bát nhã ba la mật, đọc tụng,
thuyết giảng, thân cận, cung kính, tôn trọng, tán thán, cúng
dường hoa hương cho đến phan lọng. Này A nan! Cúng dường Bát
nhã ba la mật là đã cúng dường Ta và cúng dường chư Phật quá
khứ, vị lại, hiện tại. Nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ,
nghe nói Bát nhã ba la mật thậm thâm, tín tâm thanh tịnh
cung kính, thời là đã tín tâm thanh tịnh cung kính, ưa thích
chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại. Này A nan! Ông ưa thích
Phật không rời bỏ, nên ưa thích Bát nhã ba la mật chớ rời
bỏ. Bát nhã ba la mật thậm thâm cho đến một câu không nên
quên mất.
Này A nan! Ta nói nhân duyên phú chúc
rất nhiều, nay chỉ lược nói: Như Ta là Thế Tôn; Bát nhã ba
la mật cũng là Thế Tôn. Thế nên có nhiều nhân duyên Ta phó
chúc cho ông Bát nhã ba la mật. Này A nan! Nay Ta ở giữa hết
thảy thế gian, trời, người, A tu la mà phó chúc cho ông.
Những ai muốn không bỏ Phật, không bỏ pháp, không bỏ tăng,
không bỏ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật quá
khứ, vị lai, hiện tại thời hãy cẩn thận chớ bỏ Bát nhã ba la
mật. Ðó là điều Ta giáo hóa đệ tử. Nếu kẻ thiện nam, người
thiẹn nữ thọ trì Bát nhã ba la mật thậm thâm, đọc tụng,
giảng nói, nhớ nghĩ đúng, lại vì người khác mỗi mỗi nói rộng
nghĩa ấy; khai thị, diễn giảng, phân biệt làm cho dễ hiểu,
kẻ thiện nam, người thiện nữ ấy chóng được Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, chóng gần Nhất thiét trí, vì sao? Vì từ
trong Bát nhã ba la mật xuất sinh Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác của chư Phật. Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư
Phật quá khứ, vị lai đều từ trong Bát nhã ba la mật xuất
sinh. Nay Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật hiện
tại ở phương Ðông, Nam, Tây, Bắc, bốn góc, trên, dưới cũng
từ Bát nhã ba la mật xuất sinh. Thế nên các Bồ tát muốn được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác hãy nên học sáu Ba la mật,
vì sáu Ba la mật là mẹ của Bồ tát, xuất sinh các Bồ tát. Nếu
có Bồ tát học sáu Ba la mật thời đều sẽ được Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác. Vì thế nên Ta một lần nữa đem sáu Ba la mật
phó chúc cho ông. Này A nan! Sáu Ba la mật ấy là pháp tạng
vô tận của chư Phật. Mười phương chư Phật hiện tại thuyết
pháp đều từ pháp tạng sáu Ba la mật xuất sinh; chư Phật quá
khứ cũng từ trong sáu Ba la mật tu học, được Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác; chư Phật vị lai cũng từ trong sáu Ba la mật
tu học được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ðệ tử của chư
Phật quá khứ, vị lai, hiện tại đều từ trong sáu Ba la mật tu
học mà diệt độ, đã được, nay được và sẽ diệt độ.
Này A nan! Ông là hạng Thanh văn mà
thuyết pháp khiến cho chúng sinh trong ba ngàn đại thiên thế
giới đều chứng được quả A la hán, vẫn chưa phải là việc của
đệ tử Ta; nếu ông đem một câu tương ưng với Bát nhã ba la
mật dạy hàng Bồ tát, thời là làm việc của đệ tử Ta, Ta cũng
hoan hỷ hơn là dạy chúng sinh trong ba ngàn đại thiên thế
giới, khiến chứng được quả A la hán.
* Lại nữa, này A nan! Chúng sinh trong
ba ngàn đại thiên thế giới chẳng trước, chẳng sau, cùng
trong một lúc đều chứng được quả A la hán. Các A la hán ấy
tu công đức bố thí, trì giới, thiền định, công đức ấy nhiều
chăng? - A nan thưa: Rất nhiều, bạch Thế Tôn! Phật dạy: Này
A nan! Chẳng bằng đệ tử đem pháp tương ưng với Bát nhã ba la
mật giảng nói cho Bồ tát cho đến chỉ một ngày, phước rất
nhiều. Không kể một ngày, chỉ nữa ngày; không kể nữa ngày,
chỉ khoảng một bữa ăn, chỉ trong một lát giảng nói, phước
kia rất nhiều, vì sao? Vì trồng căn lành của Bồ tát hơn hết
thảy Thanh văn, Bích chi Phật. Bồ tát tự mình muốn được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng khai thị giáo hóa lợi ích
vui mừng cho người khác khiến được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác. này A nan! Bồ tát tu sáu Ba la mật, bốn niệm xứ
cho đến trí Nhất thiết chủng như vậy, tăng ích căn lành, nếu
không đưọc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thời không có lẽ
ấy.
Khi nói phẩm Bát nhã ba la mật, Phật ở
trước bốn chúng đệ tử và trời, người, rồng, qủy, thần, Khẩn
na la, Ma hầu la già biến hóa thần thông khiến đại chúng
đều thấy Phật A súc, với chúng Tỳ kheo Tăng vây quanh Phật
nghe thuyết pháp, đại chúng nhiều như biển cả, đều là A la
hán sạch hết lậu hoặc, không còn phiền não, đều được tự tại,
được hảo giải thoát, tâm giải thoát, tuệ giải thoát; tâm kia
điều hòa nhu nhuyến như voi lớn; việc cần làm đã làm xong,
chóng được lợi mình, sạch hết các thứ kiết sử ba cõi, chánh
trí, được giải thoát; được tự tại đối với hết thảy tâm tâm
số pháp, và thành tựu vô lượng công đức của các Bồ tát.
Bấy giờ Phật thu nhiếp thần túc, đại
chúng không còn thấy Phật A súc, hàng Thanh văn, Bồ tát và
cõi nưóc kia cũng không còn đối hiện trước mắt, vì sao? Vì
Phật đã thu nhiếp thần túc.
Bấy giờ Phật bảo A nan: Hết thảy pháp
không đối hiện trưóc mắt, pháp pháp không thấy nhau, pháp
pháp không biết nhau; như Phật A súc, đệ tử, Bồ tát cõi nước
không đối hiện trước mắt. Như vậy, hết thảy pháp không đối
hiện trước mắt, pháp pháp không thấy nhau, pháp pháp không
biết nhau, vì sao? Vì hết thảy pháp không có biết, không có
thấy, không có tác, không có động, không thể nắm bắt, không
thể nghĩ bàn, như người huyễn hóa, không có thọ, không có
giác, không có chơn thật. Bồ tát tu như vậy là tu Bát nhã ba
la mật, cũng không nhiễm đắm các pháp. Bồ tát học như vậy là
học Bát nhã ba la mật. Muốn được các Ba la mật nên học Bát
nhã ba la mật, vì sao? Vì học như vậy là đệ nhất học, tối
thượng học, vi diệu học. Học như vậy sẽ lợi ích, an vui cho
thế gian, làm nơi cứu hộ cho người không ai cứu hộ. Ấy là sở
học của chư Phật, chư Phật ở trong học ấy có thể dùng cánh
tay phải cất ba ngàn đại thiên thế giới lên, đem để lại chỗ
cũ mà chúng sinh ở trong đó không ai hay biết, vì sao? Vì
chư Phật học Bát nhã ba la mât được thí vô ngại, thấy pháp
quá khứ, vị lại, hiện tại. Này A nan! Bát nhã ba la mật là
tối tôn đệ nhất, vi diệu vô thượng giữa các môn học. Nếu có
người muốn biết được bờ mé Bát nhã ba la mật là không khác
gì muốn biết bờ mé hư không, vì sao? Vì Bát nhã ba la mật
không có hạn lượng, danh nhân, cú thân, văn thân là có
lượng; Bát nhã ba la mật không có hạn lượng.
A nan bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Bát nhã ba la mật vì sao không có hạn lượng?
Phật bảo A nan: Vì Bát nhã ba la mật
không có tận, không có cùng tận nên không có hạn lượng; vì
Bát nhã ba la mật lìa tướng nên không có hạn lượng. Này A
nan! Chư Phật quá khứ đều học Bát nhã ba la mật ấy mà được
độ, vì Bát nhã ba la mật nên không cùng tận; chư Phật vị lai
cũng học Bát nhã ba la mật mà được độ, vì Bát nhã ba la mật
không cùng tận; mười phương chư Phật hiện tại đều học Bát
nhã ba la mật mà được độ, vì Bát nhã ba la mật không cùng
tận. Ðã không tận, nay không tận, sẽ không tận, Này A nan!
Muốn tận Bát nhã ba la mật chẳng khác gì muốn tận hư không.
Bát nhã ba la mật không thể tận, nay không tận và sẽ không
tận. Thiền ba la mật cho đến Thí ba la mật không thể tận,
nay không tận, sẽ không tận, cho đến trí Nhất thiết chủng
cũng như vậy, vì sao? Vì hết thảy pháp đều vô sinh, nếu pháp
vô sinh làm sao có cùng tận!
Bấy giờ, Phật hiện tướng lưỡi rộng dài
bảo A nan: Từ ngày nay nên ở giữa bốn chúng diễn rộng, mở
bày, phân biệt Bát nhã ba la mật, làm cho rõ ràng, dễ hiểu,
vì sao? Vì trong Bát nhã ba la mật thậm thâm, nói rộng các
pháp tướng. Người cầu Thanh văn, Bích chi Phật, người cầu
Phật đạo đều nên học trong đó, học rồi đều được thành tựu.
Này A nan! Bát nhã ba la mật thậm thâm là cửa ngõ của hết
thảy chữ, tu Bát nhã ba la mật thậm thâm có thể vào môn đà
la ni; các Bồ tát học môn đà la ni ấy được biện tài lạc
thuyết (nghĩa là tài biện luận vui vẻ, giảng nói và làm
cho người ta vui vẻ - ND). Này A nan! Bát nhã ba la mật
là diệu pháp của chư Phật ba đời, thế nên Ta vì ông mỗi mỗi
nói ra rõ ràng. Nếu có người thọ trì Bát nhã ba la mật thậm
thâm, đọc tụng, thân cận, thời người ấy có thể thọ trì Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật. Này A nan! Ta nói
Bát nhã ba la mật là đôi chân của người tu; ông thọ trì Bát
nhã ba la mật đà la ni (Tổng trì) thời thọ trì được hết thảy
pháp.
LUẬN: Hỏi: Trời Ðế thích cớ sao nghi lời
mình nói rằng: Tôi nói là thuận theo pháp và đáp đúng đắn
chăng?
Ðáp: Trời Ðế thích chẳng phải là người
Nhất thiết trí, tuy được đạo quả ban đầu mà ba độc tham,
sân, si chưa hết, nên còn có sai lầm mà tự suy lường: Ta tuy
có nhân duyên phước đức làm chúa tể chư thiên, tuy được ý vị
của Thánh đạo mà chưa có Nhất thiết trí, hết thảy lậu hoặc
chưa hết, nên nói ra có thể sai lầm, không tự giác tri, vì
thế nên hỏi.
* Lại nữa, trong chúng có nhiều vị Bồ tát
chẳng thoái chuyển, vị A la hán sạch hết lậu hoặc và hàng
chư thiên ly dục, thấy Phật và Tu bồ đề với trời Ðế thích
cùng nhau vấn nạn tâm không khiếp nhược, liền nghĩ rằng:
Trời Ðế thích lậu hoặc còn chưa hết, làm sao có thể vấn nạn
đến cùng tận bờ mé các pháp. Vì việc ấy nên trời Ðế thích
hỏi Phật.
* Lại nữa, trời Ðế thích tự biết mình nói
các pháp tướng không có sai trái, cầu Phật ấn chứng khiến
người nghe tin thọ, nên Phật liền chấp thuận.
Hỏi: Cớ gì Phật chấp thuận lời trời Ðế
thích nói?
Ðáp: Trời Ðế thích tuy chẳng phải là
người Nhất thiết trí, nhưng vì thường theo Phật nghe pháp,
có sức đọc tụng mạnh nên nói ra có lý, Phật bèn chấp thuận.
Phật nói có ba thứ tuệ: văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ. Người có
văn tuệ, tư tuệ sáng suốt nên có thể cùng người có tu tuệ
vấn nạn; thí như có thuyền đi theo dòng nước, không tự dùng
sức mà mau hơn đi bộ; như A nan tuy chưa lìa dục, chưa được
thiền định thâm sâu mà có thể cùng với Phật và các vị A la
hán đã sạch hết lậu hoặc luận nghị, thuận theo pháp không
trái.
Trời Ðế thích bạch Phật rằng: Bạch đức
Thế Tôn! Tu bồ đề ưa nói về không, khéo nói về không, là bậc
tối đệ nhất giữa hàng đệ tử Phật, có nói gì cũng đều hướng
về không, vô tướng, vô tác; nghĩa là, nói pháp bốn niệm xứ
cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đều là nhân duyên
hòa hợp rốt ráo không. Phật nói với trời Ðế thích: Tu bồ đề
là người tu về "rốt ráo không", đời đời tu tập, chẳng phải
chỉ đời nay, ông ấy do pháp môn "không giải thoát" mà vào
đạo, cũng lấy pháp môn ấy giáo hóa chúng sinh. Ông ấy nếu
vào pháp "không" thâm diệu, còn không thấy các pháp, huống
gì thấy có người tu pháp ấy? Như kinh nói: Thí ba la mật
không thể có được, huống gì người tu thí cho đến tám mươi vẻ
đẹp tùy hình. Tu bồ đề tu hạnh "không", muốn so sánh với Bồ
tát tu hạnh "không", trăm phần chẳng kịp một.
Hỏi: Pháp Không, chúng sinh không, lại
còn cái gì không cùng tận mà nói trăm phần chẳng kịp một?
Ðáp: Phật dạy: Trừ Phật ra, các Thanh
văn, Bích chi Phật không có ai bằng Bồ tát. Thật tướng các
pháp có nhiều tên gọi, hoặc gọi là không, hoặc gọi rốt ráo
không, hoặc gọi Bát nhã ba la mật, hoặc gọi Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, còn trong đây gọi thật tướng các pháp là
Không hành. Như giữa hết thảy các đệ tử Thanh văn, Tu bồ đề
tu " không" hành hơn hết. Như vậy, trừ Phật, các Bồ tát tu
Không hành hơn Nhị thừa, vì sao? Vì trí tuệ có lợi độn mà
thâm nhập có sâu cạn, nên tuy đều gọi là được thật tướng các
pháp, nhưng người lợi căn thì được rõ ràng hơn. Thí như muốn
phá bóng tối nên đốt đèn, lại có đèn lớn thời ánh sáng càng
tỏ hơn. Nên biết, ngọn đèn trước tuy chiếu sáng nhưng bóng
tối li ti không hết đưọc; nếu hết được thời ngọn đèn sau trở
thành vô dụng. Người tu về Không hạnh cũng như vậy, tuy đều
được đạo, song vì trí tuệ có lợi độn nên vô minh có diệt hết
và diệt không hết, duy chỉ có trí tuệ Phật mới diệt hết các
vô minh.
* Lại nữa, hàng Thanh văn, Bích chi Phật
không có tâm từ bi, không có tâm độ sinh, không có ý nguyện
nghiêm tịnh cõi Phật, không có vô lượng Phật pháp, không có
chuyển pháp luân độ chúng sinh, cũng không vào Vô dư Niết
bàn cho đến không có tâm nguyện lưu lại giáo pháp để độ
sinh; không có tâm ba đời độ sinh, là thời kỳ làm Bồ tát,
thời kỳ làm Phật và thời kỳ diệt độ, nên chẳng phải chỉ do
tu Không hạnh mà bằng Bồ tát được.
* Lại nữa, hàng Nhị thừa ngộ "Không" còn
có phân lượng; chư Phật, Bồ tát không có phân lượng; giống
như người khát uống nước sông, chẳng qua uống vừa đủ, vậy
đâu đưọc nói đều tu Không hạnh mà không thể có sai khác!
Lại, như chỗ trống của lỗ chân lông, muốn đem so với lỗ
trống giữa mười phương, không có lẽ ấy. Thế nên, Thanh văn
so với Phật và Bồ tát ngàn vạn ức phần không kịp một. Phật
phân biệt các lối tu Không hạnh ấy rồi bảo Ðế thích rằng:
Nếu muốn tối thượng giữa hết thảy chúng sinh, nên tu Bát nhã
ba la mật. Trong đây, Phật tự nói nhân duyên: Bồ tát học
Không hạnh của Bát nhã ba la mật vì không chấp thủ tướng
không, nên hơn Nhị thừa, được vào pháp vô sinh nhẫn vào Bồ
tát vị. Vì vào Bồ tát vị nên được đầy đủ Phật pháp. Phật
pháp là Bồ tát đạo, Bồ tát đạo đầy đủ nên được trí Nhất
thiết chủng; được trí Nhất thiết chủng nên gọi là Phật,
người dứt các phiền não tập khí. Các việc ấy đều lấy Không
hạnh làm gốc.
Hỏi: Niết bàn là vô lượng, cớ sao nói
Niết bàn của Nhị thừa chứng được có lượng?
Ðáp: Nói trí tuệ có phân lượng chứ không
nói thật tánh các pháp có phân lượng. Không nghe nói thí dụ
nước lớn ư? Ðồ đựng có lượng, chẳng phải nước có lượng.
* Lại nữa, lượng, vô lượng đối đãi nhau,
đối với người phàm là vô lượng, đối với Phật đều lượng được
hết. Ngang bấy nhiêu phần cho đến ngang bấy nhiêu phần là A
la hán, Bích chi Phật, Bồ tát, còn lại bao nhiêu phần pháp
tính rốt ráo khác là Phật.
Bấy giờ chư thiên ở trong hội chúng lấy
hoa trời Mạn đà la rải lên Phật như trong kinh văn nói.
Hỏi: Hoa cúng dường Phật và Tăng, cớ sao
800 Tỳ kheo đây chỉ lấy cúng dường Phật?
Ðáp: Hoa của chư thiên rải, các Tỳ kheo
được phần hoa rơi trên áo mình, thấy sắc hương của nó rất
tuyệt diệu, nhân đó phát tâm đem cúng dường Phật, bạch rằng:
Tôi từ nay sẽ tu hạnh vô thượng ấy, nghĩa là tu rốt ráo
không, vô tướng, vô tác, vì độ hết thảy chúng sinh, nên hàng
Nhị thừa không sánh kịp như Phật đã nói.
Bấy giờ Phật mỉm cười như đã nói trong
phẩm "Hằng già đề bà", 800 Tỳ kheo ấy là thiện tri thức của
nhau, hạnh đồng, tâm đồng, đời đời cùng nhau tu tập công đức
nên cùng một lúc được làm Phật, đồng một danh hiệu. Do lấy
hoa trời năm sắc cúng Phật nên trong cõi nước thường mưa hoa
trời Mạn đà la đủ năm sắc. Phật nhân việc ấy tán thán Bát
nhã rằng: Người muốn hành đạo Bồ tát tối thượng, hãy hành
Bát nhã ba la mật.
Này A nan! Nếu có kẻ thiện nam tu Bát nhã
ba la mật thậm thâm ấy, nên biết người ấy đến từ trong nhân
đạo, hoặc từ trên trời Ðâu suất, vì cớ sao? Vì trong ba
đường ác tội khổ nhiều, không tu Bát nhã thậm thâm được.
Trời ở cõi Dục say đắm năm dục tịnh diệu tâm cuồng hoặc,
không thể tu, trời cõi Sắc đắm say hương vị thiền định nên
không thể tu; cõi Vô sắc không có hình tướng nên không thể
tu; qủy thần có đạo nhãn, căn lợi, vì bị phiền não che tâm
nên không thể chuyên tu Bát nhã thậm thâm; chỉ trong nhân
đạo khổ ít hơn ba đường ác, vui, không bằng chư thiên; các
căn mắt, tai ... ô trược nặng nề, thân phần nhiều thuộc địa
đại, nên có thể chế phục ý khổ vui mà thực hành Bát nhã.
Trên trời Ðâu suất thường có vị Bồ tát còn một đời bổ xứ làm
Phật, chư thiên cõi trời kia thưòng nghe Bồ tát ấy thuyết
Bát nhã nên cái vui ngũ dục tuy nhiều, mà có pháp lực mạnh
hơn; thế nên nói đến từ hai nơi; hoặc đến từ cõi Phật ở
phương khác hoặc đến từ cõi này, nơi có Bát nhã ba la mật.
* Lại nữa, A nan! Nếu có người cầu Phật
đạo, có thể hỏi, có thể tin, thọ trì, cho đến nhớ nghĩ đúng,
nên biết người ấy Phật thường dùng Phật nhãn trông thấy.
Người ấy nên nghĩ rằng: Chúng ta trực tiếp theo Phật thọ
trì, theo Phật phát tâm, gieo trồng căn lành, chứ không từ
nời Nhị thừa. Này A nan! Nếu có ngưòi tín tâm thanh tịnh
không thể phá hoại, nên biết người ấy từng cúng dường vô
lượng chư Phật, được thiện tri thức thủ hộ, nên có thể thọ
trì.
Hỏi: Phật cũng gọi là báu, cũng gọi là
ruộng phước vô thượng; nếu người theo Phật trồng căn lành,
chắc chắn do pháp ba thừa mà vào Niết bàn không hư dối; như
trong kinh Pháp hoa nói: Có người hoặc lấy một cành hoa,
hoặc lấy ít hương cúng dường Phật, cho đến một lần xưng "Nam
mô Phật". Những người như vậy đều sẽ thành Phật. Nếu như vậy
có người nghĩ rằng: Chỉ cần tu năm Ba la mật, khi muốn làm
Phật mới quán Không, cần gì thường tu Bát nhã ba la mật khó
biết, khó được Không hạnh?
Ðáp: Do việc ấy nên Phật tự đáp với A
nan: Nơi ruộng phước của Phật tuy không hư dối nhưng cần
phải được pháp ba thừa vào Niết bàn, phải nên rõ ràng tu sáu
Ba la mật cho đến rõ ràng tu trí Nhất thiết chủng, mới chóng
được thành Phật đạo, chịu khổ sinh tử không còn lâu. Bát nhã
có công đức, lợi ích như vậy nên cần phải học.
Này A nan! Vì Bát nhã có công đức, lợi
ích như vậy nên ta phó chúc cho ông.
Hỏi: Phật không có tham gì, cho đến trí
Nhất thiết chủng, Phật được giải thoát vô ngại, thanh tịnh
vi diệu, đối với Phật pháp còn không tham, cớ gì lại đem Bát
nhã ba la mật ân cần phó chúc cho A nan, như tuồng có tham
kiết?
Ðáp: Chư Phật vì lợi ích chúng sinh nên
xuất hiện ở đời, hiện đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp tùy hình,
có hào quang vô lượng, biến hoc thần túc đều vì chúng sinh.
Ðều làm lợi ích cho chúng sinh nhất không gì hơn Bát nhã ba
la mật, vì có thể dứt hết các khổ. Bát nhã ba la mật nhân
nơi ngữ ngôn, văn tự, chương cú mà có thể hiểu được nghĩa
nó, thế nên Phật đem quyển kinh Bát nhã ân cần phó chúc cho
A nan.
* Lại nữa, có người thấy Phật ân cần phó
chúc nói rằng: Ðại sự Phật đã làm xong, còn tôn trọng Bát
nhã, như vậy pháp ấy chắc chắn tôn qúy mầu nhiệm; thí như
trưởng giả giàu lớn, khi sắp mệnh chung đem bảo vật trao cho
con, riêng ngọc báu Như ý thời ân cần phó chúc rằng: Ngươi
chớ cho thứ châu báu này không có màu sắc nhất định, chất
như hư không, nhiệm mầu khó biết mà không thủ hộ; nếu các
vật báu khác mất có thể được, còn châu báu này không thể để
mất. Vị trưởng giả giàu lớn là Phật, đem châu báu Bát nhã ba
la mật phó chúc cho A nan: Ông khéo giữ gìn, thủ hộ, đừng để
mất. Ngoại trừ Bát nhã ba la mật, 12 bộ kinh tuy đều mất
hết, lỗi ấy còn ít, nếu mất một câu Bát nhã, lỗi ấy rất
nhiều, vì sao? Vì pháp tạng Bát nhã thậm thâm là mẹ của ba
đời mười phương chư Phật, hay khiến người mau đạt đến Phật
đạo, như trong kinh này nói: Ba đời chư Phật đều từ Bát nhã
mà được, cho đến vì hàng Thanh văn thuyết pháp, trong ấy đều
là việc tán thán Bát nhã.
Hỏi: Thuyết pháp làm cho chúng sinh trong
ba ngàn đại thiên thế giới đều được thành A la hán, tại sao
không bằng đem một câu Bát nhã dạy cho Bồ tát?
Ðáp: Việc ấy trước đã đáp rồi, nay sẽ
lược nói: Chúng sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới tuy
đều được thành A la hán mà chỉ tự độ mình, không nhằm làm
Phật; nếu nói một câu Bát nhã, người nghe sẽ được làm Phật.
Như người trồng nhiều cây quả có nhiều quả, chẳng bằng một
người trồng một cây Như ý, tùy sở nguyện của người đều được
như ý.
Trong pháp nói cho hàng Thanh văn không
có đại từ bi, trong pháp Ðại thừa, một câu tuy ít mà có tâm
đại từ bi. Trong pháp Thanh văn đều vì lợi mình, trong pháp
Ðại thừa rộng vì chúng sinh; trong pháp Thanh văn không có
tâm muốn biết rộng các pháp, chỉ muốn mau lìa khổ già, bệnh,
chết; trong pháp Ðại thừa muốn mỗi mỗi rõ ràng biết hết thảy
pháp; trong pháp Thanh văn công đức có hạn lượng; trong pháp
Ðại thừa bao gồm hết các công đức không có bỏ sót. Ðại tiểu
sai khác nhau nhu vậy; thí như kim cương tuy nhỏ song có thể
hơn tất cả châu báu, chẳng được nói ít không bằng nhiều.
Phưóc đức của các vị A la hán trong ba ngàn đại thiên thế
giới so với đem một câu Bát nhã dạy cho Bồ tát trong một
ngày, cho đến trong giây lát, phước kia rất nhiều. Trong đây
Phật tự nói nhân duyên: Bồ tát tự muốn được Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, cũng dạy người khiến được; tự tu sáu Ba la
mật, cũng dạy người tu. Bồ tát có hai công đức như vậy mà
không thành Phật đạo, thì không có lẽ ấy.
Bấy giờ Phật muốn làm rõ việc ấy nên dẫn
chứng, cũng muốn chứng hết thảy pháp không, không đắm trước
hết thảy pháp không ấy, mà chỉ vì thương xót hết thảy chúng
sinh nên phó chúc cho A nan. Như Phật A súc và đại chúng
trang nghiêm không đối hiện trước mắt, hết thảy pháp không
đối hiện trước mắt cũng như vậy. Pháp mà mắt thịt, mắt trời
trông thấy đều là pháp tác vi hư dối không thật; còn pháp mà
mắt tuệ, mắt pháp, mắt Phật trông thấy đều là pháp vô tướng,
vô vi nên không thể thấy; nếu không thể thấy cũng không thể
biết. Pháp không tác vi cũng như vậy. Chúng hội Phật A súc
được trông thấy đều như huyễn, như mộng. Quán các pháp được
như vậy gọi là Bồ tát tu Bát nhã, gọi là không đắm trước.
Ðiều Phật phó chúc cũng không đắm trước, chỉ vì tâm đại từ
bi nên tán thán Bát nhã. Tướng hết thảy pháp tuy không thể
nghĩ bàn, song vì lợi ích chúng sinh nên tán thán rằng: Học
như vậy là học Bát nhã; nếu muốn được hết thảy Ba la mật nên
học Bát nhã ba la mật như kinh đã nói rộng.
Phật dùng nghĩa vô lưọng tán thán Bát
nhã, trí tuệ Phật không thể cùng tận, công đức Bát nhã cũng
không thể cùng tận, vì sao? Vì tướng Bát nhã ba la mật
không có hạn lượng; danh từ, ngôn ngữ, chương cú, quyển số
có hạn lượng như các câu chữ trong các quyển kinh Tiểu phẩm
Bát nhã, Phóng quang Bát nhã, Quang tán Bát nhã v. v... có
hạn lượng, còn nghĩa lý Bát nhã không có hạn lượng. A nan
hỏi: Tại sao Bát nhã không có hạn lượng? - Phật đắp: Vì Bát
nhã tự lìa tướng, lìa tướng nên từ trước lại đây không sinh
không nhóm; không sinh không nhóm nên không tận không diệt.
Trong đây Phật tự nói nhân duyên: Vô lượng vô số chư Phật và
đệ tử quá khứ dùng Bát nhã ba la mật chiếu sáng mười phương,
độ vô lượng chúng sinh đều vào Vô dư Niết bàn, vì Bát nhã ba
mật nên không cùng tận; chư Phật vị lai, hiện tại cũng như
vậy. Thí như có người muốn đi cùng tận hư không, hư không
không thể cùng tận, công đức của Bát nhã ba la mật, cho đến
trí Nhất thiết chủng cũng như vậy, đã không tận, nay không
tận sẽ không tận. Có người biết quá khứ không cùng tận,
nhưng cho vị lai, hiện tại có cùng tận, thế nên nói ba đời
không thể cùng tận, vì sao? Vì các pháp vốn vô sinh, làm sao
cùng tận! Phật biết Bát nhã ba la mật là không cùng tận nên
phó chúc. Như người đem bình dầu thơm phó chúc cho đệ tử,
tuy không phải vì tiếc cái bình mà chỉ vì để giữ gìn dầu
thơm. Ngôn ngữ, văn tự hay giữ gìn nghĩa lý cũng như vậy;
nếu mất ngôn ngữ, văn tự thời nghĩa lý chẳng còn.
Bấy giờ Phật vì người tín thọ Bát nhã,
nên hiện tướng lưỡi dài phủ lên mặt, hỏi A nan rằng: Ta nay
ở giữa bốn chúng phó chúc Bát nhã cho ông, ông hãy vì chúng
sinh giải nói, hiển bày, phân biệt, làm cho dễ hiểu.
Sở dĩ hiện tướng lưỡi rộng dài là theo
tướng pháp của thế gian. Lưỡi có thể phủ lên mũi là tướng
không vọng ngữ, huống gì phủ lên mặt, thế nên Phật chỉ cho
chúng sinh rằng: Thân ta từ cha mẹ sinh ra đã có tướng lưỡi
ấy, nay muốn đem Bát nhã ba la mật khiến ông tin hiểu, vì
các ông chưa được Nhất thiết trí, không thể biết khắp, vì
muốn khiến các ông tin nên hiện tướng lưỡi, chứ chẳng phải
dùng thần thông hiện ra.
Phật đối với pháp thậm thâm, trí tuệ,
thiền định còn không đắm trước, huống gì tám pháp thế gian (lợi,
suy, hủy, dự, xưng cơ, đắc, thất - ND), vì cái lợi cúng
dường mà lại làm việc hư dối! Ở giữa hết thảy pháp như chim
bay giữa hư không không bị chướng ngại. Phật chỉ vì bản
nguyện độ sinh, tâm đại bi thương xót hết thảy nên đem cái
lợi đệ nhất là Bát nhã ba la mật, ân cần phó chúc cho ông.
* Lại nữa, A nan! Người tu Bát nhã ba la
mật thậm thâm có thể vào môn Ðà la ni Văn tự, nhân nơi một
chữ mà liền chứng nhập rốt ráo không, nên gọi là Ðà la ni
Văn tự. Như các văn tự đều từ Bát nhã ba la mật mà có được;
ngoài ra như Văn trì Ðà la ni (là nghe được rồi, giữ gìn
không mất - ND) cũng đều do Bát nhã ba la mật ma có
được. Bồ tát có được Pháp Ðà la ni rồi, được môn biện tài
như đã nói trước, trải vô lượng vô số kiếp nói một câu, một
nghĩa mà không bao giờ hết; ấy gọi là chơn pháp của chư Phật
ba đời, lại không có pháp khác.
* Lại nữa, A nan! Bát nhã là diệu pháp
của ba đời mười phương chư Phật; như thành chỉ có một cửa,
người bốn phương đi đến không có cửa khác đi vào. Này A nan!
Ta nay vì ông mỗi mỗi nói rõ ràng: Nếu có người thọ trì Bát
nhã, chẳng phải chỉ thọ trì pháp Ta, mà cũng thọ trì Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật ba đời. Này A nan!
Nơi nơi ta đều nói Bát nhã ba la mật là đôi chân của hành
giả, vì cớ sao? Vì Bồ tát được Bát nhã thời có thể hành đạo
Bồ tát. Này A nan! Ông được Bát nhã Ðà la ni nên có thể giữ
gìn hết thảy Phật pháp.
Hỏi: Do sức Văn trì Ðà la ni nên có thể
giữ gìn, cớ sao lại nói có được Bát nhã nên có thể giữ gìn
hết thảy Phật pháp?
Ðáp: Văn trì Ða la ni có thể giữ gìn pháp
có số lượng, Ðà la ni thế gian cũng có, như Tu thi ma ngoại
đạo cũng được Văn trì Ðà la ni, tuy được trong ít lúc, lâu
ngày quên mất, còn từ Bát nhã được Ðà la ni thời thọ trì
rộng rãi các pháp, không bao giơ quên mất, đó là chỗ sai
khác.
Hỏi: Bát nhã là Ba la mật, cớ gì còn gọi
là Ðà la ni?
Ðáp: Thật tướng các pháp là Bát nhã có
nhiều lợi ích, được chúng sinh ái niệm, nên có nhiều danh
xưng; như Phật có mười hiệu. Văn tự Bát nhã ba la mật cũng
như vậy, hay dẫn đến bờ mé hết thảy trí tuệ, nên gọi là Bát
nhã ba la mật. Bồ tát tu Bát nhã được thành Phật, đổi lại
gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; như ở trong tâm Tiểu
thừa thời chỉ gọi là Ba mươi bảy pháp trợ đạo, ba cửa giải
thoát; nếu người muốn được nghe rồi không quên, thời ở trong
tâm người ấy gọi là Ðà la ni. Thế nên Phật nói thí dụ ngọc
Như ý, tùy theo màu sắc của vật ở trước nó mà thay đổi tên
gọi. Phật nói mỗi mỗi công đức của Ðại Bát nhã cũng như vậy.
(Hết cuốn 79
theo bản Hán)