GIẢI THÍCH:
PHẨM TỊNH NGUYỆN THỨ 64
(Kinh Ma Ha Bát
Nhã ghi: Phẩm Nguyện Lạc Tùy Hỷ)
(Kinh Ðại Bát Nhã Phần 2 ghi: Phẩm Vô Phân Biệt Thứ 63)
KINH: Bấy giờ trời Ðế thích nghĩ rằng:
Khi Bồ tát tu Bát nhã ba la mật, Thiền ba la mật, Tấn ba la
mật, Nhẫn ba la mật, Giới ba la mật, Thí ba la mật cho đến
mười tám pháp không chung là đã vượt lên trên hết thảy chúng
sinh; huống gì khi được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các
chúng sinh nghe Nhất thiết trí mà tin, còn được thiện lợi,
được sống lâu hơn giữa loài người, huống gì phát tâm Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác, các chúng sinh khác hãy nên
tùy nguyện vui mừng.
Khi ấy trời Ðế thích lấy hoa Mạn đà la
cõi trời rải lên trên Phật, cất tiếng nói rằng: Do phước đức
này, nếu có người cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thời
khiến người ấy đầy đủ Phật pháp, đầy đủ trí Nhất thiết
chủng, đầy đủ pháp tự nhiên; nếu người cầu Thanh văn, khiến
người ấy đầy đủ pháp Thanh văn. Bạch đức Thế Tôn! Nếu có Bồ
tát phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, con trọn không
bao giờ sinh một niệm làm cho họ thối chuyển, cũng không
sinh một niệm làm cho họ chuyển trở lại địa vị Thanh văn,
Bích chi Phật. Bạch Thế Tôn! Con nguyện các Bồ tát càng tinh
tấn gấp bội đối với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thấy
các chúng sinh chịu khổ não trong đường sinh tử, muốn làm
lợi ích an vui cho hết thảy thế gian trời, người, A tu la,
đem tâm ấy nguyện rằng: Con đã tự độ cũng sẽ độ người chưa
được độ, con đã giải thoát cũng sẽ giải thoát cho người chưa
được giải thoát; con đã an ổn cũng sẽ an ổn cho người chưa
được an ổn ; con đã diệt độ cũng sẽ khiến người chưa được
diệt độ được diệt độ.
Bạch Thế Tôn! Kẻ thiện nam, người
thiện nữ sinh tâm tùy hỷ đối với công đức của vị Bồ tát mới
phát tâm, được bao nhiêu phước đức? Sinh tâm tùy hỷ đối với
công đức của vị Bồ tát đã phát tâm lâu ngày được bao nhiêu
phước đức? Sinh tâm tùy hỷ đối với công đức của vị Bồ tát
chẳng thối chuyển, được bao nhiêu phước đức? Sinh tâm tùy hỷ
đối với công đức của vị Bồ tát còn một đời bổ xứ làm Phật,
được bao nhiêu phước đức?
Phật bảo trời Ðế thích: Kiều thi ca!
Thế giới trong bốn châu thiên hạ có thể cân lường biết được,
còn phước đức của tâm tùy hỷ ấy không thể cân lường.
Này Kiều thi ca! Ba ngàn đại thiên thế
giới đều có thể cân lường biết được, còn phước đức của tâm
tùy hỷ ấy không thể cân lường.
Này Kiều thi ca! Trong ba ngàn đại
thiên thế giới đầy nước biển, lấy một sợi tóc chẻ làm một
trăm phần, lấy một phần sợi tóc chấm lấy nưóc biển có thể
đếm biết số giọt nước bao nhiêu, còn phước đức của tâm tùy
hỷ ấy không thể đếm biết được.
Trời Ðế thích bạch Phật rằng: Nếu có
chúng sinh không tùy hỷ với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
họ đều là quyến thuộc của ma; các kẻ tâm không tùy hỷ ấy từ
trong ma sinh đến, vì sao? Vì các Bồ tát phát tâm tùy hỷ
sinh ra để phá cảnh giới ma, thế nên muốn ái kính Tam bảo,
nên sinh tâm tùy hỷ; tùy hỷ rồi nên hồi hướng đến Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, vì không một, không hai tướng.
Phật dạy: Như vậy, như vậy! Kiều thi
ca! Nếu có người đối với Bồ tát tùy hỷ và hồi hướng được như
vậy, thời thường được gặp Phật, trọn không thấy sắc tướng
dữ, trọn không nghe âm thanh dữ, trọn không ngửi mùi hương
dữ, trọn không ăn vị dữ, trọn không chạm vật dữ, trọn không
theo niệm dữ, trọn không xa lìa Phật; từ một cõi Phật đi đến
một cõi Phật, thân cận chư Phật, gieo trồng căn lành, vì
sao? Vì kẻ thiện nam, người thiện nữ vì tùy hỷ và hồi hướng
với các thiện căn của vô lượng, vô số vị Bồ tát mới phát
tâm. Vì thiện căn vô lượng, vô số vị Bồ tát ở đệ Nhị địa, đệ
Tam địa cho đến đệ Thập địa và Bồ tát còn một đời bổ xứ làm
Phật mà tùy hỷ và hồi hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác. Do nhân duyên của thiện căn ấy, nên chóng gần Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bồ tát ấy được Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác rồi độ vô lượng, vô biên, vô số chúng sinh.
Này Kiều thi ca! Do nhân duyên ấy nên
kẻ thiện nam, người thiện nữ đối với thiện căn của Bồ tát
mới phát tâm, nên tùy hỷ và hồi hướng đến Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, chẳng phải tâm, chẳng phải lìa tâm; đối với
thiện căn của Bồ tát đã lâu, Bồ tát chẳng thối chuyển, và Bồ
tát còn một đời bổ xứ làm Phật, nên tùy hỷ và hồi hướng đến
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chẳng phải tâm, chẳng phải
lìa tâm.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Tâm ấy như huyễn, làm sao có được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác?
Phật bảo Tu bồ đề: Ý ông nghĩ sao? Ông
thấy tâm ấy như huyễn chăng? - Thưa không, bạch Thế Tôn! Con
không thấy huyễn, cũng không thấy tâm như huyễn.
Này Tu bồ đề! Ý ông nghĩ sao? Nếu
không có huyễn, không có tâm như huyễn, vậy ông thấy tâm ấy
chăng? - Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này Tu bồ đề! Ý ông nghĩ sao? Lìa
huyễn, lìa tâm như huyễn, ông thấy lại có pháp khác được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng? - Thưa không, bạch Thế
Tôn! Con không thấy lìa huyễn, lìa tâm như huyễn, lại có
pháp khác được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Con không
thấy lại có pháp có thể nói hoặc có hoặc không, vì tướng
pháp ấy rốt ráo lìa, nên không rơi vào có, không rơi vào
không. Nếu pháp rốt ráo lìa thời không được Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác; không có pháp gì cả, cũng không thể được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì sao? Vì hết thảy pháp không
có gì của chính nó, trong ấy không nhơ không sạch. Vì thế
nên Bát nhã ba la mật rốt ráo lìa; Thiền ba la mật, Tấn ba
la mật, Nhẫn ba la mật, Giới ba la mật, Thí ba la mật rốt
ráo lìa tướng, cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác rốt
ráo lìa. Nếu pháp rốt ráo lìa thời không thể tu, không thể
hoại. Tu Bát nhã ba la mật cũng không có pháp có thể thủ
đắc, vì rốt ráo lìa.
Bạch Thế Tôn! Nếu Bát nhã rốt ráo lìa,
làm sao nhân Bát nhã được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cũng rốt ráo lìa, trong hai
lìa làm sao có sở đắc?
Phật bảo Tu bồ đề: Lành thay, lành
thay!
Bát nhã ba la mật rốt ráo lìa, Thiền
ba la mật, Tấn ba la mật, Nhẫn ba la mật, Giới ba la mật,
Thí ba la mật rốt ráo lìa, cho đến trí Nhất thiết thủng rốt
ráo lìa. Này Tu bồ đề! Nếu Bát nhã ba la mật rốt ráo lìa,
cho đến trí Nhất thiết chủng rốt ráo lìa, do vậy nên được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này Tu bồ đề! Nếu Bát nhã ba
la mật chẳng phải rốt ráo lìa, cho đến trí Nhất thiết chủng
chẳng phải rốt ráo lìa ấy không gọi là Bát nhã ba la mật
chẳng phải rốt ráo lìa, cho đến trí Nhất thiết chủng chẳng
phải rốt ráo lìa, ấy không gọi là Bát nhã ba la mật, không
gọi là Thiền ba la mật cho đến trí Nhất thiết chủng. Này Tu
bồ đề! Nếu Bát nhã ba la mật rốt ráo lìa cho đến trí Nhất
thiết chủng rốt ráo lìa, do vậy nên chẳng phải nhân Bát nhã
ba la mật được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; cũng không
vì lìa, được lìa mà được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác;
cũng chẳng phải nhân Bát nhã ba la mật.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Ý nghĩa sở hành của Bồ tát rất sâu!
Phật dạy: Như vậy! Ý nghĩa sở hành của
Bồ tát rất sâu. Bồ tát làm được việc khó làm, đó là nghĩa sở
hành ấy rất sâu mà không chứng quả vị Thanh văn, Bích chi
Phật.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Như ý nghĩa con theo Phật được nghe sở hành của Bồ tát
không là khó, vì sao? Vì Bồ tát không thể thủ chứng được
nghĩa ấy, cũng không thủ chứng được Bát nhã, cũng không có
người thủ chứng. Bạch đức Thế Tôn! Nếu hết thảy pháp không
thể có được, nghĩa ấy thế nào, có thể thủ chứng? Thế nào là
Bát nhã có thể thủ chứng? Thế nào là người thủ chứng? Thủ
chứng rồi được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Bạch đức Thế
Tôn! Ấy gọi là Bồ tát không có sở đắc mà tu Bồ tát hạnh, đối
với hết thảy pháp đều được rõ ràng. Bạch đức Thế Tôn! nếu Bồ
tát nghe pháp sâu xa, tâm không khinh, không nghi, không sợ,
không hãi; ấy gọi là Bồ tát tu Bát nhã ba la mật. Bồ tát khi
tu Bát nhã ba la mật không thấy ta tu Bát nhã ba la mật,
cũng không thấy đó là Bát nhã ba la mật, cũng không thấy ta
sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì sao? Vì khi Bồ
tát tu Bát nhã ba la mật, không nghĩ rằng Thanh văn, Bích
chi Phật địa cách xa ta, Nhất thiết trí cách gần ta. Thí như
hư không, không nghĩ rằng nghĩ rằng có vật cách xa ta hay
cách gần ta, vì sao? Vì hư không không có phân biệt.
Bạch đức Thế Tôn! Bồ tát tu Bát nhã
cũng không nghĩ rằng Thanh văn, Bích chi Phật địa cách xa
ta, Nhất thiết trí cách gần ta, vì sao? Vì trong Bát nhã
không có phân biệt. Thí như người huyễn hóa không nghĩ rằng:
Vị thầy huyễn thuật cách gần ta, người xem huyễn thuật cách
xa ta, vì sao? Vì người huyễn hóa không có phân biệt. Vị Bồ
tát tu Bát nhã không nghĩ rằng: Thanh văn, Bích chi Phật địa
cách xa ta, Nhất thiết trí cách gần ta. Thí như ảnh tượng
trong gương không nghĩ rằng: Gương và tượng cách gần ta, còn
cái khác cách xa ta, vì sao? Vì ảnh tượng không có phân
biệt. Vị Bồ tát tu Bát nhã không nghĩ rằng: Thanh văn, Bích
chi Phật địa cách xa ta, Nhất thiết trí cách gần ta, vì sao?
Vì trong Bát nhã không có phân biệt. Vị Bồ tát tu Bát nhã
không có yêu ghét, vì sao? Vì tự tính Bát nhã không thể có
được. Thí như Phật không có yêu ghét, vị Bồ tát tu Bát nhã
không có yêu ghét cũng như vậy, vì sao? Vì trong Bát nhã
không có yêu ghét. Thí như Phật đã dứt hết thảy ức tưởng
phân biệt, vị Bồ tát tu Bát nhã cũng như vậy, hết thảy tưởng
phân biệt dứt, rốt ráo không. Thí như ngưòi Phật biến hóa
ra, không nghĩ rằng Thanh văn, Bích chi Phật địa cách xa ta,
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cách gần ta, vì sao? Vì
người Phật biến hóa ra không có phân biệt. Vị Bồ tát tu Bát
nhã cũng như vậy, không nghĩ rằng: Thanh văn, Bích chi Phật
địa cách xa ta, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cách gần ta.
Thí như có việc phải làm nên biến hóa làm, việc biến hóa làm
không có phân biệt; Bát nhã ba la mật cũng như vậy, có việc
phải làm nên làm, việc ấy thành tựu, nhưng Bát nhã ba la mật
không có phân biệt. Thí như người thợ hoặc đệ tử người thợ
có việc phải làm nên làm ra người gỗ hoặc trai hay gái, hoặc
voi, ngựa, trâu, dê; các loại ấy có thể làm mà cũng không có
phân biệt. Bạch Thế Tôn! Bát nhã ba la mật cũng như vậy, có
việc phải làm nên nói việc ấy thành tựu mà Bát nhã ba la mật
không có phân biệt.
Xá lợi phất hỏi Tu bồ đề: Chỉ Bát nhã
ba la mật không có phân biệt hay Thiền ba la mật cho đến Thí
ba la mật cũng không có phân biệt?
Tu bồ đề đáp Xá lợi phất: Thiền ba la
mật không có phân biệt, cho đến Thí ba la mật cũng không
phân biệt.
Xá lợi phất hỏi Tu bồ đề: Sắc không có
phân biệt, cho đến thức cũng không có phân biệt; mắt cho đến
ý không có phân biệt; sắc cho đến pháp cũng không có phân
biệt; mắt, thức, xúc cho đến ý, thức, xúc không có phân
biệt; thọ do nhãn và xúc làm nhân duyên sinh, cho đến thọ do
ý và xúc làm nhân duyên sinh, bốn thiền, bốn tâm vô lượng,
bốn định vô sắc, bốn niệm xứ cho đến tám phần Thánh đạo;
không, vô tướng, vô tác, Phật mười lực, bốn việc không sợ,
bốn trí vô ngại, đại từ đại bi, mười tám pháp không chung,
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tính vô vi ... cũng không
có phân biệt. Này Tu bồ đề! Nếu sắc không có phân biệt cho
đến tính vô vi không có phân biệt; nếu hết thảy pháp không
có phân biệt, thời làm sao phân biệt có sáu đường sinh tử là
địa ngục, ngạ qủy, súc sinh, trời, người, A tu la; làm sao
phân biệt được Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán,
Bích chi Phật và chư Phật?
Tu bồ đề đáp Xá lợi phất: Chúng sinh
vì điên đảo nên tạo nghiệp thân, miệng, ý; theo chỗ ham muốn
nghiệp báo cũ mà thọ thân trong sáu đường địa ngục, ngạ qủy,
súc sinh, trời, người, A tu la. Như ông nói làm sao phân
biệt có Tu đà hoàn cho đến Phật đạo? Thưa Xá lợi phất, Tu đà
hoàn chính là vì không có phân biệt nên có, quả Tu đà hoàn
cũng là vì không có phân biệt nên có; cho đến A la hán, quả
A la hán, Bích chi Phật, đạo Bích chi Phật, Phật và Phật đạo
cũng là vì không có phân biệt nên có. Thưa Xá lợi phất, chư
Phật quá khứ cũng là vì không có phân biệt, dứt phân biệt
nên có. Vì thế nên biết, tướng hết thảy pháp không có phân
biệt, không thể phá hoại, vì các pháp là như như, pháp tính,
thật tế. Thưa Xá lợi phất, như vậy Bồ tát tu Bát nhã ba la
mật không có phân biệt; tu Bát nhã ba la mật không có phân
biệt rồi, liền được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không có
phân biệt.
LUẬN - Khi ấy trời Ðế thích và hội chúng
đều vui mừng. Trời Ðế thích nghĩ rằng: Bồ tát khi tu đạo Bồ
tát, công đức có được còn hơn hết thảy chúng sinh, huống gì
thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác!
Chúng sinh có hai hạng: Hạng phát tâm và
hạng chưa phát tâm. Hạng phát tâm Bồ tát hơn hàng chưa phát
tâm, vì cớ sao? Vì hạng ấy gieo trồng nhân duyên về với vô
lượng vô thượng Phật pháp, muốn độ chúng sinh khiến lìa khổ
đưọc vui, còn chúng sinh khác chỉ cầu cái vui cho mình, muốn
đưa cái khổ cho người khác. Do nhân duyên ấy nên người phát
tâm hơn.
Hỏi: Các A la hán, Bích chi Phật và người
được năm thần thông là người ly dục, còn người phát tâm hoặc
chưa ly dục, chỉ mới phát tâm, làm sao hơn được?
Ðáp: Việc ấy ở trong phẩm trước đã mỗi
mỗi đáp: A la hán tuy đã sạch hết lậu hoặc chẳng bằng Bồ tát
mới phát tâm. Thí như thái tử của Chuyển luân Thánh vương
tuy ở trong thai đã hơn con của người khác. Lại như thái tử
của Quốc vương, tuy chưa lên ngôi đã hơn các đại thần có
tước vị giàu sang. Bồ tát phát tâm có hai hạng: một là tu
các đạo Bồ tát Ba la mật; hai là chỉ âm thầm phát tâm. Trong
đây nói về hàng tu Bồ tát đạo, người ấy tuy việc chưa thành
tựu đã có thể hơn hết thảy chúng sinh, huống gì khi thành
tựu! Thí như chim A lăng tần già còn ở trong trứng chưa cất
tiếng kêu đã hơn các chim khác, huống gì khi ra khỏi trứng
cất tiếng kêu! Bồ tát cũng như vậy, tuy chưa thành tựu Phật,
tu Bồ tát đạo, còn phát âm thanh nói về thật tướng các pháp,
khởi phá các hý luận của ngoại đạo và ma dân, huống gì khi
thành Phật. Có người nói: Nếu có người một lần phát tâm nói
rằng: "Ta sẽ làm Phật, diệt khổ cho chúng sinh". Ngưòi ấy
tuy chưa dứt phiền não, chưa làm việc khó làm, mà do nghiệp
tâm và miệng manh hơn hết thảy chúng sinh. Hết thảy chúng
sinh đều tự tìm vui, tự vì mình nên yêu thương thân thích. A
la hán, Bích chi Phật tuy không ham cái vui thế gian, nhưng
chỉ tự vì diệt khổ cho mình, cầu cái vui Niết bàn, không thể
vì chúng sinh, còn Bồ tát tâm sinh miệng nói đều vì hết thảy
chúng sinh, cho nên hơn. Thí như có một vị A la hán đủ sáu
thần thông, đem theo một Sa di khiến mang y bát ven theo
đường mà đi. Sa di suy nghĩ: "Ta sẽ do thừa nào cầu vào Niết
bàn? Nghĩ rồi liền phát tâm rằng: Phật là Thế Tôn thối
thượng, Ta sẽ do Phật thừa mà vào Niết bàn". Vị thầy biết ý
nghĩ của Sa di, liền lấy y bát tự mang lấy, đẩy Sa di đi
phía trước. Sa di lại suy nghĩ: "Phật đạo quá khó, phải ở
lâu trong sinh tử chịu vô lượng khổ, còn theo Tiểu thừa sớm
vào Niết bàn" Vị thầy lại lấy y bát, đẩy lọc nước đưa lại Sa
di, khiến mang và bảo đi sau. Cứ như vậy đến lần thứ ba, Sa
di thưa với thầy: Tuổi thầy già cả mà sao giỡn như trẻ con,
mới vừa khiến con đi trước, lại bảo con đi sau một cách mau
chóng? Vị thầy đáp: Ngươi niệm đầu phát tâm làm Phật, tâm ấy
qúy trọng. Theo lẽ, ngưoi là thầy ta, người như vậy, các
Bích chi Phật còn nên cúng dường, huống gì A la hán, thế nên
ta đẩy ngươi đi trước. Nhưng tâm ngươi trở lại ăn năn, muốn
đi theo Tiểu thừa mà chưa thể được, như vậy ngươi cách ta
rất xa, thế nên ta khiến ngươi đi sau. Sa di nghe rồi kinh
hãi tỉnh ngộ: Thầy ta biết được tâm ta, Ta một lần phát tâm
đã hơn A la hán, huống gì khi được thành tựu! Liền tự phát
tâm kiên cố ở trong pháp Ðại thừa.
* Lại nữa, hơn là không hẳn trong mọi
việc đều hơn, mà chỉ do một lần phát tâm, muốn thành Phật
độ chúng sinh, việc ấy là hơn. Các thiền định, giải thoát
còn chưa có được, sao lại nói hơn! Thí như lấy việc bay lưọn
nói là chim hơn người, còn công đức sẽ được trong tương lai
không luận đến. Ngưòi Tiểu thừa nói: Cho đến vị Bồ tát còn
một đời bổ xứ làm Phật còn không hơn vị Sa di có đủ vô lượng
luật nghi. Trong luận Ðại thừa hoặc có người nói như vầy:
Người có phát tâm Ðại thừa, tuy ở trong hàng tiểu nhân xấu
ác vẫn hơn người Nhị thừa được giải thoát; ấy gọi là Nhị
biên, lìa Nhị biên ấy gọi là Trung đạo. Nghĩa trung đạo như
trên đã nói. Vì nó có nghĩa lý thật nên phải thủ lấy. Thế
nên nói khi mới phát tâm đã hơn hết thảy chúng sinh, huống
gì khi thành Phật!
Nghe nói Nhất thiết trí mà tin
là được thiện lợi trong
loài người. Có người nói sáu Ba la mật là lợi, có ngưòi nói
quả báo của sáu Ba la mật là lợi, đó là quả báo làm Chuyển
luân Thánh vương, vua trời Ðế thích, Phạm thiên, vua người,
vua pháp. Có người nói: Ðược chẳng thoái chuyển, không đọa
đường ác, thường sinh chỗ giàu sang trong cõi người cõi
trời. Có người nói: Bồ tát trú nơi quả báo thần thông, dạo
khắp mười phương cúng chư Phật, dùng mỗi mỗi phương tiện
giáo hóa chúng sinh. Nhơn duyên của việc tín thọ, giáo hóa
chúng sinh được các lợi lớn như vậy.
Sống lâu trong hàng sống lâu
là chúng sinh có hai mạng sống:
1. Là mạng căn; 2. Là tuệ mạng. Người được tuệ mạng nên nói
sống lâu trong hàng sống lâu. Huống gì phát tâm, người phát
tâm là người đág kính, đáng qúy, vì cớ sao? Vi như trước
nói, người ấy có thể bỏ cái vui của riêng mình, đem cái vui
đến người khác, không lo mình khổ, mà lo người khác khổ. Bấy
giờ trời Ðế thích muốn hiện tướng hoan hỷ, nên lấy hoa Mạn
đà la trời (hoa biểu tượng - N.D) rải lên trên Phật,
như kinh đã nói rộng.
Hỏi: Tội phước không thể đem cho người,
tuy muốn cho cũng không được, cớ sao trời Ðế thích muốn lấy
phước đức này khiến người cầu Phật đạo đầy đủ Phật pháp?
Ðáp: Tuy không thể cho người nhưng tự làm
cho tâm mình tốt, lại trời Ðế thích tỏ bày không đắm trước
phước ấy nên đem tâm tùy hỷ cho người cầu Phật đạo; cho
người cầu Thanh văn cũng như vậy.
Trời Ðế thích bạch Phật: Tôi tuy được
Thanh văn đạo cũng không sanh một niệm, khiến tâm Bồ tát
xoay trở lại hướng về Nhị thừa, vì cớ sao? Vì các Bồ tát
thấy chúng sanh chịu khổ trong đường sanh tử, muốn lấy lợi
ích hết thảy thế gian nên phát nguyện rằng: Người chưa được
độ tôi sẽ độ.
Bấy giờ trong hội chúng có người nghĩ
rằng: Nếu như trên nói, tùy hỷ cũng có công đức, vậy tùy hỷ
với người mới phát tâm và tùy hỷ với người phát tâm đã lâu
có gì sai khác? Trời Ðế thích muốn giải cái nghi đó cho
chúng nên hỏi Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Tùy hỷ với công đức
của Bồ tát mới phát tâm được bao nhiêu phước đức? Như Kinh
nói rộng, phước đức ấy vô lượng, vô biên vì gieo vào vô
lượng, vô biên ruộng phước, người ta không thể đếm biết
được, nên nói thí dụ để giải thích như trong Kinh đã nói
rộng. Phước đức của tùy hỷ tuy vô lượng, vô biên nhưng phước
đức của tùy hỷ đối với người gần thành Phật đạo càng nhiều
hơn. Khi ấy trời Ðế thích hoan hỷ nên bạch Phật rằng: Bạch
đức Thế Tôn! Có người nghe công đức ấy tâm không tùy hỷ thì
đó là ma dân, từ ma trời đi đến, vì cớ sao? Vì ở cảnh giới
ma chứa nhóm ác tâm nên không tùy hỷ. Trong đây nói nhân
duyên: Tâm tùy hỷ có thể phá cảnh giới ma, nên ngưòi cầu
Phật đạo,muốn ái kính Tam Bảo không bỏ, hãy đem tâm tùy hỷ,
hồi hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Chẳng một chẳng hai tướng
là không thấy các pháp có tướng
nhất định không thuộc nhân duyên, nên nói chẳng một; không
phân biệt tâm tùy hỷ với tâm hồi hướng nên nói chẳng hai, vì
rốt ráo không. Phật chấp thuận ý của trời Ðế thích, lại khen
ngợi công đức tùy hỷ rằng: Người ấy thường nhớ nghĩ tùy hỷ
với công đức của mười phương chư Phật nên mau được thấy
Phật. Lại do thâm tâm muốn khiến hết thảy chúng sinh lìa khổ
được vui, nên qua lại trong đường sanh tử, sáu căn ban sơ
không chịu sáu trần xấu ác, về sau thường được sinh ở trước
chư Phật. Vì không dứt gieo trồng hạnh thấy Phật. Trong đây
Phật tự nói nhân duyên: Người ấy đối với vô lượng, vô số vị
Bồ tát mới phát tâm, cho đến vô lượng vị Bồ tát còn một đời
bổ xứ làm Phật, đều tùy hỷ, nên được quả báo như trên, chóng
thành Phật đạo, độ vô lượng vô số chúng sinh.
* Lại nữa, Kiều thi ca! Bồ tát ấy nhơn
phước đức ấy mà hồi hướng đúng như pháp thật tướng ở trong
thật tướng tâm không thể có được, nên nói chẳng phải tâm,
cũng chẳng lìa tâm. Như trên nói ý nghĩa chẳng một, chẳng
hai vì sự việc có khác nên lại nói thêm.
Tu bồ đề nghe xong, chấp lấy tướng tâm
không, không có, để gạn hỏi Phật; tâm ấy chẳng phải tâm
không ,
không có gì như huyễn, làm sao có thể được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác? Phật hỏi ngược lại Tu bồ đề: Ông thấy
tâm không ấy có định tướng như huyễn chăng? Tu bồ đề nghĩ
rằng: Nếu tâm không, như huyễn làm sao thấy được? Nếu thấy
được thời chẳng phải không, thế nên đáp rằng: Không phải.
Phật dạy: Tâm nếu không, không có gì, ông thấy trong ấy có
hý luận nói hoặc có hoặc không chăng? Ðáp, không. Lìa tâm
không, không có gì, như huyễn ấy, ông lại thấy có pháp có
thể được đạo Vô thượng chăng? Ðáp: Không thấy. Không thấy,
không thể có được nên đâu có pháp hoặc có hoặc không, vì
sao? Vì hết thảy pháp rốt ráo lìa tướng, rốt ráo không, nên
không rơi vào có không; nếu pháp không rơi vào có không,
thời pháp ấy rốt ráo không có gì của chính nó, không thể
được đạo Vô thượng. Do nhân duyên ấy nên Bát nhã ba la mật
rốt ráo lìa tướng, thấy có thấy không, cả hai đều có lỗi.
Thiền ba la mật cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cũng
rốt ráo lìa tướng như vậy. Nếu pháp rốt ráo lìa tướng, thời
không thể thấy được, không thể tu được, không thể chứng
được. Tu pháp ấy lại không có sở đắc, vì rốt ráo lìa tướng.
Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật rố ráo lìa tướng, Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác rốt ráo lìa tướng, thời làm sao
do rốt ráo lìa tướng, được rốt ráo lìa tướng? Nếu một pháp
rốt ráo lìa tướng còn không thể có được, huống gì hai pháp
lìa tướng. Thí như lấy ngón tay chạm hư không, vì hư không
không có chạm được nên ngón tay không thể chạm, huống gì cả
hai đều không có chạm, cũng như hư không, như Niết bàn.
Bát nhã ba la mật rốt ráo lìa tướng, Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác rốt ráo lìa tướng thời làm sao
dùng lìa tướng được lìa tướng? Phật biết Tu bồ đề nói theo
thật tướng các pháp, nên chấp nhận lời ấy rằng: Lành thay!
Lành thay! Liền nói nhân duyên: Này Tu bồ đề! nếu Bát nhã ba
la mật rốt ráo lìa tướng, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
rốt ráo lìa tướng, do nhân duyên ấy nên có thể được lìa
tướng, vì sao? Vì nếu một pháp nhất định có tướng chẳng phải
không thời đó là tướng pháp thường chẳng sinh, từ vị lai đến
hiện tại, từ hiện tại đến quá khứ. Nếu không có tướng thật
sinh thời không có tướng thật diệt; nếu không sinh diệt,
thời không có Tứ đế; nếu không có Tứ đế thời không có Pháp
bảo; Pháp bảo không có nên cũng không có Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác. Vì Pháp bảo tức Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác; nếu không có Pháp bảo, thời không có Phật bảo, nếu
không có Phật pháp, thời không có Tăng bảo; nếu không có Tam
bảo, thời không có hết thảy các pháp, có các tội lỗi như
vậy. Rốt ráo lìa tướng, thời thông suốt không chướng ngại.
Nếu nói rốt ráo lìa tướng nên biết cũng lìa không; nếu chẳng
lìa không thời chẳng gọi rốt ráo lìa tướng. Thế nên Kinh
nói: Vì nói Bát nhã ba la mật rốt ráo lìa tướng nên có thể
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tuy chẳng lìa Bát nhã
ba la mật được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng chẳng
do hai lìa tướng mà được hai lìa tướng, vì rốt ráo không,
không nên nạn hỏi.
Tu bồ đề biết Phật nói tướng thậm thâm
nên bạch Phật rằng: Nếu Bồ tát tu hành được như vậy là tu
hành theo nghĩa thậm thâm. Phật chấp nhận lời ấy rằng: Bồ
tát có thể làm việc khó làm, có thể tu theo nghĩa thậm thâm
như vậy mà không chứng quả Nhị thừa, vì cớ sao? Vì Bồ tát
nhất tâm dùng lợi trí thâm nhập vào "không" mà không chứng
Niết bàn, ấy là việc khó. Tu bồ đề thưa: Như tôi hiểu nghĩa
của Phật nói, việc ấy không khó, vì sao? Vì người ấy không
nắm bắt được tướng nhất định của nghĩa thậm thâm có thể thủ
chứng, không nắm bắt được tướng Bát nhã ba la mật, không nắm
bắt tướng người chứng, thời ai sẽ do nghĩa thậm thâm để thủ
chứng. Nếu không thủ chứng thậm thâm ấy, thời ai sẽ được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ấy gọi là Bồ tát tu hành không
có đắc gì; tu đạo ấy thời soi rõ hết thảy pháp.
Hỏi: Phật nói rằng khó, Tu bồ đề nói rằng
không khó, nghĩa của thầy và đệ tử phải đồng nhau, cớ sao
lại trái nhau?
Ðáp: Phật theo nghĩa Thế đế nên nói khó;
Tu bồ đề theo đệ nhất nghĩa nên nói không khó; Phật nói Bồ
tát được nghĩa thậm thâm;Tu bồ đề nói Bồ tát không được
nghĩa thậm thâm. Phật cho rằng: Tu bồ đề vì chúng sinh nên
nói: Có người nghe việc khó thời phát tâm nên nói là khó, có
người nghe việc khó mà thoái thất nên nói không khó, ấy gọi
là Bồ tát hành hạnh không có đắc gì. Trú trong hạnh ấy,
thông suốt hết thảy pháp không chướng ngại. Tu bồ đề nói:
Nếu Bồ tát nghe nói Bồ tát rốt ráo lìa tướng như vậy, không
có pháp khả chứng, không có người thủ chứng, cũng không có
Bát nhã và Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, mà không kinh,
không nghi, thông suốt không chướng ngại, ấy gọi là tu Bát
nhã ba la mật. Người tu Bát nhã ba la mật gọi là chơn hành,
thâm hành, vì sao? Vì Bồ tát ấy không thấy Bát nhã ba la
mật, cũng không thấy ta tu Bát nhã ba la mật, không thấy Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác cũng không thấy do pháp ấy được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tất cả đều không có phân
biệt. Bồ tát ấy an trú trong thật tướng các pháp, nên không
khởi tâm phân biệt rằng: Nhị thừa cách xa ta, Phật đạo cách
gần ta. Trong đây nói thí dụ hư không là để rõ nghĩa rốt ráo
không. Bát nhã ba la mật tuy không nhưng nếu có chỗ tu hành
có thể thành việc ấy. Thí như người gỗ, tùy ý làm việc gì
đều có thể làm được.
Xá lợi phất hỏi Tu bồ đề: Chỉ Bát nhã ba
la mật không có phân biệt hay các Ba la mật khác cũng không
có phân biệt? Nếu chỉ Bát nhã ba la mật không, không có phân
biệt thời các Ba la mật khác lẽ đáng là có tướng, vậy thời
Bồ tát đạo có chỗ khác biệt không bình đẳng, lại trong phẩm
đầu nói khi tu Thí ba la mật, không có người thí, người
nhận, cũng không có tài vật, làm sao nói khác. Nếu cả năm Ba
la mật đều không, thời không có phân biệt, không có sáu tên
gọi khác nhau cũng không thể tu hành.
Tu bồ đề đắp: Năm Ba la mật cũng không,
không có phân biệt, nhưng đối với người mới phát tâm, chưa
được vô sanh pháp nhẫn thời có phân biệt. Thí như bốn sông
khi chưa hội về biển cả thời có tên gọi riêng, khi đã vào
biển cả thời không có sai biệt, Bồ tát cũng như vậy, theo
Tục đế thời có sai biệt, theo Ðệ nhất nghĩa đế thời không có
sai biệt.
Xá lợi phất hỏi: Sắc, cho đến Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác và tính vô vi cũng không có phân biệt.
Nếu pháp ấy không, không có sai biệt làm sao có sáu đạo
chúng sinh sai biệt, làm sao có phân biệt Tu đà hoàn cho đến
Phật đạo?
Tu bồ đề đáp: Các pháp tuy rốt ráo không,
không có phân biệt, mà vì tâm chúng cuồng si điên đảo khởi
lên thân, khẩu, ý nghiệp, theo nghiệp thọ báo thân, chính
tham dục là gốc, chỉ vì tham dục bức bách nên sanh tâm chấp
trước, chứ các pháp không có định tướng. Nghiệp quả báo là
sáu nẻo luân hồi. Do vậy nên biết không, không có phân biệt,
ấy là gốc thật, chỉ vì điên đảo không thật, nên có sáu nẻo
luân hồi sai khác. Lại các bậc Hiền thánh Tu đà hoàn v.v...
cũng nhơn pháp rốt ráo không, không có phân biệt mà xuất
sinh, nghĩa là do dứt ba kiết sử chứng quả Tu đà hoàn, ba
kiết sử tức là điên đảo, biết điên đảo trừ hết gọi là dứt,
dứt tức là không, không có phân biệt. Theo Thế đế nên giả
gọi là người, chứng được pháp ấy nên gọi là Tu đà hoàn. Thế
nên biết, người Tu đà hoàn và quả Tu đà hoàn rốt ráo không,
không cóphân biệt; cho đến Phật và Phật đạo cũng như vậy.
Trong đây, nói nhân duyên, chẳng phải chỉ hiện tại không có
phân biệt mà chư Phật quá khứ nhiều như cát sông Hằng do hết
thảy phân biệt đều dứt, nên vào Vô dư Niết bàn, không có một
tí pháp có định tướng có thể phân biệt. Hết thảy pháp rốt
ráo không, vì vào cửa như, pháp tánh, thực tế, thế nên nói
pháp nhân duyên thậm thâm, vì vào ba cửa ấy. Bồ tát nên tu
Bát nhã ba la mật không có phân biệt như vậy, tu Bát nhã ba
la mật không có phân biệt, nên chứng được pháp không có phân
biệt đó là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.