KINH: Bấy giờ Tu bồ đề bạch Phật rằng:
Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là tướng Bát nhã ba la mật?
Phật bảo Tu bồ đề: Như tướng hư không là
tướng Bát nhã ba la mật. Này Tu bồ Ðề! Bát nhã ba la mật
không có tướng gì.
Tu bồ đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn! Vã
chăng có nhân duyên như tướng Bát nhã ba la mật, tướng các
pháp cũng như vậy ư?
Phật bảo Tu bồ đề: Như vậy! Như vậy! như
tướng Bát nhã ba la mật, tướng các phap cũng như vậy, vì
sao? Vì tướng các pháp là tướng lìa, là tướng không, vì nhân
duyên ấy, như tướng Bát nhã ba la mật, tướng các pháp cũng
như vậy, đó là tướng lìa, tướng không.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Nếu hết thảy pháp hết thảy pháp lìa, hết thảy pháp hết
thảy pháp không, làm sao biết chúng sanh hoặc nhơ, hoặc
sạch. Bạch đức Thế Tôn! Pháp tướng lìa không nhơ, không
sạch; pháp tướng không, không nhơ không sạch; pháp tướng
lìa, tưóng không, không thể chứng được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, tướng lìa tướng không thì không có pháp có thể
thủ đắc. Bạch đức Thế Tôn! Trong tướng lìa, tướng không
không có Bồ tát chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Bạch đức Thế Tôn! Tôi lam sao hiểu được nghĩa Phật nói.
Phật bảo Tu bồ đề: Ý ông nghĩ sao, chúng
sanh suốt đêm dài hành theo tâm chấp nhã, ngã sở chăng? Như
vậy bạch Thế Tôn, chúng sanh suốt đêm dài hành theo tâm chấp
ngã, ngã sở.
Ý ông nghĩ sao? Tướng tâm chấp ngã, ngã
sở ấy là xa lìa, là "không" chăng?
Tu bồ đề thưa: Tướng tâm chấp ngã, ngã sở
ấy, là xa lìa, là không.
Ý ông nghĩ sao, do tâm chấp ngã, ngã sở
mà chúng sanh qua lại trong đường sanh tử chăng? Như vậy
bạch Thế Tôn, do tâm chấp ngã, ngã sở mà chúng sanh qua lại
trong đường sanh tử.
Ðúng như vậy Tu bồ đề! Vì chúng sanh qua
lại trong đường sanh tử nên biết có cấu uế phiền não. Nếu
chúng sanh không có tâm chấp ngã, ngã sở, không có tâm nhiễm
trước thời chúng sanh ấy không còn qua lại trong đường sanh
tử; nếu không qua lại trong đường sanh tử, thời biết không
có cấu uế phiền não. Như vậy, chúng sanh có được thanh tịnh.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Nếu Bồ tát tập hành như vậy là không tập hành theo sắc,
thọ, tưởng, hành, thức; là không tập hành theo bốn niệm xứ
cho đến tám thánh đạo phần; là không tập hành nội không cho
đến vô pháp hữu pháp không; là không tập hành mười trí lực
cho đến trí Nhất thiết chủng của Phật, vì sao? Vì pháp ấy
không thể có được, cũng không có chỗ tập hành, cũng không có
pháp tập hành. Bồ tát tập hành như vậy, hết thảy thế gian
người, trời, A tu la không thể hàng phục được. Bồ tát ấy,
hết thảy Thanh văn, Bích chi Phật không thể sánh kịp, vì
sao? Vì nơi trú xứ không thể sánh kịp, đó là Bồ tát vị. Bạch
Thế Tôn! Bồ tát ấy tập hành tâm tương ứng với Nhất thiết trí
nên không có ai có thể sánh kịp. Tu bồ đề, Bồ tát tập hành
như vậy mau gần Nhất thiết trí.
Này Tu bồ đề! Ý ông nghĩ sao, nếu chúng
sanh trong cõi Diêm phù đề đều được làm thân người, được làm
thân người rồi, đều được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác;
nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ suốt đời cúng dường, tôn
trọng, tán thán các chúng sanh ấy, rồi đem thiện căn ấy hồi
hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, thiện nam, thiện nữ ấy do nhân
duyên đó được phước nhiều chăng? Tu bồ đề thưa: Rất nhiều,
bạch Thế Tôn.
Phật dạy: Chẳng bằng kẻ thiện nam, người
thiện nữ ở giữa đại chúng diễn nói, chỉ bày, phân biệt, khai
triển Bát nhã ba la mật và nhó nghĩ đúng đắn, thực hành ứng
hợp Bát nhã ba la mật, phước đó rất nhiều. Cho đến đối với
chúng sanh trong ba ngàn đại thiên thế giới cũng như vậy.
Tu bồ đề! Ý ông nghĩ sao, chúng sanh ở
trong cõi Diêm phù đề cùng một lúc đều được làm thân người,
được làm thân người rồi, nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ
dạy họ tu mười thiện đạo, bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn
định vô sắc, dạy họ khiến được đạo Tu đà hoàn cho đến A la
hán, Bích chi Phật, dạy họ khiến được đạo Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác rồi đem thiện căn ấy hồi hướng đến Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác. này Tu bồ đề! Ý ông nghĩ sao, kẻ
thiện nam, người thiện nữ ấy được phước nhiều chăng? Tu bồ
đề thưa: Rát nhiều, bạch đức Thế Tôn!
Phật dạy: Chẳng bằng kẻ thiện nam, người
thiện nữ đem Bát nhã ba la mật thậm thâm, vì chúng sanh
thuyết giảng, chỉ bày, phân biệt, soi sáng, khai triển và
chẳng lìa Nhất thiết trí, được phước rất nhiều. Cho đến đối
với chúng sanh trong ba ngàn đại thiên thế giới cũng lại như
vậy. Bồ tát ấy, không xa lìa tâm tương ưng với Nhất thiết
trí, thời đạt đến bờ mé hết thảy phước điền, vì sao? Vì trư
Phật ra không có pháp nào khác sánh bằng thế lực của Bồ tát,
vì sao? Vì Bồ tát khi tu Bát nhã, đối với hết thảy chúng
sanh khởi tâm đại từ, thấy chúng sanh đi đến chỗ chết mà
khởi tâm đại bi; khi tu đạo vui vẻ sanh tâm đại hỷ, không có
ý tưởng phân biệt, liền được đại xả. Tu bồ đề, ấy là đại trí
sáng suốt của Bồ tát. Ðại trí sáng suốt là sáu Ba la mật.
Này Tu bồ đề! Các thiện nam tử ấy, tuy
chưa làm Phật mà có thể vì chúng sanh làm ruộng phước lớn,
đối với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cũng không thoái
chuyển. Ðược thọ nhận sự cúng dường, y phục, ăn uống, đồ
nằm, giường chiếu, thuốc chữa bệnh và các thứ cần để nuôi
sống, tập hành tương ưng với Bát nhã ba la mật, nhớ nghĩ tới
ân thí chủ, có thể báo đáp, chóng gần Nhất thiết trí. Vì
thế, nên nếu Bồ tát muốn không hư phí ăn của thí chủ trong
quốc độ, muốn chỉ bày con đường ba thừa cho chúng sanh, muốn
vì chúng sanh làm ánh sáng lớn, muốn vớt chúng sanh ra khỏi
lao ngục ba cõi, muốn cho chúng sanh con mắt sáng, thời nên
thường tập hành Bát nhã ba la mật, khi tập hành Bát nhã ba
la mật nếu muốn giảng nói chỉ giảng nói Bát nhã ba la mật;
giảng nói Bát nhã ba la mật rồi thường nhớ nghĩ Bát nhã ba
la mật; thường nhớ nghĩ Bát nhã ba la mật rồi, thường thực
hành Bát nhã ba la mật không để cho ý niệm khác khởi lên,
ngày đêm siêng tập hành niệm tương ưng với Bát nhã ba la
mật, không ngừng, không nghỉ. Thí như kẻ sĩ phu, chưa từng
được ngọc ma ni, lúc sau mới được, được rồi rất vui mừng
nhảy nhót, sau đó lại mất đi, liền rất ưu sầu thươg nhớ nghĩ
ngọc ma ni ấy, nghĩ rằng: Ta vì sao bỗng chốc mất của báu
lớn ấy. Này Tu bồ đề! Bồ tát cũng như vậy, thường nhớ nghĩ
Bát nhã ba la mật, tâm không lìa Nhất thiết trí.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: bạch đức Thế
Tôn! Tính của hết thảy ý niệm tự "xa lìa". tính của hết thảy
ý niệm tự "không", làm sao Bồ tát tập hành Bát nhã ba la
mật, không lìa ý niệm tương ưng với Nhất thiết trí? Trong
pháp "xa lìa" và "không" ấy, không có Bồ tát, không có ý
niệm, không có tương ưng Nhất thiết trí?
Phật bảo Tu bồ đề: Nếu Bồ tát biết tính
hết thảy pháp tự xa lìa, tính hết thảy pháp tự không, chẳng
phải Thanh văn, Bích chi Phật làm, cũng chẳng phải Phật làm.
Biết tướng các pháp là thường trú, pháp trụ, pháp vị, như
như thật tế, ấy gọi là Bồ tát tập hành Bát nhã ba la mật,
không xa lìa tâm niệm tương ưng với Nhất thiết trí, vì sao?
Vì tính Bát nhã ba la mật tự xa lìa, tự không, không thêm,
không bớt.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Nếu tính Bát nhã ba la mật tự xa lìa, tự không, thời
làm sao Bồ tát cùng với Bát nhã ba la mật được Vô thượng
Chánh Chánh đẳng Chánh giác.
Phật bảo Tu bồ đề: Bồ tát với Bát nhã ba
la mật không thêm, không bớt, vì sao? Vì như như, pháp tính,
thật tế không thêm, không bớt, vì cớ sao? Vì Bát nhã ba la
mật chẳng phải một, chẳng phải khác. Nếu Bồ tát nghe nói
tướng Bát nhã ba la mật như vậy mà tâm không kinh, không
thối mất, không sợ, không hãi, không nghi, nên biết Bồ tát
ấy tập hành Bát nhã ba la mật, nên biết Bồ tát ấy chắc chắn
trú trong địa vị chẳng thoái chuyển.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Bát nhã ba la mật không, không có gì của chính nó,
tướng không kiên cố ấy là tập hành Bát nhã ba la mật chăng?
- Không phải, Tu bồ đề.
Bạch đức Thế Tôn! Lìa "không" lại có pháp
tập hành Bát nhã ba la mật chăng? - Không phải, Tu bồ đề.
Bạch đức Thế Tôn ! Bát nhã ba la mật tập
hành Bát nhã ba la mật chăng? - Không phải, Tu bồ đề.
Bạch đức Thế Tôn! Lìa Bát nhã ba la mật
tập hành Bát nhã ba la mật chăng? - Không phải, Tu bồ đề.
Bạch đức Thế Tôn! Sắc tập hành Bát nhã ba
la mật chăng? - Không phải, Tu bồ đề.
Bạch đức Thế Tôn! Thọ, tưởng, hành, thức,
tập hành Bát nhã ba la mật chăng? - Không phải, Tu bồ đề.
Bạch đức Thế Tôn! Sáu Ba la mật tập hành
Bát nhã ba la mật chăng? Không phải, Tu bồ đề.
Bạch đức Thế Tôn! Bốn niệm xứ cho đến
mười tám pháp không chung tập hành Bát nhã ba la mật chăng?
- Không phải, Tu bồ đề.
Bạch đức Thế Tôn! Tướng sắc không, hư dối
không thật, không có gì của chính nó, tướng không kiên cố,
tướng sắc như như, pháp tính, pháp vị, thật tế tập hành Bát
nhã ba la mật chăng? Không phải, Tu bồ đề.
Bạch đức Thế Tôn! Tướng thọ, tưởng, hành,
thức cho đến mười tám pháp không chung không, hư dối không
thật, không có gì của chính nó, tướng không kiên cố, như
như, Pháp tính, Pháp trụ, Pháp vị, thật tế tập hành Bát nhã
ba la mật chăng? Không phải, Tu bồ đề.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu các pháp ấy đều
không tập hành Bát nhã ba la mật thời làm sao tập hành, gọi
là Bồ tát tập hành Bát nhã ba la mật?
Phật bảo Tu bồ đề: Ý ông nghĩ sao, ông
thấy riêng có pháp tập hành Bát nhã ba la mật chăng? - Thưa
không, bạch đức Thế Tôn.
Này Tu bồ đề! Ông thấy chỗ khả hành Bát
nhã ba la mật của Bồ tát chăng? - Thưa không, bạch đức Thế
Tôn.
Này Tu bồ đề! Pháp mà ông không thấy,
pháp ấy có thể có được chăng? - Thưa không, bạch đức thế
Tôn.
Này Tu bồ đề! Nếu pháp không thể có được,
pháp ấy sẽ sinh ra chăng? - Thưa không, bạch đức Thế Tôn.
Này Tu bồ đề! ấy gọi là Bồ tát được vô
sanh pháp nhẫn, Bồ tát thành tựu nhẫn ấy, thời được thọ ký
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tu bồ đề! Ấy gọi là trí
không ngại, không sợ của chư Phật. Bồ tát tập hành Pháp ấy
một cách siêng năng, tinh tấn, nếu không được trí lớn, trí
nhứt thiết chủng tức là trí Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
thời không có lẽ ấy, vì sao? Vì Bồ tát ấy từ khi được vô
sanh pháp nhẫn cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
không giảm, không thối.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Tướng các pháp
là vô sinh, ở trong đó đưọc thọ ký Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác chăng? - Không phải, Tu bồ đề.
Bạch đức Thế Tôn: Tướng các pháp sinh, ở
trong đó được thọ ký Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng?
- Không phải, Tu bồ đề.
Bạch Thế Tôn: Tướng các pháp chẳng phải
sinh, chẳng phải không sinh ở trong đó được thọ ký Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác chăng? - Không phải, Tu bồ đề.
Bạch thế Tôn: Vậy các Bồ tát làm sao biết
các pháp mà được thọ ký Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?
Phật bảo Tu bồ đề: Ông thấy có pháp được
thọ ký Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng? Thưa không,
bạch Thế Tôn, con không thấy có pháp được thọ ký Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, cũng không thấy pháp có người được và
chỗ được. Phật dạy: Như vậy! Như vậy.
Nếu Bồ tát khi đối với hết thảy pháp
không có sở đắc gì, nên không nghĩ rằng ta sẽ được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, hoặc dùng việc ấy được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, ấy gọi là chỗ Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, vì sao? Vì các Bồ tát tập hành Bát nhã ba la mật
không có các ức tưởng phân biệt. Vì cớ sao? Vì trong Bát nhã
ba la mật không có các ức tưởng phân biệt.
LUẬN - Hỏi: Trên đã nói mỗi mỗi tướng Bát
nhã, sao nay còn hỏi lại?
Ðáp: Bát nhã ba la mật vi diệu đệ nhất,
nghe không chán, không có khi nào đủ, không có tướng nhất
định nên không nên nạn hỏi. Như đại Bồ tát ở ngôi thập trụ
đối với Bát nhã ba la mật còn chưa đầy đủ, huống gì Tu bồ đề
là hạng người Tiểu thừa!
* Lại nữa, nghe trên kia mỗi mỗi khen
ngợi Bát nhã là cha, là mẹ v.v... thế nên hỏi lại. Phật nhân
Tu bồ đề hỏi, nên vì các chúng sanh khác nói rộng tướng Bát
nhã ba la mật. Tu bồ đề gọi tướng hư không là tướng Bát nhã
ba la mật. Như tướng hư không không có sắc, không có tướng
phi sắc; Bát nhã ba la mật cũng như vậy, không có tướng gì
của chính nó. Tu bồ đề lại hỏi: Vả chăng có nhân duyên mà
tướng các pháp như tướng Bát nhã chăng? Phật đáp: Có, vì hết
thảy pháp rốt ráo không, rốt ráo lìa tướng, nên nói như
tướng Bát nhã ba la mật, hết thảy pháp cũng vậy. Tu bồ đề
gạn hỏi: Nếu hết thảy lìa tướng, không tướng thời làm sao
biết có nhơ có sạch? làm sao Bồ tát được đạo Vô thượng?
Phật bảo Tu bồ đề: Ý ông nghĩ sao? Chúng
sinh suốt đêm dài hành theo tướng ngã, ngã sở; theo nghĩa
của Phật nói: Như ngã, ngã sở rốt ráo không có, vì chúng
sinh điên đảo, si cuồng chấp có nên sinh các phiền não, nhân
các phiền não nên có nghiệp, nhân nghiệp nên qua lại trong
đường sinh tử; các việc ấy rốt ráo không, vì sao? Vì ngã
không có, nên tâm ngã sở hư dối; tâm ngã sở hư dối nên các
pháp nhân quả khác, triển chuyển đều hư dối; tâm ngã sở hư
dối nên các nhân quả khác, triển chuyển đều hư dối. Nếu do
thật trí tuệ Bát nhã ba la mật quán năm uẩn vô thường, khổ,
không, vô ngã, lìa tự tướng, tự tướng không, từ xưa nay rốt
ráo không sinh. Bấy giờ tâm chấp ngã, ngã sở tiêu diệt; như
mặt trời xuất hiện, các bóng tối đều mất. Vì tâm chấp ngã,
ngã sở diệt nên các phiền não diệt; vì các phiền não diệt
nên nghiệp duyên cũng diệt; vì nghiệp duyên diệt nên việc
qua lại trong đường sinh tử chấm dứt; ấy gọi là tịnh.
Tuy tướng hết thảy pháp đều không, nhưng
cũng do nhân duyên như vậy nên có sạch có nhơ. Khi ấy Tu bồ
đề suy nghĩ, trù lượng lời Phật xong, bạch Phật rằng: Bạch
đức Thế Tôn, Bồ tát hành như vậy thật không hành sắc ... vì
sao? Vì Bồ tát không thủ đắc tướng tập hành, chỗ tập hành,
người tập hành. Bạch Thế Tôn, Bồ tát tập hành được như vậy
thời hết thảy trời, người, thế gian không ai hàng phục được.
Người thế gian đều chấp trước giả danh, còn hành giả thời tu
hành thật pháp, cho nên không thể hàng phục. Người thế gian
chấp đắm vào mọi thứ hư dối, điên đảo và quả báo hư dối, còn
Bồ tát đối với rốt ráo không, còn không chấp trước, huống gì
các các pháp khác! Như vậy làm sao hàng phục được?
Trời , người, A tu la, thế gian là hạng
người có trí tuệ trong ba đường thiện, nên nói không thể
hàng phục. Lại nữa, hết thảy Thanh văn, Bích chi Phật là
không thể sánh kịp, đây là hạng ở trên ba đường thiện, là y
cứ nơi người chưa đắc đạo mà nói, còn trong đây nói người
đắc đạo không thể sánh kịp. Lý do không thể sánh kịp là khi
Bồ tát vào pháp vị thời hết thảy ma, kẻ ma xui khiến không
thể làm não hại. Bồ tát ấy thường tập hành tâm tương ưng
Nhất thiết trí, gần với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì
sao? Vì không chấp trước hết thảy pháp, thường chứa nhóm hết
thảy pháp trợ đạo, nên Phật chấp thuận lời kia mà khen ngợi.
Phật muốn đem trí tuệ như vậy, vì người
khác nói, nên trước tán thán hạnh tự lợi của Bồ tát, nay vì
lợi tha, phân biệt quả báo phước đức nên hỏi Tu bồ đề: Ý ông
nghĩ sao? Chúng sinh ở cõi Diêm phù đề đều được làm thân
người như trong kinh này nói rộng, cho đến tâm tương ưng với
Nhất thiết trí là vượt trên hết thảy ruộng phước. Trong đây
nói nhân duyên rằng: Nếu Bồ tát tự tu Bát nhã ba la mật,
cũng dạy ngưòi khác tu; người ấy đối với hết thảy ruộng
phưóc có thể đạt đến bờ mé nó.
Ruộng phước là từ Tu đà hoàn cho đến
Phật. Bồ tát có thể thực hành như Bát nhã nói, thời được làm
Phật; các phước đức thiện pháp khác vì lìa Bát nhã ba la
mật, nên đều cùng tận, còn Bát nhã ba la mật không thể cùng
tận.
Kinh nói: Không có phước đức nào khác
bằng thế lực của Bồ tát, là khi Bồ tát tu hành Bát nhã, được
các nhẫn lực đối với các pháp bình đẳng; được bình đẳng nhẫn
nên tuy tu hành "không", cũng có thể tu bốn tâm vô lượng.
Trong bốn tâm vô lượng, tâm đại bi là gốc của đại thừa, thấy
chúng sinh đi đến cái chết như người tù bị giết, các Bồ tát
có thể phát sinh sáu Ba la mật cho đến trí Nhất thiết chủng,
nên tuy chưa được đạo Vô thượng, đã là ruộng phước cho hết
thảy chúng sinh. Thế nên nói: Bồ tát nếu muốn không luống
uổng ăn của thí chủ trong nước, hãy nên học Bát nhã ba la
mật. Không luống uổng ăn là có thể báo đáp ơn thí chủ, có
thể phát sinh đạo, có thể làm cho phước đức của thí chủ
không cùng tận cho đến vào Niết bàn. Nếu chỉ bày đạo ba thừa
cho chúng sinh, chỉ bày Nhất thiết trí rất sáng cho chúng
sinh, cũng muốn kéo chúng sinh ra khỏi bốn trói buộc trong
ngục ba cõi, muốn chúng sinh được năm mắt, phải nên thường
tu niệm tương ưng với Bát nhã ba la mật. Niệm tương ưng tức
là tâm Bát nhã. Nếu tập hành tâm Bát nhã thời nếu có nói gì
chỉ nói Bát nhã ba la mật mà thôi.
Phật sắc dạy đệ tử, nếu hòa hợp cộng trú
thường nên hành hai việc: một là hiền thánh im lặng; hai là
thuyết pháp. Hiền thánh im lặng là tâm Bát nhã; thuyết pháp
là thuyết Bát nhã ba la mật. Người ấy từ tâm Bát nhã phát
xuất, thuyết Bát nhã ba la mật; thuyết Bát nhã ba la mật rồi
trở lại vào trong Bát nhã, không để cho tâm khác, lời khác
xen vào, ngày đêm thường tu như vậy không ngừng, không nghỉ
như vậy sẽ được công như trước nói. Phật muốn làm cho việc
ấy rõ ràng nên nói thí dụ: Như người nghèo mất của báu có
giá trị lớn, thường nhớ mãi không rời, Bồ tát cũng như vậy,
không rời tâm Nhất thiết trí, thường tu Bát nhã ba la mật
không ngừng, không nghỉ.
Bấy giờ Tu bồ đề nghe việc ấy liền bạch
Phật rằng; Bạch đức Thế Tôn, nếu hết thảy tâm niệm đều
không, làm sao Bồ tát không rời niệm Nhất thiết trí? Vì
trong không, Bồ tát không thể có được, Nhất thiết trí cũng
không thể có được?
Phật đáp: Nếu Bồ tát biết hết thảy pháp
xa rời tự tánh, chẳng phải Thanh văn, Bích chi Phật làm ra,
cũng chẳng Phật làm ra, mà từ nhân duyên xuất sinh các pháp
tướng như như, thật tế thường trụ thế gian, tức là Bồ tát
không rời hạnh Bát nhã ba la mật. Phật tự nói nhân duyên, vì
Bát nhã ba la mật không, xa lìa, nên không thêm không bớt.
Tu bồ đề nghe như vậy lại hỏi Phật: Nếu
Bát nhã ba la mật tánh không, làm sao Bồ tát hợp cùng Bát
nhã được đạo Vô thượng? Phật theo câu hỏi của Tu bồ đề mà
nói rằng: Nếu Bồ tát hợp cùng Bát nhã ba la mật thời không
thêm không bớt; vì các pháp như như, pháp tánh, thật tế,
không thêm không bớt nên Bát nhã ba la mật không thêm không
bớt. Bát nhã tức là các pháp như như, pháp tánh, thật tế;
như như, pháp tánh, thật tế tức là Bát nhã ba la mật. Trong
đây Phật tự nói nhân duyên: Như như như, pháp tánh, thực tế
chẳng phải một, chẳng phải khác, Bát nhã cũng như vậy. Pháp
thế gian chẳng phải một tức là hai, chẳng khác tức là một,
còn Bát nhã ba la mật không như vậy, nên Bát nhã ba la mật
vô lượng vô biên. Vì không, vô tướng, vô tác nên không thêm
không bớt; nếu Bồ tát ngộ được tính không thêm không bớt ấy,
thời chứng đưọc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nếu Bồ tát
nghe việc ấy mà thông suốt, không chướng ngại vào trí tuệ
Phật, nên tuy chưa làm Phật nhưng nhờ tín lực mà đối với
Phật pháp cũng không nghi, không kinh, không sợ, vì cớ sao?
Vì kẻ phàm phu tâm chấp ngã nên có sợ, Bồ tát dứt hết ngã
tưởng nên không sợ, nên biết Bồ tát ấy an trụ địa vị chẳng
thoái chuyển, cũng có thể hành đúng Bát nhã.
Tu bồ đề nghe nói Bồ tát hành đúng Bát
nhã nên lại hỏi Phật: Bát nhã ba la mật quán hết thảy đều
không, không bền chắc, tướng không ấy là hànnh Bát nhã
chăng? - Phật đáp: Không phải, vì sao? Vì nếu pháp không,
không có, làm sao hành Bát nhã? - Lìa pháp không ấy lại
riêng có pháp hành Bát nhã chăng? - Phât đáp: Không phải, vì
sao? Vì nếu hết thảy pháp không, vô tướng, vô tác làm sao
lìa không lại có pháp khác, thế nên đáp không phải. Tu bồ đề
nghe nói "Không" chẳng phải hành Bát nhã; lìa "Không" chẳng
phải hành Bát nhã; hết thảy pháp đều thu nhiếp ở trong Bát
nhã, nay chỉ hỏi Bát nhã tập hành Bát nhã chăng? - Pháp
không tự tập hành, phải do pháp khác tập hành, nên đáp
"không".
Lại hỏi lìa Bát nhã lại riêng có pháp tập
hành Bát nhã chăng? Phật đáp: Không, vì sao? Vì hết thảy
pháp thu nhiếp ở trong Bát nhã, không thể riêng có pháp tập
hành Bát nhã. Từ trước lại đây lược hỏi người thực hành Bát
nhã, nay hỏi về lý do danh tự năm uẩn tập hành Bát nhã
chăng? Phật đáp: Không, vì sao? Vì năm uẩn từ nhân duyên hoà
hợp hư dối, không tự tại không có tướng "tác vi", làm sao
tập hành được? Tu bồ đề lại hỏi: Nếu Bồ tát chỉ là danh tự
giả, trống không, không thật, nên không tập hành Bát nhã,
vậy Ba la mật và các pháp trợ đạo tập hành Bát nhã ba la mật
chăng? Phật đáp: Không, vì sao? Vì như năm uẩn do hoà hợp mà
có nên không thể tập hành, sáu Ba la mật cũng như vậy. Sắc
pháp tướng không, không bền chắc; như như, pháp tính, pháp
vị, pháp trụ, thật tế, pháp ấy tập hành Bát nhã chăng? Phật
đáp: Pháp ấy là pháp vô vi chẳng sinh chẳng diệt, tự tính
thường trú nên không tập hành.
Tu bồ đề lại hỏi Phật: Người là danh tự
giả, nên không tập hành; các pháp cũng do nhân duyên hòa hợp
sinh, không có tự tính nên cũng không tập hành, vậy ai sẽ
tập hành Bát nhã? Nếu không tập hành làm sao được đạo Vô
thượng? Phật đáp bằng cách hỏi ngược lại: Ý ông nghĩ sao? Vì
thấy Tu bồ đề gấp rút tìm biết người tập hành Bát nhã, thế
nên Phật hỏi: Ông lấy mắt tuệ xem thấy có một pháp nhất định
tập hành Bát nhã chăng? Tu bồ đề nhân ba cửa giải thoát được
vào thật tướng các pháp, tướng các pháp còn không thể có
được, huống gì người tập hành? Thế nên đáp rằng: Bạch Thế
Tôn! Không thấy có ngưòi tập hành Bát nhã. Phật lại hỏi: Ông
thấy có chỗ Bồ tát tập hành Bát nhã ba la mật? Tu bồ đề đáp:
Không thấy, vì sao? Vì trong Bát nhã ba la mật, hết thảy
pháp quán hoặc thường hoặc vô thường; hoặc sinh hoặc diệt
đều dứt; không có một pháp có tướng nhất định gọi là Bát
nhã, làm sao nói đó là Bát nhã ba la mật!
Phật lại hỏi: Nếu ông dùng mắt tuệ không
thấy pháp, vậy pháp không thấy ấy là có hay là không? Tu bồ
đề đáp: Không, vì sao? Vì theo Phật nói, mắt tuệ chơn thật,
còn mắt thịt, mắt trời hư dối, Tu bồ đề dùng mắt tuệ quán
sát không thấy, nên đáp: Không. Phật lại hỏi: Nếu pháp
không, không thể có đưọc, pháp ấy có sinh chăng? Tu bồ đề
đáp: Không sinh. Pháp ấy vốn tự không có, rốt ráo không,
không có gì của chính nó, Hý luận về các pháp có hay không
đã diệt làm sao có sinh? Phật bảo Tu bồ đề: Nếu Bồ tát đối
với pháp ấy thông suốt vô ngại, có tín lực, tuệ lực nên có
thể an trú trong pháp ấy, ấy gọi là Vô sinh nhẫn.
Trong năm uẩn giả gọi là Bồ tát, được
pháp như vậy, ấy gọi là hành đúng Bát nhã ba la mật. Ðậy
theo pháp thế tục nên nói, chẳng phải theo đệ nhất nghĩa,
trong đệ nhất nghĩa, các hý luận tức là vô sinh. Ðược vô
sinh nhẫn ấy liền được thọ ký đạo Vô thượng. Phật dạy: Nếu
Bồ tát nhất tâm, siêng tinh tấn, không ngừng không nghỉ,
hành theo Vô sinh nhẫn mà không được trí tuệ lớn, trí tuệ vô
thượng, Nhất thiết trí, thời không có lẽ đó, vì sao? Vì như
Kinh nói: Nếu không nhân không duyên thời không có quả báo,
tà nhân tà duyên cũng không có quả báo, nhân duyên ít cũng
không có quả báo. Bồ tát được nhân duyên pháp nhẫn như vậy,
khi bỏ nhục thân sinh tử liền được thân pháp tánh sinh, trú
trong quả báo thần thông của Bồ tát, trong một lúc có thể
biến hóa làm vô lượng thân, nghiêm tịnh cõi Phật, độ thoát
chúng sanh. Người ấy ở thân cuối cùng đầy đủ Phật pháp, ngồi
đạo tràng. Ðầy đủ nhân duyên chính, nếu không được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, thời không có lẽ ấy, vì cớ sao? Vì
người ấy được pháp vô sinh nhẫn, nhất tâm tiến thẳng, không
có lùi bỏ. Bồ tát chưa được Vô sinh pháp nhẫn, còn đắm sâu
pháp thế gian, các phiền não sâu dày; tuy có thiện tâm phước
đức mà mỏng manh không chứa nhóm được, nên bị phiền não ngăn
che, nếu được vô sinh pháp nhẫn thời không còn có việc ấy.
Chưa được vô sinh pháp nhẫn thời dùng sức khó khăn, thí như
đi bộ; được vô sinh pháp nhẫn rồi thời dùng sức rất dễ, thí
như cỡi thuyền.
Thế nên các Bồ tát quý vô sinh pháp nhẫn,
vì quý nên Tu bồ đề hỏi Phật: Ðược pháp vô sinh nên được thọ
ký chăng? Phật đáp: Không phải, vì sao? Vì pháp vô sinh
không sinh không diệt, không có tướng được, làm sao nhân
được thọ ký. Tu bồ đề lại hỏi: Pháp sinh được thọ ký ư? Phật
đáp: Không được, vì sao? Vì pháp sinh là hư dối, các pháp là
pháp vọng ngữ tạo tác, làm sao được pháp chơn thật Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác. Tu bồ đề lại hỏi: Pháp sinh và chẳng
sinh được thọ ký chăng? Phật đáp: Không được, vì sao? Vì cả
hai đều có lỗi. Tu bồ đề lại hỏi: Nếu như vậy làm sao sẽ
được thọ ký? Phật hỏi ngược lại: Ông lấy mắt tuệ quán sát
thấy có pháp thọ ký cho hàng Bồ tát chăng? Tu bồ đề đáp:
Không thấy, vì sao? Vì pháp ấy từ trước lại đây tướng tịch
diệt, trong đó không có thấy và chẳng thấy, không có thọ ký
và chẳng thọ ký, cũng không thấy Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, không có pháp để đắc cũng không có người đắc. Vì Bát
nhã ba la mật không có sự ức tưởng phân biệt ấy.
Hỏi: Trên đây Tu bồ đề hỏi Bồ tát do được
vô sinh nhẫn nên được thọ ký chăng? Phật đáp không, sao nay
Phật lại lấy lý vô sinh để đáp rằng Bồ tát khi tu Bát nhã
không có các ức tưởng phân biệt?
Ðáp: Hành giả thật do vô sinh nhẫn nên
được thọ ký, nhưng Tu bồ đề vì hàng Bồ tát nên lấy tâm chấp
trước, tâm sở đắc để hỏi, vì vậy Phật đều đáp không. Như hết
thảy pháp thật không có ngã mà Phạm chí Bà sa hỏi Phật có
ngã chăng? Phật im lặng không đáp. Hỏi không có ngã chăng?
Phật cũng im lặng không đáp. Hết thảy pháp tuy thật không có
ngã, nhưng vì Phạm chí đem tâm chấp trước hỏi, muốn hý luận
vô ngã, nên Phật không đáp.
Ý Tu bồ đề hỏi, biết chắc chắn có việc
thọ ký nhưng không biết quán pháp gì mà được thọ ký nên hỏi.
Thế nên Phật đem điều sở đắc của Tu bồ đề hỏi lại: ông lấy
mắt tuệ thấy nhất định có pháp thọ ký chăng? Tu bồ đề trong
ba cửa giải thoát, quán pháp tánh không thấy nhất định có
ngưòi thọ ký, vì tánh của các pháp là vô tướng, vô lượng.
Nếu không thấy có pháp thọ ký thời làm sao sẽ có ngưòi được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tu bồ đề nghe người thọ ký
ấy không, tâm nạn vấn liền dứt, tự hiểu rõ không nghi. Phật
chấp nhận ý ông, nói: Như vậy, như ậy! Ông chẳng thấy pháp
chẳng được là thật, vì sao? Vì tướng Bát nhã ba la mật không
có phân biệt.
GIẢI THÍCH PHẨM MA
SẦU THỨ 62
(Kinh Ðại Bát Nhã Phần 2 ghi: Phẩm Vấn Học Thứ 61)
KINH: Bấy giờ trời Ðế Thích bạch Phật
rằng: Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật không có các ức
tưởng phân biệt, vì rốt ráo xa lìa tướng. Bạch đức Thế Tôn!
Chúng sinh nghe Bát nhã ba la mật có thể thọ trì, đọc tụng,
giảng nói, nhớ nghĩ đúng, thân cận, tu đúng như nói cho đến
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không xen lẫn các tâm,
tâm sở khác; việc ấy không do công đức nhỏ đưa lại.
Phật dạy: Như vậy, như vậy! Nghe Bát
nhã ba la mật thậm thâm cho đến không xen lẫn các tâm sở
khác, việc ấy không do công đức nhỏ đưa lại.
Này Kiều thi ca! Ý ông nghĩ sao? Nếu
chúng sinh ở cõi Diêm phù đề thành tựu mười thiện đạo, bốn
thiền, bốn tâm vô lượng, bốn định vô sắc; lại có kẻ thiện
nam, người thiện nữ thọ trì Bát nhã thậm thâm, đọc tụng,
thân cận, nhớ nghĩ đúng, tu đúng như nói, thời hơn chúng
sinh ở cõi Diêm phù đề thành tựu mười thiện đạo cho đến bốn
định vô sắc gấp trăm, gấp ngàn, gấp vạn ức lần, cho đến toán
số thí dụ cũng không thể sánh kịp.
Bấy giờ, có một Tỳ kheo nói với trời
Ðế thích rằng: Kẻ thiện nam, người thiện nữ ấy tu hành Bát
nã ba la mật được công đức nhiều hơn nhơn giả. Trời Ðế thích
nói: Kẻ thiện nam, người thiện nữ ấy chỉ phát tâm còn hơn
tôi, huống chi nghe Bát nhã ba la mật rồi viết chép, giữ
gìn, đọc tụng, nhớ nghĩ đúng, tu đúng như nói! Kẻ thiện nam,
người thiện nữ ấy tu Bát nhã ba la mật chẳng phải chỉ hơn
tôi mà còn hơn hết thảy thế gian, trời, người, A tu la;
chẳng phải chỉ hơn hết thảy trời, người, A tu la mà cũng hơn
Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bích chi Phật;
chẳng phải chỉ hơn Tu đà hoàn cho đến Bích chi Phật mà cũng
hơn vị Bồ tát tu năm Ba la mật nhưng xa lìa Bát nhã ba la
mật; chẳng phải chỉ hơn vị Bồ tát tu năm Ba la mật nhưng xa
lìa Bát nhã ba la mật mà cũng hơn vị Bồ tát tu Bát nhã ba la
mật nhưng không có sức phương tiện. Bồ tát ấy đúng như kinh
nói: Tu Bát nhã ba la mật không dứt giống Phật, thường được
thấy chư Phật, chóng đến đạo tràng. Bồ tát tu như vậy vì
muốn cứu vớt chúng sinh ra khỏi dòng chìm đắm. Bồ tát học
như vậy là không học Thanh văn, Bích chi Phật. Bồ tát học
như vậy trời Tứ thiên vương đi đến chỗ Bồ tát nói rằng:
"Thiện nam tử hãy siêng học mau, khi ngồi đạo tràng thành Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác như chư Phật quá khứ được nhận
bốn chiếc bát, ông cũng sẽ được, chúng tôi cũng sẽ đem đến
dâng cúng". Lại các trời khác, trời Tứ thiên vương, trời Ba
mươi ba, trời Dạ xoa, trời Ðâu suất đà, trời Hóa lạc, trời
Tha hóa tự tại, trời Phạm thiên, cho đến trời Thủ đà hội
cũng sẽ đến cúng dường. Chư Phật mười phương cũng sẽ thường
nghĩ đến vị Bồ tát ấy là người đúng như kinh nói, tu hành
Bát nhã ba la mật thậm thâm. Vị Bồ tát ấy vĩnh viễn không
còn các việc ách nạn, khổ nhọc của thế gian. Thân vị Bồ tát
ấy không có 404 bệnh như thế gian, do tu hành Bát nhã ba la
mật thậm thâm nên được công đức hiện đời như vậy.
Bấy giờ A nan nghĩ rằng: Trời Ðế thích
do tự lực nói ra hay nhờ thần lực của chư phật nói ra? Trời
Ðế thích biết ý nghĩ của A nan, nói với A nan rằng: Lời tôi
nói ra dều do oai thần của Phật. Phật bảo A nan: Như vậy,
như vậy! như lời trời Ðế thích đều do oai thần của Phật.
Này A nan! Khi Bồ tát ấy học tập Bát
nhã ba la mật thậm thâm, ác ma trong ba ngàn đại thiên thế
giới đều sinh hồ nghi: Bồ tát ấy sẽ được Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác ư" Hay sẽ giữa đường thủ chứng Niết bàn rơi
vào địa vị Thanh văn, Bích chi Phật?
* Lại nữa, A nan! Nếu khi Bồ tát không
rời Bát nhã ba la mật thời ma rất sầu khổ, như mũi tên đâm
vào tâm. Khi ấy ma lại phóng ra ngọn gío lửa lớn dậy khắp
bốn phương, muốn làm cho tâm Bồ tát biến mất, sọ hãi, biếng
nhác cho đến khởi lên một niệm loạn động đối với Nhất thiết
trí.
A nan bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Ma quấy nhiễu hết thảy Bồ tát hay có người không bị
quấy nhiễu?
Phật bảo A nan: Có người bị quấy
nhiễu, có người không bị quấy nhiễu.
A nan bạch Phật: Hạng Bồ tát nào bị ma
quấy nhiễu.
Phật dạy: Hạng Bồ tát đời trước nghe
Bát nhã ba la mật thậm thâm, tâm không tin hiểu; hạng Bồ tát
ấy ma tìm được chỗ tiện lợi để quấy nhiễu.
* Lại nữa, A nan! Bồ tát khi nghe nói
Bát nhã ba la mật thậm thâm, ý nghi ngờ Bát nhã ấy là thật
có hay là thật không có? Hạng Bồ tát như thế ma tìm được chỗ
tiện lợi để quấy nhiễu.
* Lại nữa, A nan! Có hạng Bồ tát xa
lìa thiện tri thức, bị ác tri thức nhiếp phục, nên không
nghe Bát nhã ba la mật thậm thâm, không nghe nên không biết,
không thấy, không hỏi nên làm sao tu hành Bát nhã ba la mật;
nên làm sao tu Bát nhã ba la mật; hạng Bồ tát ấy ác ma tìm
được chỗ tiện lợi để quấy nhiễu.
* Lại nữa, A nan! Nều Bồ tát xa lìa
Bát nhã ba la mật, lãnh thọ pháp ác, Bồ tát ấy ma tìm được
chỗ tiện lợi. Nó nghĩ rằng bọn ta sẽ có bạn đảng, sẽ thỏa
mãn nguyện ta. Bồ tát ấy tự rơi vào nhị địa, cũng khiến
người khác rơi vào nhị địa.
* Lại nữa, A nan! Nếu Bồ tát khi nghe
nói Bát nhã ba la mật thậm thâm, liền nói với người khác
rằng: "Bát nhã ba la mật ấy thậm thâm, ta còn không thể biết
được thấu đáo, vậy người nghe làm gì, học làm gì Bát nhã ba
la mật ấy": Hạng Bồ tát như vậy, ma tìm được chỗ tiện lợi để
quấy nhiễu.
* Lại nữa, A nan! Nếu Bồ tát khinh các
Bồ tát khác rằng: Ta hành Bát nhã ba la mật, hành hạnh "viễn
ly không", còn ngươi không có công đức ấy. Khi ấy ác ma rất
vui mừng nhảy nhót. Nếu có Bồ tát tự ỷ thị tên họ mình nhiều
người biết đến, nên khinh các Bồ tát hành thiện khác. Hạng
Bồ tát ấy thật không có công đức về hành, loại, tướng mạo
của chẳng thoái chuyển. Vì không có công đức ấy nên sinh các
phiền não, chỉ đắm trưóc hư danh nên khinh dễ người khác,
nói rằng: Ngươi không ở trong pháp của ta có được. Bấy giờ
ác ma nghĩ rằng: nay cảnh giới cung điện của ta chẳng trống
không, lại tăng thêm ba đường ác. Ác ma giúp thêm uy lực
khiến người khác tín thọ lời người kia nói; vì tín thọ lời
người kia nói nên tin chịu làm theo kinh sách nó, tu học như
lời nó nói; khi tu học nhu lời nó nói, thời tăng thêm các
kiết sử. Vì tâm các người ấy điên đảo nên ba nghiệp thân,
miệng, ý họ làm đều chịu ác báo. Do nhân duyên ấy làm tăng
thêm ba đường ác, quyên thuộc, cung điện của ma càng thêm
nhiều. Này A nan! Ma thấy các lợi đó nên rất vui mừng, nhảy
nhót.
Này A nan! Nếu người hành đạo Bồ tát
tranh đấu với người cầu đạo Thanh văn, ma liền nghĩ rằng,
thế là xa lìa Nhất thiết trí. Này A nan! nếu Bồ tát tranh
đấu với Bồ tát, sân giận, mắng nhiếc, khi ấy ác ma liền rất
vui mừng, nhảy nhót nói rằng: Cả hai đều xa lià Nhất thiết
trí.
* Lại nữa, A nan! Nếu Bồ tát chưa được
thọ ký, hướng tới Bồ tát đã được thọ ký sinh ác tâm tranh
đấu, mắng nhiếc, tùy theo niệm ác trong nhiều ít kiếp, bằng
kiếp số bao nhiêu, nếu không bỏ trí Nhất thiết chủng, vậy
sau mới được bổ túc bấy nhiêu kiếp đại trang nghiêm.
A nan bạch Phật rằng: Bạch đức thế
Tôn! Ác tâm ấy trải qua số kiếp bấy nhiêu, ở giữa khoảng đó
có thể được giải trừ chăng?
Phật bảo A nan: Ta tuy nói người cầu
đạo Bồ tát và Thanh văn được xuất tội, nhưng nếu người câu
đạo Bồ tát tranh đấu nhau, sân giận, mắng nhiếc, ôm hận
không hối cãi, không xả bỏ, ta không nói người đó được xuất
tội, chắc chắn sẽ lại phải trải qua nhiều kiếp số nếu không
bỏ trí Nhất thiết chủng vậy sau mới được trang nghiêm. Nếu
Bồ tát tranh đấu, sân giận, mắng nhiếc, liền tự biết hối
cải, nghĩ rằng: Ta có lỗi lớn, ta phải vì tất cả chúng sinh
mà khuất mình xuống, khiến đời nay, đời sau được hòa giải;
ta sẽ nhẫn chịu cho chúng sinh bước qua như cầu đò, như
điếc, nhu ngọng chứ làm sao ta dùng lời ác đáp trả người! Ta
không nên phá hoại tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác sẽ
nên độ hết thảy chúng sinh khổ não, chứ làm sao ta lại khởi
lên tâm sân giận!
A nan bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Còn Bồ tát với Bồ tát cộng trú thì thế nào?
Phật bảo A nan: Bồ tát với Bồ tát cộng
trú thì nên xem nhau như Thế Tôn, vì sao? Vì Bồ tát nên nghĩ
rằng: Ðó là bạn thật của ta, đi chung một thuyền; kia học ta
học Thí ba la mật cho đến trí Nhất thiết chủng. Nếu Bồ tát
kia tu hành tạp nhạp, lìa tâm Nhất thiết trí;, ta không nên
học như vậy; nếu Bồ tát kia không tu hành tạp nhạp, không
lìa tâm Nhất thiết trí, ta nên học như vậy. Bồ tát học như
vậy là đồng học.
LUẬN: Trên kia trời Ðế thích nói người
thiện nam viết chép, trì thọ Bát nhã cho đến nhớ nghĩ đúng
được vô lượng công đức. Nay nói về ý nghĩa ấy. người đọc
tụng Bát nhã cho đến khi được Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, không để cho tâm tâm số pháp khác xen vào là được công
đức như đã nói trên. Chỉ từ ngưòi khác nghe mà không thể
thực hành, khiến các tâm khác không xen vào, thời tuy công
đức nhưng không gọi là vô lượng.
Tâm tâm số pháp xen vào
là có người nói đó là xan tham, là ác
tâm phá sáu Ba la mật. Có người nói chỉ cần không để ác tâm
tăng trưởng thì thế lực ma đi đến liền bị diệt trừ. Có người
nói không để cho tâm cầu Thanh văn, Bích chi Phật được xen
vào. Có người nói tâm vô ký tán loạn tuy chẳng phải ác, song
vì chướng ngăn thiện đạo, cũng không để cho xen vào. Thế nên
người ấy không phải từ công đức nhỏ đưa đến. Phật chấp thuận
lời đó rằng: đúng như vậy. Vì muốn phân biệt thế lực của
hạnh thanh tịnh nên hỏi ngược lại Kiều thi ca rằng: Nếu hết
thảy người cõi Diêm phù đề thành tựu mười thiện đạo như kinh
nói, phưóc đức ấy tuy nhiều song vì lìa thật tướng các pháp
nên hư dối, không bền chắc, vô thưòng, tận diệt, không đủ
cho là nhiều, giống như cỏ tuy rất hiều song không bằng một
chút kim cương.
Hỏi: Tỳ kheo ấy vì sao nói với trời Ðế
thích rằng: Phưóc đức người thiện nam ấy hơn ông?
Ðáp: trời Ðế thích đã ở trong quả báo
phước đức làm chủ cả trời người, tuy rất được tôn trọng,
nhưng Tỳ kheo ấy vì qúy trọng chuyện khác, muốn nêu bày công
đức thiện pháp nên nói hơn trời Ðế thích.
* Lại nữa, Tỳ kheo ấy nghe nói trời Ðế
thích được đạo Thanh văn, nên nói ông tuy có phưóc đức mà
không bằng Bồ tát. Trời Ðế thích đắc đạo, thâm niệm Phật
pháp nên nhận lời nói của Tỳ kheo, không sinh tâm cao ngạo,
nói rằng: Bồ tát vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chỉ
phát tâm là đã hơn tôi, huống gì còn tu hành như kinh nói,
vì sao? Vì phước đức của trời Ðế thích mỏng ít, còn công đức
của Bồ tát sâu dày. Lại, vì phước đức của trời Ðế thích đắm
vào cái vui cõi trời, chỉ vì tự thân, còn công đức của Bồ
tát là vì hết thảy chúng sinh mà hồi hướng đến cái vui Phật
đạo. Khi ấy hội chúng nghe Tỳ kheo nói hơn trời Ðế thích,
trời Ðế thích nhận lời nói đó, họ đều sinh tâm khinh trời Ðế
thích. Thế nên trời Ðế thích nói: Không chỉ hơn tôi mà còn
hơn cả vị Bồ tát tập hành Bát nhã mà không có sức phương
tiện, như kinh nói tập hành Bát nhã ba la mật mà không lìa
tâm tâm số pháp. Trong đây trời Ðế thích tự nói lý do hơn,
đó là Bồ tát tu hành Bát nhã đúng như kinh nói, không dứt
giống Phật, cho đến do tu hành Bát nhã ba la mật nên được
công đức đời này.
Hỏi: Vì sao A nan nghĩ rằng: Trời Ðế
thích do tự lực nói ra hay nhờ Phật lực?
Ðáp: A nan biết trời Ðế thích là Thanh
văn mà nói rất sâu, hơn trí Thanh văn, Bích chi Phật, thế
nên sinh nghi mà hỏi.
Hỏi: Trời Ðế thích tự có trí hay hỏi hay
đáp, cớ sao nói nhờ Phật lực?
Ðáp: Bát nhã rất sâu, rất khó, vô lượng,
vô biên; nếu ở chỗ khác nói còn khó, huống gì ở trước Phật,
trước đại chúng nói! Thế nên nói nhờ Phật lực. Như kinh Trì
Tâm nói: Do oai thần sánh sáng nhập vào tâm kia, nên có thể
đối trước Phật nói lời nạn vấn.
Phật bảo A nan: Chấp thuận lời Ðế thích
nói; lại khen ngợi vị Bồ tát tu hành Bát nhã thậm thâm, có
uy đức lớn. Ðó là A nan, khi vị Bồ tát tập học Bát nhã thậm
thâm, ác ma liền sinh nghi. Ác ma là giặc oán của Bồ tát,
thường tìm lúc thuận tiện để phá Bồ tát như nói ở trong phẩm
Ma. Vì Bồ tát tu hành sâu Bát nhã ba la mật, nên ma dùng
phương tiện lớn phá hoại tâm Bồ tát. Nếu Bồ tàt giải đãi
thời ma rất vui mừng, nói rằng: Người ấy sẽ tự sa đọa.
Có người nói hết thảy Bồ tát đều phải bị
ma oán. Thế nên A nan hỏi: Tấ cả đều có ma oán hay có người
không bị? Phật phân biệt đáp: Người có tâm thanh tịnh sâ u
xa, hành đạo Bồ tát thời không có bị ma phá; người không
thanh tịnh thời bị ma phá; như kinh nói rộng.
Hỏi: Như Phật nói hết thảy pháp hữu vi
đều có thể chuyển đổi, có thể xả bỏ, cớ sao A nan nghi mà
hỏi Phật, tội ấy có thể hối cải chăng?
Ðáp: A nan biết Bát nhã ba la mật là nhân
duyên vô tận, nếu ai cúng dường sẽ được phước vô biên cho
đến khi thành Phật, phước đức ấy vẫn bất tận; nếu trách mắng
Bát nhã, tội ấy cũng vô biên; thế nên hỏi Phật. Phật đáp: Ta
tuy nói có thể xuất tội, nhưng nếu Bồ tát kết hận, đấu tranh
nhau không chịu bỏ thời không thể xuất tội được, vì sao? Vì
Bồ tát ấy có tâm khinh mạn quá sâu, sân giận các Bồ tát
khác. Vì tâm sân giận, kiêu mạn nên không thể hạ mình cùng
sám hối, lại muốn làm công đức khác để mong dứt tội ấy. Phật
dạy: Tội ấy không thể dứt được, vì tâm ôm hận nên tuy làm
phước khác đều không thanh tịnh, không thanh tịnh nên không
có lực, không có lực nên không thể diệt tội. Người ấy nếu
muốn làm Phật, không bỏ Nhất thiết trí, hạ mình sám hối, cho
đủ bấy nhiêu kiếp mới được đại trang nghiêm.
Hỏi: Trong tâm ôm hận, làm sao có thể dứt
tội?
Ðáp: Vì phá sân hận như kinh nói. A nan
biết chúng sinh tùy thuộc vào nghiệp duyên, không được tự
tại, không ai cứu hộ, ôm tâm sợ hãi, hỏi Phật: Bồ tát cộng
trú như thế nào? Dụng tâm cung kính thế nào? - Phật đáp: Bồ
tát nên cúng dường, cung kính, xem nhau như Phật, vì đó là
Phật vị lai. trong đây Phật tự nói nhân duyên: Bồ tát cộng
trú nên nghĩ rằng, đây là bạn chơn thật của ta, cùng đi đến
Phật đạo, cùng cỡi một thuyền. Thuyền là chỉ sáu Ba la mật;
ba cõi và ba lậu hoặc là nước; bờ kia là Phật đạo. Ðiều
người kia học ta cũng nên học, đó là sáu Ba la mật, đồng
giới, đồng kiến, đồng đạo. Như anh em trong hàng cư sĩ,
không nên đấu nhau; ta và kia là anh em đồng pháp, không nên
tranh nhau. Nếu Bồ tát kia tu hành tạp nhạp, lìa tâm Nhất
thiết trí, ta không nên học như vậy, vì sao? Vì việc tốt nên
học theo, việc xấu nên bỏ. Bồ tát nêú hoạc được như vậy thời
việc khinh mạn, sân hận chấm dứt; ấy gọi là Bồ tát đồng học.
GIẢI THÍCH PHẨM
ÐẲNG HỌC THỨ 63
Kinh Ðại Bát Nhã Phần 2 ghi:
Phẩm Ðồng Tánh Thứ 62)
KINH: - Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch
đức Thế Tôn! Những gì là pháp bình đẳng của các Bồ tát, Bồ
tát nên học?
Này Tu bồ đề! Nội không là pháp bình
đẳng của Bồ tát; ngoại không cho đến tự tướng không là pháp
bình đẳng của Bồ tát. Sắc, sắc tướng không; thọ, tưởng,
hành, thức tướng không cho đếnVô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác tướng không là pháp
bình đẳng của Bồ tát. An trú pháp bình đẳng ấy được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức thế
Tôn! Bồ tát vì sắc tận nên học, là học Nhất thiết trí; vì
sắc lìa nên học, vì sắc diệt nên học, là học Nhất thiết trí;
vì sắc chẳng sinh nên học, là học Nhất thiết trí; thọ,
tưởng, hành, thức cũng như vậy. Tu bốn niệm xứ cho đến mười
tám pháp không chung; tận, ly diệt, chẳng sinh nên học, là
học Nhất thiết trí?
Phật bảo Tu bồ đế: Như lời ông nói: vì
sắc, tận, ly, diệt, chẳng sinh nên học, là học Nhất thiết
trí; vì thọ, tưỏng, hành, thức, cho đến mười tám pháp không
chung tận, ly, diệt, chẳng sinh nên học, là học Nhất thiết
trí.
Phật bảo Tu bồ đề: Ý ông nghĩ sao? Sắc
như như, thọ, tưởng, hành, thức như như cho đến Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác như như; Phật như như; các như ấy tận,
diệt, đoạn chăng? Tu bồ đề thưa: Thưa không, bạch Thế Tôn!
Phật bảo Tu bồ đề: Bồ tát như vậy học
như như, là học Nhất thiết trí. Như như ấy không thủ chứng,
không diệt, không đoạn. Tu bồ đề! Bồ tát như vậy học như
như, là học Nhất thiết trí, là học sáu Ba la mật, là học bốn
niệm xứ cho đến mười tám pháp không chung. Nếu học sáu Ba la
mật cho đến mười tám pháp không chung ấy là học Nhất thiết
trí. Học như vậy là tận bờ mé của sự học, học như vậy ma
hoặc ma trời không thể phá hoại; học như vậy đi thẳng đến
địa vị chẳng thoái chuyển; học như vây là học đạo sở hành
của Phật; học như vậy là được ủng hộ, là học đại từ đại bi,
là học nghiêm tịnh cõi Phật, thành tựu tuệ giác cho chúng
sinh; học như vậy là học pháp luân có ba lần chuyển, mười
hai hành tướng; học như vậy là học độ chúng sinh; học như
vậy là học không dứt giống Phật; học như vậy là học mở cửa
cam lồ; học như vậy là học muốn chỉ bày tính vô vi. Này Tu
bồ đề! Người hạ liệt không thể học như vậy. Người học như
vậy là vì muốn kéo chúng sinh ra khỏi đắm chìm sinh tử. Bồ
tát học như vậy trọn không bị đọa vào địa ngục, ngạ qủy, súc
sinh; trọn không sinh nơi biên địa; trọn không sinh nhà
Chiên đà la; trọn không điếc, đui, ấm ớ, qùe quặt; các căn
đầy đủ, quyến thuộc thành tựu; trọn không mồ côi cùng khổ.
Bồ tát học như vậy trọn không sát sinh cho đến trọn không tà
kiến, không sống theo tà mạng, không thâu nhiếp người ác và
người phá giới. Học như vậy do có sức phương tiện, nên không
sinh cõi trời trường thọ.
Thế nào là sức phương tiện? - Như đã
nói trong phẩm Bát nhã ba la mật. Bồ tát do sức phương tiện
nên vào bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn định vô sắc, mà
không theo thiền vô lượng vô sắc định sinh ra. Tu bồ đề! Bồ
tát học như vậy, đối với hết thảy pháp được thanh tịnh,
nghĩa là sạch tâm Thanh văn, Bích chi Phật.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Hết thảy pháp tính vốn thanh tịnh, vì sao nói Bồ tát
đối với hết thảy pháp thanh tịnh?
Phật bảo Tu bồ đề: Như vậy, như vậy!
Hết thảy pháp tính vốn thanh tịnh, nếu Bồ tát đối với pháp
ấy tâm thông suốt, không thối mất tức là Bát nhã ba la mật.
Các pháp như vậy hàng phàm phu không biết không thấy. Bồ tát
vì chúng sinh ấy nên tu Thí ba la mật cho đến Bát nhã ba la
mật, tu bốn niệm xứ cho đến trí Nhất thiết chủng. Tu bồ đề!
Bồ tát học như vậy, đối với hết thảy pháp được trí lực không
có sợ gì; học như vậy vì liễu tri tâm chúng sinh hướng về
đâu. Thí như đại địa, ít chỗ xuất sinh vàng bạc trân bảo.
Chúng sinh cũng như vậy, ít người học được Bát nhã ba la
mật, nhiều người rơi vào Thanh văn, Bích chi Phật địa. Thí
như ít người chịu tạo nghiệp làm Chuyển luân Thánh vương,
nhiều người tạp nghiệp làm tiểu vương. Cũng như vậy, ít
chúng sinh tu Bát nhã ba la mật cầu Nhất thiết trí, nhiều
người tu đạo Thanh văn, Bích chi Phật. Tu bồ đề! Trong các
Bồ tát phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ít có
người tu hành đúng như kinh nói, nhiều người trụ vào địa vị
Thanh văn, Bích chi Phật.
Có nhiều Bồ tát tu Bát nhã ba la mật
vì không có sức phương tiện nên ít người trụ địa vị chẳng
thoái chuyển. Tu bồ đề! Do lẽ đó Bồ tát muốn trụ địa vị
chẳng thối chuyển, muốn ở trong số bồ tát chẳng thối chuyển,
hãy nên học Bát nhã ba la mật thậm thâm.
* Lại nữa, Tu bồ đề! Khi Bồ tát học
Bát nhã ba la mật không sinh tâm xan tham, không sinh tâm
phá giới, sân hận, giải đãi, tán loạn, ngu si; không sinh
các tâm tội lỗi khác; không sinh tâm thủ tướng sắc, thủ
tướng thọ, tưởng, hành, thức; không sinh tâm thủ tướng bốn
niệm xứ cho đến không sinh tâm thủ tướng Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, vì sao? Vì Bồ tát tu Bát nhã ba la mật thậm
thâm, không có pháp khả đắc; vì không có pháp khả đắc nên
đối với các pháp không sinh tâm thủ tướng. Tu bồ đề! Bồ tát
học Bát nhã ba la mật thậm thâm như vậy, thu nhiếp các Ba la
mật làm cho các Ba la mật tăng trưởng, các Ba la mật đều đi
theo, vì sao? Vì các Ba la mật đều thu vào trong Bát nhã ba
la mật thậm thâm; thí như trong ngã kiến thu nhiếp hết sáu
mươi hai kiến. Cũng như vậy, Bát nhã ba la mật thậm thâm thu
nhiếp hết các Ba la mật; thí như người chết, vì mạng căn
diệt nên các căn khác đều diệt theo. Như vậy, Bồ tát khi tu
Bát nhã ba la mật thậm thâm thời các Ba la mật kia đều đi
theo. Tu bồ đề! Bồ tát muốn làm cho các Ba la mật qua đến bờ
kia, nên học Bát nhã ba la mật thậm thâm. Bồ tát học Bát nhã
ba la mật thậm thâm ấy, thời vượt lên trên hết thảy chúng
sinh.
Này Tu bồ đề! Ý ông nghĩ sao? Chúng
sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới nhiều chăng? Tu bồ đề
thưa: Chúng sinh trong một cõi Diêm phù đề còn nhiều, huống
gì trong ba ngàn đại thiên thế giới!
Phật bảo Tu bồ đề: Nếu chúng sinh
trong ba ngàn đại thiên thế giới cùng một lúc đều được làm
thân người, đều được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nếu có
Bồ tát suốt đời cúng dường bấy nhiêu đức Phật đó y phục,
thức ăn, ngọa cụ, thuốc thang, vật cần dùng nuôi sống. này
Tu bồ đề! Ý ông nghĩ sao? Người ấy do nhân duyên ấy được
phước đức nhiều chăng? - Tu bồ đề thưa: Rất nhiều, rất
nhiều!
Phật dạy: không bằng kẻ thiện nam,
người thiện nữ học Bát nhã ba la mật, tu đúng như kinh nói,
nhớ nghĩ đúng, được phước đức nhiều hơn, vì sao? Vì Bát nhã
ba la mật có thế lực có thể làm cho Bồ tát được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác. Vì thế nên Bồ tát muốn vượt lên trên
hết thảy chúng sinh, nên học Bát nhã ba la mật; muốn vì
chúng sinh không có ai cứu hộ làm người cứu hộ; muốn làm chỗ
nương về cho chúng sinh không có chỗ nương về; muốn làm đạo
rốt ráo cho chúng sinh không có đạo rốt ráo; muốn làm mắt
cho người đui; muốn được công đức Phật; muốn làm tiếng rống
Sư tử của Phật; muốn đánh chuông trống Phật; muốn thổi loa
Phật; muốn lên tòa cao Phật thuyết pháp; muốn dứt hết nghi
lầm cho chúng sinh thời nên học Bát nhã ba la mật thậm thâm.
Tu bồ đề! Bồ tát nếu học Bát nhã ba la mật thậm thâm thời
các công đức lành không việc gì không làm được.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Có thể còn được công đức Thanh văn, Bích chi Phật
chăng? Phật dạy: Công đức Thanh văn, Bích chi Phật có thể
được nhưng không trụ ở trong đó. Dùng trí quán sát rồi, đi
thẳng qua mà vào Bồ tát vị. Tu bồ đề! Bồ tát học như vậy là
gần Nhất thiết trí, mau được Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác. Bồ tát học như vậy là làm ruộng phước cho hết thảy thế
gian trời, người, A tu la. Bồ tát học như vậy là vượt quá
trên ruộng phước của Thanh văn, Bích chi Phật , chóng gần
Nhất thiết trí. Bồ tát học như vậy gọi là không bỏ, không
rời Bát nhã ba la mật mà thường tu Bát nhã ba la mật. Bồ tát
học như vậy nên biết là Bồ tát chẳng thối chuyển, chóng gần
Nhất thiết trí, xa lìa Thanh văn, Bích chi Phật, gần Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Tu bồ đề! Bồ tát khi hành Bát nhã ba
la mật nếu nghĩ rằng: Ta do Bát nhã ba la mật mà được trí
Nhất thiết chủng. Nếu nghĩ như vậy không gọi là hành Bát nhã
ba la mật. Nếu không nghĩ rằng: Ðó là Bát nhã ba la mật, đó
là người có Bát nhã ba la mật, đó là pháp Bát nhã ba la mật,
đó là người hành Bát nhã ba la mật được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác; ấy gọi là hành Bát nhã ba la mật. Này Tu bồ đề!
Nếu Bồ tát nghĩ rằng: Không có Bát nhã ba la mật, không có
người Bát nhã ba la mật, không có người hành Bát nhã ba la
mật được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì sao? Vì hết
thảy pháp đều như như, pháp tánh, thật tế, thường trú. Hành
nhu vậy gọi là Bồ tát hành Bát nhã ba la mật.
LUẬN: - Trên kia A nan hỏi về đấu tranh.
Phật đáp về đồng học thanh tịnh. Nay Tu bồ đề hỏi Phật những
pháp bình đẳng về đồng tâm sâu xa là học xứ của Bồ tát. Phật
đáp: Nội không cho đến tự tướng không là pháp bình đẳng của
Bồ tát. Có hai đẳng nhẫn: Ở cuối phẩm trên nói về
Chúng sinh đẳng nhẫn, ở phẩm này nói
về Pháp đẳng nhẫn; như chiếc cân hai đầu đứng
ngang nhau. Nhu vậy, nội không v.v... là bình đẳng giữa các
pháp. Như pháp bên trong thân mỗi mỗi sai biệt, nếu được
"nội không" thời đều bình đẳng không hai; cho đến "tự tướng
không" thời hết thảy pháp tướng đều tự không, khi ấy thời
tâm bình đẳng. Bồ tát trú trong bình đẳng ấy, đều được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Tu bồ đề hỏi: Vì sắc diệt tận hay vì học
Nhất thiết trí nên quán sắc vô thường, niệm niệm diệt không
an trụ; nếu tu được quán ấy thời tâm lìa sắc, tâm lìa sắc
nên các phiền não diệt; phiền não diệt nên được pháp vô
sinh.
Tu bồ đề hỏi: Học như vậy là học Nhất
thiết trí chăng? - Phật hỏi ngược lại Tu bồ đề: Ý ông nghĩ
sao? Sắc như v.v... và Như lai như, như ấy bị tận, diệt,
đoạn chăng? Tu bồ đề thưa: Không. Như ấy từ trước tới nay
không nhóm, không hòa hợp làm sao có tận; Xưa nay chẳng sinh
làm sao có diệt; Pháp ấy vốn hư dối, không có định tướng làm
sao có thể đoạn. Tu bồ đề! Bồ tát học "như" được như vậy là
học Nhất thiết trí. Như ấy thường không thể chứng, không thể
diệt, không thể đoạn; tận, ly, đoạn là vì trừ điên đảo cho
nên tu hành, chẳng phải rốt ráo. Ở trong này nói việc rốt
ráo được Phật khen ngợi: Học như vậy tuy không cố định vì
một pháp mà học Nhất thiết trí, nếu học Nhất thiết trí tức
là học sáu Ba la mật; nếu học được sáu Ba la mật là cùng tận
bờ mé các pháp học. Nếu tận cùng bờ mé các pháp học, thời
người ấy đầy đủ vô lượng phước đức và trí tuệ; ma hoặc ma
dân không thể hàng phục. Học cách chính đáng như vậy đi
thẳng đến địa vị chẳng thoái chuyển. Học như vậy là học đạo
sở hành của Phật; học như vậy là được mười phương chư Phật
và đại Bồ tát, chư thiên và người lành thủ hộ. Học được như
vậy, người ấy không có tà kiến, tâm không vướng mắc gì, đối
với chúng sinh khởi tâm đại từ đại bi; vì đại từ đại bi nên
có thể giáo hóa chúng sinh; tâm chúng sinh thanh tịnh nên
cõi Phật thanh tịnh; cõi Phật thanh tịnh rồi được Phật đạo
chuyển pháp luân ba lần chuyển mười hai hành tướng, dùng
pháp ba thừa độ vô lượng chúng sinh. Vi dùng pháp Ðại thừa
độ chúng sinh nên không dứt giống Phật; không dứt giống Phật
nên thường mở cửa pháp cam lồ giữa thế gian, thường chỉ bày
cho chúng sinh tính vô vi. Tính vô vi là như như, pháp tánh,
thật tế, Niết bàn; cam lồ là tính vô vi; cửa là ba cửa giải
thoát. Kẻ hạ liệt là kẻ biếng nhác, buông lung, không ưa
Phật pháp, không nhất tâm hành đạo, làm tội phước hỗn tạp.
Những người như vậy không thể học pháp vô vi, vì sao? Vì kẻ
hạ liệt nghĩ rằng: Thân ta và quyến thuộc ta, ta nên bảo hộ,
các chúng sinh khác can dự gì việc ta, mà ta đem đầu, mắt,
tủy, não cho họ để họ được vui; hết thảy mọi người đều dùng
phương tiện tìm vui, sao ta lại bỏ vui tìm khổ. Hoặc sinh tà
kiến nghĩ rằng: Chúng sanh vô lượng vô biên độ không thể
hết, nếu có thể độ hết, tức làcó lượng có biên, một đức Phật
có thể độ hết. Hoặc nghĩ rằng: Phật nói hết thảy pháp không,
không sinh không diệt, vậy ta còn độ cái gì! Cầu Phật đạo
hay không cầu Phật đạo đều đồng như huyễn mộng. Người hạ
liệt nghĩ như vậy, do vì tà kiến tham dục nên không thể học
đại pháp này. Hoặc có khi Ðại nhơn xuất thế, trù lượng, suy
nghĩ thực tướng các pháp là chẳng phải thường, chẳng phải vô
thường, chẳng phải hữu biên, chảng phải vô biên, chẳng phải
có, chẳng phải không. Hành đạo như vậy có thể phá tà kiến
điên đảo xong, trở lại bỏ đạo ấy, đi thẳng vào pháp tánh và
thường an trú trong pháp tánh thanh tịnh ấy. Vì chúng sinh
không không biết việc ấy
nên sinh tâm đại bi, vậy sau tu tập các công đức sáu Ba la
mật, thần thông, trí tuệ, giải thoát vô ngại, được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, dùng các môn phương tiện, rộng độ
chúng sinh, hạng người như vậy thật hiếm có.
Hỏi: Như trước nói chúng sinh vô lượng vô
biên, lại nói chúng sinh không, vậy còn độ cái gì? làm sao
có thể độ?
Ðáp: Ðó là lời nói của người hạ liệt, đâu
đủ lấy đó làm chứng.
* Lại nữa, trước đã nói lý do vì tà kiến,
tham dục nên người hạ liệt nghĩ rằng: Chúng sinh có biên,
không biên, hết thảy pháp không, không có gì của chính nó,
hoặc nghĩ rằng hết thảy pháp thường, thật, đó đều nhiếp
thuộc vào 62 tà kiến. Bậc đại nhơn không có ham muốn, suy
nghĩ, trù lượng lìa các tội lỗi như vậy, an trú trong pháp
tính, sinh tâm đại bi. Thí như người lớn chỉ đem tâm bố thí,
thí tài vật cho người khác mà không lấy giá cả. Còn người
tham dục tìm có lý do mới bố thí. Người tà kiến dựa vào chấp
kiến có biên, không biên nên không có việc gì không có lợi
mà làm. Thí như tiểu nhơn buôn bán giữa chợ, cầu có lợi mới
trao cho. Lại Ðại nhơn Bồ tát không có cầu mong gì vẫn có
thể đem đầu mắt thí cho chúng sanh, được quả báo gì cũng thí
luôn; tâm không nương tựa vào một pháp nào mà vẫn tập hợp
được các công đức. Thế nên Phật dạy: Muốn kéo chúng sinh ra
khỏi dòng sinh tử chìm đắm, hãy nên học như vậy.
* Lại nữa, Bồ tát học như vậy, thường có
tâm từ bi thương xót, không não hại chúng sinh, nên không
đọa địa ngục, thường quán thật tướng của các pháp nhơn duyên
sinh, không sinh ngu si nên không đọa súc sinh; thường tu bố
thí, diệt tâm xan tham, nên không sinh vào ngạ quỷ. Ðối với
12 bộ Kinh, 84.000 pháp tụ của Phật dạy, thường không lẫn
tiếc, nên không sinh nơi biên địa. Thường cúng dường bậc
Thiện nhơn Tôn trưởng, bỏ tính kiêu mạn nên không sinh vào
nhà hạ tiện Chiên đà la. Vì thâm tâm yêu mến chúng sinh, làm
đủ hạnh lợi ích nên thọ thân hoàn mỹ. Lấy thiện pháp giáo
hóa chúng sanh nên quyến thuộc thành tựu, trọn không bị mồ
côi nghèo cùng. Vì ưa vui sâu xa thí Ba la mật, nên không
làm mười điều ác và sống tà mạng. Vì không có tâm chấp ngã,
chỉ vì lợi ích chúng sinh, không tự vì thân mình nên không
thâu nhiếp kẻ ác và người phá giới. Người ác là người có tâm
ác, người phá giới là người có thân và miệng ác.
Lại ý làm ba việc chẳng lành gọi là người
ác, thân và miệng làm bảy việc chẳng lành gọi là phá giới.
Lại Bồ tát nếu ở nhà, thu nhiếp người ác gọi là người ác,
xuất gia thu nhiếp người ác gọi là phá giới.
Hỏi: Bồ tát vì độ người ác nên xuất hiện
ở đời, thí như lương y chữa các bệnh tật, cớ sao không thâu
nhiếp người ác?
Ðáp: Người ác, người phá giới có hai
hạng: Hạng có thể hóa cải, hạng không thể cải hóa, trong đây
nói hạng không thể cải hóa, nếu thâu nhiếp họ ở chung, thời
tự hoại đạo mình mà đối với họ vô ích. Thí như cứu kẻ bị
chìm, tự mình không nổi được mà muốn cứu kẻ kia, thời cả hai
đều chết, thế nên nói: Nên xa lìa người ác. Vì cõi Dục nhiều
ác, sinh tâm thương xót nên sinh cõi Dục; tuy hành thiền,
tâm điều hòa mềm dịu, do có sức phương tiện nên khi mệnh
chung không sinh theo thiền, nhu trong kinh rộng nói: Tu bồ
đề! Bồ tát học như vậy, đối với các pháp tâm được thanh
tịnh, nghĩa là sạch tâm Thanh văn, Bích chi Phật, thanh tịnh
nghĩa là lìa bỏ, rốt ráo không, không có gì.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Nếu hết thảy
pháp từ trước lại đây vốn "không", vốn thanh tịnh tại sao
nói Bồ tát học như vậy được tâm thanh tịnh đối với hết thảy
các pháp?
Phật chấp thuận lời Tu bồ đề và nói nhơn
duyên rằng: Nếu Bồ tát biết hết thảy pháp từ trước lại đây
vốn "không" thanh tịnh, đối với trong đó tâm không biến mất
không từ khước. Không biến mất tức là không nghi ngờ, không
sinh tà kiến, thông suốt, không chống trái với "không" ấy
gọi là Bát nhã ba la mật. Hàng phàm phu không nhiếp, không
thấy pháp thanh tịnh như vậy, vì hạng người ấy nên Bồ tát tu
sáu Ba la mật và các pháp trợ đạo. Pháp của Bồ tát là phải
giáo hóa chúng sinh, ấy gọi là Bồ tát được thanh tịnh đối
với hết thảy pháp, nghĩa là bỏ cái điên đảo của ba cõi, vượt
quá địa vi Thanh văn, Bích chi Phật, được lực trí tuệ thanh
tịnh đối với hết thảy pháp. Ðược công đức ấy nên có thể biết
khắp về nghiệp nhơn duyên và tâm tâm số pháp, biết tâm hành
khởi lên của chúng sinh trong ba đời mười phương; biết rồi
theo sự thích hợp với họ nói pháp khai hóa họ. Những việc
lợi ích như vậy đều do học Bát nhã nên có được, thế nên nói
cùng tận bờ mé các sự học. Ít có người học được như vậy,
người học như vậy khó có được. Phật muốn làm cho nghĩa ấy rõ
ràng nên nói thí dụ vàng, bạc, và tạo nghiệp làm Chuyển luân
Thánh vương.
* Lại nữa, Bồ tát khi học Bát nhã, không
sinh tâm xan tham. Không sinh tâm xan tham là Bồ tát học Bát
nhã nên ức chế các phiền não, phiền não tuy chưa sạch hết,
nhưng không thể làm chi được, nên nói là chẳng sinh. Bồ tát
học Bát nhã biết tướng hết thảy pháp đều hư dối không thật,
nên không chấp thủ tướng sắc cho đến tướng Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, vì sao? Vì không muốn bị rơi vào tà kiến
chấp cố, chấp không, nên đi thẳng trung đạo tập hành Bồ tát.
Trong đây Phật tự nói nhơn duyên: Bồ tát tu Bát nhã đối với
hết thảy pháp không có sở đắc, vì không có sở đắc nên không
có tướng pháp khả thủ là lành, hoặc chẳng lành. Bồ tát nếu
học như vậy là tổng nhiếp hết các Ba la mật, Thí ba la mật
v.v... không lìa Bát nhã ba la mật kia đều được tăng trưởng,
lìa các tà kiến tham đắm. Phật muốn làm cho nghĩa ấy rõ ràng
nên nói thí du: Như ngã kiến và mạng căn đã hết.
Hỏi: Ngã kiến và các kiến đều có tướng
riêng, cớ sao các kiến lại nhiếp vào trong ngã kiến?
Ðáp: Tuy có tướng riêng mà ngã kiến là
gốc; người ta vì vô minh nên trong năm uẩn trống rỗng sinh
ra ngã kiến. Vì sinh ngã kiến nên nói thân này sau khi chết
như đi từ đây đến kia, hoặc không như đi từ đây đến kia. Nếu
như đi từ đây đến kia tức là thường kiến, nếu
không như đi từ đây đến kia tức là đọan kiến.
Nếu cho là đoạn diệt lo thụ hưởng cái vui say sắm năm dục
đời nay, lấy ác pháp cho là tối ưu, thời sinh kiến
thủ. Nếu bảo thường mà xuất gia học đạo, giữ giới,
khổ hạnh, thời sinh giới cấm thủ. Hoặc thấy
thường, đoạn đều có lỗi bèn nói không có nhơn duyên quả báo
thời sinh tà kiến. Từ trong năm kiến ấy chấp
thế gian hoặc thường, hoặc vô thưòng, hoặc hữu biên, hoặc vô
biên v.v... sinh ra 57 chấp kiến. Thế nên nói thân kiến (ngã
kiến) thu nhiếp 62 kiến, không có lỗi. Do các nhơn duyên và
thí dụ như vậy nên biết Bát nhã ba la mật là tối đệ nhất
trong các pháp; vì Bát nhã ba la mật tối đệ nhất trong các
pháp nên Bồ tát học Bát nhã là người đệ nhất giữa chúng
sinh. Phật muốn lấy việc ấy, thiện hóa chúng sinh nên nói
thí dụ: Tu bồ đề! Ý ông nghĩ sao? Chúng sinh trong ba ngàn
đại thiên thế giới nhiều chăng? Như vậy! Cho đến Bồ tát học
Bát nhã như vậy, nên biết đó là bậc chẳng thoái chuyển, xa
lìa Nhị thừa, gần gũi Phật thừa.
* Lại nữa, Phật bảo Tu bồ đề: Nếu Bồ tát
nghĩ rằng: Bát nhã ba la mật là khai thị tướng Bát nhã ba la
mật hoặc có, hoặc không v.v...; nếu thấy có Bát nhã, được
Bát nhã là chấp trước Bát nhã. Ta nhờ Bát nhã ba la mật được
trí Nhất thiết chủng, biết năm uẩn hòa hợp giả gọi là Bồ
tát, Bồ tát theo tên gọi giả, chấp cho là ngã, cho đó là Bát
nhã có làm; Bát nhã là không có tướng được, không có tướng
chấp trước mà người ấy bảo có tướng Bát nhã đệ nhất nghĩa ,
người ấy theo tên gọi giả, mà sinh ngã tâm. Bát nhã tướng
không có làm mà người ấy muốn dùng Bát nhã tạo tác, cho rằng
ta dùng Bát nhã mà được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thế
nên Phật dạy: Người nghĩ như vậy không gọi là tu Bát nhã;
nếu không nghĩ như vậy thời gọi là tu Bát nhã.
Hỏi: Nghĩ như ậy, không nghĩ như vậy,
việc đã rồi, cớ sao còn nói lần thứ ba?
Ðáp: Ðầu hết là chỉ tướng tà hạnh; thứ
hai là ngăn tà hạnh nhưng chưa nói tướng chánh hạnh; thế nên
thứ ba nói tướng chánh hạnh.
* Lại nữa, đầu là tâm chấp trước thủ
tướng; thứ hai là phá tướng chấp trước ấy mà không nói thế
nào là tướng các pháp; thứ ba phá chấp trước tà và nói thật
tướng. Bồ tát nghĩ rằng: Nơi hết thảy chỗ không hiển bày
tướng Bát nhã ba la mật; cũng không sinh ngã tâm rằng, ta
dùng Bát nhã ba la mật có công việc làm; chỉ biết hết thảy
pháp thường trú trong như, pháp tánh, thực tế không tranh
cãi. Thế nên nói lần thứ ba, không có lỗi.
(Hết cuốn 77
theo bản Hán)
- --o0o --