KINH: Lại nữa, Tu bồ đề, nay sẽ nói tiếp hành, loại,
tướng mạo của Bồ tát chẳng thoái chuyển, hãy nhất tâm lắng
nghe.
Phật
bảo Tu bồ đề: Bồ tát tu Bát nhã ba la mật thường không xa
lìa tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên không nói đến
năm uẩn, không nói đến mười hai nhập, không nói đến mười tám
giới, vì cớ sao? Vì thường quán niệm năm uẩn tướng không,
mười hai nhập, mười tám giới không, Bồ tát ấy không ưa nói
việc quan, vì sao? Vì Bồ tát ấy an trú trong các pháp tướng
không, không thấy pháp hoặc sanh hoặc hèn. Không ưa nói việc
giặc giả, vì sao? Vì các pháp tự tướng không nên không thấy
hoặc được, hoặc mất. Không ưa nói việc quân bình, vì sao? Vì
các pháp tự tướng không, nên không thấy hoặc nhiều, hoặc ít.
Không ưa nói việc đấu tranh, vì sao? Vì Bồ tát ấy an trú
trong các pháp "như" nên không thấy pháp hoặc ghét hoặc yêu.
Không ưa nói việc phụ nữ, vì sao? Vì an trú trong các pháp
không, không thấy hoặc đẹp hoặc xấu. không ưa nói việc xóm
làng, vì sao? Vì các pháp tự tướng không, nên không thấy
pháp hoặc khởi, hoặc tán. Không ưa nói việc thành ấp, vì
sao? Vì an trú trong các pháp thực tế, không thấy có hơn có
thua. Không ưa nói việc nước, vì sao? Vì an trú trong thực
tế, không thấy pháp có sở thuộc, không sở thuộc. Không ưa
nói việc ta, vì sao? Vì an trú trong pháp tánh, không thấy
pháp là ta, là không ta, cho đến không thấy kẻ biết kẻ thấy.
Như vậy, không nói đến các việc thế gian, chỉ ưa nói Bát nhã
ba la mật, không xa lìa tâm Nhất thiết trí. Nếu khi tu Thí
ba la mật chẳng làm việc xan tham; khi tu Giới ba la mật
chảng làm việc phá giới; khi tu Nhẫn ba la mật chẳng làm
việc sân hận đấu tranh; khi tu Tấn ba la mật chẳng làm việc
giải đãi; khi tu Thiền ba la mật chẳng làm việc tán loạn;
khi tu Bát nhã ba la mật chẳng làm việc ngu si. Bồ tát tuy
tu hết thảy pháp không mà vui pháp, yêu pháp. Bồ tát tuy tu
pháp tánh, thường tán thán pháp bất hoại mà vui thích thiện
tri thức là chư Phật và Bồ tát, Thanh văn, Bích chi Phật,
những vị hay giáo hóa khiến vui thích an trú Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác. Bồ tát ấy thường nguyện muốn thấy chư Phật,
nghe quốc độ nào có Phật hiện tại thì theo nguyện sanh đến
đó; tâm như vậy thường hành ngày đêm đó là tâm niệm Phật.
Như vậy, Tu bồ đề, Bồ tát chẳng thoái chuyển tu Sơ thiền cho
đến phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, nhờ sức phương tiện, nên
muốn khởi tâm cõi Dục, nếu gặp chúng sanh hay tu mười thiện
đạo, và chỗ hiện tại có Phật thời sanh đến trong đó. Có
hành, loại, tướng mạo như vậy, nên biết ấy là Bồ tát chẳng
thoái chuyển.
*
Lại nữa, Tu bồ đề, Bồ tát chẳng thoái chuyển, khi tu Bát nhã
ba la mật an trú nội không, ngoại không cho đến vô pháp hữu
pháp không; an trú bốn niệm xứ cho đến ba môn giải thoát là
không, vô tướng, vô tác; ở trong tự địa mỗi mỗi biết rõ,
không nghi ta là chẳng thoái chuyển hay chẳng phải chẳng
thoái chuyển, vì cớ sao? Cho đến không thấy mảy may pháp
hoặc chuyển hoặc không chuyển đối với Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác. Thí như người được quả Tu đà hoàn, an trú trong
Tu đà hoàn địa mỗi mỗi tự biết rõ, trọn không nghi, không
hối; Bồ tát chẳng thoái chuyển cũng như vậy, an trú trong
địa vị chẳng thoái chuyển trọn không nghi. An trú trong địa
vị ấy làm nghiêm tịnh cõi Phật, thành tựu tuệ giác cho chúng
sanh, các ma sự khởi lên tức thời biết rõ không theo ma sự,
mà phá hoại ma sự. Thí như người tạo tội ngũ nghịch, cái tâm
tạo tội ngũ nghịch cho đến khi chết thường theo dõi không
rời, tuy có tâm khác cũng không thể làm ngăn cách. Bồ tát
chẳng thoái chuyển cũng như vậy, tự an trú ở địa vị mình,
tâm thường bất động hết thảy thế gian người, trời, a tu la
không thể động chuyển, vì cớ sao? Vì Bồ tát ấy đã vượt khỏi
hết thảy thế gian, người, trời, a tu la mà vào trong ngôi vị
chánh pháp, an trú trong địa vị tự chứng; đầy đủ các thần
thông của Bồ tát hay nghiêm tịnh cõi Phật, thành tựu tuệ
giác cho chúng sanh, từ một cõi Phật đến một cõi Phật, ở chỗ
mười phương Phật gieo trồng căn lành, thân cận hỏi han chư
Phật. Bồ tát an trụ như vậy, các ma sự khởi lên niền biết mà
không theo; lấy lực phương tiện đặt ma sự vào trong thực tế,
trong địa vị tự chứng, không nghi, không hối, vì cớ sao? Vì
trong thực tế không có tướng nghi, nên biết thực tế ấy chẳng
phải một chẳng phải hai. Vì nhân duyên ấy nên Bồ tát cho đến
khi chuyển thân, trọn không hướng đến Thanh văn, Bích chi
Phật địa. Bồ tát ấy đối với các pháp tự tướng không, không
thấy pháp hoặc sanh, hoặc diệt, hoặc nhơ, hoặc sạch. Tu bồ
đề, Bồ tát ấy cho đến khi chuyển thân cũng không nghi ta sẽ
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác hoặc chẳng được, vì cớ
sao? Vì các pháp tự tướng không tức là Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác. Tu bồ đề, Bồ tát ấy an trú trong địa vị tự
chứng, không nghe theo lời người khác, không ai phá hoại
được, vì cớ sao? Vì Bồ tát chẳng thoái chuyển ấy thành tựu
trí tuệ bất động. Tu bồ đề. do hành, loại, tướng mạo ấy nên
biết ấy là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
*
Lại nữa, Tu bồ đề, Bồ tát ấy nếu có ác Ma hiện làm thân Phật
đi đến nói với Bồ tát rằng: "Nay ở đây người có thể thủ
chứng A la hán đạo, chứ ngươi không có được thọ ký Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, cũng chưa được vô sanh pháp nhẫn,
ngươi cũng có các hành, loại, tướng mạo chẳng thoái chuyển,
cũng không có tướng được thọ ký Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác". Tu bồ đề, nếu Bồ tát nghe lời nói ấy tâm không đổi
khác, không biến mất, không khinh, không sợ; Bồ tát ấy nên
tự biết ta chắc chắn theo chư Phật được thọ ký Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, vì cớ sao? Vì các Bồ tát do các pháp
ấy mà được thọ ký, ta cũng có pháp ấy được thọ ký. Này Tu bồ
đề, hoặc ma, hoặc kẻ bị ma sai khiến hiện làm thân Phật đi
đến, thọ ký Thanh văn, Bích chi Phật cho Bồ tát, Bồ tát ấy
nghĩ rằng: Ðó là ác ma hoặc kẻ bị ma sai khiến hiện làm thân
Phật đi đến chứ chư Phật thời không lẽ nào dạy Bồ tát xa lìa
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, dạy an trú vào Thanh văn,
Bích chi Phật đạo. Này Tu bồ đề, do các hành, loại, tướng
mạo ấy, nên biết ấy là tướng chẳng thoái chuyển.
*
Lại nữa, Tu bồ đề, Ác ma lại hiện làm thân Phật đi đến chỗ
Bồ tát nói rằng: "Kinh điển của ngươi học, chẳng phải do
Phật nói, cũng chẳng phải do Thanh văn nói mà là ma nói".
Này Tu bồ đề, Bồ tát nên biết rằng: Ðó là ác ma, hoặc ma sai
khiến, dạy ta xa lìa Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này Tu
bồ đề, nên biết Bồ tát ấy đã được Phật quá khứ thọ ký an trú
địa vị chẳng thoái chuyển, vì cớ sao? Vì các Bồ tát kia đã
có các hành, loại, tướng mạo chẳng thoái chuyển. Bồ tát này
cũng có hành, loại, tướng mạo ấy, đó gọi là Bồ tát chẳng
thoái chuyển.
*
Lại nữa, Tu bồ đề, Bồ tát chẳng thoái chuyển khi tu Bát nhã
ba la mật. Vì hộ trì các pháp, nên không tiếc thân mạng
huống gì vật khác. Bồ tát hộ trì pháp nghĩ rằng: Ta không vì
hộ trì pháp của một đức Phật, ta vì hộ trì pháp của mười
phương ba đời các đức Phật. này Tu bồ đề, thế nào là Bồ tát
hộ trì Phật pháp, nên không tiếc thân mạng? Tu bồ đề, như
Phật nói hết thảy các pháp chơn không, khi ấy có người ngu
si phá hoại không tín thọ, nói rằng: Ðó là chẳng phải pháp,
chẳng phải lành, chẳng phải Thế Tôn dạy. Tu bồ đề, Bồ tát vì
hộ trì pháp như vậy nên không tiếc thân mạng. Bồ tát cũng
nên nghĩ rằng: Chư Phật đời vị lai, ta cũng ở trong số ấy
được thọ ký, pháp ấy cũng là pháp của ta, thế nên không tiếc
thân mạng. Tu bồ đề, Bồ tát thấy được sự lợi ích ấy, nên hộ
trì pháp không tiếc thân mạng. Tu bồ đề, do hành, loại,
tướng mạo ấy nên biết đó là tướng chẳng thoái chuyển.
*
Lại nữa, Tu bồ đề, Bồ tát chẳng thoái chuyển nghe Phật
thuyết pháp, chẳng nghi, chẳng hối, nghe xong thọ trì trọn
không quên mất, vì cớ sao? Vì được Ðà la ni.
Tu
bồ đề thưa: Bạch đức Thế Tôn, được Ðà la ni gì mà nghe Phật
thuyết kinh pháp không bị quên mất?
Phật
bảo Tu bồ đề: Bồ tát ấy được Ðà la ni văn trì nên nghe Phật
nói kinh pháp, không quên, không mất, không nghi, không hối.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, chỉ có nghe Phật
thuyết pháp, không quên, không mất, không nghi, không hối
hay là nghe Thanh văn, Bích chi Phật nói, nghe Thiên long,
Qủy thần, A tu la, Khẩn na la, Ma hầu la gìà nói, cũng không
quên, không mất, không nghi, không hối?
Phật
bảo Tu bồ đề: Có các việc nói năng gì vị Bồ tát được Ðà la
ni nghe xong đều không quên, không mất, không nghi, không
hối. Tu bồ đề, thành tựu các hành, loại, tướng mạo như vậy,
nên biết ấy là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
LUẬN: Phật lại muốn nói kỷ càng về tướng chẳng thoái chuyển,
nên bảo Tu bồ đề nhất tâm lắng nghe. Bồ tát thường không xa
lìa Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ưa tu rốt ráo không,
nên không ưa phân biệt tướng quyết định của năm uẩn, mười
hai nhập, mười tám giới, lại không ưa nói việc quốc vương
v.v... như các ngoại đạo, hưởng thọ người khác cúng dường,
vì không có chánh đạo, hư dối, nhiễm đắm, tâm muốn giải sầu,
nên luận bàn quốc sự, phân biệt cái vui thế lực của các quốc
vương thời quá khứ; còn vị Bồ tát chẳng thoái chuyển không
bàn luận các việc ấy, vì thấy hết thảy thế gian thường bị
lửa vô thường thiêu đốt, chúng sanh đáng thương, ta chưa
thành Phật đạo, ta chỉ nên nói pháp độ chúng sanh, không nên
nói việc khác. Vì hết thảy pháp rốt ráo không, nên tướng lớn
nhỏ không thể thủ đắc, việc giặc, việc binh cũng như vậy.
Rốt ráo không tức là như như, pháp tánh, thật tế. Tu sáu Ba
la mật, không nói đến sáu tệ. Bồ tát tuy an trú trong hết
thảy pháp không mà vẫn vui pháp, yêu pháp, vì cớ sao? Vì Bồ
tát không đắm trước hết thảy pháp không ấy. Lại tu pháp thứ
lớp từ, thiền định, trí tuệ v.v... vậy sau mới chứng được
hết thảy pháp không; pháp không ấy không thể miệng nói mà
tâm đắm trước được, thế nên trước tu pháp tu thứ lớp.
*
Lại nữa, trong pháp tánh không phân biệt các pháp, vì pháp
tánh chẳng phải tướng phá hoại; Bồ tát không đắm trước pháp
tánh, thương xót chúng sanh vì họ mà phân biệt pháp thiện,
bất thiện, khiến họ được hiểu. Tuy vì chúng sanh nói như vậy
cũng thường tán thán pháp không phá hoại, dẫn dắt chúng sanh
vào trong pháp tánh.
*
Lại nữa, Bồ tát chẳng thoái chuyển lại không có người thân
thiện, chỉ lấy chư Phật và đại Bồ tát cùng những người hay
tán thán các pháp thực tướng làm thân thiện. Công đức và trí
tuệ của Bồ tát ấy rất lớn, nên tùy ý đi đến, nếu muốn đến
các cõi Phật thời tùy ý sanh đến. Bồ tát ấy tuy lìa dục được
thiền định, do sức phương tiện nên vì chúng sanh mà sanh đến
cõi Dục nơi có Phật hiện tại. Sanh vào cõi Dục là vì chúng
sanh mà lưu lại một phần ái và mạn, chứ không vì quả báo
thiền định mà sanh cõi Sắc và cõi Vô sắc; chỉ lấy thiền định
làm nhu hòa tâm mình mà không thọ quả báo thiền định.
*
Lại nữa, Bồ tát ấy, an trú trong nội không v.v... an trú
nghĩa là thâm nhập thông suốt, tâm không vướng mắc, nên
không sanh nghi: Ta la chẳng thoái chuyển hay chẳng phải
chẳng thoái chuyển, tự tâm thâm nhập trí tuệ ấy gọi là tự
địa chứng. Lại Bồ tát ấy không thấy hết thảy pháp
hoặc chuyển hoặc không chuyển thế nên không sanh nghi. Nghi
là thủ tướng có sở đắc, như người đi đêm thấy cây trụi nghĩ
rằng hình người ta cũng vậy, liền sanh tâm nghi, hoặc chấp
hai thủ tướng ấy nên gọi là nghi. Bồ tát tu vô tướng tam
muội nên đối với hết thảy pháp không thủ tướng, thời không
có chỗ để sanh nghi. Trong đây Phật nói thí dụ: Như Tu đà
hoàn từ vô thỉ lại chưa được trí tuệ vô lậu, do dứt ba kiết,
nên liền tự mình biết được pháp vô lậu đối với tứ đế, tâm
quyết định không nghi hoặc khổ hoặc vui; bậc chẳng thoái
chuyển cũng như vậy, từ vô thỉ lại chưa được thật tướng các
pháp là địa vị chẳng thoái chuyển, đến khi được cũng không
sanh nghi. Các người sanh nghi là thấy việc trái ngược,
không giống như điều đã được nghe; Bồ tát đối với hết thảy
pháp rốt ráo không, chẳng thấy việc không giống như pháp đã
được nghe, nghi không có chỗ trú nên không nghi. Tự biết đó
là đạo rốt ráo không thể bàn luận, không thể phá hoại. An
trú trong địa vị ấy mà giáo hóa chúng sanh, nghiêm tịnh cõi
Phật, cũng có thể dùng sức phương tiện phá các ma sự. Pháp
chẳng thoái chuyển ấy thường dõi theo Bồ tát cho đến khi
thành Phật. Trong đây, Phật nói hai thí dụ: 1. Là Tu đà
hoàn; 2. Năm tội nghịch. Hai tâm ấy sâu nặng nên không thể
trừ bỏ: Tâm tu đà hoàn thường không thể từ bỏ; tâm tạo năm
tội nghịch khi tội hết mới trừ. Như người vận suy, qủy
thường theo dõi, tâm chẳng thoái chuyển theo dõi Bồ tát còn
quá hơn thế. Tâm chẳng thoái chuyển, không ai có thể làm
chuyển động được; các việc khổ bức bách không thể chuyển
động; các sự cúng dường lợi dưỡng cũng không thể làm cho bỏ
tâm ngộ thật tướng và tâm từ bi.
Từ
trước lại đây nói về tướng mạo của tâm chẳng thoái chuyển,
nay nói việc nó làm là giáo hóa chúng sanh, là nghiêm tịnh
cõi Phật, từ chỗ các đức Phật gieo trồng căn lành, từ một
đức Phật hỏi han pháp thâm yếu của chư Phật và các pháp môn
độ sanh, mười phương các ma sự dấy lên mà không theo, do sức
phương tiện xem xét ma sự ấy; đúng như Phật pháp xem xét các
thân Ma như Phật không khác, vì cớ sao? Vì hết thảy pháp và
thật tế đồng một tướng, nghĩa là vô tướng. Bồ tát khi chuyển
thân cũng không hướng đến Thanh văn, Bích chi Phật địa, vì
sao? Vì Bồ tát khi được địa vị chẳng thoái chuyển biết hết
thảy pháp thật tướng không, khi chuyển thân , tâm cũng không
hướng vào Nhị địa, tâm không nghi hoặc được vô thượng đạo,
hoặc không được. Bồ tát ấy đời đời không có ai hàng phục,
phá hoại được.
Phật
vì thí nghiệm Bồ tát ấy, nên nêu thí dụ: Nếu ma hiện làm
thân Phật đi đến muốn dối trá thử Bồ tát ấy mà nói rằng:
"Ngươi có thể thủ chứng A la hán trong đời nay, chứ ngươi
không có tướng chẳng thoái chuyển có thể được Phật đạo; vô
sanh pháp nhẫn tức là hết thảy pháp, trong đó làm sao có thể
nhẫn được". Nếu Bồ tát nghe lời ấy tâm không thối mất, Bồ
tát ấy tự biết chắc chắn được thọ ký từ chư Phật, vì sao? Vì
ta có vô sanh pháp nhẫn nghe, ma sự mà không sợ hãi.
*
Lại nữa, ác ma biết Bồ tát ấy hoan hỷ liền cho thọ ký Thanh
văn, Bích chi Phật đạo, hoặc đời nay được quả A la hán, đời
sau được Bích chi Phật đạo; nếu Bồ tát không nghe theo lời
ma biến hóa thân Phật ấy, biết đó là ma hoặc ma sai khiến,
vì cớ sao? Vì thân Phật mà lời nói ma, như thử tiền vàng gõ
ra tiếng thời biết đó là thật hay giả. Nếu Phật thọ ký cho
Bồ tát quả vị Thanh văn, Bích chi Phật thời trọn không có lẽ
đó, vì cớ sao? Vì Phật dùng các phương tiện đều muốn khiến
cho mọi người vào Phật đạo chứ làm sao lại dắt Bồ tát đi đến
Thanh văn.
*
Lại nữa, ma lại hóa làm thân Phật nói với Bồ tát rằng: "Kinh
sách của ngươi hành trì đều là ma nói". Bồ tát ấy biết đó là
ma sự, nên biết Bồ tát ấy đã được Phật thọ ký an trú trong
tánh chẳng thoái chuyển.
*
Lại nữa, Bồ tát chẳng thoái chuyển rất ưa vui pháp, nên nghe
pháp thời tâm liền mê say, toàn thân lông dựng ngược. Nghĩ
đến tâm đại bi của Phật thời buồn vui rơi nước mắt, hoặc đối
với pháp thậm thâm sanh tâm vui mừng, nên biết ấy là tướng
của tâm chẳng thoái chuyển. Thí như quân binh lớn bị thối
bại, thời sợ hãi sầu muộn, ngã xuống đất giống như chết, bà
con trông thấy, muốn biết rõ sống chết, lấy gậy đánh vào,
nếu thấy có lằn nỗi lên thời biết chắc còn sống. Bồ tát cũng
như vậy, đều mang thân xác thịt, cớ sao biết chắc chắn có
thể thành Phật? Nếu nghe Phật pháp mà trong thân có tướng
hiện ra, lông trên thân dựng đứng, nhan sắc khác thường, còn
người khác nghe pháp không nhập tâm, thời không có tướng dị
thường, giống như ngươi chết đánh không nỗi lằn. Bồ tát rất
ưa pháp nên có thể xả thân vì pháp, hoặc Phật, hoặc đệ tử
Phật ở giữa đại hội nói các pháp rốt ráo không, có một người
cuồng chấp lấy tướng âm thanh, danh tự, đắm trước rốt ráo
không, đưa ra những điều sai quấy rằng: nếu các pháp rốt ráo
không, thời không có Phật, không có pháp, không có nghiệp
tội phước, cũng không có tu hành tinh tấn đắc đạo chứng quả,
như vậy đưa ra vô lượng sai quấy. Vi Bồ tát chẳng thoái
chuyển quán sát, so lường biết người nào thuyết pháp có tâm
không nhiễm trước, theo lời Phật thương xót chúng sanh nên
nói; và biết người nào cuồng si đắm trước tướng ngôn ngữ,
phá hoại rốt ráo không nên nói.
Bấy
giờ Bồ tát chẳng thoái chuyển thà chết, hỗ trợ nói rằng: Ðó
là người cuồng, là người tà kiến, tự chìm vào tà kiến cũng
dạy nhiều người rơi vào tà kiến hoại diệt Phật pháp. Ôm lòng
sân hận quá sâu nên hoặc tự giết, hoặc bảo đệ tử giết. Bấy
giờ Bồ tát nếu chết đã đến bên mình, mà vì bảo trợ pháp, nên
không vì sợ hãi mà hủy hoại pháp tánh. Trong đây Phật nói
nhân duyên: Bồ tát nghĩ rằng: Phật đời vị lai, ta cũng ở
trong số ấy, pháp ấy cũng là pháp của ta, vì là pháp của ta
nên không tiếc thân mạng để thủ hộ. Lại suy nghĩ rằng: Ta
trong vô lượng đời vì phiền não tà kiến nên mất mạng nhiều
vô số. Nay vì phát khởi tâm hổ trợ pháp của chư Phật trong
ba đời mười phương, hoặc có ích mà chết còn hơn vô ích mà
sống. Tâm vì pháp như vậy nên không tiếc thân mạng.
*
Lại nữa, Bồ tát chưa thành Phật đạo, theo Phật nghe pháp
thậm thâm, lãnh thọ được hết, không mất tín lực nên có thể
thọ trì, có lực văn trì Ðà la ni nên không quên mất, có lực
đoạn nghi Ðà la ni nên không nghi.
Tu
bồ đề hỏi: Chỉ nghe lời Phật, tin tưởng ghi nhớ không nghi,
nghe lời người khác cũng như vậy chăng?
Phật
dạy: Hết thảy lời ai nói đều có thể ghi nhớ, hoặc hàng Nhị
thừa, trời, rồng v.v... nói có đạo lý thời có thể tin tưởng,
ghi nhớ, không nghi; không có đạo lý thời ghi nhớ, không
nghi mà không tin.
*
Lại nữa, có người nói:Tín là tà pháp, không nghi điều bất
thiện là thiện. Có người nói hàng chư thiên, rồng, nhị thừa
nói, đều là Phật pháp, do tướng chẳng thoái chuyển ấy nên
nghe thời ghi nhớ, không nghi, không hối. Bồ tát ấy tuy chưa
làm Phật, nhưng đối với thật tướng các pháp hoàn toàn không
có nghi. Do hành, loại, tướng mạo như vậy, ấy gọi là Bồ tát
chẳng thoái chuyển.
Hỏi:
Ðược việc gì từ đó trở đi gọi là chẳng thoái chuyển?
Ðáp:
trong luận A tỳ đàm Tỳ ba sa nói: Quá ba a tăng kỳ kiếp về
sau, gieo trồng nhân duyên về ba mươi hai tướng, từ đó trở
đi gọi là chẳng thoái chuyển. Trong luận Tỳ ni a ba đà na
nói: Từ khi gặp Phật Nhiên Ðăng, lấy năm cành hoa cúng Phật,
lấy tóc trải trên đất để Phật đi qua, Phật thọ ký cho chẳng
thoái chuyển, bay lên giữ hư không, dùng kệ tán Phật, từ đó
trở đi gọi là chẳng thoái chuyển. Trong Bát nhã ba la mật
này nếu Bồ tát đầy đủ tu sáu Ba la mật đượclực trí tuệ
phương tiện không đắm trước Ba la mật rốt ráo không, quán
sát hết thảy pháp, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng thêm, chẳng
bớt, chẳng nhơ, chẳng sạch,chẳng đến, chẳng đi, chẳng một,
chẳng khác, chẳng thường, chẳng đoạn, chẳng phải có, chẳng
phải không, vô lượng hai pháp đối đãi nhau như vậy, do trí
tuệ quán sát phá hết thảy tướng vô thường, sanh diệt v.v...
Trước tiên nhơn nơi vô thường v.v... phá điên đảo chấp
thường v.v... nay cũng bỏ luôn cách quán chẳng sanh, chẳng
diệt, chẳng thường, chẳng đoạn v.v...; đối với chẳng sanh
chẳng diệt cũng không đắm trước, cũng không rơi vào cái
không, không có gì của chính nó; cũng biết đó là tướng chẳng
sanh chẳng diệt, chẳng được không đắm trước, nên cũng tin
dùng pháp chẳng sanh, chẳng diệt ấy, đối với trí tuệ chơn
thật của chư Phật có tín lực nên thông suốt vô ngại, ấy gọi
là Bồ tát được vô sanh pháp nhẫn, vào Bồ tát vị, gọi là
chẳng thoái chuyển. Bồ tát ấy tuy từ khi mới phát tâm lại
đây, gọi là chẳng thoái chuyển, nhưng tướng chẳng thoái
chuyển chưa đầy đủ nên không được Phật thọ ký cho, vì sao?
Vì ngoại đạo, Thánh nhơn, chư Thiên, tiểu Bồ tát nghĩ rằng:
Phật thấy người ấy có được những việc gì mà thọ ký cho?
Người ấy chưa đủ nhân duyên an trú trong Phật đạo vì sao thọ
ký cho; thế nên Phật chưa thọ ký cho. Bồ tát có hai hạng: 1.
Là mang thân xác thịt còn sanh tử. 2. Là thân pháp tánh
sanh. Ðược vô sanh pháp nhẫn, dứt các phiền não, sau khi bỏ
thân xác thịt được thân pháp tánh sanh. Bồ tát thân xác thịt
chẳng thoái chuyển cũng có hai hạng: Có hạng ở trước Phật
được thọ ký; có hạng không ở trước Phật được thọ ký. Nếu gặp
lúc Phật không ở đời, được vô sanh pháp nhẫn, hạng ấy không
ở trước Phật được thọ ký.
Hỏi:
Nếu như vậy có người đọc tụng, giảng nói, nhớ nghĩ đúng, tùy
thuận nghĩa lý vô sanh pháp nhẫn, người ấy chưa được thiền
định, hoặc sanh tâm nghi, hoặc bị tâm chấp trước lôi kéo,
hạng người như thế là Bồ tát gì? Là Bồ tát chẳng thoái
chuyển chăng?
Ðáp:
Người ấy không gọi là Bồ tát chẳng thoái chuyển. Bồ tát
chẳng thoái chuyển đối với Phật pháp thậm thâm còn không
nghi huống gì đối với pháp môn ban đầu là vô sanh nhẫn.
Người chưa được chẳng thoái chuyển có hai hạng: 1. là có
lòng tin ít mà nghi ngờ nhiều. 2. là nghi ngờ ít mà lòng tin
nhiều. Tin ít nghi nhiều là hơn chút ít đối với người đọc
tụng Kinh; tin nhiều nghi ít là nếu được thiền định tức thời
được "nhu thuận nhẫn", vì chưa dứt tâm ái trước pháp nên
hoặc sanh tâm ái trước, hoặc bị lui mất. Người ấy nếu thường
tu tập nhu thuận nhẫn ấy, nhu thuận nhẫn tăng trưởng nên dứt
tâm ái trước pháp, được vô sanh nhẫn, vào Bồ tát vị. Lược
nói nghĩa tướng chẳng thoái chuyển đã xong.
GIẢI THÍCH: PHẨM
THÂM ÁO THỨ 57.
(Kinh Ma Ha Bát
Nhã ghi: Phẩm Ðăng Chú Thâm Áo)
(Kinh Ðại Bát
Nhã phần 2 ghi: Phẩm Thậm Thâm Nghĩa Thứ 55)
KINH: Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch
đức Thế Tôn, Bồ tát chẳng thoái chuyển ấy thành tựu công đức
lớn, thành tựu vô lượng công đức, vô biên công đức. Phật bảo
Tu bồ đề: Như vậy, như vậy! Bồ tát chẳng thoái chuyển thành
tựu công đức lớn thành tựu vô lượng vô biên công đức, vì
sao? Vị Bồ tát chẳng thoái chuyển ấy được vô lượng, vô biên
trí tuệ không chung cùng với hết thảy Thanh văn, Bích chi
Phật. Vị Bồ tát chẳng thoái chuyển an trú trong trí tuệ ấy
nên sanh bốn trí vô ngại, được bốn trí vô ngại ấy nên hết
thảy thế gian người trời không thể biết cùng tận.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn, Phật hay do nhiều kiếp như cát sông Hằng, tán thán các
hành, loại, tướng mạo của Bồ tát chẳng thoái chuyển. Bạch
đức Thế Tôn, có chỗ thâm áo gì Bồ tát chẳng thoái chuyển an
trú trong ấy mà khi tu sáu Ba la mật lại đầy đủ bốn niệm xứ,
cho đến đầy đủ trí Nhất thiết chủng?
Phật khen Tu bồ đề rằng: Lành thay,
lành thay! Tu bồ đề, ông vì hàng Bồ tát chẳng thoái chuyển
hỏi chỗ thâm áo ấy. Này Tu bồ đề, chỗ thâm áo nghĩa nó là
không, vô tướng, vô tác, không khởi, không sanh, không
nhiễm, xa lìa, tịch diệt, như, pháp tánh, thật tế, Niết bàn.
Những pháp như vậy là nghĩa thâm áo.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn, chỉ có "không" cho đến Niết bàn là thâm áo, sắc cũng là
thâm áo; thọ, tưởng, hành, thức cũng thâm áo; mắt cho đến ý
cũng thâm áo, chẳng phải hết thảy pháp thâm áo ư?
Phật dạy: Hết thảy pháp cũng là thâm
áo, sắc cũng là thâm áo, thọ, tưởng, hành, thức cũng thâm
áo; mắt cho đến ý cũng thâm áo; sắc cho đến pháp, nhãn giới
cho đến ý thức giới, thí Ba la mật cho đến Bát nhã ba la
mật, bốn niệm xứ cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
cũng thâm áo.
Tu bồ đề thưa: Bạch đức Thế Tôn, thế
nào là sắc thâm áo cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
cũng thâm áo? Phật dạy: Vì sắc "như" thâm áo nên sắc thâm
áo; vì thọ, tưởng, hành, thức "như" cho đến Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác "như" thâm áo nên Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác thâm áo.
Bạch đức Thế Tôn, thế nào là sắc "như"
thâm áo cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác "như" thâm
áo.
Này Tu bồ đề, Sắc "như" chẳng phải là
sắc; chẳng phải lìa sắc, cho đến thức "như" chẳng phải là
thức, chẳng phải là lìa thức; cho đến Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác "như" chẳng phải là Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, chẳng phải lìa Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Hy hữu thay,
bạch đức Thế Tôn, do lực phương tiện vi diệu nên làm cho Bồ
tát chẳng thoái chuyển, lìa sắc an trú Niết bàn, lìa thọ,
tưởng, hành, thức an trú Niết bàn, lìa hết thảy pháp, hoặc
thế gian hoặc xuất thế gian, hoặc có phiền não, hoặc không
phiền não, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu mà an trú Niết bàn.
Phật dạy: Như vậy, như vậy! Tu bồ đề,
Phật do lực phương tiện vi diệu, nên làm cho Bồ tát chẳng
thoái chuyển, lìa sắc an trú Niết bàn, cho đến lìa hữu lậu,
vô lậu pháp mà an trú Niết bàn. Này Tu bồ đề, nếu Bồ tát
quán sát, so lường, tư duy pháp thậm thâm tương ứng với Bát
nhã ba la mật như vậy mà nghĩ rằng: Ta nên tu như vậy, như
trong Bát nhã ba la mật dạy, ta nên tập như vậy như trong
Bát nhã ba la mật nói. Tu bồ đề, nếu Bồ tát làm được như
kinh nói, học được như kinh nói, như trong Bát nhã ba la mật
mà quán sát, tinh tấn đầy đủ, khi một niệm sanh ra sẽ được
vô lượng, vô biên, vô số phước đức, Bồ tát ấy vượt qua vô
lượng kiếp được gần Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; huống
gì thường tu Bát nhã ba la mật ứng hợp với tâm niệm Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thí như người nhiều dâm dục,
ước hẹn với người nữ đoan chánh, thanh khiết, người nữ ấy bị
trở ngại không đến đúng kỳ hẹn. Ý Tu bồ đề nghĩ sao? Tâm
niệm người ấy bấy giờ để vào chỗ nào? Bạch đức Thế Tôn, tâm
niệm người ấy để chỗ người nữ kia, thường nghĩ rằng: Tưởng
nhớ tương lai sẽ cùng ngồi nằm hoan lạc với người nữ. Nàu Tu
bồ đề, người ấy trong một ngày một đêm có bao nhiêu niệm
sanh khởi? Tu bồ đề thưa: người ấy trong một ngày một đêm có
rất nhiều niệm sanh khởi. Phật bảo Tu bồ đề: Bồ tát niệm Bát
nhã ba la mật đúng như trong Bát nhã ba la mật nói, tu đạo
ấy trong khoảng môt niệm vượt quá kiếp số, cũng như số tâm
niệm trong một ngày một đêm của người kia. Bồ tát ấy tu Bát
nhã ba la mật xa lìa các tội, là xa lìa các tội đối với Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bồ tát ấy tu Bát nhã ba la
mật, trong một ngày được công đức thiện căn, giả sử các công
đức khác chứa đầy cả ba ngàn đại thiên thế giới nhiều như
cát sông Hằng vẫn cũng không giảm, đối với các công đức tàn
dư trăm phần không kịp một, ngàn phần ngàn ức vạn phần cho
đến toán số, thí dụ cũng không thể kịp.
LUẬn: Tu bồ đề khi nghe nói tướng chẳng
thoái chuyển, và công đức chẳng thoái chuyển tâm rất vui
mừng tán thán công đức chẳng thoái chuyển, nên bạch Phật
rằng: Bạch đức Thế Tôn, bậc chẳng thoái chuyển thành tựu
công đức vô lượng vô biên. Phật chấp nhận lời khen đó, lại
tự nói nhân duyên của công đức lớn ấy chính là Bồ tát chẳng
thoái chuyển, được vô lượng vô biên trí tuệ không đi chung
với Thanh văn, Bích chi Phật; cần phải trước biết rồi sau
làm, làm xong hưởng công đức ấy. Vì thế nói nhân duyên của
công đức là do nơi trí tuệ vô lượng, vô biên. Trí tuệ là Bát
nhã ba la mật, Bồ tát an trú trong Bát nhã ba la mật ấy, hay
sanh ra bốn trí vô ngại: Ðối với thật nghĩa hết thảy pháp,
trí tuệ không chướng ngại, đã biết nghĩa vô ngại rồi, phân
biệt mỗi mỗi danh tự các pháp, vì nó biểu thuyết thật nghĩa
nên gọi là pháp vô ngại; danh tự ấy phải do ngôn ngữ, do
ngôn ngữ nên phát xuất các danh tự ấy gọi là từ vô ngại;
được pháp vô ngại và từ vô ngại nên vui nói thật nghĩa các
pháp, ấy gọi là lạc thuyết vô ngại. Bồ tát an trú trong bốn
trí vô ngại, hết thảy chúng sanh vấn nạn không thể làm cùng
kiệt, như nước biển lớn không thể khô kiệt.
Tu bồ đề nghe Phật dạy đầy đủ tướng chẳng
thoái chuyển ở trong hai phẩm trên. Nay vào phẩm này Phật
mới mở cửa bốn vô ngại, lại muốn nói tướng chẳng thoái
chuyển. Thế nên Tu bồ đề tán thán Phật: Thế Tôn có trí tuệ
vô lượng, vô biên, công đức chẳng thoái chuyển cũng vô
lượng, vô biên, nếu Phật trải qua kiếp số như cát sông Hằng
vui nói cũng không thể cùng tận, tướng mạo chẳng thoái
chuyển cũng không thể cùng tận.
Bạch đức Thế Tôn, những gì là chỗ thâm áo
của bậc chẳng thoái chuyển? Bồ tát chẳng thoái chuyển, an
trú chỗ thâm áo ấy thời có thể đầy đủ sáu Ba la mật, bốn
niệm xứ cho đến trí Nhất thiết chủng?
Phật khen Tu bồ đề: Ông có thể vì Bồ tát
chẳng thoái chuyển hỏi nghĩa thâm áo. Này Tu bồ đề, "Không,
cho đến Niết bàn" ấy gọi là thâm áo.
Hỏi: Có những pháp mỗi mỗi phân biệt tỉ
mỉ, vì người ta không hiểu nên có thâm áo, còn "không",
không có gì của chính nó, lấy gì làm thâm áo?
Ðáp: Chẳng phải miệng nói thẳng danh tự
nên "không", mà cốt phân biệt, giải thích các tướng "hữu",
bên trong không thấy có ngã, bên ngoài không thấy thực pháp
nhất định; được cái "không ấy rồi, xem hết thảy pháp tướng
đều là hư dối, có lỗi lầm, nếu diệt các tướng lại không
nguyện sanh vào ba cõi. Cái "không" này là cái "không" do
đắc đạo, chẳng phải miệng nói không, thế nên nói thâm áo.
* Lại nữa, không lại cũng không, nếu chấp
trước cái không ấy thời có lỗi lầm, chẳng gọi là thâm áo;
nếu cái không phát xuất từ sự phá tà kiến chấp có, ấy là
thâm áo; nếu đối với không cũng không chấp trước không, nên
cũng là thâm áo. Lại nữa, quán năm uẩn sanh diệt, phá điên
đảo chấp thường; quán rốt ráo không, phá chấp tướng sanh
diệt, vì sao? Vì trong "không' không có vô thường, không có
sanh diệt. Không có sanh diệt có hai thứ: 1. Là người tà
kiến cho thế gian thường có nên không có sanh diệt; 2. Là vì
phá chấp tướng sanh diệt nên nói không có sanh diệt. Trong
đây phá chấp tướng sanh diệt, cũng không chấp tướng chăng
sanh, chẳng diệt, nên gọi là thâm áo. Các phiền não khó trừ
nên nói sự lìa dục đưọc tịch tịnh là thâm áo, vì sai lầm dễ,
chơn thật khó. Như như, pháp tánh, thực tế là Niết bàn thâm
áo, vì các Phạm thiên và 96 thứ ngoại đạo không thể hiểu kịp
nên gọi là thâm áo. Lại trong Niết bàn , hết thảy người đắc
đạo nhập vào vĩnh viễn không ra, cho nên thâm áo.
Hỏi: Trong đây nói "không" v.v... là thâm
áo, ấy là "không" gì?
Ðáp: Có người nói ba Tam muội không, vô
tướng, vô tác, tâm số pháp gọi là "không", vì "không" nên
quán các pháp "không". Có người nói: "Sắc sở duyên bên ngoài
đều "không" duyên cái ngoại không ấy nên gọi là "không Tam
muội". Trong đây Phật nói: Chẳng vì không Tam muội nên
không, cũng chẳng vì sắc sở duyên bên ngoài nên không, vì
sao? Vì nếu sắc bên ngoài chẳng thực "không", do sức Tam
muội làm cho không nên "không", thòi cái không ấy hư dối
chẳng thật. Nếu duyên cái ngoại không nên sanh tam muội thế
cũng chẳng phải, vì cớ sao? Vì nếu sắc pháp v.v... thật là
tướng "không" thời chẳng sanh không tam muội. Nếu sanh không
tam muội thời chẳng phải là không. Trong đây nói lìa hai bên
ấy mà nói trung đạo, nghĩa là các pháp nhân duyên hoà hợp
sanh, pháp hoà hợp ấy không có tướng nhất định nên "không",
vì sao? Vì pháp nhân duyên sanh không có tự tánh, vì không
tự tánh nên tức là rốt ráo không. Rốt ráo không ấy từ xưa
đến nay vốn "không", chẳng phải Phật làm, cũng chẳng phải
người khác làm; chư Phật vì chúng sanh khả độ nên nói tướng
rốt ráo không. Tướng "không" là thực thể của hết thảy pháp,
không nhơn bên trong, bên ngoài mà có. Tướng không có nhiều
danh tự gọi là vô tướng, vô tác, tịch diệt, ly, Niết bàn
v.v...
Tu bồ đề biết các Bồ tát lợi căn đắm sâu
vào niết bàn, vì Bồ tát ấy nên hỏi Phật: Chỉ có Niết bàn
thậm thâm còn các pháp khác không thậm thâm ư?
Phật đáp: Chơn chánh quán sát sắc mà được
Niết bàn, các pháp sắc v.v... nhơn Niết bàn nên thậm thâm,
thế nên trong Kinh nói: Sắc "như" nên thậm thâm, sắc "như"
tức là chính quán.
Tu bồ đề hỏi: Thế nào là vì sắc "như" nên
sắc thậm thâm?
Trong đây Phật tự nói nhân duyên của thậm
thâm: Là "như" chẳng là sắc, chẳng phải lìa sắc. Thí như lấy
bùn làm bình, bùn chẳng phải tức là bình, chẳng lìa bùn có
bình, cũng không được nói không có bình.
Tu bồ đề biết pháp nhân duyên ấy thậm
thâm như biển cả không có đáy nên tán thán rằng: Hy hữu thay
Thế Tôn! Phật dùng lực phương tiện vi diệu làm cho các Bồ
tát lìa sắc v.v... mà an trú Niết bàn, cũng không chấp đắm
Niết bàn, cũng không ở thế gian, ấy là lực phương tiện vi
diệu.
Phật chấp nhận lời ấy, khen Bồ tát thực
hành thật tướng các pháp được quả báo phước đức, bảo Tu bồ
đề: Quán sát, so lường pháp thậm thâm tương ứng với Bát nhã
như vậy, khi một niệm sanh khởi, liền được vô lượng, vô
biên, vo số phước đức.
Hỏi: Pháp vô lậu của hàng Nhị thừa còn
không có quả báo phước đức, huống gì Ðại thừa do rốt ráo
không mà quán pháp lại được vô lượng phước đức, mà chính
phước đức ấy từ tâm đại bi thương xót chúng sanh phát khởi,
như tội do não hại chúng sanh mà có?
Ðáp: Trong tâm vô lậu của hàng Nhị thừa
phiền não sạch hết, nên không có quả báo, phước đức, còn Bồ
tát phiền não chưa hết, nên phải có phước đức quả báo.
* Lại nữa, Nhị thừa chứng đắc đối với
thực tế nên đốt cháy hết các công đức; Bồ tát chẳng chứng
lại sanh trở lại để độ sanh, nên có phước đức.
* Lại nữa, người ta có sai lầm đối với sự
thật nên phước đức ít. Chánh tu hành thật sự nên phước đức
nhiều, như thí cho súc sanh được phước gấp trăm, thí cho
người ác được phước gấp ngàn, thí cho người lành được phước
gấp mười vạn, thí cho người ly dục được phước gấp mười ức
vạn, thí cho bậc Thánh Tu đà hoàn v.v... được phước vô
lượng. Người phàm phu, tuy lìa dục, thực hành tâm từ bi, vì
không được pháp thực tướng nên không được làm ruộng phước vô
lượng; Tu đà hoàn tuy chưa ly dục, vì phân biệt được pháp
thực tướng nên thành phước điền vô lượng. Ngộ được thực
tướng các pháp có sâu, có cạn, thế nên Bồ tát vì thâm nhập
thật tướng nên chỉ trong một khởi niệm được phước đức vô
lượng vô biên. Trong đây vì mỗi niệm, mỗi niệm phước đức rất
nhiều nên nói thí dụ: Tâm chúng sanh tuy niệm niệm sanh
diệt, nhưng vì tương tục sanh nên không biết diệt theo. Như
người dâm dục tâm đắm sâu điều dục lạc, vì không thỏa tình
nên sanh tâm nhớ nghĩ, thủ tướng, mỗi mỗi phân biệt tìm lý
do vì sao không đến, hoặc vì người con gái đổi lòng mà không
đến hoặc bị người ngăn trở mà không đến. Sanh tâm giác quán
nhiều như vậy, tâm ấy dễ biết, nên dùng làm ví dụ. Như vậy,
là nhân duyên chỉ trong một niệm mà sự việc đã qua một kiếp;
lại như ngưòi uống thuốc yếu, một năm mới lành bệnh, uống
thuốc mạnh một ngày có thể lành. Bồ tát cũng như vậy, tu năm
Ba la mật lâu ngày mới thành Phật. Có người tu Bát nhã ba la
mật mau được thành Phật.
* Lại nữa, công đức của một ngày tu Bát
nhã ba la mật, giả sử có hình chất đầy cả ba ngàn đại thiên
thế giới số như cát sông Hằng, thời đối với thực thể của
chánh công đức trong một ngày còn không giảm thua, đối với
phước đức ấy trăm phần không sánh kịp, cho đến toán số, thí
dụ cũng không thể kịp.
KINH: Lại nữa, Tu bồ đề, nếu Bồ tát xa
lìa Bát nhã ba la mật mà bố thí Tam bảo, Phật bảo, Pháp bảo,
Tỳ kheo tăng bảo trải số kiếp như cát sông Hằng. Ý ông nghĩ
sao? Vì Bồ tát ấy do nhân duyên ấy được phước nhiều chăng?
Tu bồ đề thưa: Bạch đức Thế Tôn, rất hiều, vô lượng, vô
biên, vô số. Phật bảo Tu bồ đề: Chẳng bằng Bồ Bồ tát ở trong
Bát nhã ba la mật thậm thâm, một ngày tu hành đúng như kinh
nói, được phước đức rất nhiều, vì sao? Vì Bát nhã ba la mật
là Bồ tát đạo, nương đạo ấy mau được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác.
Tu bồ đề, nếu Bồ tát xa lìa Bát nhã ba
la mật mà cúng dường Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la
hán, Bích chi Phật trải số kiếp như cát sông Hằng. Ý ông
nghĩ sao, Bồ tát ấy, do nhân duyên ấy được phước nhiều
chăng. Tu bồ đề thưa: Bạch đức Thế Tôn, rất nhiều. Phật dạy:
Chẳng bằng Bồ tát tu hành đúng như Bát nhã ba la mật thậm
thâm, một ngày được phước rất nhiều, vì sao? Vì Bồ tát tu
Bát nhã ba la mật vượt quá Thanh văn, Bích chi Phật địa, vào
Bồ tát vị, dần dần chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác.
Tu bồ đề, Bồ tát xa lìa Bát nhã ba la
mật mà tu bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định,
trí tuệ trải số kiếp như cát sông Hằng. Ý ông nghĩ sao? Bồ
tát ấy do nhơn duyên ấy được phước nhiều chăng? Tu bồ đề
thưa: Bạch đức thế Tôn, rất nhiều. Phật dạy: Chẳng bằng Bồ
tát tu hành đúng như Bát nhã ba la mật dạy, một ngày tu bố
thí, trì giới,nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ được
phước rất nhiều; vì sao? Vì Bát nhã ba la mật là mẹ của Bồ
tát, Bát nhã ba la mật hay sanh các Bồ tát, các Bồ tát trú
trong Bát nhã ba la mật hay đầy đủ hết thảy Phật pháp.
Tu bồ đề, nếu Bồ tát xa lìa Bát nhã ba
la mật, tu pháp thí trải số kiếp như cát sông Hằng. Ý ông
nghĩ sao, Bồ tát ây được phước nhiều chăng? Tu bồ đề thưa:
Rất nhiều. Phật dạy: Chẳng bằng Bồ tát tu hành đúng như Bát
nhã ba la mật thậm thâm dạy, cho đến pháp thí trong một ngày
được phước rất nhiều, vì sao? Vì Bồ tát ầy không xa lìa Bát
nhã ba la mật thời không xa lìa trí Nhất thiết chủng; không
xa lìa trí Nhất thiết chủng thời không xa lìa Bát nhã ba la
mật. Vì thế Bồ tát muốn được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
không nên xa lìa Bát nhã ba la mật.
Tu bồ đề, nếu Bồ tát xa lìa Bát nhã ba
la mật trải số kiếp như cát sông Hằng mà tu bốn niệm xứ, cho
đến tám thánh đạo phần, nội không cho đến trí Nhất thiết
chủng. Ý ông nghĩ sao! Bồ tát ấy được phước nhiều chăng? Tu
bồ đề thưa: Bạch đức Thế Tôn, rất nhiều. Phật dạy: Chẳng
bằng Bồ tát đúng như Bát nhã ba la mật thậm thâm dạy, trong
một ngày tu bốn niệm xứ cho đến trí Nhất thiết chủng, được
phước rất nhiều, vì sao? Vì nếu Bồ tát không xa lìa Bát nhã
ba la mật mà lay chuyển đối với trí Nhất thiết chủng, thời
không có lẽ ấy. Nếu Bồ tát xa lìa Bát nhã ba la mật mà đối
với trí Nhất thiết chủng lay chuyển, thời có lẽ ấy. Vì lẽ ấy
nên Bồ tát thường không nên xa lìa Bát nhã ba la mật mà tu
hành.
Tu bồ đề, nếu Bồ tát xa lìa Bát nhã ba
la mật mà trải số kiếp như cát sông Hằng, tu tài thí, pháp
thí và thiền định, có được phước đức đem hồi hướng đến Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ý ông nghĩ sao? Bồ tát ấy được
phước nhiều chăng? Tu bồ đề thưa: Bạch đức Thế Tôn, rất
nhiều, rất nhiều. Phật dạy: Chẳng bằng Bồ tát đúng như Bát
nhã ba la mật thậm thâm dạy, tu hành tài thí, pháp thí,
thiền định trong một ngày có được phước đức đem hồi hướng Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác, được phước rất nhiều, vì sao?
Vì đây là cách hồi hướng đệ nhất, nghĩa là Bát nhã ba la mật
hồi hướng; nếu xa lìa Bát nhã ba la mật mà hồi hướng, ấy
không gọi là hồi hướng. Vì vậy, nên Bồ tát muốn đưọc Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác nên phương tiện học Bát nhã ba
la mật hồi hướng.
Tu bồ đề, nếu Bồ tát xa lìa Bát nhã ba
la mật mà hòa hợp các thiện căn có được của chư Phật và đệ
tử Phật quá khứ, vị lai, hiện tại sống lâu nhiều kiếp như
cát sông Hằng để tùy hỷ hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác. Ý ông nghĩ sao? Bồ tát ấy được phước nhiều chăng? Tu
bồ đề thưa: Bạch đức thế Tôn, rất nhiều. Phật dạy: Chẳng
bằng Bồ tát đúng như Bát nhã ba la mật thậm thâm chỉ dạy mà
tu hành cho đến chỉ một ngày, tùy hỷ đem thiện căn hồi hướng
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được phưóc đức nhiều. Vì
vậy nên Bồ tát muốn được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
nên học Bát nhã ba la mật và phương tiện hồi hướng Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn, như lời Phật dạy: Pháp do nhân duyên sanh khởi, đều từ
vọng tưởng sanh, chẳng phải thật, làm sao Bồ tát được phước
đức lớn? Bạch đức thế Tôn, dùng pháp nhân duyên sanh khởi lẽ
đáng không thể được chánh kiến, vào pháp vị, lẽ đáng không
thể được quả Tu đà hoàn cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác.
Phật bảo Tu bồ đề: Như vậy, như vậy!
Tu bồ đề, dùng pháp do nhân duyên sanh khởi ấy lẽ đáng không
được chánh kiến, vào pháp vị, cho đến Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác. Này Tu bồ đề, Bồ tát thực hành Bát nhã ba la mật
biết pháp do nhân duyên sanh khởi cũng không, không bền
chắc, hư dối, không thật, vì sao? Vì Bồ tát ấy khéo học nội
không, cho đến khéo học vô pháp hữu pháp không. Bồ tát ấy an
trụ mười tám không ấy, mỗi mỗi quán sát pháp có tạo tác đều
không, tức không xa lìa Bát nhã ba la mật. nếu Bồ tát như
vậy dần dần không xa lìa Bát nhã ba la mật, dần dần được vô
lượng, vô số, vô biên phước đức.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn, vô số, vô lượng, vô biên có gì khác nhau?
Tu bồ đề, vô số là không rơi vào số
đếm hoặc trong tánh hữu vi, hoặc trong tánh vô vi. Vô lượng
là cân lường không thể được hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc
hiện tại. Vô biên là biên giới các pháp không thể có được.
Tu bồ đề thưa: Bạch đức Thế Tôn, vả
chăng sắc cũng vô số, vô lượng, vô biên? Vả chăng thọ,
tưởng, hành, thức cũng vô số, vô lượng, vô biên?
Này Tu bồ đề, có nhân duyên khiến sắc
cũng vô số, vô lượng, vô biên; thọ, tưởng, hành, thức cũng
vô số, vô lượng, vô biên.
Bạch đức Thế Tôn, do nhân duyên gì nên
sắc cũng vô số, vô lượng, vô biên? Thọ, tưởng, hành, thức
cũng vô số, vô lượng, vô biên?
Phật bảo Tu bồ đề: Vì sac không nên vô
số, vô lượng, vô biên; vì thọ, tưởng, hành, thức không nên
vô số, vô lượng, vô biên.
Bạch đức thế tôn, chỉ sắc không, thọ,
tưởng, hành, thức không; chẳng phải hết thảy pháp không ư?
Này Tu bồ đề, Ta chẳng từng nói hết
thảy pháp không ư.
Bạch đức Thế Tôn, nói hết thảy pháp
không. Các pháp không tức là không thể cùng tận; vô số, vô
lượng, vô biên. Trong "không", số đếm không thể có được,
lượng không thể có được, biên không thể có được. Do vậy, nên
nghĩa không thể cùng tận, vô lượng, vô số, vô biên không có
khác nhau. Phật bảo Tu bồ đề: Như vậy, như vậy! Pháp nghĩa
ấy không có khác biệt, pháp ấy không thể nói, Phật dùng sức
phương tiện nên phân biệt nói, đó là không thể cùng tận, vô
lượng, vô số, vô biên vô trước; không, vô tướng, vô tác, vô
khởi, vô sanh, vô diệt, vô nhiễm, Niết bàn. Ðó là Phật mỗi
mỗi dùng sức phương tiện nói.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Hy hữu, bạch
đức Thế Tôn! Thật tướng các pháp không thể nói mà Phật dùng
sức phương tiện để nói. Như tôi hiểu nghĩa của Phật nói; hết
thảy pháp cũng không thể nói.
Phật dạy: Như vậy, như vậy! Tu bồ đề,
hết thảy pháp không thể nói, tướng hết thảy pháp không thể
nói tức là không. Không ấy không thể nói.
Bạch đức Thế Tôn, nghĩa của không thể
nói có thêm, có bớt chăng?
Phật dạy: Không, Tu bồ đề, nghĩa của
không thể nói không thêm, không bớt.
Bạch đức Thế Tôn, nếu nghĩa của không
thể nói không thêm, không bớt, thời Thí ba la mật cũng sẽ
không thêm không bớt, cho đến Bát nhã ba la mật cũng sẽ
không thêm không bớt; bốn niệm xứ cho đến tám thánh đạo phần
cũng sẽ không thêm không bớt; bốn thiền, bốn tâm vô lượng,
bốn định vô sắc, năm thần thông, tám bội xả, tám thắng xứ,
chín định thứ đệ, Phật mười trí lực, bốn điều không sợ, bốn
trí vô ngại, mười tám pháp không chung của Phật cũng sẽ
không thêm không bớt. Bạch đức Thế Tôn, nếu Bồ tát tu sáu Ba
la mật không thêm cho đến mưòi tám pháp không chung không
thêm, thời làm sao Bồ tát được Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác?
Phật dạy: Như vậy, như vậy! Tu bồ đề,
nghĩa của không thể nói không thêm, không bớt. Bồ tát tập
hành Bát nhã ba la mật, vì có sức phương tiện nên nghĩ rằng:
Ta tăng thêm Bát nhã ba la mật cho đến tăng thêm Thí ba la
mật. Lại sẽ nghĩ rằng: Chỉ có danh tự nên gọi là Thí ba la
mật. Bồ tát khi tu Thí ba la mật, đem tâm ấy và thiện căn
đúng như tướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà hồi hướng;
cho đến khi tu Bát nhã ba la mật, đem tâm ấy và thiện căn
đúng như tướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác hồi hướng.
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn, thế nào là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?
Phật dạy: Tướng "như" của hết thảy
pháp ấy là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Bạch đức thế Tôn, thế nào là tướng
"như" của hết thảy pháp ấy là Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác?
Phật bảo Tu bồ đề: Sắc tướng như; thọ,
tưỏng, hành, thức như, cho đến Niết bàn tướng "như" là Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác; tướng "như" ấy cũng chẳng thêm
chẳng bớt. Này Tu bồ đề, Bồ tát không lìa Bát nhã ba la mật,
thường quán tướng "như" ấy, không thấy có thêm có bớt, vì
nhân duyên ấy nên nghĩa của không thể nói không thêm không
bớt, Thí ba la mật cũng không thêm không bớt, cho đến mười
tám pháp không chung cũng không thêm không bớt. Này Tu bồ
đề, Bồ tát vì pháp không thêm không bớt ấy, nên tu Bát nhã
ba la mật.
LUẬN: Lìa Bát nhã ba la mật mà cúng dường
Tam bảo, trải kiếp số như cát sông Hằng, không bằng một ngày
tu Bát nhã. Lại có người sống lâu nhiều kiếp số như cát sông
Hằng cúng dường Tu đà hoàn v.v... cũng không bằng một ngày
tu Bát nhã. Trong đây Phật tự nói nhân duyên: Bồ tát tu Bát
nhã vượt quá Nhị thừa vào Bồ tát vị, thành vô thượng đạo.
Lại xa lìa Bát nhã, tu sáu Ba la mật trải kiếp số như cát
sông Hằng, chẳng bằng một ngày đúng như lời dạy, an trú
trong Bát nhã tu sáu Ba la mật. Trong đây nói nhân duyên vì
sao hơn? Vì Bát nhã là mẹ chư Phật, an trú trong Bát nhã là
có thể đầy đủ các pháp của chư Phật. Ðó là nói về tài thí.
Nếu xa lìa Bát nhã mà thực hành pháp thí trải kiếp số như
cát sông Hằng, chẳng bằng một ngày an trú trong Bát nhã thực
hành pháp thí.
* Lại nữa, xa lìa Bát nhã mà theo pháp
Thanh văn, Bích chi Phật, tu hành tứ niệm xứ, trải kiếp số
như cát sông Hằng chẳng bằng một ngày đúng như lời dạy an
trú trong Bát nhã, tu tứ niệm xứ cho đến trí Nhất thiết
chủng. Trong đây nói lý do hơn là vì không xa lìa Bát nhã,
mà bị lay chuyển đối với Nhất thiết trí là không có lẽ ấy.
* Lại nữa, Bồ tát lìa Bát nhã mà tài thí,
pháp thí, thiền định trải qua kiếp số như cát sông Hằng có
được phước đức rồi hồi hướng vô thượng đạo, chẳng bằng một
ngày ấn hợp với Bát nhã mà tài thí, pháp thí, thiền định
sanh phưóc đức rồi hồi hướng vô thượng đạo, vì sao? Vì Bát
nhã không có độc hại xen tạp, nên chính hồi hướng vậy.
* Lại nữa, nếu Bồ tát xa lìa Bát nhã mà
sống lâu nhiều kiếp số như cát sông Hằng, tùy hỷ với công
đức chư Phật ba đời mười phương, hồi hướng đến vô thượng
đạo, chẳng bằng một ngày ấn hợp với Bát nhã mà tùy hỷ hồi
hướng.
Bấy giờ, Tu bồ đề gạn hỏi Phật: Như Phật
dạy hết thảy pháp hữu vi như huyễn, hư dối không thật, không
thể sanh chánh kiến, vào chánh vị, làm sao Bồ tát phước đức
tu trong một ngày mà hơn được. Phật chấp nhận lời ấy rằng:
Như vậy, như vậy! Pháp hữu vi đều hư dối, không được dùng
pháp hư dối để vào chánh vị, được chánh đạo. Bồ tát khi tu
Bát nhã ba la mật, có được phước đức biết nó đều hư dối,
trống không, không bền chắc, tâm không đắm trước phước đức
ấy, phước đức ấy thanh tịnh, nên hơn phước đức khác như kim
cương tuy nhỏ có thể đục phá núi lớn. Trong đây Phật dạy Bồ
tát khéo học mười tám không, tuy quán không mà có thể thật
hành các công đức; tuy biết Niết bàn vô thượng đạo mà vì
thương xót chúng sanh nên tu tập phước đức; tuy biết hết
thảy pháp tướng chẳng thể nói mà vì chúng sanh mỗi mỗi
phương tiện thuyết pháp; tuy biết trong pháp tánh. Nhất
tướng vô tướng không có phân biệt mà vì chúng sanh phân biệt
thiện bất thiện, khả hành, bất khả hành, thủ, xả, lợi, thất
v.v... nếu Bồ tát tuy quán rốt ráo không, mà vẫn có thể làm
các phước đức, ấy gọi là tu hành không lìa Bát nhã ba la
mật. nếu Bồ tát thường không xa lìa Bát nhã ba la mật, thời
dần dần được vô số, vô lượng, vô biên công đức, vì sao? Vì
nếu khi Bồ tát mới học Bát nhã sức phiền não còn mạnh, sức
Bát nhã còn yếu, dần dần được sức Bát nhã, dứt các phiền
não, diệt các hý luận. Thế nên được phước đức vô số vô lượng
vô biên. Phật tự phân biệt nói vô số là không rơi vào trong
tánh hữu vi, hoặc tánh vô vi; cân lường ba đời không thể có
được nên gọi là vô lượng; ranh giới mười phương cũng không
thể có được nên gọi là vô biên.
Tu bồ đề hỏi Phật: Có thể có nhân duyên
mà năm uẩn cũng vô số, vô lượng, vô biên ư?
Phật đáp: Có, do năm uẩn "không" nên cũng
vô số, vô lượng, vô biên.
Tu bồ đề thưa: Chỉ có năm uẩn "không" chứ
chẳng phải hết thảy pháp không ư?
Phật đáp: Hết thảy pháp không.
Tu bồ đề thưa: Pháp không ấy tức không
thể cùng tận, không thể cùng tận tức là vô số, vô số tức là
vô lượng, vô lượng tức là vô biên; thế nên trong "không" ấy
sự cùng tận không thể có được, nên gọi là vô tận. Số đếm
không thể có được nên gọi là vô số; sự cân lường không thể
có được nên gọi là vô lượng; biên giới không thể có được nên
gọi là vô biên. Bốn việc ấy danh tuy khác mà nghĩa đồng,
nghĩa là đồng rốt ráo "không.
Phật chấp nhận lời ấy rằng: Ðúng như vậy.
Lại tự nói nhân duyên: Tướng pháp không ấy chẳng thể nói,
nếu có thể nói thời chẳng gọi là không. Phật vì tâm đại từ
bi thương xót chúng sanh nên phương tiện nói ra, miễn cưỡng
nói ra danh tự, ngôn ngữ để khiến chúng sanh được hiểu. Chữ
"không" hoặc nói là không thể cùng tận, vô số, vô lượng, vô
biên v.v... thật tướng ấy không sanh, không tác, nên nói là
không cùng tận, các bậc thánh khi ngộ được thật tướng các
pháp, vào Vô dư Niết bàn, không rơi vào trong số sáu đường;
pháp thật tướng ấy cũng không rơi vào trong số các pháp hữu
vi, vô vi, thế nên gọi là vô số; chữ "lượng" là dùng trí tuệ
cân lường tốt xấu, nhiều ít, lớn nhỏ, phải trái; ở trong
thật tướng các pháp,vì dứt hết các tướng ấy nên gọi là vô
lượng. Thật tướng các pháp không thể lường nên gọi là vô
biên. Thật tướng các pháp vốn tịch diệt nên gọi là vô trước.
Trong thật tướng các pháp, tướng ngã và ngã sở nhất định
không thể có được nên nói là không. Vì "không" nên vô tướng,
vô tướng thời không tác, không khởi. Vì pháp ấy thường trú
không hoại nên vô sanh vô diệt. Vì pháp ấy dứt được ô nhiễm
của ba cõi nên gọi là không nhiễm, vì pháp ấy không dệt nên
nghiệp phiền não nên gọi là Niết bàn. Như vậy có vô lượng
danh tự theo mỗi mỗi nhân duyên nói thật tướng các pháp.
Bấy giờ, Tu bồ đề bạch Phật rằng: Hy hữu
thay! Thật tướng các pháp tuy không thể nói mà Phật dùng sức
phương tiện để nói; như con hiểu nghĩa Phật dạy chẳng phải
chỉ có thật tướng không thể nói mà hết thảy các pháp cũng
không thể nói. Phật chấp nhận lời ấy và nói nhân duyên: Hết
thảy pháp rốt cuộc trở về "không", vì trở về "không" nên
không thể nói, nghĩa của không thể nói tức là không thêm,
không bớt. Nếu hết thảy pháp không thêm không bớt thời sáu
Ba la mật và các thiện pháp cũng không thêm không bớt.
Nếu sáu Ba la mật và các thiện pháp không
thêm thời làm sao được vô thượng đạo.
Phật chấp nhận lời đó và nói nhân duyên:
Pháp tuy không thêm, bớt mà có thể được vô thượng đạo nghĩa
là vị Bồ tát tập hành Bát nhã ba la mật và sức phương tiện,
nên tuy tu các pháp trợ đạo như Thí ba la mật. Nhờ dứt ngã,
ngã sở và kiêu mạn nên không nghĩ rằng ta tăng trưởng được
sáu Ba la mật, không chấp thủ tướng trong, tướng ngoài, tu
các thiện pháp đúng như tướng vô thượng đạo mà hồi hướng.
Tu bồ đề hỏi: Thế nào là vô thượng đạo?
Phật đáp: Các pháp "như" là vô thượng
đạo.
Tu bồ đề hỏi: Những gì là hết thảy pháp?
Phật đáp: Sắc pháp v.v... cho đến Niết
bàn. Tướng "như" tịch diệt của các pháp ấy là tướng vô
thượng đạo. Tịch diệt là không thêm, không bớt, không cao,
không hạ, diệt các phiền não, hý luận, không động, không
hoại, không bị chướng ngại. Bồ tát do Bát nhã ba la mật và
sức phương tiện nên có thể làm cho bố thí đồng như tướng
tịch diệt. Có các nhân duyên như vậy nói về tướng vô thượng
đạo. Nếu Bồ tát thường nghĩ đến tướng vô thượng đạo tịch
diệt thời làm cho hết thảy pháp đều đồng tướng tịch diệt
cũng quán sát nghĩa bất khả thuyết là tướng chẳng thêm chẳng
bớt; Bồ tát như vậy mau được vô thượng đạo, vì không thêm
không bớt, không thể thủ đắc.
(Hết cuốn 74
theo bản Hán)
- --o0o --