| ...... ... |
. |
Luận Đại
Trí Độ
( Mahàprajnàparamitàsatra)
Tác giả:
Nàgàrjuna (Long Thọ)
Dịch Phạn ra Hán:
Cưu Ma La Thập
Dịch Hán ra Việt:
Thích Thiện Siêu
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
Nam
Ấn hành 1997
---o0o---
Tập
4
Cuốn 70
KINH: Lại nữa,
Tu bồ đề Phật do Bát nhã ba la mật thâm sâu mà như thật biết
tâm số của chúng sanh ra khỏi, chìm đắm, co duỗi.
Bạch đức Thế Tôn, làm
thế nào Phật do Bát nhã ba la mật thâm sâu mà như thật biết tâm
số của chúng sanh ra khỏi, chìm đắm, co duỗi.
Phật dạy: Tâm số của
chúng sanh ra khỏi, chìm đắm, co duỗi v.v... đều nương nơi sắc,
thọ, tưởng, hành, thức phát sanh. Tu bồ đề, Phật từ nơi đó biết
tâm số của chúng sanh ra khỏi, chìm đắm, co duỗi, nghĩa là biết
tâm số của chúng sanh chấp "thần ngã và thế gian thường là sự
thật, ngoài ra là vọng ngữ" Kiến chấp ấy nương nơi sắc mà có;
chấp "thần ngã và thế gian vô thường, là sự thật ngoài ra là
vọng ngữ", kiến chấp ấy nương nơi sắc mà có; chấp "thần ngã" và
thế gian cũng thường cũng vô thường là sự thật, ngoài ra là vọng
ngữ" kiến chấp ấy nương nơi sắc mà có; chấp "thần ngã và thế
gian chẳng phải thường chẳng phải vô thường là sự thật, ngoài ra
là vọng ngữ" kiến chấp ấy nương nơi sắc mà có.
Chấp "thần ngã và thế
gian thưòng là sự thật, ngoài ra là vọng ngữ" kiến chấp ấy nưong
nơi thọ mà có; chấp "thần ngã và thế gian vô thường là sự thật,
ngoài ra là vọng ngữ:, kiến chấp ấy nương nơi thọ mà có; chấp
"thần ngã và thế gian cũng thường cũng vô thường là sự thật,
ngoài ra là vọng ngữ, kiến chấp ấy nương nơi thọ mà có; chấp
"thần ngã và thế gian chẳng phải thường chẳng phải vô thường là
sự thật, ngoài ra là vọng ngữ', kiến chấp ấy nương nơi thọ mà
có.
Chấp "thần ngã và thế
gian thường là sự thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy
nương nơi tưởng mà có; chấp "thần ngã và thế gian vô thường là
sự thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy nương nơi tưởng mà
có; chấp "thần ngã thế gian cũng thường cũng vô thường là sự
thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy nương nơi tưởng mà có;
chấp "thần ngã và thế gian chẳng phải thường chẳng phải vô
thường là sự thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy nương nơi
tưởng mà có.
Chấp "thần ngã và thế
gian thường là sự thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy
nương nơi hành mà có; chấp "thần ngã và thế gian vô thường là sự
thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy nương nơi hành mà có;
chấp "thần ngã và thế gian cũng thường cũng vô thường là sự
thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy nương nơi hành mà có;
chấp "thần ngã và thế gian chẳng phải thường chẳng phải vô
thường là sự thật, ngoài ra là vọng ngữ'. kiến chấp ấy nương nơi
hành mà có.
Chấp "thần ngã và thế
gian thường là sự thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy
nương nơi thức mà có; chấp "thần ngã và thế gian vô thường là sự
thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy nương nơi thức mà có;
chấp "thần ngã cũng thường cũng vô thường là sự thật, ngoài ra
là vọng ngữ', kiến chấp ấy nương nơi thức mà có; chấp "thần ngã
và thế gian chẳng phải thường chẳng phải vô thường là sự thật,
ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy nương nơi thức mà có.
Chấp "thế gian hữu
biên là sự thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy nương nơi
sắc mà có; chấp "thế gian vô biên là sự thật, ngoài ra là vọng
ngữ", kiến chấp ấy nương nơi sắc mà có; chấp "thế gian hữu biên
vô biên là sự thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy nương
nơi sắc mà có; chấp "thế gian chẳng phải hữu biên chẳng phải vô
biên là sự thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy nương nơi
sắc mà có. Nương thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.
Chấp "thần ngã chính
là thân", kiến chấp ấy nương nơi sắc mà có; chấp thần ngã khác,
thân khác, kiến chấp ấy nương nơi sắc mà có. Nương nơi thọ,
tưởng, hành, thức cũng như vậy.
Chấp"sau khi chết còn
có như khứ là sự thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy nương
nơi sắc mà có; chấp "sau khi chết không còn có như khứ là sự
thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy nương nơi sắc mà có;
chấp "sau khi chết hoặc có như khứ hoặc không có như khứ, là sự
thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy nương nơi ắc mà có;
chấp "sau khi chết chẳng phải có như khứ chảng phải không có như
khứ là sự thật, ngoài ra là vọng ngữ", kiến chấp ấy nương nơi
sắc mà có. Nương nơi thọ, tưởng, hành, thức, cũng như vậy.
Như vậy, Tu bồ đề,
Phật do Bát nhã ba la mật thâm sâu mà như thật biết tâm số chúng
sanh ra khỏi, chìm đắm, co duỗi.
* Lại nữa, Tu bồ đề,
Phật biết tướng săc, biết tướng sắc thế nào? Là như như, như như
chẳng hoại, không phân biệt, không có tướng, không có ức tưởng,
không có hý luận, không có đắc, tướng sắc cũng như vậy.
Tu bồ đề, Phật biết
tướng thọ, tưởng, hành, thức thế nào? Là như như, như như chẳng
hoại, không phân biệt, không có tướng, không có ức tưởng, không
có hý luận, không có đắc; tướng thọ, tưởng, hành, thức cũng như
vậy.
Như vậy, Tu bồ đề,
Phật biết tướng như như của chúng sanh và tướng như như của tâm
số ra khỏi, chìm đắm, co duỗi. Tướng như của năm uẩn, tướng như
của các hành tức là tướng như của hết thảy pháp.
Những gì là tướng như
của hết thảy pháp? Ðó là sáu Ba la mật tướng như; sáu Ba la mật
tướng như tức là ba mươi bảy phẩm tướng như; ba mươi bảy phẩm
tướng như tức là "mười tám không" tướng như; "mười tám không"
tướng như tức là tám bội xả tướng như; tám bội xả tướng như tức
là chín định thứ đệ tướng như; chín định thứ đệ tướng như tức là
Phật mười lực tướng như; Phật mười lực tướng như tức là bốn điều
không sợ, bốn biện giải vô ngại, đại từ đại bi cho đến mười tám
pháp không chung tướng như; mười tám pháp không chung tướng như
tức là trí Nhất thiết chủng tướng như; trí Nhất thiết chủng
tướng như tức là pháp thiện pháp bất thiện, pháp thế gian pháp
xuất thế gian, pháp hữu lậu pháp vô lậu tướng như ; pháp hữu lậu
pháp vô lậu tướng như tức là các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại
tướng như; các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại tướng như tức là
pháp hữu vi pháp vô vi tướng như; pháp hữu vi pháp vô vi tướng
như tức là quả vị Tu đà hoàn tướng như; quả Tu đà hoàn tướng như
tức là quả vị Tư đà hàm tướng như; quả vị Tư dà hàm tướng như
tức là quả vị A na hàm tướng như; quả vị A na hàm tướng như tức
là quả vị A la hán tướng như; quả vị A la hán tướng như tức là
đạo Bích chi Phật tướng như; đạo Bích chi Phật tướng như tức là
Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề tướng như; Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề
tướng như tức là chư Phật tướng như; chư Phật tướng như đều là
tướng nhất như, chẳng hai chẳng khác, chẳng tận chẳng hoại, ấy
gọi là tướng như của hết thảy các pháp. Phật do Bát nhã ba la
mật biết được tướng như ấy. Do nhân duyên ấy nên Bát nhã ba la
mật hay sanh ra chư Phật, hay chỉ thị tướng thế gian.
Như vậy, Tu bồ đề,
Phật biết hết thảy pháp tướng như, không phải tướng chẳng như,
tướng chẳng khác. Vì được tướng như ấy nên Phật gọi là Như lai.
Tu bồ đề bạch Phật
rằng: Bạch đức Thế Tôn, tướng như của các pháp ấy, không phải
tướng chẳng như, tướng chẳng khác, rất sâu xa. Bạch đức Thế Tôn,
chư Phật dùng như ấy mà vì người nói Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.
Bạch đức Thế Tôn, ai
hay tin hiểu điều ấy? Chỉ có Bồ tát đã đến địa vị bất thối và
người đầy đủ chánh kiến và A la hán đã hết sạch các lậu hoặc, vì
sao ? Vì pháp ấy rất sâu xa.
Tu bồ đề, như ấy
tướng không cùng tận nên rất sâu xa.
Tu bồ đề thưa: Pháp
gì tướng không cùng tận nên rất sâu xa? Phật dạy: Hết thảy pháp
không cùng tận. Như vậy, tu bồ đề, Phật biết được hết thảy pháp
ấy rồi mà thuyết pháp cho chúng sanh.
LUẬN: Phật biết hết
sở tác sở hành của tất cả chúng sanh, biết sáu mươi hai tà kiến,
chín mươi tám kiết sử phiền não, thế nên nói Phật biết tâm tâm
số pháp của chúng sanh ra khỏi, chìm đắm, co duỗi. Người tại gia
bị các phiền não ái nhiễm nhận chìm, nên gọi là chìm, người xuất
gia lìa chín mươi sáu thứ tà kiến gọi là ra khỏi. Lại thường đắm
cái vui ở đời gọi là chìm, hoặc biết nó vô thường mà sợ sệt cầu
đạo gọi là ra khỏi. Lại lãnh thọ chín mươi sáu tà đạo không thể
cầu chánh đạo trở lại chìm vào thế gian, gọi là chìm, co là
không lìa khỏi cõi dục, duỗi là lìa khỏi cõi Dục. Lìa không lìa
cõi Sắc cũng như vậy. Như ngươì đứng trên ao nước trong, trông
thấy cá, có con thường ở trong nước, có con tạm nhảy ra rồi trở
lại lặn xuống, có con ra khỏi nhìn bốn phương, có con ra khỏi
muốn lội qua gần bờ trở lại lặn xuống. Phật cũng như vậy, lấy
Phật nhãn nhìn chúng sanh trong mười phương sáu đường, có kẻ
thường đắm năm dục, bị phiền não che tâm, không cầu ra khỏi; có
kẻ tâm tốt hay bố thí, trì giới mà vi tà kiến nghi hoặc che tâm
nên trở lại chìm đắm; có kẻ ra khỏi năm dục, quán bốn chân lý vi
diệu, đạt được noãn pháp, nhưng chưa đạt được thật pháp nên trở
lại chìm đắm; có người lìa dục chứng được Sơ thiền cho đến Vô sở
hữu xứ định, vì chẳng đặng Niết bàn nên trở lại chìm đắm.
Thế nào là tướng ra
khỏi, chìm đắm, co duỗi? Trong đây Phật nói đó là chấp thần ngã
và thế gian thường. Thần ngã là người phàm phu ức tưởng phân
biệt theo tâm chấp ngã thủ tưóng nên chấp có thần ngã. Ngoại đạo
nói thần ngã có hai thứ là thường và vô thường. Nếu người chấp
thần ngã thường, thì thường tu phước đức, để sau thọ quả báo;
hoặc do hành đạo mà thần ngã được giải thoát. Nếu người chấp
thần ngã vô thường thì vì danh lợi hiện đời nên có tạo tác. Chấp
thường vô thường là có người cho thần ngã có hai thứ: 1. Vi tế
thường trú. 2. Hiện có tạo tác. Hiện có tạo tác là thân này khi
chết vô thường nhưng thần ngã vi tế là thường. Có người nói thần
ngã chẳng phải thường chẳng phải vô thường, thường hay vô thường
đều có lỗi. Nếu thần ngã vô thường tức không có tội phước, vì
sao? Vì nếu thường thời khổ vui không đổi khác, thí như hư không
, mưa không làm ướt, gió nắng không làm khô; nếu vô thường thì
khổ vui biến đổi, thí như gió mưa, đối với da trâu thì làm cho
hư nát. Vì tâm chấp ngã nên nói chắc có thần ngã, nhưng chẳng
phải thường chẳng phải vô thường.
Phật nói bốn thứ tà
kiến; đều duyên nơi năm uẩn, chỉ vì nơi năm uẩn lầm chấp là thần
ngã.
Thần ngã và thế gian
là: Thế gian có ba thứ: 1. thế gian năm uẩn. 2. Thế gian
chúng sanh. 3. Thế gian quốc độ. Trong đây nói hai thứ thế gian
là thế gian năm uẩn và thế gian quốc độ; thế gian chúng sanh tức
là thần ngã. Ðối nơi tướng thế gian cũng có bốn thứ tà kiến.
Hỏi: Thần ngã thì từ
xưa lại đây không có, nên chấp là sai, còn thế gian là có, cớ
sao lại đồng với tà kiến chấp có thần ngã?
Ðáp: Chỉ phá cái chấp
tướng thường vô thường đối với thế gian, chứ không phá thế gian,
thí như người không có mắt cầm rắn mà cho là anh lạc, còn người
có mắt thì cho là rắn, chẳng phải anh lạc. Phật phá cái điên đảo
chấp thế gian thường, mà không phá thế gian, vì sao? Vì hiện
thấy thế gian vô thường. Nhưng cũng không được nói vô thường vì
tội phước chẳng mất; vì quá khứ đã có tạo tác, nói thường hay
nói vô thường, cả hai đều lỗi; còn nói chẳng phải vô thường,
cũng có lỗi vì đắm trước thế gian.
Thế gian hữu biên
là có người tìm nguồn gốc thế gian, không thấy chỗ bắt đầu
của nó, không có bắt đầu, thời cũng không có khoảng giữa, khoảng
sau. Nếu không bắt đầu, khoảng giữa, khoảng sau thời không có
thế gian; thế nên thế gian lý đáng phải có bắt đầu, tức là hữu
biên. Người chứng được thiền định nhờ trí biết kiếp trước, thấy
được việc trong tám vạn kiếp trước, quá nữa thì không biết; chỉ
thấy thức trung ấm bắt đầu của thân này, mà tự suy nghĩ: Thức
này không thể không có nhân không có duyên; chắc phải có nhân
duyên. Mà trí biết kiếp trước không thể biết, chỉ ức tưởng phân
biệt, có một pháp gọi là "thế tánh", chẳng phải năm thức biết
được, vì nó quá vi tế. Từ trong "thế tánh" đầu tiên sanh ra
"giác", giác tức là "thức trung ấm". Từ giác sanh "ngã", từ ngã
sanh "năm thứ vi trần" là sắc, tiếng, mùi, vị xúc. Từ vi trần
tiếng sanh "hư không đại", từ vi trần tiếng và xúc sanh ra
"phong đại", từ vi trần sắc tiếng và xúc sanh ra "hỏa đại", từ
vi trần sắc, tiếng, mùi, vị, xúc sanh "thủy đại", từ vi trần sắc
tiếng mùi, vị, xúc sanh "địa đại". Từ không sanh nhĩ căn, từ gió
sanh thân căn, từ lửa sanh nhãn căn, từ nước sanh thiệt căn, từ
đất sanh tỷ căn, như vậy dần dần từ tế đến thô.
Thế tánh là
từ thế tánh đi đến thô, từ thô chuyển đến tế, trở lại thế tánh;
thí như trong cục bùn có các tánh cách cái bình cái chậu v.v...
Lấy bùn làm bình, phá bình làm chậu, như vậy chuyển biến mãi
không mất; thế tánh cũng như vậy. Chuyển biến làm thô, thế tánh
là pháp thường, không từ đâu đến, như trong kinh Tăng Khư
(Samkya, Số luận) nói rộng thế tánh này.
Lại có người nói:
Biên tế bắt đầu của thế gian là vi trần, là cực vi, vi trần là
pháp thường hằng không thể phá, không thể đốt, không thể nát,
không thể hoại, vì là rất nhỏ, chỉ đợi nhân duyên của tội phước
nên hoà hợp mà có thân; hoặc thân trời hoặc thân địa ngục v.v...
vì không có cha mẹ; nhân duyên của tội phước hết thời tan rã.
Có người cho "tự
nhiên" là khởi nguyên thế giới, giàu nghèo, sanh hèn, chẳng phải
do mong ước, tạo tác mà đưọc.
Có người nói: Chúa
Trời là khởi nguyên thế giới, tạo tác tốt xấu hoạ phước, trời
đất muôn vật, các pháp ấy khi tiêu diệt, Trời trở lại thu nhiếp
lấy. Chấp các nguyên nhân tà vạy như vậy cho là biên tế thế
giới.
Có người nói: Khi
chúng sanh đời đời chịu vui hết, tự đi đến biên tế, thí như đứng
trên núi quăng cuốn chỉ, chỉ hết tự ngừng. Thọ tội thọ phước,
đều qui về cùng tận. Tinh tấn hay biếng nhác không khác.
Có người nói: Thế
gian quốc độ tám phương đều có bờ mé, chỉ phía trên và dưới
không có bờ mé.
Có người nói: Phía
dưới đến mười tám địa ngục, phía trên đến cõi trời Hữu Ðảnh,
trên dưới có bờ mé, còn tám phương không có bờ mé, còn tám
phương không có bờ mé. Như vậy các thuyết về thế giới hữu
biên.
Có người nói: Chúng
sanh và thế giới có ngằn mé, như nói thần ngã ở trong thân thể,
nhỏ như hạt cải, hoặc như trái táo, hoặc mật tấc, người lớn thì
thần ngã lớn, người nhỏ thì thần ngã nhỏ, cho thần ngã la một
phần pháp sắc, nên nói thần ngã có biên.
Vô biên là,
có người nói: Thần ngã biến khắp hư không, không chỗ nào không
có, gặp chỗ có thân thì có cảm giác khổ vui, thế nên gọi thần
ngã vô biên.
Có người nói: Quốc độ
thế gian vô thỉ, nếu có thỉ thời không có nhân duyên, lúc sau
cũng thường thọ thân không cùng tận, thế thời phá hoại Niết bàn.
Thế gọi là vô biên.
* Lại nữa, nói thế
gian quốc độ, mười phương không có biên tế. Như vậy là các
thuyết nói thần ngã thế gian, quốc độ thế gian vô biên.
Hữu biên vô biên
là, có người nói: Thần ngã thế gian vô biên, còn quốc độ thế
gian hữu biên. Hoặc nói thần ngã thế gian hữu biên còn quốc độ
thế gian vô biên, vì như trên nói thần ngã là sắc pháp. Hoặc nói
trên dưới hữu biên, tám phương vô biên, Tóm hai pháp trên gọi là
hữu biên vô biên.
Thế gian chẳng phải
hữu biên chẳng phải vô biên là, có người thấy thế gian
hữu biên, có lỗi, vô biên cũng có lỗi, nên chẳng nói hữu biên,
chẳng nói vô biên, chấp chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên
là thật tánh thế gian.
Thần ngã tức là thân
là, có người nói thân này tức là thần ngã, vì sao? Vì
phân tích thân này tìm thần ngã không thể có được.
* Lại nữa, thọ khổ
vui tốt xấu đều là thân này, thế nên nói thân tức là thần ngã.
Thân khác thần ngã
khác là, có người nói thần ngã vi tế, năm thức không thể
biết đưọc, cũng không phải hàng phàm phu thấy được, người nhiếp
tâm thanh tịnh, được thiền định mới có thể thấy được. Thế nên
nói thân khác thần ngã khác.
* Lại nữa, nếu thân
tức là thần ngã, thân diệt thần ngã cũng diệt, ấy là tà kiến,
còn nói thân khác thần ngã khác, thân diệt thần ngã thường trú,
ấy là biên kiến.
Sau khi chết còn có
như khứ là:
Hỏi: Trên kia nói
thường vô thường v.v... tức đã nói đời sau hoặc có hoặc không,
sao nay lại còn phân biệt như khứ thành bốn câu?
Ðáp: Trên nói chung
hết thảy thế gian thường vô thường, còn việc đời sau có hay
không cần phải nói riêng.
Như khứ là,
như người đến sanh nơi đây, đi đến đời sau cũng như thế.
Có người nói đời
trước không từ đâu đến, diệt cũng chẳng đi đâu.
Có người nói: Thân và
thần ngã hòa hợp làm người, sau khi chết thần ngã đi thân không
đi, ấy gọi là như khứ chẳng như khứ.
Chẳng phải có như khứ
chẳng phải không như khứ là thấy đi không đi đều có lỗi, nên nói
chẳng phải đi chẳng phải không đi. Người ấy không thể bỏ cái
chấp có thần ngã, nhưng chấp thần ngã chẳng phải đi chẳng phải
không đi.
Các phiền não tà kiến
như trên, gọi là tướng tâm số ra khỏi, chìm đắm, co duỗi, vì
sao? Vì người tà kiến với nhiều đường lối cầu ra khỏi không
được, nên muốn ra mà vẫn chìm. Sức tà kiến nhiều khó giải thoát,
cho nên nói mười bốn việc tà kiến, là chấp thế gian thường vô
thường v.v...
Ngoại đạo tuy mỗi mỗi
ức tưởng phân biệt, Phật nói đều duyên nơi năm uẩn, nương tựa
năm uẩn không có thần ngã, không thường hằng. Phật biết năm uẩn
trống không, không có tướng trạng, không có tạo tác, không có hý
luận. Chỉ biết năm uẩn như như, không như chỗ thấy giả dối điên
đảo của hàng phàm phu. Giống như năm uẩn như như, hết thảy pháp
như như cũng như vậy, vì sao? Vì hai pháp thâu nhiếp hết thảy
pháp, đó là pháp hữu vi và pháp vô vi. Năm uẩn là pháp hữu vi,
năm uẩn như như tức là pháp vô vi. Quán sát, trù lượng, tư duy
năm uẩn có thể thực hành sáu Ba la mật, thế nên nói năm uẩn như
tức là hết thảy pháp như; hết thảy pháp như tức là sáu Ba la mật
như. Bồ tát thực hành sáu Ba la mật cầu thật đạo, quán năm uẩn
vô thường, không, phát sanh ba mươi bảy phẩm, tám bội xả, chín
định thứ đệ, ấy là đạo Thanh văn, khi biết rồi đi thẳng qua,
tiếp thực hành mười tám không, mười lực, các Phật pháp, đều do
chánh quán sát năm uẩn, năm uẩn như, không phân biệt, nên đều là
hết thảy pháp như. Thế nên nói thiện pháp như tức là bất thiện
pháp như, bất thiện pháp như tức là thiện pháp như. Pháp thế
gian xuất thế gian cũng như vậy. Thế nên hành giả không đươc đắm
trước thiện pháp, cho đến Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Tướng Phật
như cũng như vậy, đều là tướng nhất như, không hai không khác,
vì sao? Vì tìm thật tướng của chư pháp, đi đến rốt ráo không,
không còn dị biệt.
Các pháp như như cũng
như vậy, Phật do Bát nhã ba la mật mà chứng được, thế nên nói
Bát nhã ba la mật hay sanh ra chư Phật, hay chỉ thị tướng thế
gian.
Tu bồ đề tán thán là
chưa từng có, bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, lý hết thảy pháp
như rất sâu xa, tùy thuận chẳng trái nhau, ba đời mười phương
chư Phật như tức là các pháp như, hiểu các pháp như ấy nên vì
chúng sanh mỗi mỗi thuyết pháp là thậm thâm như, khó hiểu khó
tin, vị Bồ tát ở địa vị bất thối vào pháp vị, được thọ ký mới có
thể tin. Người đầy đủ chánh kiến là ba bậc Ðạo nhân (Tu đà hoàn,
Tư đà hàm, A na hàm) và A la hán sạch hết lậu hoạc không thọ
nhận pháp gì nên có thể tin. Hạng người có lòng tin đã gần địa
vị bất thối cho nên không nói riêng.
Phật bảo Tu bồ đề:
Hết thảy pháp vô tận nên "như " ấy vô tận, "như " vô tận, nên
người được Thánh đạo có thể tin, trong pháp vô vi có sai biệt
nên có các đạo Tu đà hoàn nghe pháp tự mình chứng được nên có
thể tin, còn người phàm phu đắm vào pháp điên đảo hư dối, nên
không thể tin.
Phật bảo Tu bồ đề:
Chư Phật được "các pháp như " ấy nên gọi là Như Lai, gọi là bậc
Nhất thiết trí, hay cứu độ chúng sanh khiến đi đến Niết bàn.
GIẢI THÍCH:
PHẨM VẤN TƯỚNG THỨ 49
(Kinh Ðại Bát Nhã
ghi: Phẩm Thị Tướng thứ 47).
KINH: Bấy giờ
Thiên tử cõi Dục, Thiên tử cõi Sắc có trong ba ngàn đại
thiên thế giới, từ xa rãi hoa hương, đi
đến chỗ Phật, cúi đầu lễ chân Phật, rồi đứng ở một bên, bạch
Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, Bát nhã ba la mật sâu xa được
nói đến. Thế nào là tướng Bát nhã ba la mật sâu xa?
Phật bảo các
Thiên tử cõi Dục cõi Sắc: này các Thiên tử, tướng không là
là tướng Bát nhã ba la mật, không tướng trạng, không tạo
tác, không khởi, không sanh, không diệt, không nhơ, không
sạch, không có pháp gì, không tướng trạng, tướng hư không
không nương tựa, là tướng Bát nhã ba la mật. Này các Thiên
tử, các tướng như vậy là tướng Bát nhã ba la mật sâu xa,
Phật vì chúng sanh mà dùng pháp thế gian nên nói, chứ không
phải theo đệ nhất nghĩa.
Này các Thiên tử,
các tướng ấy, tất cả thế gian trời, người, A tu la không thể
phá hoại, vì sao? Vì tất cả thế gian trời, người, A tu la
cũng là tướng ấy. Này các Thiên tử, tướng không
thể phá tướng, tướng không thể
biết tướng, tướng không thể biết vô tướng, vô tướng không
thể biết tướng. Tướng vô tướng ấy, tướng vô tướng đều không
có gì của chính nó, nghĩa là biết, người biết, pháp
bị biết, đều không thể có được,
vì sao? Này các Thiên tử, vì các tướng ấy chẳng phải
sắc làm ra; chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức làm ra, chẳng
phải Thí ba la mật làm ra; chẳng phải Giới ba la mật, Nhẫn
ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba la mật
làm ra; chẳng phải nội không làm ra; chẳng phải ngoại không
làm ra; chẳng phải nội ngoại không làm ra; chẳng phải vô
pháp không làm ra; chẳng phải hữu pháp không làm ra; chẳng
phải vô pháp hữu pháp không làm ra; chẳng phải bốn niệm xứ
làm ra; cho đến chẳng phải Nhất thiết trí làm ra.
Này các Thiên tử,
các tướng ấy chẳng phải sở hữu của người, của phi nhân,
chẳng phải thế gian chẳng phải xuất thế gian, chẳng phải hữu
lậu, chẳng phải vô lậu, chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi.
Phật lại bảo các
Thiên tử: Thí như có người hỏi thế nào là tướng hư không, người
ấy hỏi có chính đáng không?
Các Thiên tử
thưa: Bạch đức thế Tôn, câu hỏi
ấy không có chính đáng, vì sao? Bạch đức Thế Tôn, vì hư
không , không có tướng trạng để có thể nói, hư không không
có tác vi, không sanh khởi.
Phật bảo các
Thiên tử: Dù có Phật không có
Phật ra đời, tướng tánh vẫn thường trú, Phật chứng được
tướng tánh như thật, nên gọi là Như Lai.
Các Thiên tử bạch
Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn,
Thế Tôn chứng đắc các tướng tánh rất sâu xa, được tướng ấy
nên được trí vô ngại. Trú trong thật tướng ấy, lấy
Bát nhã ba la mật, tập hợp tự tướng pháp.
Các Thiên Tử
thưa: Hiếm có, Bạch đức Thế Tôn, Bát nhã ba la mật sâu xa là
chỗ thường sở hành của chư Phật, hành đạo
ấy chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Chứng Vô thượng
Chánh đẳng Bồ đề rồi, thông đạt hết thảy pháp tướng,
hoặc sắc tướng; hoặc thọ, tưởng, hành, thức tướng, cho đến
Nhất thiết trí tướng.
Phật dạy: Như
vậy, như vậy! Các Thiên tử, Tướng não hoại là tướng của sắc,
Phật được vô tướng ấy. Cảm giác là tướng của thọ, thủ tướng
là tướng của tưởng, khởi lamø là tướng của hành, nhận biết
là tướng của thức, Phật được vô tướng ấy. Hay xả bỏ là tướng
của Thí, không nhiệt não là tướng của Giới, không biến khác
là tướng của Nhẫn, không thể khuất phục là tướng của Tấn,
nhiếp tâm là tướng của Thiền, xả lìa là tướng của Bát nhã;
Phạt được vô tướng ấy. Tâm không bị nhiễu loạn bức não là
tướng của bốn thiền, bốn vô lượng tâm, bốn định
vô sắc, Phật được vô tướng ấy.
Xuất thế gian là
tướng của ba mươi bảy đạo phẩm,
Phật được vô tướng ấy. Khổ là tướng của vô tác giải
thoát môn, lìa là tướng của không giải thoát môn, tịch diệt
là tướng của vô tướng giải thoát môn, Phật được vô tướng ấy.
Thắng là tướng của mười lực, không sợ hãi là tướng của vô sở
úy, khắp biết là tướng của trí vô ngại, các người khác không
có được là tướng của mười tám
pháp không chung, Phật được vô tướng ấy.
Thương nghĩ chúng
sanh là tướng của đại từ đại
bi, chơn thật là tướng của không sai lầm, không chấp
thủ là tướng của thường buông xả, hiện biết rõ ràng là tướng
của trí Nhất thiết chủng, Phật được vô tướng ấy.
Như vậy, các
Thiên tử, Phật chứng được hết thảy pháp vô tướng, do nhân
duyên ấy, nên Phật được gọi là trí vô ngại.
LUẬN: Hỏi: Trên
kia nơi nơi đã nói không, vô tướng, vô tác, không khởi,
không có gì là tướng của Bát nhã, sao nay các Thiên tử còn
hỏi thế nào là tướng Bát nhã?
Ðáp: Phật tuy nơi
nơi nói Bát nhã ba la mật, hoặc nói không, hoặc nói có, hoặc
nói quả báo, hoặc nói tội phước, không nhất định, vì vậy nên
nay hỏi thế nào nhất định là tướng Bát nhã.
* Lại nữa, Bát
nhã ba la mật ấy như huyễn như
hóa, như tuồng có thể nắm được, mà không có tướng nhất định
có thể chấp thủ, chỉ chư Phật mới biết đúng đắn cùng
khắp tướng ấy, chư thiên tuy có trí lanh lợi, mà không thể
liễu tri cho nên hỏi.
* Lại nữa, có
người nói: Các Thiên tử ấy có người đến sau, không kịp nghe
nên hỏi.
Phật đáp với các
Thiê n tử: Không là tướng của Bát nhã ba la mật. Tướng
không là trong ngoài không v.v... Nếu các pháp không tức là
không có các tướng trai gái, dài ngắn, tốt xấu v.v... ấy gọi
là tướng không có tướng. Nếu đã không, vô tướng thời không
còn sanh tâm mong ước đắm trước
thân đời sau, ấy gọi là tướng vô tác.
Ba môn giải thoát
là tướng bắt đầu đi vào
Bát nhã, ba thừa chung có, chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng nhơ
chẳng sạch, như hư không không nơi nương tựa v.v... là tướng
sâu xa của Bát nhã ba la mật.
Vô tướng ở trong
ba môn giải thoát trên kia, là không có tướng trai gái, dài
ngắn, tốt xấu v.v... bên ngoài; còn tướng vô tướng dưới là
không có tướng hết thảy pháp. "Không" tuy là một, nhưng căn
tánh con người có lợi độn, nên vào Bát nhã có sâu
cạn, nên nói "Không" có sai biệt, không có hý luận, rằng
sanh rằng diệt v.v... như trước nói.
Phật biết các
Thiên tử chắc chắn có ý nghĩ rằng: "Nếu Bát nhã ba la mật là
không, không có gì, như tướng hư không, thời làm sao có thể
nói, nếu nói tức là có tướng" chư Thiên tử vì thấy oai đức
Phật lớn quá, không dám nạn hỏi, cho nên Phật tự nói cho họ.
Phật thương chúng sanh, theo nghĩa thế đế nên nói các tướng
không, chứ không theo đệ Nhất
nghĩa đế. Nếu dùng đệ Nhất nghĩa đế thì nên nạn, còn
nói theo thế đế thời không nên nạn.
* Lại nữa, tuy
nói không, không do có tâm chấp trước thủ tướng, không chỉ
pháp hoặc phải hoặc trái, mà do hết thảy pháp đồng một
tướng, không phân biêït, thế nên lại nói rõ ràng, nghĩa là
không có gì như tướng hư không. Không có pháp nào không nhập
vào tướng ấy, thế nên nói hết thảy thế gian không thể phá
hoại, vì sao? Vì hết thảy thế gian người, trời, A tu la
chính là tướng ấy. Nếu pháp sai khác trái nhau thời có thể
phá hoại, như nước hay diệt lửa, lửa không thể diệt lửa,
miệng nói đúng như sự thật mà muốn phá, trọn không phá được,
huống gì nói không đúng như thật, thí như người mù đạp vàng
ngọc miệng nói không phải vàng ngọc, trọn không thể làm cho
nó chẳng phải vàng ngọc.
Trong đây Phật cò n
nói: Bát nhã ba la mật rốt ráo không, vô tướng, nên tướng
không thể phá tướng.
* Lại nữa, có
người nói:Tướng không thể phá tướng là có pháp
phân tán được, còn các pháp hòa hợp, trọn không bị phá,
không bị mất, như búa chẻ củi, phân tán ra từng phần, nhưng
trọn không bị tiêu mất.
* Lại
nữa, các pháp không có tướng nhất định, như cây do rễ, cành,
cọng, lá, hợp lại gọi là cây, cây không có tướng nhất định,
nên không bị phá. Như vậy gọi là tướng không thể phá tướng.
Hỏi: Các pháp sắc
v.v... chẳng phải có tri giác, có thể không biết nhau, còn
tâm số pháp là tướng tri giác làm sao không biết?
Ðáp: Trong đây
nói thật tướng; nên không nói đến cái biết hư vọng của phàm
phu, trí tuệ phàm phu ấy vì là pháp hữu vi, nhân duyên hòa
hợp sanh, là pháp hư vọng, không thể có cái biết đúng thật,
thế nên xả bỏ vào Vô dư niết bàn. Nếu trí tuệ biết thường vô
thường cho đến không, tịch diệt v.v... thì như trên đã rộng
phá. Diệt không có gì, nếu như vậy làm sao sẽ có biết. Thế
nên Tướng không biết tướng.
Tướng không thể
biết vô tướng là bên trong tuy có trí tuệ, bên ngoài
không không có pháp để có thể biết, bên ngoài không có cảnh
duyên thì làm sao trí tuệ phát sanh? thế nên nói tướng không
thể biết vô tướng, thí như dao bén không thể cắt hư không.
Vô tướng không
thể biết tướng là có người nói: Bên trong trí
tuệ không có định tướng, bên
ngoài pháp sở duyên có định tướng, tâm theo duyên phát sanh,
thế nên nói vô tướng không nên biết tướng, thí như không có
dao, tuy có vật mà không có dao cắt.
Tướng ấy, vô
tướng ấy, tướng vô tướng đều không thể có được
là tướng không vào tướng, vì sao? Vì trước đã có tướng.
Tướng không vào vô tướng, vì sao? Vì tướng không có chỗ vào;
lìa tướng vô tướng ấy, lại không có chỗ có thể vào.
* Lại nữa, vì
tướng và sở tướng không nhất định, nhơn sở tướng nên có
tướng, vì sao? Vì nếu trước có tướng, mà không có sở tướng
thời không có tướng, vì không có sở nhân; nếu trước có sở
tướng mà không có tướng, thời làm sao có sở tướng, vì không
có sở nhân đối đãi (tướng như
cứng, sở tướng như đất, có tướng (cứng) mới có sở tướng
(đất) có sở tướng m?i có tướng; nếu không có tướng
thì không có sở tướng, không có sở tướng thì không có tướng
- N.D).
* Lại nữa, tướng
vì sở tướng bất định, nên tướng có khi làm sở tướng, sở
tướng có khi có là tướng. Vì tướng bất định không thật, nên
sở tướng cũng không có; nếu sở
tướng bất định không thật, nên tướng cũng không có.
Thế nên nói tướng ấy, vô tướng ấy, tướng vô tướng ấy đều
không thể có được.
Như trước nói các
tướng "Không" v.v... là thật, vì sao? Vì tướng ấy chẳng phải
năm uẩn làm, chẳng phải sáu Ba la mật cho
đến chẳng phải trí Nhất thiết chủng làm, tướng ấy vì
là vô vi không có pháp có thể làm, cũng không có người hay
phi nhân có thể làm. người là Bồ tát, chư Phật v.v... phi
nhân là chư thiên v.v... Tướng ấy vì rốt ráo không, nên
chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu, chẳng phải thế gian,
chẳng phải xuất thế gian.
Trên tuy nói
tướng vô vi, chỉ vì phá hữu vi nên nói là vô vi, vô vi cũng
không có định tướng. Trong đây
Phâït muốn làm cho việc ấy rõ ràng nên nói thí dụ.
Người nghe nghĩ rằng: Nếu không có Phật thì chẳng
nghe được tướng ấy, Phật là tối thượng đối với chúng sanh,
vậy nên tác thành tướng ấy. Thế nên Phật nói với chư
Thiên, dầu có Phật không Phật, tướng ấy thường trú. Phật
biết được tướng ấy, nên gọi là Phật.
Bấy giờ, chư
Thiên hoan hỷ bạch Phật rằng: Bạch
đức thế Tôn, các tướng ấy rất sâu xa, tuy không thể thủ
tướng mà có thể tu hành, có thể cho người ta quả báo
vô thượng, vì Phật được tướng ấy, nên đối
với các pháp được trí vô ngại, nếu phân biệt các pháp có
định tướng, thì trí có ngại.
Bạch đức Thế Tôn,
an trú trong thật tướng các pháp ấy, thời thông đạt vô ngại,
có thể nói các tướng riêng của mỗi mỗi pháp, đó là
não hoại là tướng sắc, cho đến liễu tri hiện tiền là tướng
của trí Nhất thiết chủng.
Phật khen ý ấy,
phân biệt các tướng cho họ, cái biết của phàm phu, mỗi tướng
khác nhau, còn Phật biết đều là tướng không, tướng không tức
là vô tướng, Phật được vô tướng ấy. Ðược cái biết ấy không
thể so sánh, biết cùng khắp nên gọi là được.
Các pháp ấy nay đổi gọi là Bát nhã ba la mật.
KINH: Bấy giờ,
Phật bảo Tu bồ đề, Bát nhã
ba la mật là mẹ chư phật, Bát nhã ba la mật hay chỉ bày
tướng thế gian, thế nên Phật nương tựa pháp ấy mà trú. Cúng
dường, cung kính, tôn trọng, tán thán pháp ấy. Pháp ấy là
gì? Ðó là Bát nhã ba la mật. Chư Phật nương tựa Bát nhã ba
la mật mà trú, cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán thán
Bát nhã ba la mật ấy, vì sao? Vì Bát nhã ba la mật xuất sanh
chư Phật.
Phật biết làm
người, nếu có người hỏi một cách chánh đáng ai biết làm
người, thì đáp một cách chánh
đáng là không ai hơn Phật, vì sao?
Tu bồ đề, vì Phật biết làm người. Xe pháp mà Phật cỡi
đi đến và đạo mà Phật từ đó đi
đến, chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Xe ấy, đạo ấy
Phật trở lại cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán thán, thọ
trì thủ hộ. Tu bồ đề, ấy gọi là Phật biết làm người.
* Lại nữa, Tu bồ
đề, Phật biết tất cả pháp không có tướng tạo tác, vì
không có tác giả; tất cả pháp không sanh khởi, vì hình trạng
không thể có được.
Tu bồ đề, Phật do
Bát nhã ba la mật biết tất cả pháp không có tướng tạo
tác, cũng do nhân duyên ấy nên Phật biết làm người.
* Lại nữa, Tu bồ
đề, Phật do Bát nhã ba la mật biết được tất cả pháp chẳng
sanh, vì không có sở đắc. Do nhân duyê n ấy nên Bát
nhã ba la mật hay sanh chư Phật, hay chỉ bày tướng thế gian.
Tu bồ đề thưa:
Bạch đức Thế Tôn, nếu tất cả pháp không kẻ biết,
không kẻ thấy, làm sao Bát nhã ba la mật hay sanh chư Phật,
hay chỉ bày tướng thế gian?
Phật bảo Tu bồ
đề: Như vậy, như vậy! Tất cả pháp thật không có kẻ biét,
không có kẻ thấy. Tại sao không có kẻ biết, không có kẻ
thấy? Vì tất cả pháp "không", hư dối, không kiên cố,
thế nên tất cả pháp không có kẻ biết, không có kẻ thấy.
* Lại nữa, Tu bồ
đề, tại sao tất cả pháp không có kẻ biết, không có kẻ thấy?
Vì tất cả pháp không có nương tựa, không bị ràng
buộc. Vì thế nên tất cả pháp không có kẻ biết không có kẻ
thấy.
Như vậy, Tu bồ
đề, Bát nhã ba la mật hay sanh chư Phật, hay chỉ bày
tướng thế gian. Vì không thấy có tướng sắc nên chỉ bày tướng
thế gian; không thấy tướng thọ, tưởng, hành, thức, nên chỉ
bày tướng thế gian, cho đến không thấy tướng Nhất thiết
chủng, nên chỉ bày tướng thế gian. Như vậy, Tu bồ đề, Bát
nhã ba la mật hay sanh chư Phật, hay chỉ bày tướng thế gian.
Tu bồ đề thưa:
Bạch đức Thế Tôn, vì sao không thấy tướng sắc nên Bát
nhã ba la mật chỉ bày tướng thế gian; không thấy tướng thọ,
tưởng, hành, thức, cho đến không thấy tướng trí Nhất thiết
chủng, nên chỉ bày tướng thế gian?
Phật bảo Tu bồ
đề: Nếu không duyê n sắc sanh thức, ấy gọi là không
thấy tướng sắc nên chỉ bày; không duyên thọ, tưởng, hành,
thức, sanh thức cho đến không duyên trí Nhất thiết chủng
sanh thức, ấy gọi là không thấy tướng trí Nhất thiết chủng
nên chỉ bày. Như vậy, Tu bồ đề, Bát nhã ba la mật sâu xa ấy
hay sanh chư Phật, hay chỉ bày tướng thế gian.
* Lại nữa, Tu bồ
đề, là m sao Bát nhã ba la mật hay sanh chư Phật, hay
chỉ bày tướng thế gian? Tu bồ đề, Bát nhã ba la mật chỉ bày
thế gian không? Chỉ bày thế gian không, thế nào? Là chỉ bày
thế gian năm uẩn không, chỉ bày thế gian mười hai nhập
không, chỉ bày thế gian mười tám giới không, chỉ bày thế
gian mười hai nhân duyên không, chỉ bày thế gian ngã kiến
làm căn bản cho sáu mươi hai kiến không, chỉ bày thế gian
mười thiện đạo không, chỉ bày thế gian bốn thiền, bốn tâm vô
lượng, bốn định vô sắc không; chỉ bày thế gian ba mươi bảy
phảm trợ đạo không; chỉ bày thế gian sáu Ba la mật không,
chỉ bày thế gian nội không không, chỉ bày thế gian ngoại
không không, chỉ bày thế gian nội ngoại không không, chỉ bày
thế gian vô pháp không không, chỉ bày thế gian hữu pháp
không không, chỉ bày thế gian vô pháp hữu pháp không không,
chỉ bày thế gian hữu vi tánh không, chỉ bày thế gian vô vi
tánh không, chỉ bày thế gian Phật mười lực không, chỉ bày
thế gian mười tám pháp không chung không, cho đến chỉ bày
thế gian trí Nhất thiết chủng không. Như vậy, Tu bồ đề, Bát
nhã ba la mật hay sanh chư Phật, hay chỉ bày tướng thế gian.
* Lại nữa, Tu bồ
đề, Phật do Bát nhã ba la mật chỉ bày thế gian không,
biết thế gian không, giác thế gian không, tư duy thế gian
không, phân biệt thế gian không. Như vậy, Tu bồ đề, Bát nhã
ba la mật hay sanh chư Phật, hay chỉ bày tướng thế gian.
* Lại nữa, Tu bồ
đề, Bát nhã ba la mật chỉ bày thế gian Phật không,
chỉ bày thế gian Phật không thế nào? Là chỉ thế gian năm
uẩn không, cho đến chỉ bày thế gian trí Nhất thiết chủng
không. Như vậy, Tu bồ đề, Bát nhã ba la mật hay sanh
chư Phật, hay chỉ bày tướng thế gian.
* Lại nữa, Tu bồ
đề, Bát nhã ba la mật chỉ bày thế gian Phật không thể
nghĩ bàn, chỉ bày thế gian không thể nghĩ bàn thế nào? Là
chỉ bày thế gian năm uẩn không thể nghĩ bàn, cho đến chỉ bày
thế gian trí Nhất thiết chủng không thể nghĩ bàn.
* Lại nữa, Tu bồ
đề, Bát nhã ba la mật chỉ bày thế gian Phật lìa.Chỉ
bày thế gian lìa thế nào? Là chỉ bày thế gian năm uẩn lìa,
cho đến chỉ bày thế gian nhất thiết chủng lìa. Như vậy, Tu
bồ đề, Bát nhã ba la mật chỉ bày thế gian Phật lìa.
* Lại nữa, Tu bồ
đề, Bát nhã ba la mật chỉ bày thế gian Phật tịch
diệt. Chỉ bày thế gian tịch diệt thế nào? Là chỉ bày thế
gian năm uẩn tịch diệt, cho đến
chỉ bày thế gian trí Nhất thiết chủng tịch diệt.
* Lại nữa, Tu bồ
đề, Bát nhã ba la mật chỉ bày thế gian rốt ráo không.
Chỉ bày thế gian rốt ráo không thế nào? Là chỉ bày thế gian
năm uẩn rốt ráo không, cho đến
chỉ bày thế gian trí Nhất thiết chủng rốt ráo không.
* Lại nữa, Tu bồ
đề, Bát nhã ba la mật chỉ bày thế gian Phật tánh
không. Chỉ bày thế gian tánh không là thế nào? Là chỉ bày
thế gian năm uẩn tánh không,
cho đến chỉ bày thế gian trí Nhất thiết chủng không.
* Lại nữa, Tu bồ
đề, Bát nhã ba la mật chỉ bày thế gian Phật vô pháp
không. Chỉ bày thế gian vô pháp không thế nào? Là chỉ bày
thế gian năm uẩn vô pháp không,
cho đến chỉ bày thế gian trí Nhất thiết chủng không.
* Lại nữa, Tu bồ
đề, Bát nhã ba la mật chỉ bày thế gian Phật vô pháp
hữu pháp không. Chỉ bày thế gian vô pháp hữu pháp không thế
nào? Là chỉ bày thế gian năm uẩn vô pháp hữu pháp không,
cho đến chỉ bày thế gian trí Nhất thiết chủng không.
* Lại nữa, Tu bồ
đề, Bát nhã ba la mật chỉ bày thế gian Phật độc
không. Chỉ bày thế gian độc không thế nào? là chỉ bày thế
gian năm uẩn độc không, cho đến
chỉ bày thế gian trí Nhất thiết chủng không.
Như vậy, Tu bồ đề, Bát nhã
ba la mậthay sanh chư Phật, hay chỉ bày tướng thế gian. Tu
bồ đề, Bát nhã ba la mật thâm sâu ấy chỉ bày tướng thế gian
đó là tướng chẳng sanh đời này, đời sau, vì cớ sao? Vì các
pháp không cần dùng tướng sanh đời này đời sau.
LUẬN: Bát nhã ba
la mật là mẹ chư Phật, vì nhân duyên ấy chư Phật nương tựa
Bát nhã ba la mật mà trú. trong Kinh khác nói: Phật nương
tựa pháp, lấy pháp làm thầy. Trong đây
Phật bảo Tu bồ đề: "Pháp ấy chính là Bát nhã ba la
mật" Trong tất cả các pháp bất thiện, không gì hơn tà kiến,
vì tà kiến nên không biết ân; tự nhiên ta phải là người biết
ân, Bát nhã là tối thượng trong các thiện pháp thế gian, hay
làm cho đời này có danh tiếng tốt, đời sau có quả báo thượng
diệu, thế nên, Phật tự nói: Ta là đệ nhất trong hạng người
biết ân, báo ân. Ta còn biết cái ân của bố thí, trì giới
huống gì Bát nhã ba la mật.
* Lại nữa, các
Thiên tử nghĩ rằng: Bát nhã ba la mật rốt ráo không, không
có tướng nhất định, nên hoặc có người không ham, không qúy,
thế nên Phật nói Ta là bậc tôn qúy trong ba cõi còn cúng
dường Bát nhã ba la mật, huống gì người khác. Lại có người
sanh nghi, Phật đối với hết thảy thế gian, không vướng mắc
như hư không, cớ gì lại ham Bát nhã ba la mật ấy và tôn
trọng, tán thán tợ như tham đắm. Thế nên Phật nói: Ta không
có tâm tham, chỉ phân biệt cho biết các pháp tốt xấu, phải
dùng sức nhiều hay ít. Biết Bát nhã ba la mật ấy, có công năng
dứt hết thảy lý luận, mở ba thừa đạo, diệt sạch các khổ; có
vô lượng, vô biên công đức như vậy, nên tán thán, tôn
trọng, cúng dường. Ví như người
đi trên đường an ổn, tránh khỏi các hoạn nạn, thường nghĩ
chỉ cho người khác biết con đường ấy.
Phật biết làm
người là biết người khác có ơn với mình. Có chỗ khác
nói Phật không biết làm người sợ người ta nghi, nên nói Phật
biết tất cả pháp không có tướng tạo tác, biết tất cả pháp
không có tướng tạo tác, nên nói không làm người, chớ chẳng
vì không biết ân, nên gọi là không biết làm người. Nói biết
làm người, không biết làm người, không có lỗi. Bấy giờ Tu bồ
đề dùng nghĩa rốt ráo "không"
vấn nạn: Bạch đức Thế Tôn, nếu vì hết thảy pháp rốt
ráp không, nên không có người biết, người làm, làm sao Bát
nhã ba la mật hay sanh chư Phật, hay chỉ bày thế gian (Quốc
độ - N.D) chư Phật? Phật chấp thuận câu hỏi ấy,
và tự nói nhân duyên: Hết thảy pháp "không", hư dối không
kiên cố. Ý Tu bồ đề: Tưóng hết
thảy các pháp ám độn, không thấy, không biết, làm sao
riêng Bát nhã ba la mật có thể thấy, có thể biết? Ý Phật:
Hết thảy pháp chẳng phải chỉ không biết, không thấy vì hết
thảy pháp không, không kiên cố,
không kẻ biết, không kẻ thấy, cũng không thể thủ đắc, nên
không nên vấn nạn.
* Lại nữa, vì hết
thảy pháp không nơi nương tựa, không bị ràng buộc nên không
có kẻ biềt, không có kẻ thấy. Nhiều mặt phá các pháp làm cho
không, hoặc phá thường, tu hành vô thường mà vào không, hoặc
phá thật mà vào không, hoặc vì rốt ráo hết tận nên vào
không, hoặc vì hết thảy pháp xa lìa nên vào không. Vào không
như vậy nay vì hết thảy pháp không có trú xứ, không có nương
tựa, không có ràng buộc; vì không nương tựa nên cũng không
sanh diệt, thế nên tức là không. Không ràng buộc là thật
tướng hết thảy pháp không bị ràng buộc hay ra khỏi ba cõi,
vì cớ sao? Vì ba cõi hư dối, dùng hết thảy pháp, không kẻ
biết, không kẻ thấy; như vậy mà chỉ bày thế gian. Bát nhã
không thấy các pháp sắc v.v... nên chỉ bày thế gian. Các
pháp sắc v.v... không nương tựa, không bị ràng buộc, hư dối,
nên không thấy. Trong đây Phật tự nói nhân duyên của không
thấy đó là không sanh thức duyên sắc, cho đến không sanh
thức duyên trí Nhất thiết chủng, ấy gọi là không thấy sắc
pháp v.v...
Hỏi: Thức có thể
không sanh, chứ sắc làm sao không sanh?
Ðáp: Tướng não
hoại là sắc, nhơn thức nên mới phân biệt biết, không thức
thời cũng không có tướng não hoại.
* Lại nữa, hết
thảy pháp do nhân duyên hòa hợp nên có tướng sanh, không có
tự tánh. Như có các duyên thân, thức, xúc hòa hợp nên biết
tướng cứng của đất, tướng cứng ấy không lìa thân và thức mà
có được. Thế nên các pháp đều do hòa hợp sanh, không có tự
tánh.
Bát nhã ba la mật
chỉ bày thế gin không, là thế gian gọi là
năm uẩn, cho đến trí Nhất thiết
chủng. Khi Bồ tát tu hành Bát nhã ba la mật, quán
pháp ấy hoặc lớn, hoặc nhỏ, hoặc trong, hoặc ngoài, không có
pháp nào chẳng "không", ấy gọi là Bát nhã ba la mật chỉ bày
thế gian không.
Phật chỉ bày thế
gian không, là vì hoặc có người
nghi Phật ưa đắm pháp nên mới nói trong Bát nhã ba la
mật chỉ bày tướng thế gian không, chứ chẳng phải là thật
tướng thường có của các pháp ấy. Thế nên Phật nói: Ta chẳng
phải ưa đắm pháp nên nói: "Phật biết tướng các pháp so lường
gốc ngọn, suy nghĩ, phân biệt, không có pháp gì ra ngoài
không. Ta chẳng phải chỉ tán tụng nghe theo người khác nói,
mà ta do nội tâm giác tri tư duy phân biệt nên nói chỉ bày
tướng thế gian "không". Một đoạn nói chỉ bày tướng thế gian
không này là như trên đã rộng nói, xa lìa 62 chấp kiến, nay
chỉ nói năm uẩn cho đến trí
Nhất thiết chủng. Khi ấy chúng hội cho rằng Bát nhã
ba la mật là rốt ráo không, tâm tưởng đắm lấy thế nên Phật
nói bất khả tư nghì. Bất khả tư nghì là rốt ráo không, cũng
không thể thủ đắc. Rốt ráo không hoặc gọi là lìa, hoặc gọi
là tịch diệt.
Lìa tức là phân
tán, các pháp lâu về sau không còn sót lạivà tự lìa tánh nó.
Biết rốt ráo không rồi, không có tâm số pháp, không có ngữ
ngôn, nên gọi là tịch diệt. Nghĩa rốt ráo không v.v... như
trước đã nói.
Hỏi: Thế nào là
độc không?
Ðáp: Mười tám
"Không" đều là nhân duyên đối
đãi, như nội không là nhân pháp ở bên trong (trong
thân - N.D) nên gọi là nội không, nếu không có pháp bên
trong thời không có nội không; mười tám "Không" đều như vậy.
Ðộc không này, không có nhân duyên, không có đối
đãi nên gọi là độc không.
* Lại nữa, độc
không là như hư không, như như, pháp tánh, thực tế,
Niết bàn.
Chỉ bày thế gian,
chẳng phải tướng đời nay, chẳng
phải tướng đời sau là có các ngoại đạo chỉ nói đời nay,
không nói đời sau. Người ấy tà kiến, rơi vào đoạn
diệt; có người nói đời nay, đời sau rằng thần ngã (thần
hồn - N.D) đời nay nhập vào
đời sau, người ấy tà kiến rơi vào chấp thường. Bát
nhã ba la mật lìa hai bên đoạn thường mà nói trung đạo, tuy
không mà chẳng chấp trước không, chỉ vì người nên nói có
tội, có phước, tuy nói tội phước mà không sanh tà kiến chấp
thường cũng đối với "Không"
không bị chướng ngại. Trong đây Phật tự nói nhân duyên:
Rốt ráo không, vì sao có chấp kiến đời
nay đời sau, hoặc đoạn, hoặc thường.
KINH: Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, Bát nhã ba la
mật ấy vì đại sự nên sanh khởi. Bạch đức Thế Tôn, Bát nhã ba
la mật ấy, vì bất khả tư nghì sự nên sanh khởi. Bạch đức Thế
Tôn, Bát nhã ba la mật ấy vì bất khả xứng sự nên sanh khởi,
Bạch đức Thế Tôn, Bát nhã ba la mật ấy vì vô lượng sự nên
sanh khởi. Bạch đức Thế Tôn, Bát nhã ba la mật ấy vì vô đẳng
đẳng sự nên sanh khởi.
Phật dạy: Như
vậy, như vậy! Tu bồ đề, Bát nhã ba la mật vì đại sự
nên sanh khởi. Vì bầt tư nghì sự nên sanh khởi. Vì bất khả
xứng sự nên sanh khởi. Vì vô lượng sự nên sanh khởi. Vì vô đẳng
đẳng sự nên sanh khởi.
Tu bồ đề, thế nà o
Bát nhã ba la mật vì đại sự nên sanh khởi? Này Tu bồ đề,
đại sự của chư Phật là cứu độ hết thảy chúng sanh, không bỏ
hết thảy chúng sanh.
Tu bồ đề, thế nà o
là Bát nhã ba la mật vì bất tư nghì sự nên sanh khởi? Này Tu
bồ đề, Bất tư nghì là pháp của Phật, pháp của Như Lai, pháp
của người Tự nhiên, pháp của người Nhất thiết trí. Vì vậy
nên chư Phật Bát nhã ba la mật vì bất tư nghì sự nên sanh
khởi.
Tu bồ đề, thế n ào
Bát nhã ba la mật vì bất khả xứng sự nên sanh khởi? Này Tu
bồ đề, trong hết thảy chúng sanh, không ai có thể suy nghĩ,
cân lường Phật pháp, Như Lai pháp, pháp của người Tự nhiên,
pháp của người Nhất thiết trí nên Bát nhã ba la mật vì bất
khả xứng sự nên sanh khởi.
Tu bồ đề, thế nà o
Bát nhã ba la mật vì vô lượng sự nên sanh khởi? Này Tu bồ
đề, trong hết thảy chúng sanh, không ai có thể lường hết
Phật pháp, Như Lai pháp, pháp của người Tự nhiên, pháp của
người Nhất thiết trí. Thế nên Bát nhã ba la mật vì vô lượng
sự nên sanh khởi.
Tu bồ đề, thế nà o
Bát nhã ba la mật vì vô đẳng
đẳng sự nên sanh khởi? Này Tu bồ đề, trong hết thảy
chúng sanh không ai có thể ngang bằng với Phật, huống gì quá
hơn. Thế nên Bát nhã ba la mật vì vô đẳng
đẳng sự nên sanh khởi. Tu bồ
đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, chỉ có Phật pháp, Như
Lai pháp, pháp của người Tự nhiên, pháp của người
Nhất thiết trí, không thể nghĩ bàn, không thể cân, không thể
lường, vô đẳng đẳng sự sanh
khởi ư?
Phật bảo Tu bồ
đề: Như vậy, như vậy! Phật pháp, Như Lai pháp, pháp
người Tự nhiên, pháp người Nhất thiết trí là không thể nghĩ
bàn, không thể cân, không có lường, không chi ngang bằng.
Sắc cũng không thể nghĩ bàn, không thể cân, không thể lường,
không thể ngang bằng; thọ, tưởng, hành, thức cũng không thể
nghĩ bàn, không thể cân, không thể lường, không chi ngang
bằng; cho đến trí Nhất thiết chủng, pháp tánh, pháp tướng
không thể nghĩ bàn, không thể cân, không thể lường, không
chi ngang bằng. Trong đó tâm
tâm số pháp bặt dứt, không thể có được.
Lại nữa, Tu
bồ đề, sắc không thể nghĩ bàn là cũng không thể có được,
cho đến sắc không chi ngang bằng là cũng không thể có được;
thọ, tưởng, hành, thức cho đến trí Nhất thiết chủng không
chi ngang bằng là cũng không thể có đưọc.
Tu bồ đề bạch
Phật rằng: Nhân duyên gì sắc không thể nghĩ bàn ...
cho đến không có chi bằng là cũng không thể có được? Thọ,
tưởng, hành, thức cho đến trí Nhất thiết chủng không có chi
bằng là cũng không thể có được?
Phật bảo Tu bồ
đề: Vì không thể lường về sắc, cũng không thể lường
về thọ, tưởng, hành, thức cho đến không thể lường về trí
Nhất thiết chủng.
Tu bồ đề bạch
Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, vì nhân duyên gì không
thể lường về sắc, cho đến không thể lường về trí Nhất thiết
chủng?
Phật bảo Tu bồ
đề: Vì sắc không thể nghĩ bàn, cho đến vì sắc không
chi sánh bằng nên không thể lường cho đến vì trí Nhất thiết
chủng không thể nghĩ bàn, vì trí Nhất thiết chủng không chi
sánh bằng nên không thể lường.
Tu bồ đề, ý ông
nghĩ sao, không thể nghĩ bàn cho đến không chi sánh bằng
liệu có thể có được chăn g? Sắc, thọ, tưởng, hành thức
cho đến trí Nhất thiết chủng
liệu có thể có được chăng?
Tu bồ đề thưa:
Bạch đức Thế Tôn, không thể có được.
Này Tu bồ đề, vì
thế nên hết thảy pháp không thể nghĩ bàn, cho đến
không chi sánh bằng. Như vậy, Tu bồ đề, pháp của chư
Phật không thể nghĩ bàn, không thể cân, không thể lường,
không chi ngang bằng. Tu bồ đề, ấy gọi là pháp chư Phật
không thể nghĩ bàn, cho đến không chi ngang bằng.
Tu bồ đề, Pháp
chư Phật không thể nghĩ bà n, vì vượt quá tướng nghĩ
bàn; không thể cân vì vượt quá cân lường; không thể lường vì
vượt quá sự lường; không chi ngang bằng vì vượt quá ngang
bằng.
Tu bồ đề, vì
nhân duyên ấy, hết thảy pháp cũng là tướng không thể nghĩ
bàn, cho đến không chi ngang bằng.
Tu bồ đề, gọi
không thể nghĩ bà n là nghĩa không thể nghĩ bàn; gọi
không thể cân, là nghĩa không thể cân; gọi không lường là
nghĩ không thể lường, gọi không chi ngang bằng là nghĩa
không thể ngang bằng.
Tu bồ đề, ấy là
pháp chư Phật không thể nghĩ bàn cho đến không chi ngang
bằng. Không thể nghĩ bàn như hư không, không thể nghĩ bàn,
không thể cân như hư không không thể cân, không có suy lường
như hư không có thể lường, không chi ngang bằng như hư không
không chi ngang bằng. Tu bồ đề, ấy cũng gọi pháp chư Phật
không thể nghĩ bàn, cho đến không chi ngang bằng. Phật pháp
vô lưọng như vậy, hết thảy thế gian, người, trời, A tu la
không ai có thể nghĩ bàn, trù lượng.
Trong khi nói
phẩm các Phật pháp không thể nghĩ bàn, không thể cân không
có lường, không chi ngang bằng. 500 Tỳ kheo vì không lãng
thọ hết thảy pháp nên các lậu sạch hết, tâm giải thoát được
A la hán. 20 Tỳ kheo ni cũng không chấp thủ hết thảy pháp
nên sạch hết các lậu được A la hán. 6 vạn Ưu bà tắc, 3 vạn
Ưu bà di đối với các pháp xa lìa trần cấu, đối với các pháp
con mắt pháp sanh khởi, 20 Bồ tát ma
ha tát được vô sanh pháp nhẫn sẽ đưọc thọ ký trong hiền kiếp
này.
LUẬN: Tu bồ đề
thâm hiểu tướng Bát nhã đối với các pháp không đắm, không
ngại, tâm sanh hoan hỷ. Bạch Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn,
Bát nhã ba la mật vì đại sự nên sanh khởi v.v...
Ðại sự là phá hết thảy đại khổ não cho chúng
sanh, đem cho chúng sanh đại
pháp vô thượng của Phật nên gọi là
đại sự. Nghĩa là
không thể nghĩ bàn như trước đã nói, không thể cân
là chỉ trí tuệ, thực tướng Bát nhã quyết định, rất sâu, rất
nặng. Trí tuệ mỏng nhẹ nên không thể cân, lại vì Bát nhã
nhiều trí tuệ ít nên không thể cân. Lại chỗ lợi ích Bát nhã
rất rộng, khi chưa thành có thể cho quả báo thế gian, khi
thành rồi cho quả báo đại pháp. Lại biết rốt ráo cùng tận
gọi là cân, Bát nhã ba la mật không thể cân biết, hoặc
thường, hoặc vô thường, hoặc thật, hoặc hư, hoặc có, hoặc
không, như vậy là những nghĩa không thể cân. Vô lượng
sự là có người nói Cân tức là lường, có người nói
chấp thủ tướng tức là lường, Bát nhã ba la mật không thể thủ
tướng nên gọi là vô lường. Lại Bồ tát lấy bốn tâm vô lượng,
tu hành Bát nhã nên gọi là vô lượng. Lại lượng là trí tuệ.
Trí tuệ phàm phu, trí tuệ Nhị thừa, trí tuệ Bồ tát, không ai
có thể lường được biên giới của Bát nhã nên gọi là vô lượng.
Vô đẳng đẳng
(không chi ngang bằng) là vô
đẳng chỉ Niết bàn, hết thảy pháp hữu vi không có chi
bằng Niết bàn. Niết bàn có 3: Niết bàn Thanh văn; Niết bàn
Bích chi Phật; Niết bàn của Phật Bát nhã đưa
đến Ð?i thừa Niết bàn nên gọi là Bát nhã vô đẳng
đẳng.
* Lại nữa, hết
thảy chúng sanh, không thể ngang bằng Phật nên Phật là vô
đẳng; Bát nhã ba la mật lợi ích chúng sanh, tương tợ như
Phật nên gọi là vô đẳng đẳng.
* Lại nữa, pháp
chư Phật là vi diệu bậc nhất, không thể ngang bằng, không
thể sánh kịp, không thể so sánh; Bát nhã ba la mật hay làm
cho chúng sanh có được tâm ấy
nên gọi là vô đẳng đẳng.
* Lại nữa, vô
đẳng là thực tướng các pháp, các quán, các hành không
thể sánh kịp vì thật tướng không có hý luận, không thể phá
hoại được nên gọi là vô đẳng;
Bồ tát được vô đẳng ấy vì hay khởi tâm từ bi đối v?i
chúng sanh nên gọi là vô đẳng
đẳng. Tu bồ đề thuộc hàng Thanh văn không có Nhất thiết trí
mà có thể nói Bát nhã không thể nghĩ bàn ấy. Phật
chấp thuận lời đó. Phật tự nói
năm việc: Chúng sanh vô lượng vô biên nhiều hơn vi
trần trong mười phương hằng hà sa thế giới, chư Phật dùng
mười trí lực, muốn cứu vớt hết nên gọi là đại sự. Lại có Bồ
tát tu lâu ngày được vô sanh pháp nhẫn, vì không bỏ chúng
sanh nên không vào Vô dư Niết bàn.
* Lại nữa, lúc Bồ
tát ấy thành Phật đạo, vì chúng sanh nên chịu năm việc: 1.
Là chịu các lao khổ; 2. Là chịu bỏ cái vui tịch tịnh; 3. Là
chịu cộng sự với người ác; 4. Là chịu tiếp đối cùng người;
5. là chịu vào đại chúng hội.
Phật thâm đắc cái vui ly dục mà vì chúng sanh nên cam
chịu năm việc lao khổ, giống
như hưởng thọ công đức, ấy là đại sự. Không thể
nghĩ bàn là chỉ cho Phật pháp, Như Lai pháp, pháp
người Tự nhiên, pháp người Nhất thiết trí. Phật pháp là,
Phật gọi là giác đối với hết thảy vô minh, mê ngủ bắùt đầu
tỉnh giác gọi là giác. Như Lai là giống như chư Phật quá
khứ, tu hành sáu Ba la mật được
như tướng của các pháp, đi đến Phật đạo. Nay Phật cũng con
đường như vậy đi đến, như chư Phật quá khứ đi đến nên
gọi là Như Lai. Pháp người Tự nhiên là hàng
Thanh văn cũng có "giác" cũng có "như", nhưng nghe từ người
khác ấy là pháp đệ tử, nên
nói Phật là người tự nhiên, không nghe từ người khác.
Pháp người Nhất thiết trí là Bích chi Phật cũng tự
nhiên đắc quả, không nghe từ người khác nhưng không có Nhất
thiết trí. Bốn thứ pháp ấy, không có ai có thể suy nghĩ, cân
lường nên gọi là không thể nghĩ bàn, không thể cân, không
thể lường. Lại không có pháp gì tương tợ pháp ấy nên gọi là
vô đẳng đẳng.
Tui bồ đề sợ hàng
Bồ tát tân học chấp đắm bốn pháp ấy nên bạch Phật
rằng: Chỉ có bốn pháp ấy không thể nghĩ bàn, không có chi
ngang bằng chăng?
Phật đáp: Các
pháp sắc v.v... cũng không thể nghĩ bàn, không thể cân,
không thể lường, vô đẳng đẳng. Trong đây Phật tự nói nhân
duyê n vì các pháp sắc v.v... không thể có được.
Như vậy, Tu bồ
đề, các Phật pháp không thể nghĩ bà n, không thể nghĩ
bàn như việc nói trên. Luận giả trước giải rộng, trong đây
Phật nói lược, không thể nghĩ bàn là vượt qua tướng nghĩ
bàn, vượt qua tướng đẳng đẳng.
Về ý nghĩa, pháp Niết bàn không thể nghĩ bàn, về danh
tự vì thuộc Thế đế nên có thể nghĩ bàn. Như hư không, không
thể nghĩ bàn là như phẩm trước nói, tướng hư không không thể
nghĩ bàn, thế nên nói không thể nghĩ bàn cho đến
vô đảng đẳng như hư không, vì hư không không thể lấy
chi ví dụ nên gọi là vô đẳng
đẳng. Tướng Bát nhã ba la mật tức là tướng Phật pháp;
không thể nghĩ bàn, không thể cân, không thể lường, vô đẳng
đẳng tức là tướng Phật pháp. Phật pháp ấy, hết thảy
thế gian người, trời, A tu la, không ai có thể nghĩ bàn, cân
lường được. Trong sáu đường mà
trong đây chỉ nói ba đường là chúng sanh trong ba đường
thiện còn không thể cân
lường, huống chi chúng sanh trong ba đường ác.
Hỏi: Trong khi
nói phẩm này, cớ gì số Tỳ kheo ni, Bồ tát đắc
đạo ít?
Ðáp: Trong đây
phần nhiều tán thán pháp chư Phật là không thể nghĩ bàn,
không thể cân, không thể lường, không chi ngang bằng.
Người nghe đa số tăng thêm tín căn nên kẻ bạch y đắc đạo
nhiều, người nữ tuy có lòng tin nhiều mà trí tuẹâ ít
nên đắc đạo cũng ít. Kẻ áo
trắng tham đắm thế sự, trí tuệ cạn mỏng, căn tánh ám độn,
không thể sạch hết lậu hoặc. Các Tỳ kheo các căn tín và
tuệ bằng nhau, nhất tâm cầu đạo
nên người sạch hết lậu hoặc nhiều. Tỳ kheo ni vì trí
tuệ ít nên chỉ có 20 người sạch hết lậu hoặc, tuy nhiều
người được đạo quả ban đầu số
vượt hơn kẻ áo trắng, nhưng vì không sạch hết lậu
hoặc, không khác kẻ áo trắng thì trong
đây không nói. Vào vô sanh pháp
nhẫn thậm thâm khó được vào nên ít người; lại vì
người đối với pháp này gieo trồng nhân duyên ít. Sẽ đưọc thọ
ký trong hiền kiếp là hoặc có người nói: Trong hiền kiếp
ngàn đức Phật trừ bốn đức Phật,
sẽ thọ ký cho. Hoặc có người nói, đức Phật Thích ca Văn thọ
ký cho, trong hiền kiếp làm Phật ở các thế giới khác.
(Hết cuốn 70 của bản Hán)
-
- --o0o --
Mục
Lục Tập 4
Cuốn 61
|
62
|
63
|
64
|
65
|
66 |
67
|
68 |
69 |
70
71
|
72
|
73
|
74
|
75
|
76
|
77
|
78
|
79
|
80
--o0o --
Mục Lục Tổng Quát Luận Đại Trí Độ
Tập 01
|
Tập 02
|
Tập 03
|
Tập 04
|
Tập 05
--o0o --
Cập nhật: 01-07-2003
|
|