GIẢI THÍCH:
PHẨM
VĂN TRÌ THỨ 45.
(Kinh Ma ha Bát nhã ghi: Phẩm Kinh Nhỉ Văn
Trì)
(Kinh Ðại Bát Nhã ghi: Phần 2, Phẩm Ðông
Bắc Phương thứ 43)
KINH:
Bấy giờ Thích đề hoàn nhân nghĩ
rằng: Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân, tai được nghe Bát nhã
ba la mật, là người đời trước
đã làm công đức đối với
chư Phật, và đã theo cùng thiện tri thức; huống gì
thọ trì, thân cận, đọc tụng,
nhớ nghĩ đúng, tu hành đúng như lời nói, nên biết
thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đã từng thân cận chư Phật
nhiều; hoặc được nghe thọ trì, nhớ nghĩ đúng,
tu đúng như nói, có thể hỏi có thể đáp, nên biết
thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy, vì đời
trước đã cúng dường thân cận chư Phật nhiều, nên nghe
Bát nhã ba la mật sâu thẳm mà không kinh, không hãi, không
sợ, nên biết thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy, trong vô lượng
ức kiếp đã tu Thí ba la mật, Giới ba la mật, Nhẫn ba la mật,
Tấn ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba la mật.
Bấy giờ Xá lợi
phất bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử
thiện nữ nhân, nghe Bát nhã
ba la mật sâu thẳm ấy,
không kinh, không hãi, không sợ, nghe rồi thọ trì, thân cận
tu hành đúng như nói, nên biết thiện nam tử, thiện nữ nhân
ấy, như Bồ tát ma ha tát không thối chuyển, vì sao? Bạch đức
Thế Tôn, vì Bát nhã ba la mật ấy rất sâu, nếu đời trước tu
Thí ba la mật, Giới ba la mật, Nhẫn ba la mật, Tấn ba la
mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba la mật, không lâu, thời
không thể tin hiểu Bát nhã ba la mật sâu thẳm.
Bạch đức Thế Tôn,
nếu có thiện nam tử thiện nữ nhân, hủy báng Bát nhã
ba la mật sâu thẳm, nên biết người ấy đời trước cũng hủy
báng Bát nhã ba la mật sâu thẳm, vì sao? Vì thiện nam tử
thiện nữ nhân ấy, khi nghe nói Bát nhã ba la mật sâu thẳm,
không tin không vui, tâm không thanh tịnh, nên biết thiện
nam tử, thiện nữ nhân ấy đời trước không hỏi không nạn Phật
và đệ tử nên như thế nào tu Thí ba la mật, Giói ba la mật,
Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba
la mật; nên tu như thế nào nội không cho đến nên tu như thế
nào vô pháp hữu pháp không; nên tu như thế nào bốn niệm xứ,
cho đến nên tu như thế nào tám Thánh đạo phần; nên tu như
thế nào Phật mười lực, cho đến nên tu như thế nào mười tám
pháp không chung?
Thíc đề hoà
n
nhân nói với Xá lợi phất: Bát nhã ba la mật sâu thẳm ấy, nếu
có thiện nam tử, thiện nữ nhân tu Thí ba la mật, Giói ba la
mật, Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã
ba la mật không lâu, không tu nội không cho đến vô pháp hữu
pháp không; không tu bốn niệm
xứ, bốn tâm vô lượng, bốn định vô sắc, không tu bốn niệm xứ
cho đến tám Thánh đạo phần; không tu Phật mười lực cho đến
mười tám pháp không chung. người như vậy không tin không
hiểu Bát nhã ba la mật, có gì đáng quái lạ! Ðại đức
Xá lợi phất, tôi kính lễ Bát nhã ba la mật, đảnh lễ Bát nhã
ba la mật là đảnh lễ nhất thiết trí.
Phật bảo Thích đề
hoà
n nhân: Như vậy, như vậy, Kiều thi ca, kính lễ Bát
nhã ba la mật là kính lễ nhất thiết trí, vì sao? Kiều thi
ca, vì nhất thiết trí của chư Phật đều từ Bát nhã ba la mật
xuất sanh. Nhất thiết trí là Bát nhã ba la mật. Vì thế, Kiều
thi ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn trụ ở nhất thiết
trí, nên trú ở Bát nhã ba la mật. Nếu thiện nam tử, thiện nữ
nhân muốn trú ở đạo chủng trí nên tập hành Bát nhã ba la
mật. Muốn dứt tất cả kiết sử và tập khí, nên tập hành Bát
nhã ba la mật.
Thiện nam tử,
thiện nữ nhân muốn chuyển pháp luân, nên tập hành Bát nhã ba
la mật. Thiện nam tử thiện nữ nhân, muốn được
quả Tu đà hoàn, quả Tư dà hàm, quả A na hàm, quả A la
hán, nên tập hành Bát nhã ba la mật. Muốn được
Bích chi Phật đạo, nên tập hành Bát nhã ba la mật,
muốn giáo hóa chúng sanh làm cho được
quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la
hán, Bích chi Phật đạo, nên tập hành Bát nhã ba la mật. Nếu
thiện nam tử thiện nữ nhân muốn giáo hóa chúng sanh làm cho
được Vô thượng Chánh đẳng Bồ
đề, hoặc muốn thống nhiếp Tỳ kheo tăng, nên tập hành
Bát nhã ba la mật.
LUẬN: Thích đề
hoà
n nhân là vua các trời, trí lợi căn thắng hơn, vì
tin Phật pháp, lại tăng ích gấp bội, như lửa gặp gió, lại
càng cháy bừng. Nghe Tu bồ đề dùng các nhân duyên khen ngợi
Bát nhã ba la mật, Phật lấy lẽ sâu xa tán thành lời khen
ngợi ấy. Ðế thích phát tâm hy hữu nghĩ rằng: Nếu thiện nam
tử thiện nữ nhân, tai được nghe kinh Bát nhã, là người ở đời
trước đã cúng dường nhiều chư Phật, làm công đức lớn,
nên đời nay gặp được thầy tốt,
thiện tri thức đồng học, nhân đời trước cúng dường Phật,
duyên đời nay gặp thiện tri thức, nên nghe Bát nhã ba
la mật thì tin được, huống gì còn đọc
tụng, suy nghĩ, nhớ nghĩ đúng, tu tập thiền định, trù
lượng phân biệt nghĩa lý ý thú, hay thành tựu sự việc. nên
biết người ấy, từ nơi chư Phật và đệ tử quá khứ, nghe nghĩa
lý Bát nhã ba la mật liền tín thọ, không hãi, không sợ, vì
sao? Vì người ấy từng trong vô lượng vô số kiếp tu các
công đức sáu Ba la mật v.v...
cho nên tuy chưa đến địa vị bất thối chuyển, mà đối với thâm
pháp chẳng nghi chẳng hối, thí như lông nhỏ khô mới mọc trên
ngón tay cái, theo gió thổi qua lại đông tây, còn lông ưót
dây thừng cứng thời không lay động. Bồ tát mới phát tâm cũng
như thế, tu đức chẳng lâu, làm phước cạn mỏng, nghe
theo lời người khác, không thể tín thọ Bát nhã ba la mật;
nếu tu phước đức lâu, không nghe theo lời người khác, thời
có thể tín thọ Bát nhã ba la mật sâu thẳm, không kinh, không
sợ.
Trong khi Ðế
thích tư duy niệm tưởng Bát nhã ba la mật có vô lượng công
đức, Xá lợi phất biết tâm niệm của Ðế thích nên bạch Phật
rằng: Bạch đức Thế Tôn, Thiện nam tử thiện nữ nhân, tuy chưa
vào Bồ tát vị, mà có thể tín thọ Bát nhã ba la mật sâu thẳm,
không kinh, không sợ, làm đúng như lời nói, ấy là người có
phước đức, trí tuệ, tín lực lớn, nên biết như địa vị bất
thối chuyển không khác.
Trong đây Phật tự
nói nhân duyê
n: Bát nhã ba la mật rất sâu, không có
tướng có thể thủ, có thể tin, có thể thọ, nếu tín thọ được,
đó là hy hữu, như người trồng cây giữa không, là việc
rất khó.
Tất cả phàm phu
khi được pháp thù thắng thời bỏ việc củ, như được
cái vui thiền định liền bỏ cái vui ngũ dục. Cho đến nương
chỗ Hữu đảnh bỏ công đức ở chỗ Vô sở hữu, không thể không có
nơi nương tựa mà có việc bỏ được,
như con sâu đo tìm cành, đặt chân trước mới tiến bước
chân sau, tận cùng mút cành, không còn chỗ nương tựa, mới
trở lui chỗ cũ. Bồ tát ấy chưa đắc
đạo, đối với Bát nhã ba la mật không có chỗ nương
tựa, mà có thể tu phước đức, bỏ
năm dục, việc ấy hy hữu! Trong đây nói về nhân duyên
là người ấy đời trước đã tín
thọ, tu lâu sáu Ba la mật, nhóm nhiều các phước đức. Trái
với tín thọ, là hủy báng Bát nhã. Như người có phước
đức sâu dày, là do tích tập lâu ngày, người không tin mà hủy
báng cũng do tập quen lâu ngày.
Hỏi: Nếu đời
trước chê
bai bủy báng, thì đáng
đọa địa ngục, cớ gì lại được nghe Bát nhã?
Ðáp: Có người
nói, người ấy tội đọa địa ngục
đã hết, trở lại hủy báng, chứ không nói về thân kế
tiếp sau.
Có người nói: Gây
nghiệp tích chứa sâu nặng, thời
mới đưa đến quả báo, còn người này đời trước, tuy
chẳng tin, mà tích chứa nghiệp chưa dày, thời chưa chịu quả
báo; nhờ phước đức dư thừa được
sanh trong loài người, tiếp tục lại không tin.
* Lại nữa, có
người nói, tội ngũ nghịch, thân kế tiếp mới chắc chắn thọ
báo, còn tội khác thì không như vậy, hoặc thân kế tiếp, hoặc
thân lâu sau nữa.
Khi ấy Ðế thích
nói với Xá lợi phất: Bát nhã ba la mật ấy rốt ráo không,
không có gì của chính nó, nên rất sâu. Bồ tát không tu công
đức lâu, thời tâm nhiễm trước kiên cố, sức tin nhỏ yếu, nên
chẳng tin Bát nhã ba la mật cho đến
nhất thiết trí, đâu đủ cho quái lạ.
Ðế thích suy nghĩ
trù lượng rằng: Tin Bát nhã ba la mật, phước đức vô lượng,
chẳng tin mắc tội rất nặng, người thâm ái Bát nhã ba la mật
nên phát ra lời rằng: Tôi sẽ kính lễ Bát nhã, vì sao? Vì
kính lễ Bát nhã ba la mật, là kính lễ nhất thiết trí, kính
lễ nhất thiết trí là kính lễ ba đời mười phương Phật.
Khi ấy, Phật nhận
lời kia, và nói nhân duyên tán thán Ba la mật, là tất cả trí
tuệ của chư Phật đều từ trong
Bát nhã xuất sanh, thế nên nói: Nếu có Bồ tát muốn
trụ trong nhất thiết trí cho đến
thống nhiếp Tỳ kheo tăng, thời nên tập hành Bát nhã
ba la mật.
KINH:
Thích đề hoàn nhân bạch Phật
rằng: Bạch đức Thế Tôn, khi Bồ tát ma ha tát muốn tu hành
Bát nhã ba la mật, thế nào là trú Bát nhã ba la mật, Thiền
ba la mật, Tấn ba la mật, Nhẫn ba la mật, Giới ba la mật,
Thí ba la mật? Thế nào là trú nội không cho đến vô pháp hữu
pháp không? Thế nào là trú bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn
định vô sắc, năm thần
thông? Thế nào là trú bốn niệm xứ cho đến
tám Thánh đạo phần? Thế nào là trú Phật mười lực cho
đến tám pháp không chung?
Bạch đức Thế Tôn,
Bồ tát ma ha tát là
m sao tu hành Bát nhã ba la mật
cho đến Thí ba la mật, nội
không cho đến mười tám pháp không chung?
Phật dạy: Thích
đề hoà
n nhân: Lành thay, lành thay, Kiều thi ca,
người vui hỏi được việc ấy, đều
là do thần lực Phật. Kiều thi ca, Bồ tát ma ha tát
khi tu hành Bát nhã ba la mật, nếu không trụ sắc là tu hành
Bát nhã ba la mật, nếu không trụ thọ, tưởng, hành, thức là
tu hành Bát nhã ba la mật, không trụ mắt, tai, mũi, thân, ý,
sắc, tiếng, mùi, vị, xúc, pháp, nhãn giới, cho đến ý thức
giới, cũng như vậy.
Kiều thi ca, nếu
Bồ tát ma ha tát không trú Bát nhã ba la mật là tập hành Bát
nhã ba la mật, không trú Thiền ba la mật là tập hành Bát nhã
ba la mật, không trú Tấn ba la mật là tập hành Bát nhã ba la
mật, không trú Nhẫn ba la mật là tập hành Bát nhã ba la mật,
không trú Giới ba la mật là tập hành Bát nhã ba la mật,
không trú Thí ba la mật là tập hành Bát nhã ba la mật.
Như vậy, Kiều thi
ca, ấy gọi là Bồ tát ma ha tát không trú Bát nhã ba la mật
là tập hành Bát nhã ba la mật.
Kiều thi ca,
không trú nội không là tập hành nội không cho đến không trú
vô pháp hũu pháp không là tập hành vô pháp hữu pháp không,
không trú bốn thiền là tập hành bốn thiền, không trú bốn tâm
vô lượng là tập hành bốn tâm vô lượng, không trú bốn định vô
sắc là tập hành bốn định vô
sắc, không trú năm thần thông là tập hành năm thần
thông, không trú bốn niệm xứ là tập hành bốn niệm xứ,
cho đến không trú tám Thánh đạo phần là tập hành tám
Thánh đạo phần, không trú Phật mười lực là tập hành Phật
mười lực, cho đến không trú mười tám pháp không chung là tập
hành mười tám pháp không chung, vì sao? Kiều thi ca, vì Bồ
tát đối với sắc không có được
chỗ khả trú, khả tập, cho đến mười tám pháp không chung,
không có được chỗ khả trú khả tập nơi mười tám pháp không
chung.
* Lại nữa, Kiều
thi ca, Bồ tát ma ha tát không tập hành sắc, nếu không tập
hành sắc, ấy gọi là tập hành sắc; thọ, tưởng, hành, thức
cho đến mười tám pháp không chung, cũng như vậy, vì
sao? Vì Bồ tát ma ha tát ấy quán sắc quá khứ chẳng thể có được,
hiện tại chẳng thể có được, vị lai chẳng thể có được; cho
đến mười tám pháp không chung cũng như vậy.
Xá lợi phất bạch
Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, Bát nhã ba la mật ấy rất
sâu.
Phật dạy: Sắc
chơn như rất sâu nên Bát nhã ba la mật rất sâu; thọ, tưởng,
hành, thức chơn như rất sâu, cho đến mười tám pháp không
chung cũng như vậy.
Xá lợi phất thưa:
Bạch đức Thế Tôn, Bát nhã
ba la mật ấy khó có thể
trắc lượng.
Phật dạy: Sắc khó
có thể trắc lượng nên Bát nhã ba la mật khó có thể trắc
lượng; thọ, tưởng, hành, thức cho đến mười tám pháp không
chung khó có thể trắc lượng, nên Bát nhã ba la mật khó có
thể trắc lượng.
Bạch đức Thế Tôn,
Bát nhã
ba la mật ấy vô lượng.
Phật dạy: Vì sắc
vô lượng nên Bát nhã ba la mật ấy vô lượng, vì thọ, tưởng,
hành, thức vô lượng cho đến mười tám pháp không chung vô
lượng nên Bát nhã ba la mật vô lượng.
Phật bảo Xá lợi
phất: Nếu Bồ tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la mật,
không tập hành sắc rất sâu là tập hành Bát nhã ba la mật;
không tập hành thọ, tưởng, hành, thức cho đến mười tám pháp
không chung rất sâu là tập hành Bát nhã ba la mật, vì sao?
Vì sắc tướng (Kinh Ðại Bát Nhã ghi: Sắc tánh - N.D) rất sâu
là chẳng phải sắc; thọ, tưởng, hành, thức cho đến mười tám
pháp không chung, tướng rất sâu là chẳng phải mười tám pháp
không chung, như vậy không tập hành, là tập hành Bát nhã ba
la mật.
Xá lợi phất, nếu
Bồ tát ma ha tát khi tập hành Bát nhã ba la mật; không tập
hành sắc khó trắc lượng là tập hành Bát nhã ba la mật; không
tập hành thọ, tưởng, hành, thức cho đến không tập hành mười
tám pháp không chung khó trắc lượng là tập hành Bát nhã ba
la mật, vì sao? Vì sắc tướng khó trắc lượng là chẳng phải
sắc; thọ, tưỏng, hành, thức cho
đến mười tám pháp không chung tướng khó trắc lượng là
chẳng phải mười tám pháp không chung.
Xá lợi phát, nếu
Bồ tát ma ha tát khi tập hành Bát nhã ba la mật, không tập
hành sắc vô lượng là tập hành Bát nhã ba la mật, không tập
hành thọ, tưởng, hành, thức cho
đến mười tám pháp không chung vô lượng là tập hành
Bát nhã ba la mật, vì sao? Vì sắc tướng vô lượng là chẳng
phải sắc; thọ, tưởng, hành, thức cho đến mười tám pháp không
chung vô lượng là chẳng phải mười tám pháp không chung.
Xá lợi phất bạch
Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn,
Bát nhã ba la mật ấy rất sâu khó thấy khó hiểu, không
thể nghĩ lường, không nên nói ỏ trưóc Bồ tát mới phát tâm,
vì sao? Vì Bồ tát mới phát tâm, nghe Bát nhã ba la mât rất
sâu ấy, hoặc sẽ kinh sợ, tâm sanh nghi hối, chẳng tin chẳng
hành, Bát nhã ba la mật rất sâu ấy, nên nói ở trước Bồ tát
ma ha tát ở địa vị bất thối. Bồ tát này nghe Bát nhã ba la
mật rất sâu ấy, không kinh, không sợ, tâm không nghi hối,
thời tin tu được.
Thích đề hoà
n
nhân hỏi Xá lợi phất: Nếu ở trưóc Bồ tát ma ha tát mới phát
tâm nói Bát nhã ba la mật rất sâu ấy, có những lỗi gì?
Xá lợi phất đáp
Thích đề hoà
n nhân: Kiều thi ca! Nếu ở trước Bồ tát
mới phát tâm, nói Bát nhã ba la mật rất sâu ấy, hoặc có lẽ
sẽ kinh sợ, chê bai, không tin. Nếu Bồ tát mới phát tâm nghe
Bát nhã ba la mạt rất sâu, hủy báng không tin, gieo ba
nghiệp ác đạo, do nghiệp ấy,
rất lâu khó được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.
LUẬN: Bấy giờ, Ðế
thích theo Phật nghe tán thán Bát nhã ba la mật đầy
đủ, nên nay hỏi Phật: Bồ tát làm thế nào trú Bát nhã
ba la mật, Thiền ba la mật cho
đến mười tám pháp không chung.
Phật tán thán:
Lành thay! Lành thay! Vì Thích đề hoàn nhân là vua trong chư
thiên, nói chắc chắn đáng tin.
hỏi việc ấy, dứt nghi cho đại chúng, thông suốt vô ngại,
được lợi ích lớn, nên nói: "Lành thay! Lành thay!".
* Lại nữa, Phật
cho rằng Ðế thích có thể bỏ được
năm dục thượng diệu, cung điện bảy báu, có thể hỏi việc làm
của Phật hiền thánh, thế nên nói; " Lành thay!" Do thần lực
Phật nên ông có thể hỏi được
việc ấy. Trong đây còn có chư thiên thượng
diệu, xem Phật có thần đức vô lượng, mà nay Ðế thích
ở giữa đại chúng hỏi được việc
Phật, ấy là do oai thần của Phật. Như trong kinh Trì
Tâm nói: Khi ánh sáng Phật nhập vào thân thời có thể hỏi
việc Phật.
Phật đáp: Kiều
thi ca, nếu Bồ tát không trú sắc
v.v... ấy là tập
hành Bát nhã ba la mật. Bồ tát ấy thấy sắc có các tội lỗi vô
thường, khổ v.v... nên không trú sắc, nếu không trú ắc tức
là có thể tập hành Bát nhã ba la mật.
Người phàm phu hể
thấy sắc thì đắm sắc, khởi phiền não điên đảo,
mất đạo Bát nhã ba la mật ấy. Vì vậy nên không trú,
mới có thể tập hành Bát nhã ba la mật. Ðối với năm uẩn, mười
hai nhập, mười tám giới cũng như vậy.
Hỏi: Cớ gì mỗi
mỗi tự tập hành không trú sáu Ba la mật?
Ðáp: Sáu Ba la
mật v.v... đều là pháp lành, pháp tu. Vì vậy nên nói mỗi mỗi
tập hành không trú sáu Ba la mật v.v... Không trú năm uẩn,
mười hai nhập, mười tám giới, là tập hành Bát nhã ba la mật.
Nếu đối với các pháp ấy không trú trước, thời dứt ái trước,
vì dứt ái trước nên tập hành thanh tịnh đối với các pháp sắc
v.v...
Trong đây nói
nhân duyê
n không trú trước: Là vì không có được
chỗ trú của sắc pháp v.v..., không có được chỗ tập hành
của sắc pháp v.v...
* Lại nữa, Phật
cho việc ấy khó hiểu khó tin nên lại nói nhân duyên: Không
tập hành sắc là Bồ tát thấy tội lỗi của sắc cho nên không
trú sắc, không trú nên không tập.
Tập sắc
gọi là chấp thủ tướng sắc hoặc thường hoặc vô thường v.v...
* Lại nữa, Bồ tát
thường tu thiện pháp, chứa nhóm, tập luyện, thuần hậu chánh
ngữ, chánh nghiệp v.v... nên gọi là tập sắc. nay Bồ tát muốn
tập hành Bát nhã nên tán hoại sắc ấy, không tập, vì sao? Vì
sắc quá khứ đã diệt, sắc vị lai chưa có, nên không thể tập.
Còn sắc hiện tại sanh ra liền diệt không ngưng trụ; nếu nó
ngưng trụ được một niệm còn không tập, huống gì niệm niệm
diệt. Thế nên trong đây nói lý
do việc không tập sắc, là vì sắc ba đời
chẳng thể có được. (Tích tập, học đi, học lại, làm đi làm
lại mãi gọi là tập - N.D). Cho đến mười tám pháp không chung
cũng như vậy.
Nếu quán các pháp
được như vậy, tán hoại chẳng thủ tướng, ấy gọi là
tập
sắc v.v..., tập thật tướng của các pháp sắc v.v...
Bấy giờ, Xá lợi
phất theo Phật được nghe nghĩa ấy rất hoan hỷ, thâm nhập
không trí, bạch Phật rằng: Bát nhã ba la mật rất sâu. Phật
nhận lời tán thán đó. Vì
các pháp "Sắc như" v.v...
nên rất sâu.
Phật dạy: Không
chỉ mắt thấy sâu, mà lấy Bát nhã ba la mật phân biệt sắc vào
như thật nên rất sâu. Như nước mưa từng giọt, không gọi rất
sâu, hợp các dòng vào biển lớn mới gọi là rất sâu. Sắc
v.v... cũng như vậy, mắt trời, mắt thịt thấy cạn mà chẳng
sâu, nếu lấy mắt tuệ xem, thời sâu không thể lường, rất sâu
nên khó thể trắc lượng, chỉ có chư Phật mới thấy tận đáy nó.
Rất sâu không thể trắc lượng nên gọi là vô lượng. Không có
trí tuệ nhận biết được thật tướng của sắc v.v... vì có tội
lỗi trù lượng sắc hoặc thường hoặc vô thường.
Khi ấy Xá lợi
phất và các thính giả, nghĩ rằng: Bát nhã ba la mật không
thể trắc lượng, không có lượng, Bồ tát sẽ tập hành làm sao?
Phật biết ý nghĩ ấy, nên bảo Xá lợi phất rằng: Bồ tát ma ha
tát nếu tập hành sắc v.v... rất sâu, thời là mất Bát nhã ba
la mật; nếu không tập hành sắc rất sâu ấy là được Bát nhã ba
la mật. Kẻ phàm phu độn căn nên
nói rất sâu, nếu người có nhất tâm, phước đức, lợi căn, là
chẳng phải rất sâu, thí như nước sâu cạn không nhất định,
đối với tiểu nhi là sâu, đối nguời lớn là cạn cho đến
như biển lớn, đối người là sâu, đối với vua A tu la La hầu
là cạn. Như vậy, đối với phàm phu, người mới phát tâm, người
giải đãi là rất sâu, còn đối
với bậc bất thối chứa đức lâu ngày thời cạn. Chư Phật như
vua A tu la La hầu, đối hết thảy pháp không có sâu,
vì được giải thoát vô ngại. Vì thế nên biết vì chúng sanh,
vì thời tiết, căn lợi độn, mới
tu, tu lâu, giải đãi, tinh tấn nên phân biệt nói sâu
cạn. Kông thể trắc lượng, không có lượng, cũng như vậy.
Trong đây Phật tự
nói nhân duyê
n: Sắc v.v... tướng rất sâu là chẳng
phải sắc, vì sao? Vì tâm sợ hãi, thối thất, nghi hối, nên
cho sắc là rất sâu, sắc tướng thời không có sâu, như trước
nói.
Xá lợi phất bạch
Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã
ba la mật ấy rất
sâu, tướng rất sâu khó thấy khó hiểu.
Hỏi: Trên kia nói
Bồ tát không tập hành rất sâu, là tập hành Bát nhã ba la
mật, sao nay Xá lợi phất lại nói rất sâu?
Ðáp: Chẳng phải
Xá lợi phất định tâm nói rất
sâu, nắm được ý thú Phật, vì người khác nên nói rất
sâu, thế nên trong đây nói: Bạch
đức Thế Tôn, không nên ở trước Bồ tát mới phát tâm
nói Bát nhã ba la mật; Bồ tát tân học nghe trí tuệ rất sâu
ấy thời tâm họ thối mất, nên nói ở trước Bồ tát bất thối, vì
Bồ tát bất thối có trí tuệ sâu nên tin chứ không thối mất,
thí như chỗ nước sâu không nên bảo tiểu nhi lội qua, chỉ nên
bảo người lớn lội qua.
Ðế thích hỏi Xá
lợi phất: Nếu nói cho Bồ tát mới phát tâm, có những lỗi gì?
Xá lợi phất đáp:
người mới phát tâm thời không tin, tâm thối mất, tâm thối
mất nê
n sanh nghi hối, hãi sợ: "Nếu thọ học pháp nhất
thiết không, sao ta sẽ phải rơi vào đoạn diệt? Nếu không thọ
học, thế thì lời Phật dạy, sao ta có thể không thọ học?" Thế
nên sợ hãi, sanh nghi hối. Nếu tâm định thời sanh ác tà kiến
hủy báng. Quả báo hủy báng như thế nào, như đã nói trong
phẩm địa ngục. Trong đây kinh
lược nói gieo nghiệp nhân về ba ác đạo thì rất lâu khó được
vô thượng đạo.
KINH:
Thích đề hoàn nhân hỏi Xá lọi phất: Có chăng Bồ tát ma ha
tát chưa được thọ ký, mà nghe Bát nhã ba la mật sâu
thẳm, không kinh, không sợ ư?
Xá lợi phất
đáp: Như vậy, Kiều thi ca, nếu có Bồ tát ma ha tát nghe Bát
nhã ba la mật rất sâu không kinh, không sợ, nên biết
Bồ tát ấy, không bao lâu, sẽ gặp không quá một hai đức Phật,
là được thọ ký Vô thượng Chánh
đẳng Bồ đề.
Phật bảo Xá lợi
phất: Như vậy, như vậy! Bồ tát ma ha tát ấy phát tâm tu sáu
Ba la mật lâu ngày, cúng dường nhiều đức Phật, nghe Bát nhã
ba la mật sâu xa ấy không kinh, không sợ, nghe liền thọ trì,
tu hành như lời Bát nhã ba la mật nói.
Bấy giờ, Xá lợi
phất bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, con muốn nói thí dụ:
Như thiện nam tử, thiện nữ nhân cầu Bồ tát đạo mà
ở
trong lúc mộng tu hành Bát nhã ba la mật, vào thiền định,
siêng tinh tấn, đầy đủ nhẫn
nhục, thủ hộ giới, hành bố thí, tu hành nọâi không,
ngoại không, cho đến ngồi đạo
tràng; nên biết thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy còn
gần Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề,
huống gì Bồ tát ma ha tát muốn được Vô thượng Chánh đẳng Bồ
đề, mà trong lúc tĩnh thức tu hành Bát nhã ba la mật,
vào thiền định, siêng tinh tấn, đầy
đủ nhẫn nhục, thủ hộ giới, hành bố thí, lại không
chóng thành Vô thượng Chánh đẳng
Bồ đề, ngồi đạo tràng.
Bạch đức Thế Tôn,
thiện nam tử, thiện nữ nhân, thiện căn thành tựu, được nghe
Bát nhã
ba la mật, thọ trì cho đến tu hành đúng như
nói; nên biết Bồ tát ma ha tát ấy, phát tâm trồng căn lành
đã lâu, cúng dường nhiều đức Phật, theo cùng thiện tri thức,
người ấy có thể thọ trì Bát nhã ba la mật cho đến
nhớ nghĩ đúng. Nên biết người ấy gần được thọ ký Vô thượng
Chánh đẳng Bồ đề. Nên biết thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy
như Bồ tát ma ha tát ở địa vị bất thối, không động chuyển
đối với Vô thưọng Chánh đẳng Bồ đề; có thể được Bát nhã
ba la mật sâu thẳm. Ðược rồi thọ trì, đọc
tụng, cho đến nhớ nghĩ đúng.
Bạch đức Thế Tôn,
thí như người muốn đi qua một trăm do tuần, hoặc hai trăm,
ba trăm, bố trăm do tuần, trải qua đồng vắng đường hiểm, đầu
tiên trông thấy các tướng người chăn trâu, cương giới, vườn
rừng, thấy các tướng như vậy nên biết sắp đến thà
nh
ấp làng xóm. Người ấy thấy tướng kia liền nghĩ rằng: Như
tướng ta thấy đó, nên biết thành ấp làng xóm không còn xa,
tâm được yên vui, không sợ nạn giặc, trùng dữ, đói
khát. Bạch đức Thế Tôn, Bồ tát ma ha tát cũng như vậy, nếu
được Bát nhã ba la mật sâu thẳm này, thọ trì, đọc
tụng, cho đến nhớ nghĩ đúng, nên biết đã gần được thọ ký Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề không lâu. Nên biết Bồ tát ma
ha tát ấy, không phải sợ đọa vào địa
vị Thanh văn, Bích chi Phật. Các tướng thấy trước ấy, đó là
Bát nhã ba la mật rất sâu, được
nghe, được thấy, được thọ trì, cho nên nhớ nghĩ đúng.
Phật bảo Xá lợi
phất: Như vậy, như vậy, ông muốn vui nói nữa, cứ nói.
Bạch đức Thế tôn,
thí như người muốn thấy biết biển lớn, phát tâm đi đến,
chẳng thấy tướng cây, chẳng thấy tướng núi, người ấy tuy
chưa thấy biển lớn, song biết biển lớn không cò
n xa,
vì sao? Vì biển lớn ở chỗ bằng phẳng không có tướng
cây tướng núi. Như vậy, bạch đức Thế Tôn, Bồ tát ma ha tát
nếu nghe Bát nhã ba la mật sâu thẳm, thọ trì cho đến
nhớ nghĩ đúng, tuy chưa ở trước Phật được thọ ký kiếp số
hoặc trăm kiếp, ngàn kiếp, vạn kiếp, trăm ngàn ức
kiếp thành vô thượng đạo, song Bồ
tát đã tự biết gần được thọ ký Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề,
vì sao? Vì con được nghe Bát nhã ba la mật sâu thẳm,
thọ trì, đọc tụng, cho đến nhớ
nghĩ đúng.
Bạch đức Thế Tôn,
thí như đầu xuân, các lá cũ trên cây đã
rụng, nên
biết cây ấy sắp có lá hoa quả mới, trổ ra không lâu, vì sao?
Vì thấy tướng khởi đầu của cây ấy, nên biết không lâu lá hoa
quả sẽ trổ ra. Khi ấy người cõi Diêm phù đề
thấy tướng khởi đầu của cây, đều rất hoan hỷ.
Bạch đức Thế Tôn,
Bồ tát ma ha tát được nghe Bát nhã
ba la mật sâu
thẳm, thọ trì, đọc tụng, cho
đến nhớ nghĩ đúng, tu hành đúng như nói, nên biết Bồ tát ấy,
căn lành thành thục, cúng dường nhiều đức Phật. Bồ
tát ấy nên nghĩ rằng: Thiện căn
đời trước đuổi tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, do nhân duyên
ấy nên được thấy được nghe Bát
nhã ba la mật sâu thẳm, thọ trì, đọc
tụng, cho đến nhớ nghĩ đúng, tu hành đúng như nói. Trong đây
các thiên tử từng thấy Phật, vui mừng nhảy nhót nghĩ rằng:
Trước đây các Bồ tát ma ha tát cũng có thấy các tướng trước
khi được thọ ký như vậy, nay Bồ tát ma ha tát này
cũng sẽ được thọ ký Vô thượng
Chánh đẳng Bồ đề không lâu.
Bạch đức Thế Tôn,
thí như người mẹ mang thai, thân thể nặng nề khổ sở, đi bước
không tiện, đứng ngồi không yên, ngủ ăn giảm ít, không ưa
nói năng, chán việc đã quen, chịu đủ thống khổ. Có người mẹ
khác thấy tướng hiện ra trước ấy, biết người kia gần sanh.
Bồ tát ma ha tát cũng như vậy, trồng căn lành cúng dường
nhiều đức Phật, tu lâu sáu Ba la mật, theo cùng thiện tri
thức, căn là
nh thành tựu, được nghe Bát nhã ba la mật
sâu thẳm, thọ trì, đọc tụng,
cho đến nhớ nghĩ đúng, tu hành đúng như nói. Các người cũng
biết Bồ tát ma ha tát ấy gần được thọ ký Vô thượng Chánh
đẳng Bồ đề không lâu.
Phật bảo Xá lợi
phất: Lành thay, lành thay! Ông vui nói được,
đều nhờ lực Phật.
Khi ấy Tu bồ đề
bạch Phật rằng: Hy hữu, bạch đức Thế Tôn, các đấng Như Lai,
Ứng cúng, Chánh biến tri, khéo phú chúc việc các Bồ tát ma
ha tát.
Phật bảo Tu bồ
đề: Các Bồ tát ma ha tát phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Bồ
đề, an ổn nhiều chúng sanh, làm cho vô lượng chúng sanh được
vui, vì thương xót đem an vui lợi ích cho chư thiên
nhân loại. Các Bồ tát ấy khi tu Bồ tát đạo,
lấy bốn việc thu nhiếp vô lượng trăm ngàn chúng sanh, đó là
bố thí, aí ngữ, lợi hành, đồng
sự, cũng lấy mười thiện đạo thành tựu chúng sanh, tự
tu Sơ thiền cũng dạy người khác
tu Sơ thiền, cho đến tự tu định Phi hữu tưởng Phi vô tưởng
xứ, cũng dạy người tu định Phi hữu tưởng, Phi vô tưởng xứ.
Tự tu Thí ba la mật cũng dạy người tu Thí ba la mật, tự tu
Giới ba la mật cũng dạy người tu Giới ba la mật, tự tu Nhẫn
ba la mật cũng dạy người tu Nhẫn ba la mật, tự tu Tấn
ba la mật cũng dạy người tu Tấn ba la mật, tự tu Thiền ba la
mật cũng dạy người tu Thiền ba la mật, tự tu Bát nhã ba la
mật cũng dạy người tu Bát nhã ba la mật.
Bồ tát ấy được
Bát nhã
ba la mật dùng sức phương
tiện dạy chúng sanh khiến được quả Tu đà hoàn, mà tự
mình không chứng; dạy chúng sanh khiến được
Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán, mà tự mình
không chứng; dạy chúng sanh khiến được
Bích chi Phật đạo, mà tự mình không chứng trong đó;
tự mình tu sáu Ba la mật, cũng
dạy vô lượng trăm ngàn vạn các Bồ tát, khiến tu sáu
Ba la mật; tự mình trú địa vị
bất thối, cũng dạy người trú địa vị bất thối; tự mình
nghiêm tịnh cõi Phật, cũng dạy người nghiêm tịnh cõi Phật;
tự thành tựu tuệ giác cho chúng sanh cũng dạy người thành
tựu tuệ giác cho chúng sanh; tự mình được
Bồ tát thần thông cũng dạy người khiến được Bồ tát thần
thông; tự mình nghiêm tịnh môn Ðà la ni cũng dạy
người nghiêm tịnh môn Ðà la ni; tự đầy
đủ biện tài vui nói cũng dạy người đầy đủ biện tài
vui nói; tự nhiếp thọ sắc thân thành tựu, cũng dạy người
khiến nhiếp thọ sắc thân thành tựu; tự thành tựu 32 tướng
cũng dạy người thành tựu 32 tướng; tự thành tựu đồng
chơn địa cũng dạy người thành tựu đồng chơn địa; tự thành
tự Phật mười lực cũng dạy người khiến tự thành tựu Phật mười
lực; tự tu bốn điều không sợ
cũng dạy người tu bốn điều không sợ; tự tu mười tám pháp
không chung cũng dạy người tu mười tám pháp không chung; tự
tu đại từ đại bi cũng dạy người tu đại từ đại bi; tự được
trí nhất thiết chủng cũng dạy người khiến được trí nhất
thiết chủng; tự lìa hết thảy phiền não và tập khí
cũng dạy người lìa hết thảy phiền não và tập khí; tự chuyển
pháp luân cũng dạy người chuyển pháp luân.
LUẬN: Khi ấy Ðế
thích hỏi Xá lợi phất: Có chăng
có vị Bồ tát chưa được thọ ký mà nghe Bát nhã sâu
thẳm ấy, không kinh không sợ?
Xá lợi phất đáp:
Không có người không được thọ ký nghe Bát nhã
mà có
thể tin, nếu người có thể tin, nên biết người ấy sắp được
thọ ký, chẳng qua gặp một đức Phật hai đức Phật liền được
thọ ký.
Phật hứa khả lời
Xá lợi phất nói.
Xá lợi phất nghe
Phật hứa khả lời mình nói, tâm rất hoan hỷ, lại muốn việc ấy
được rõ ràng hơn nên nói thí dụ rằng: Tâm trong mộng bị sức
ngủ che lấp, chẳng phải chơn tâm làm: nếu thiện nam tử,
thiện nữ nhân ở trong mộng phát tâm tu
sáu Ba la mật, cho đến ngồi đạo
tràng, nên biết người ấy phước đức nhỏ nhẹ, còn gần được
thọ ký Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, huống gì Bồ tát ma ha tát
trong khi thức, thật phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, tu
sáu Ba la mật mà không gần được thọ ký.
Bạch
đức Thế Tôn, nếu người qua lại
trong sáu đường sanh tử, hoặc thời được nghe Bát nhã
ba la mật, thọ trì, đọc tụng,
nhớ nghĩ đúng, biết chắc người ấy không lâu sẽ được Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề, như cá nuốt lưỡi câu, tuy còn
bơi lội trong ao, nên biết nó ra ngoài ao không lâu. Hành
giả cũng như vậy, tin vui sâu vào Bát nhã ba la mật, không
còn ở lâu trong sanh tử. Trong đây
Xá lợi phất tự nói thí dụ: Nếu người muốn đi qua đường hiểm.
Ðuờng hiểm tức là thế gian. Trăm do tuần tức là cõi
Dục. Hai trăm do tuần là cõi Sắc. Ba trăm do tuần là cõi Vô
sắc. Bốn trăm do tuần là Thanh văn,
Bích chi Phật đạo.
* Lại nữa, bốn
trăm do tuần là cõi Dục; ba trăm do tuần là cõi Sắc;
hai trăm do tuần là cõi Vô sắc; một trăm do tuần là Thanh
văn, Bích chi Phật.
Muốn ra là người
tín thọ tu hành Bát nhã ba la mật.
Trước thấy tướng
các pháp là thấy đại Bồ tát bỏ cái dục lạc thế gian, thâm
tâm vui Bát nhã ba la mật.
Thấy cương giới,
là phân biệt các pháp đây là pháp Thanh văn,
đây là pháp Bích chi Phật, đây là pháp Ðại thừa; như
vậy lợi ích nhỏ là Thanh văn, lợi ích lớn là Bồ tát. Cõi ma
là sanh tử, cõi Phật là Bát nhã ba la mật, nơi cam lộ vị bất
tử.
Thấy vườn rừng là
chỗ các cái vui thiền định, trí
tuệ theo Phật đạo; vô lượng tướng thiện pháp như vậy.
Thấy xóm làng là
nhu thuận pháp nhẫn; ấy là vô sanh pháp nhẫn; thành là Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề.
Ðược an ổn là Bồ
tát nghe pháp ấy tư duy trù lượng, tu hành, ta được
pháp ấy tâm an ổn, sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.
Giặc là 62 tà
kiến chấp ngã v.v...
Trùng dữ là các
phiền não tham ái, sân nhuế v.v...
Không sợ giặc là
người không tìm được thuận tiện
để phá.
Không sợ trùng dữ
là phi nhân không tìm được
thuận tiện để phá.
Không sợ đói là
không sợ không thể được chọn trí tuệ thánh nhân.
Không sợ khát là
không sợ không thể được vị pháp
lạc của thiền định, giải thoát v.v...
Trong đây tự nói
nhân duyên: Bồ tát ma ha tát thấy được tướng đầu tiên, biết
không bao lâu sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, không sợ
đoạ vào đường ác, đói khát chết, không sợ đọa vào Thanh văn,
Bích chi Phật địa.
Phật chấp nhận ví
dụ ấy, lấy thô dụ tế, lấy thế gian dụ xuất thế gian. Còn ba
thí dụ kia cũng nên phân biệt nói như trên.
Nước biển lớn là
dụ Vô thượng đạo, đất bằng
phẳng không có cây núi, đó là dụ quyển kinh Bát nhã
ba la mật.
Trái cây là dụ Vô
thượng đạo, hoa cây là dụ địa vị bất thối.
Ðầu xuân lá cũ
rụng lại sanh lá mới là dụ các phiền não tà kiến, nghi
v.v... dứt; có thể được kinh quyển Bát nhã ba la mật.
Người mẹ là dụ
hành giả; thân trong bào thai là dụ Vô thượng đạo.
Tướng sắp sinh là
dụ Bồ tát tu tập Bát nhã ba la mật lâu ngày.
Chán điều đã
tập quen la dụ sợ cái vui dâm dục của thế gian, không còn ưa
đắm.
Phật khen lời nói
kia lành thay!
Khi ấy Tu bồ đề
nghe Xá lợi phất nói được Phật nhận, khen là
nh thay,
biết ý Phật kính niệm sâu xa Bồ tát ấy, cho nên bạch Phật
rằng: Bạch đức Thế Tôn, rất là hy hữu, khéo phó chúc việc Bồ
tát.
Việc Bồ tát là
"không" đạo, phước đức đạo,
cũng như Phật nói có tổng tướng biệt tướng. Ð? ký
thác cho A nan, Di lặc v.v... sau khi Phật vào Vô dư Niết
bàn, khéo tự phụng hành, dạy bảo chỉ bày, lợi ích chúng
sanh, không để cho sai lầm.
Phật nói nhân
duyên khéo phó chúc, là các Bồ tát phát tâm Vô thượng Chánh
đẳng Bồ đề.
An ổn nhiều chúng
sanh, là trong chúng sanh có vô lượng vô biên vô số, trừ
Phật không ai tính biết được.
Người
theo Phật, được lợi ích là không thể đếm biết, gọi là
nhiều.
An ổn là đối với
chúng sanh chấp thường thì dạy vô thường, người đắùm vui thì
dạy về khổ, người chấp thật thì dạy về không, người chấp ngã
thì dạy về vô ngã, như vậy gọi là an ổn.
Người phàm phu
nghe vậy, đương thời tuy không vui mừng, nhưng lâu dài
dứt các phiền não, được cái vui
an ổn. Như uống thuốc đắng, đương thời tuy khổ, về sau trừ
được bệnh.
Vô lượng chúng
sanh được vui, là Bồ tát cầu Bát nhã ba la mật khi
chưa được thành tựu, vẫn lấy cái
vui đời này đời sau làm lợi ích chúng sanh. Như trong kinh
Bồ tát Bản sanh nói: Nếu được Bát nhã ba la mật, đã
diệt các phiền não, cũng lấy cái vui thế gian, vui xuất thế
gian làm lợi ích chúng sanh. nếu khi được
vô thượng đạo, thời chỉ lấy cái vui xuất thế gian làm
lợi ích chúng sanh.
An vui lợi ích là
chỉ lấy lòng thương xót; an vui lợi ích là lợi ích nhiều cho
hàng thiên nhân. Trong các đạo khác vì lợi ích ít nên không
nói.
Việc lợi ích là
bốn nhiếp pháp. lấy tài thí, pháp thí nhiếp thủ chúng sanh.
Ái ngữ có
hai: 1. Ái ngữ theo ý. 2. Là người tùy ý người ưa pháp gì
nói cho pháp ấy. Bồ tát chưa đắc
đạo, vì thương xót chúng sanh, tự phá kiêu mạn, tùy ý
thuyết pháp. Nếu đã đắc đạo,
thì tùy theo pháp có thể độ mà nói. Ðối với người
giàu tâm cao ngạo, thì khen
việc bố thí, rằng người ấy có thể được tài vật, danh tiếng,
phước đức, còn nếu khen việc trì giới, chê bai phá
giới, thì tâm họ không vui. như vậy tùy theo pháp thích hợp
với họ mà nói.
Lọi hành
cũng có hai: Một vì lợi đời nay
lợi đời sau, mà nói phương pháp nuôi sống, khuyến tu
việc lợi. Hai là người không tin dạy khiến tin, phá giới dạy
khiến giữ giới, ít hiểu dạy khiến nghe nhiều, người không ưa
bố thí dạy khiến bố thí. Người ngu si dạy trí tuệ. Như vậy,
lấy thiện pháp làm lợi ích chúng sanh.
Ðồng sự
là Bồ tát giáo hóa chúng sanh, khiến tu thiện pháp, đồng
hành với họ; Bồ tát thiện tâm, chúng sanh ác tâm, hóa được
ác tâm của họ khiến đồng với thiện tâm của mình.
Bồ tát lấy bốn
pháp nhiếp thủ chúng sanh khiến an trú trong mười thiện đạo.
Ð
ây là nói rộng nghĩa bốn nhiếp.
Trong hai thứ
thí, pháp thí là tùy theo chỗ người ưa thích mà thuyết pháp,
đó là đệ nhất trong các ái ngữ. Chúng sanh tham tiếc mạng
sống, dạy khiến tu mưòi thiện đạo,
thời được sống lâu.
Trong lợi hành
thì trong tất cả cái lợi bảo vật, pháp lợi là hơn cả. Ấy là
lợi hành. Trong đồng sự. Ðồng hành thiện pháp là hơn cả. Bồ
tát làm mười thiện cũng dạy người làm. Có người nói: Sau hết
tự làm mười điều thiện, đồng
nghĩa với nhiếp sự thứ tư. Thế nên nói tự làm mười
thiện cũng dạy người làm; tự tu Sơ thiền cũng dạy người tu.
Sơ thiền v.v...
đồng lìa dục, đồng trì
giới, nên gọi là nhiếp nhau.
Vì nhiếp nhau nên dần dần lấy pháp Tam thừa mà độ,
cho đến tu Phi hữu tưởng, Phi vô tưởng xứ, cũng như vậy.
Tự tu sáu Ba la
mật cũng dạy người tu, nhân nơi Bát nhã nên cũng khiến chúng
sanh được khí phần của Bát nhã; nghiõa là được
Tu đà hoàn v.v...
Vì lực phương
tiện, nên tự mình không chứng; Vì người ấy có lực phước đức
và trí tuệ tăng ích nên dạy vô lượng vô số Bồ tát, khiến an
trú sáu Ba la mật. Tự mình trú
địa vị bất thối, cũng dạy người khác trú, cho đến tự chuyển
pháp luân cũng dạy người khác chuyển pháp luân. Thế nên,
ta lấy tâm từ bi, khéo phó chúc việc Bồ tát không vì tham
ái, chấp đắm.
(Hết cuốn 66 theo bản Hán)
- --o0o --