| ...... ... |
. |
Luận Đại
Trí Độ
( Mahàprajnàparamitàsatra)
Tác giả:
Nàgàrjuna (Long Thọ)
Dịch Phạn ra Hán:
Cưu Ma La Thập
Dịch Hán ra Việt:
Thích Thiện Siêu
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
Nam
Ấn hành 1997
---o0o---
Tập 3
Cuốn 43
GIẢI THÍCH: PHẨM
HÀNH TƯỚNG THỨ 10
Kinh: Bấy giờ,
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Nếu Bồ tát ma ha tát
không có phương tiện thiện xảo mà muốn tu hành Bát nhã ba la
mật, nếu tu hành sắc là tu theo tướng nó, nếu tu hành thọ,
tưởng, hành, thức là tu hành theo tướng nó; nếu tu hành sắc
thường, là tu hành theo tướng nó; nếu tu hành thọ, tưởng, hành,
thức thường, là tu hành theo tướng nó; nếu tu hành sắc vô thường
là tu hành theo tướng nó; nếu tu hành thọ, tưởng, hành, thức vô
thường là tu hành theo tướng nó; nếu tu hành sắc vui là tu hành
theo tướng nó, nếu tu hành thọ, tưởng, hành, thức vui là hành tu
theo tướng nó; nếu tu hành sắc khổ là tu hành theo tướng nó; nếu
tu hành thọ, tưởng, hành, thức khổ là tu hành theo tướng nó; nếu
tu hành sắc có là tu hành theo tướng nó, nếu tu hành thọ, tưởng,
hành, thức có là tu hành theo tướng nó; nếu tu hành sắc không,
là tu hành theo tướng nó, nếu tu hành thọ, tưởng, hành, thức
không, là tu hành theo tướng nó; nếu tu hành sắc ngã là tu hành
theo tướng nó, nếu tu hành thọ, tưởng, hành, thức ngã là tu hành
theo tướng nó; nếu tu hành sắc vô ngã là tu hành theo tướng nó,
nếu tu hành thọ, tưởng, hành, thức vô ngã là tu hành theo tướng
nó; nếu tu hành sắc xa lìa là tu hành theo tướng nó, nếu tu hành
thọ, tưởng, hành, thức xa lìa là tu theo tướng nó; nếu tu hành
sắc tịch diệt là tu hành theo tướng nó; nếu tu hành thọ, tưởng,
hành, thức tịch diệt là tu hành theo tướng nó.
Bạch Thế Tôn! Nếu Bồ tát ma ha tát không
có phương tiện thiện xảo mà tu hành bốn niệm xứ là tu hành theo
tướng nó; cho đến tu hành mười tám pháp không chung là tu hành
theo tướng nó.
Bạch Thế Tôn! Nếu Bồ tát ma ha tát lúctu
hành Bát nhã ba la mật mà khởi niệm rằng: Ta tu hành Bát nhã ba
la mật, vì có sở đắc nên cũng là tu hành theo tướng nó.
Bạch Thế Tôn! Nếu Bồ tát ma ha tát khởi
niệm rằng: Ta tu hành như vậy là tu hành Bát nhã ba la mật, cũng
là tu hành theo tướng nó.
Nên biết đó là Bồ tát ma ha tát tu hành
Bát nhã ba la mật, không có phương tiện thiện xảo (nên
chẳng phải là tu hành Bát nhã ba la mật – ND).
Tu bồ đề nói với Xá lợi phất: Nếu Bồ tát
ma ha tát khi đang tu hành Bát nhã ba la mật, đối với sắc trú
niệm tưởng vọng giải (phân biệt -
Ðại Bát nhã ghi: thắng giải – ND)
thời đối với sắc gia công tu hành; do gia công tu hành nên không
giải thoát được sinh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não và khổ
báo đời sau. Nếu Bồ tát ma ha tát lúc tu hành Bát nhã ba la mật,
mà không có phương tiện thiện xảo đối với mắt cho đến ý, sắc cho
đến pháp, nhãn thức giới cho đến ý thức giới, nhãn xúc cho đến ý
xúc, nhãn và xúc làm nhân duyên sinh thọ, cho đến ý và xúc làm
nhân duyên sinh thọ; bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không
chung, nếu trú niệm vọng giải, thời đối với mười tám pháp không
chung gia công tu hành, mà gia công tu hành thì Bồ tát ấy không
giải thoát được sinh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não, và khổ
báo đời sau. Bồ tát như vậy còn không chứng được địa vị Thanh
văn, Bích chi Phật, huống gì chứng quả vị Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, không có lẽ ấy.
Xá lợi phất! Nên biết Bồ tát ma ha tát ấy,
tu hành Bát nhã ba la mật không có phương tiện thiện xảo.
Xá lợi phất hỏi Tu bồ đề: Làm sao biết Bồ
tát ma ha tát tu hành Bát nhã ba la mậtcó phương tiện thiện
xảo?
Tu bồ đề nói với Xá lợi phất: Nếu Bồ tát
ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la mật không hành theo sắc,
không hành theo thọ, tưởng, hành, thức; không hành theo sắc
tướng, không hành theo thọ, tưởng, hành, thức tướng; không hành
theo sắc, thọ, tưởng, hành, thức thường; không hành theo sắc,
thọ, tưởng, hành, thức vô thường; không hành theo sắc, thọ,
tưởng, hành, thức vui, không hành theo sắc, thọ, tưởng, hành,
thức khổ; không hành theo sắc,thọ, tưởng, hành, thức ngã, không
hành theo sắc, thọ, tưởng, hành, thức vô ngã; không hành theo
sắc, thọ, tưởng, hành, thức không, không hành theo sắc, thọ,
tưởng, hành, thức vô tướng; không hành theo sắc, thọ, tưởng,
hành, thức vô tác. Không hành theo sắc, thọ, tưởng, hành, thức
xa lìa; không hành theo sắc, thọ, tưởng, hành, thức tịch diệt,
vì cớ sao? Xá lợi phất! Sắc ấy không là chẳng phải sắc; lìa
không không có sắc, lìa sắc không có không, sắc tức là không,
không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức không là chẳng phải
thức; lìa không không có thức, lìa thức không có không; không
tức là thức, thức tức là không; cho đến mười tám pháp không
chung không, là chẳng phải mười tám pháp không chung; lìa không
không có mười tám pháp không chung, lìa mười tám pháp không
chung không có không; không tức là mười tám pháp không chung,
mười tám pháp không chung tức là không.
Như vậy, Xá lợi phất! Nên biết ấy là Bồ
tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la mật có phương tiện thiện
xảo. Bồ tát ấy tu hành Bát nhã ba la mật như vậy, có thể chứng
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bồ tát ấy khi tu hành Bát
nhã ba la mật, hành cũng không chấp thọ, không hành cũng không
chấp thọ, hành không hành cũng không chấp thọ, chẳng phải hành
chẳng phải không hành cũng không chấp thọ, không chấp thọ cũng
không chấp thọ.
Xá lợi phất nói với Tu bồ đề: Bồ tát ma ha
tát khi tu hành Bát nhã ba la mật, vì nhân duyên gì nên không
chấp thọ?
Tu bồ đề nói: Bát nhã ba la mật ấy tự tánh
không thể có được, nên không chấp thọ, vì cớ sao? Vì không có
tánh gì, ấy là Bát nhã ba la mật. Xá lợi phất! Vì lẽ ấy, nên Bồ
tát ma ha tát tu hành Bát nhã ba la mật, hành không chấp thọ,
không hành cũng không chấp thọ, hành không hành cũng không chấp
thọ, chẳng phải hành chẳng phải không hành cũng không chấp thọ,
không chấp thọ cũng không chấp thọ, vì cớ sao? Vì hết thảy pháp
tánh không có gì, không theo các pháp hành, không chấp thọ các
pháp tướng, ấy gọi là công dụng rộng lớn của Tam muội, không
chấp thọ các pháp của Bồ tát ma ha tát, không chung với Thanh
văn, Bích chi Phật.
Bồ tát ma ha tát ấy tu hành Tam muội ấy
không rời, mau chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Luận: Phẩm trước dùng không môn phá các pháp,
phẩm này muốn dùng môn vô tướng phá các pháp. Nếu Bồ tát không
có phương tiện quán sắc, thời đọa trong tướng. Vì đọa trong
tướng nên mất Bát nhã ba la mật hạnh,vì cớ sao? Vì hết thảy pháp
không, nên không có tướng có thể chấp thủ.
Hỏi: Người biết quả báo thiện ác, chấp thủ
tướng quả báo rồi phân biệt thiện ác, thiện thì lấy, ác thì bỏ;
thế nên mới hành đạo, cớ sao nói tướng các pháp là vô thường?
Ðáp: Chấp thủ tướng là vì hàng sơ học mà nói,
còn vô tướng là vì hạng hành đạo, trú môn giải thoát mà nói,
không nên đem việc thô thiển vấn nạn. Nay hành giả chấp thủ
tướng lành phá tướng chẳng lành, nghĩa là chấp thủ tướng trai
gái v.v... là nhân duyên sinh các phiền não, nên sau lấy tướng
vô tướng phá tướng pháp lành; nếu phá tướng chẳng lành mà không
phá tướng lành thì lành trở thành tai họa, vì sinh chấp trước.
Lấy tướng vô tướng mà phá pháp lành, vô tướng cũng tự phá, vì cớ
sao? Vì vô tướng nhiếp vào trong pháp lành, ví như mưa đá hại
lúa, rồi mưa đá cũng tự tiêu tan.
Lại nữa, hết thảy pháp tướng vô tướng là
thật, ví như thân thể, đầy dẫy bất tịnh, chín lỗ thường chẩy
nhơ, không có tướng sạch, mà người ta vì vô minh cưỡng cho là
sạch, sinh phiền não, tạo các tội, như trẻ con nơi vật bất tịnh
chấp thủ tướng sạch cho là vui, người lớn xem thấy liền cười, vì
biết là hư dối.
Các lỗi chấp thủ tướng như vậy, đều là hư
vọng, như ngọc pha lê, tùy theo sắc đối đãi mà đổi mầu, tự nó
không có mầu nhất định. Các pháp cũng như vậy, không có tướng
nhất định, tùy theo tâm mà đối ra tướng khác hoặc thường hoặc vô
thường v.v...; như vì tâm giận mà thấy người này là xấu, khi tâm
giận hết, tâm dâm dục sinh ra lại thấy người này là đẹp; nếu
sinh tâm kiêu mạn thì thấy người này là ty tiện, nghe nói người
này có đức lại sinh tâm cung kính. Ghét thương có lý, ghét
thương vô lý cũng như vậy đều là ức tưởng hư vọng; nếu trừ tướng
hư vọng cũng không có tướng không, tướng vô tướng, tướng vô tác,
vì không có gì để phá.
Sắc ấy do nhân duyên hòa hợp mà có, ví như
bọt nước, như huyễn, như mộng, nếu Bồ tát đối với sắc chấp thủ
tướng một, khác, liền mất Bát nhã ba la mật, vì sắc tánh là
tướng vô tướng; chấp thọ sắc tướng ấy rồi, thấy sắc tán hoại
ma diệt cho là vô thường nếu thấy nó hòa hợp tồn tại tạm thời
thì cho là thường.
Thường có hai: 1. Hoặc tồn tại trăm năm, ngàn
vạn ức năm, hoặc một kiếp, hoặc tám vạn kiếp, vậy sau tiêu diệt.
2. Thường trú không hoại. Bồ tát nếu dứt biên kiến tà kiến, thì
cũng không còn thấy chân thật thường; nếu thấy thường là thấy nó
trụ lâu nên thường, chứ chẳng phải chân thật. Nếu không dứt biên
kiến tà kiến thấy sắc là chân thật thường, nghĩ rằng cây cỏ,
rụng xuống thành đất, đó chỉ là lúc nó ly tán sự hòa hợp mà
thôi; thế nên nói Bồ tát ấy tu Bát nhã không có phương tiện
thiện xảo.
Bồ tát hoặc quán sắc vô thường. Vô thường
cũng có hai: 1. Niệm niệm diệt, hết thảy pháp hữu vi trụ không
quá một niệm. 2. Pháp tương tục hư hoại gọi là vô thường. Như
người mạng chết, như lửa cháy cây cỏ, như nước nấu khô. Nếu Bồ
tát mới phát tâm tiếp tục tu như vậy, thì tâm nhàm chán, dứt
được vô thường thô thiển, còn nếu Bồ tát tu lâu thì có thể thấy
các pháp niệm niệm vô thường. Cả hai Bồ tát này đều đọa vào
trong sự chấp thủ tướng, vì cớ sao? Vì sắc tướng thường hay vô
thường đều không thể có được, như trước nói thọ, tưởng, hành,
thức cũng như vậy. Khổ, lạc, ngã, phi ngã cũng vậy.
Hỏi: Năm uẩn ấy có thể quán nó thường, vô
thường v.v... cớ sao nói năm uẩn là tướng tịch diệt xa lìa?
Ðáp: Hành giả không thấy tướng năm uẩn
thường, vô thường, nên biết năm uẩn lìa tự tướng; nếu biết năm
uẩn lìa tự tướng tức là năm uẩn tịch diệt như Niết bàn.
Hỏi: Nếu như vậy ban đầu tự không có tướng,
tại sao nói vì không phương tiện nên đọa trong chấp tướng?
Ðáp: Bồ tát ấy căn độn không có tâm tự giác,
lìa sự chấp trước năm uẩn trở lại chấp trước viễn ly tịch tịnh,
ở nơi vô tướng sinh chấp trước. Ba mươi bảy đạo phẩm cho đến
mười tám pháp không chung cũng nên theo nghĩa phân biệt như vậy.
Nếu Bồ tát quán ngoại pháp đều vô tướng nói rằng: Ta có thể quán
như vậy, vì có tâm chấp ngã dư tàn nên cũng đọa trong tướng. Nếu
Bồ tátcó thể xa lìa tâm trước tướng phi đạo ấy mà thực hành trí
tuệ chân tịnh vô tướng, nghĩ rằng ta có thể tu hành trong ngoài
thanh tịnh như vậy, ấy là tu hành Bát nhã ba la mật, thì người
ấy cũng đọa trong tướng, vì cớ sao? Vì không có thể trước mà
chấp trước, không có thể thủ mà chấp thủ. Thế nên Bồ tát ấy gọi
là tu không có phương tiện thiện xảo, vì nương nơi ái và kiến mà
chấp trước pháp lành. Bồ tát ấy tuy có phước đức cũng không lìa
được gìà, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não. Hỗn tạp hành đạo, còn
không chứng được Tiểu thừa huống Ðại thừa. Trái với trên đây,
gọi là tu có phương tiện thiện xảo. Ðối với hết thảy pháp không
thọ không trước, vì các pháp hòa hợp nhân duyên sinh không có tự
tánh vậy.
Hỏi: Trước nói Tam muội không thọ, ở đây nói
Tam muội chẳng thọ, có gì sai khác?
Ðáp: Trước là không, đây là vô tướng.
Chẳng xa lìa
là thường hành không ngừng nghỉ, vì có tâm đại từ bi.
Mau được thành Phật đạo
là vào Tam muội ấy không chướng ngại trí tuệ cùng với Phật tương
tợ. Nếu phải trải qua A tăng kỳ kiếp mới được, thì hoặc có khi
vượt qua một A tăng kỳ kiếp, trăm kiếp, cho đến sáu mươi mốt
kiếp, như Phật Phất sa nhờ tán thán Phật Thích ca Văn, mà vượt
qua chín kiếp (Hai câu này văn nghĩa tra in tuồng trái ngược,
nguyên là Phật Thích ca Văn nhờ tán thán Phật Phất sa mà vượt
qua chín kiếp. Dưới đây trong văn kinh, Tu bồ đề nói 108 Tam
muội cùng với phẩm Ma ha Diễn ở sau, Phật tự nói trong phẩm Tà
Kiến cuốn 4 trang 8 nói 108 Tam muội thời đồng nhau, chỉ có hai
câu ba chữ là hơi khác, nên đối chiếu nghiệm đọc).
Kinh: Xá lợi
phất hỏi: Chỉ không lìa Tam muội ấy là khiến Bồ tát mau chứng
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác hay còn có Tam muội khác?
Tu bồ đề đáp Xá lợi phất: Còn có các Tam
muội khác, Bồ tát ma ha tát tu hành theo thì mau chứng được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Xá lợi phất hỏi: Những Tam muội gì Bồ
tátma ha tát tu hành theo mau chứng được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác?
Tu bồ đề đáp: Các Bồ tát ma ha tát có Tam
muội gọi là Thủ Lăng nghiêm, tu hành Tam muội ấy, khiến Bồ tát
ma ha tát mau chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Có Tam
muội Bảo ấn, Tam muội Sư tử giỡn chơi, Tam muội Diệu nguyệt, Tam
muội Nguyệt tràng tướng, Tam muội Chư pháp ấn, Tam muội Quán
đảnh, Tam muội Tất pháp tánh, Tam muội Tất tràng tướng, Tam muội
Kim cang, Tam muội Vào pháp ấn, Tam muội Vương an lập, Tam muội
Phóng quang, Tam muội Lực tấn, Tam muội Xuất sinh, Tam muội Tất
nhập biện tài, Tam muội Vào danh tự, Tam muội Xem phương, Tam
muội Ðà la ni ấn, Tam muội Không hư vọng, Tam muội Nhiếp các
pháp hải ấn, Tam muội Trùm khắp hư không, Tam muội Vòng kim
cang, Tam muội Bảo đoạn, Tam muội Chiếu không, Tam muội Chẳng
cầu, Tam muội Không chỗ trú, Tam muội Vô tâm, Tam muội Tịnh
đăng, Tam muội Sáng vô biên, Tam muội Năng tác mimh, Tam muội
Sáng cùng khắp, Tam muội Kiên tịnh các Tam muội, Tam muội Vô cấu
minh, Tam muội Tác nhạc, Tam muội Ðiển quang, Tam muội Vô tận,
Tam muội Uy đức, Tam muội Lìa hết, Tam muội Bất động, Tam muội
Trang nghiêm, Tam muội Nhật quang, Tam muội Nguyệt tịnh, Tam
muội Tịnh minh, Tam muội Năng tác minh, Tam muội Tác hành, Tam
muội Biết tướng, Tam muội Như Kim cang, Tam muội Tâm trú, Tam
muội Biến chiếu, Tam muội An lập, Tam muội Bảo đảnh, Tam muội
Diệu pháp ấn, Tam muội Pháp đẳng, Tam muội Sinh hỷ, Tam muội
Ðáo pháp đảnh, Tam muội Năng tán, Tam muội hoại các pháp xứ, Tam
muội Tự đẳng tướng, Tam muội Ly tự, Tam muội Ðoạn duyên, Tam
muội Bất hoại, Tam muội Vô chủng tướng, Tam muội Vô xứ hành, Tam
muội Ly ám, Tam muội Vô khứ, Tam muội Bất biến, Tam muội Ðộ
duyên, Tam muội Nhóm các công đức, Tam muội Trú vô tâm, Tam muội
Diệutinh hoa, Tam muội Giác ý, Tam muội Vô lượng biên, Tam muội
Vô đẳng đẳng, Tam muội Ðộ chư pháp, Tam muội Phân biệt chư pháp,
Tam muội Tán nghi, Tam muội Vô trú xứ, Tam muội Nhất tướng, Tam
muội Nhất tánh, Tam muội Sinh hành, Tam muội Nhất hành, Tam muội
Bất nhất hành, Tam muội Diệu hành, Tam muội Ðạt nhất thiết hữu
để tán, Tam muội Nhập ngôn ngữ, Tam muội Ly âm thanh tự ngữ, Tam
muội Nhiên đăng, Tam muội Tịnh tướng, Tam muội Phá tướng, Tam
muội Nhất thiết chủng diệu túc, Tam muội Không ưa khổ lạc, Tam
muội Bất tận hành, Tam muội Ðà la ni, Tam muội Thủ các tướng tà
chánh, Tam muội Dứt ghét thướng, Tam muội nghịch thuận, Tam muội
Tịnh quang, Tam muội Kiên cố, Tam muội Mãn nguyệt tịnh quang,
Tam muội Ðại trang nghiêm, Tam muội Hay chiếu hết thảy đời Tam
muội, Tam muội Vô tránh, Tam muội Vui không trú xứ, Tam muội Như
trú định, Tam muội Hoại thân suy, Tam muội Hoại ngữ như hư
không, Tam muội Ly trước hư không bất nhiễm.
Xá lợi phất! Ấy là Bồ tát ma ha tát tu
hành các Tam muội ấy mau chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác.
Lại có vô lượng vô số môn Tam muội, môn Ðà
la ni. Các Bồ tát ma ha tát học môn Tam muội, môn Ðà la ni ấy,
mau chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Tuệ mạng Tu bồ đề theo tâm Phật mà nói:
Nên biết Bồ tát ma ha tát tu hành Tam muội ấy, đã được Phật quá
khứ thọ ký, mười phương chư Phật hiện tại cũng thọ ký Bồ tát ấy.
Bồ tát ấy không thấy Tam muội ấy, cũng không niệm Tam muội ấy,
cũng không nghĩ rằng: Ta sẽ vào Tam muội ấy, ta nay vào Tam muội
ấy, ta đã vào Tam muội ấy. Bồ tát ma ha tát đều không có niệm
phân biệt.
Xá lợi phất hỏi Tu bồ đề: Bồ tát ma ha tát
trú các Tam muội ấy rồi mới theo chư Phật quá khứ được thọ ký ư?
Tu bồ đề đáp: Không phải xá lợi phất: Vì
sao? Vì Bát nhã ba la mật không khác các Tam muội, các Tam muội
không khác Bát nhã ba la mật; Bồ tát không khác Bát nhã ba la
mật, Bát nhã ba la mật không khác Bồ tát; Bát nhã ba la mật tức
là Tam muội, Tam muội tức là Bát nhã ba la mật; Bồ tát tức là
Bát nhã ba la mật và Tam muội, Bát nhã ba la mật và Tam muội tức
là Bồ tát.
Xá lợi phất hỏi Tu bồ đề: Nếu Tam muội
không khác Bồ tát, Bồ tát không khác Tam muội, Tam muội tức là
Bồ tát, Bồ tát tức là Tam muội, làm sao Bồ tát có Tam muội biết
hết thảy pháp v.v... ?
Tu bồ đề đáp: Bồ tát vào Tam muội ấy, lúc
ấy không nghĩ rằng: Ta do pháp ấy vào Tam muội ấy. Vì nhân
duyên ấy, Xá lợi phất! Bồ tát ấy đối với các Tam muội không biết
không niệm.
Xá lợi phất hỏi: Vì cớ sao không biết
không niệm?
Tu bồ đề đáp: Các Tam muội vì không có gì,
nên Bồ tát ấy không biết không niệm.
Bấy giờ, Phật tán thán: Lành thay, lành
thay! Tu bồ đề, như Ta nói: Ông tu hành Vô tránh Tam muội bậc
nhất, tương ưng với nghĩa này.
Bồ tát ma ha tát hãy học Bát nhã ba la mật
như vầy: Thiền ba la mật, Tấn ba la mật, Nhẫn ba la mật, Giới ba
la mật, Thí ba la mật, bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không
chung cũng nên học như vậy.
Luận. Hỏi: Như Phật dạy một đường đến Niết
bàn đó là không, vô tướng, vô tác, cớ sao Xá lợi phất lại hỏi
còn có các Tam muội khác khiến Bồ tát mau thành Phật ư?
Ðáp: Khi chưa gần Niết bàn thì có nhiều
đường khác, khi gần Niết bàn thì chỉ có một đường là không, vô
tướng, vô tác; các Tam muội khác đều nhiếp vào trong ba môn
giải thoát ấy, ví như thành lớn có nhiều cửa, đều được vào
thành; lại như ngàn sông muôn dòng đều chảy về biển.
Những gì là các Tam muội khác? Ðó là các Tam
muội Thủ Lăng nghiêm v.v... Trong phẩm Ma ha Diễn, Phật tự nói:
Ðiều sâu xa khó hiểu, Phật sẽ dạy ở trong đây. Nếu Bồ tát thực
hành được 108 Tam muội và các môn Ðà la ni, thời mười phương chư
Phật đều thọ ký cho, vì cớ sao? Vì Bồ tát tuy được các Tam muội
ấy, vì thật không có ngã tâm ức tưởng phân biệt nên cũng không
khởi niệm rằng: Ta sẽ vào Tam muội ấy, nay vào, đã vào, ta sẽ
trụ Tam muội ấy, là Tam muội của ta. Vì tâm ấy thanh tịnh không
chấp trước pháp vi diệu, nên chư Phật thọ ký cho.
Bấy giờ Xá lợi phất trở lại lấy trí tuệ về
không nạn hỏi Tu bồ đề rằng: Bồ tát trú Tam muội ấy, thủ lấy
tướng Tam muội ấy, có được thọ ký không?
Tu bồ đề đáp: Không, vì cớ sao? Vì ba việc
không khác nhau: Bát nhã không khác Tam muội, Tam muội không
khác Bát nhã; Bát nhã không khác Bồ tát, Tam muội; Bồ tát, Tam
muội không khác Bát nhã; Bát nhã, Tam muội tức là Bồ tát, Bồ tát
tức là Bát nhã, Tam muội. Bát nhã, Tam muội và Bồ tát khác nhau
thời chư Phật thọ ký cho, song vì không khác nên không thọ ký.
Xá lợi phất lại hỏi: Nếu như vậy, thời Tam
muội và hết thảy pháp bình đẳng không khác ư?
Tu bồ đề đáp: Bồ tát có Tam muội về các pháp
v.v... vào trong Tam muội ấy, các pháp không khác.
Lại nữa, như trước nói đối với các Tam muội
không khởi ức tưởng phân biệt, không hay không biết, vì tự tánh
các Tam muội không có gì. Bồ tát không biết không niệm, Phật vì
Tu bồ đề chưa tự được Tam muội ấy, mà khéo nói Tam muội, Ðà la
ni vi diệu của Bồ tát, đối với Bát nhã ba la mật không niệm
không trước, thế nên Phật tán thán: Lành thay! Ta nói ông được
vô tránh Tam muội đệ nhất đúng như lời ta tán thán không sai.
Kinh: Xá lợi
phất bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, Bồ tát ma ha tát học như
vậy là học Bát nhã ba la mật ư?
Phật bảo Xá lợi phất: Bồ tát ma ha tát học
như vậy là học Bát nhã ba la mật, vì pháp ấy không thể có được;
cho đến học Thí ba la mật, vì pháp ấy không thể có được, học bốn
niệm xứ cho đến mười tám pháp không chung vì pháp ấy không thể
có được.
Xá lợi phất bạch rằng: Bạch đức Thế Tôn!
Như vậy, Bồ tát ma ha tát học Bát nhã ba la mật, pháp ấy không
thể có được ư?
Phật dạy: Ðúng như vậy! Bồ tát ma ha tát
học Bát nhã ba la mật, pháp ấy không thể có được.
Xá lợi phất thưa: Bạch đức Thế Tôn! Những
pháp gì không thể có được?
Phật dạy: Ngã không thể có được, cho đến
kẻ biết, kẻ thấy không thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh.
Năm ấm không thể có được, mười hai nhập
không thể có được, mười tám giới
không thể có được, vì rốt ráo thanh
tịnh. Vô minh không thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh cho đến
lão tử không thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh; Khổ đế không
thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh; Tập, Diệt, Ðạo đế không thể
có được, vì rốt ráo thanh tịnh. Cõi Dục không thể có được, vì
rốt ráo thanh tịnh; cõi Sắc cõi Vô sắc không thể có được, vì rốt
ráo thanh tịnh; bốn niệm xứ không thể có được, vì rốt ráo thanh
tịnh; cho đến mười tám pháp không chung không thể có được, vì
rốt ráo thanh tịnh. Sáu Ba la mật không thể có được, vì rốt ráo
thanh tịnh, Tu đà hoàn không không thể có được vì rốt ráo thanh
tịnh; Tư đà hoàn, A na hàm, A la hán, Bích chi Phật không thể có
được, vì rốt ráo thanh tịnh. Bồ tát không thể có được vì rốt ráo
thanh tịnh. Phật không thể có được vì rốt ráo thanh tịnh.
Xá lợi phất bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Thế nào là rốt ráo thanh tịnh?
Phật dạy: Chẳng xuất chẳng sinh, không
được không làm, ấy gọi là rốt ráo thanh tịnh.
Xá lợi phất bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Bồ tát ma ha tát học như vậy là học pháp gì?
Phật bảo Xá lợi phất: Bồ tát ma ha tát học
như vậy đối với các pháp không học gì, vì sao? Này Xá lợi phất!
Tướng các pháp không như tướng phàm phu chấp trước.
Xá lợi phất bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Thật tướng các pháp có thế nào?
Phật dạy: Các pháp không có gì, có như
vậy, không có gì như vậy, việc ấy không biết gọi là vô minh.
Xá lợi phất bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Không có những gì việc ấy không biết, gọi là vô minh?
Phật bảo Xá lợi phất: Sắc, thọ, tưởng,
hành,thức không có gì, vì nội không cho đến vô pháp hữu pháp
không. Bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không chung không có
gì, vì nội không cho đến vô pháp hữu pháp không. Trong đó phàm
phu vì do vô minh khát ái nên vọng thấy phân biệt, gọi là vô
minh. Kẻ phàm phu bị buộc vào hai bên, không biết không thấy các
pháp không có gì, mà ức tưởng phân biệt đắm sắc, cho đến mười
tám pháp không chung. Hạng người ấy vì đắm trước nên đối với
pháp không có gì khởi lên thức, tri, kiến. Ấy là phàm phu không
biết không thấy. Không biết không thấy gì? Không biết không thấy
sắc cho đến mười tám pháp không chung cũng không biết không
thấy. Vì vậy nên đọa vào trong số phàm phu, như trẻ con. Hạng
người ấy không ra khỏi. Không ra khỏi gì? Không ra khỏi cõi Dục,
không ra khỏi cõi Sắc, không ra khỏi cõi Vô sắc; không ra khỏi
pháp Thanh văn, Bích chi Phật. Người ấy cũng không tín thọ.
Không tín thọ gì? Không tin sắc không, cho đến không tin mười
tám pháp không chung. Người ấy không trú. Không trú gì? Không
trú Thí ba la mật cho đến không trú Bát nhã ba la mật, không trú
địa vị bất thối chuyển cho đến không trú mười tám pháp không
chung. Vì nhân duyên ấy, nên gọi là phàm phu, như trẻ nít. Cũng
gọi là người chấp trước. Chấp trước gì? Chấp trước sắc cho đến
thức, chấp trước nhãn nhập cho đến ý nhập, chấp trước nhãn giới
cho đến ý thức gìới; chấp trước dâm, nộ, si, chấp trước các tà
kiến, chấp trước bốn niệm xứ cho đến chấp trước Phật đạo.
Xá lợi phất bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Bồ tát ma ha tát học như vậy cũng chẳng phải học Bát nhã ba
la mật, chẳg được Trí nhất thiết chủng ư?
Phật bảo Xá lợi phất: Bồ tát ma ha tát học
như vậy, cũng chẳng học Bát nhã ba la mật, chẳng được Trí nhất
thiết chủng.
Xá lợi phất bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Vì sao Bồ tát cũng chẳng học Bát nhã ba la mật, chẳng được
Trí nhất thiết chủng?
Phật bảo Xá lợi phất: Bồ tát ma ha tát vì
không có phương tiện thiện xảo, nên ức tưởng phân biệt, chấp
trước Bát nhã ba la mật, chấp trước Thiền ba la mật, Tấn ba la
mật, Nhẫn ba la mật, Giới ba la mật, Thí ba la mật, cho đến mười
tám pháp không chung, Trí nhất thiết chủng, cứ ức tưởng phân
biệt chấp trước. Vì nhân duyên ấy, nên Bồ tát ma ha tát học như
vậy, cũng chẳng học Bát nhã ba la mật, chẳng được Trí nhất thiết
chủng.
Xá lợi phất bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Hoặc có Bồ tát ma ha tát học như vậy, chẳng học Bát nhã ba
la mật, chẳng được Trí nhất thiết chủng ư?
Phật bảo Xá lợi phất: Bồ tát ma ha tát học
như vậy, chẳng học Bát nhã ba la mật, chẳng được Nhất chủng trí.
Xá lợi phất bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Bồ tát ma ha tát nay nên làm sao học Bát nhã ba la mật,
được Trí nhất thiết chủng?
Phật bảo Xá lợi phất: Nếu Bồ tát ma ha
tát, khi học Bát nhã ba la mật, không thấy Bát nhã ba la mật.
Này Xá lợi phất! Bồ tát ma ha tát học Bát nhã ba la mật như vậy,
được Trí nhất thiết chủng, vì không thể có được.
Xá lợi phất bạch Phật rằng: Bạch đức Thế
Tôn! Thế nào gọi là bất khả đắc?
Phật dạy: Vì các pháp nội không cho đến vô
pháp hữu pháp không.
Luận: Xá lợi phất ở trên hỏi chỉ có vô thọ
Tam muội là mau được thành Phật hay còn có Tam muội khác? Tu
bồ đề đáp: Còn có Tam muội khác mau được thành Phật. Bồ tát
không niệm, không chấp trước Tam muội ấy nên được chư Phật quá
khứ hiện tại, thọ ký. Phật tán thán: Lành thay! Bồ tát ma ha
tát hãy học Bát nhã ba la mật như vậy, cho đến học hết thảy
Phật pháp.
Khi ấy, Xá lợi phất nghĩ rằng: Bát nhã ba la
mật là tướng không, còn các Tam muội là các tướng có phân biệt,
làm sao học các Tam muội là học Bát nhã ba la mật, cho nên hỏi.
Phật đáp: Xá lợi phất: Học Bát nhã ba la mật
như vậy đều vì bất khả đắc, vì tướng khí phần của Bát nhã bala
mật đều ở trong các Tam muội, học được như vậy là học Bát nhã ba
la mật, cho đến học mười tám pháp không chung. Phật liền ấn khả
cho.
Xá lợi phất lại hỏi: Pháp gì là không thể có
được?
Trong đây Phật tự nói: Vì chúng sanh không,
vì rốt ráo thanh tịnh nên ngã không thể có được, cho đến kẻ
biết, kẻ thấy, Tu đà hoàn cho đến Phật không thể có được; vì
pháp không, vì rốt ráo thanh tịnh, nên năm uẩn không thể có được
cho đến mười tám pháp không chung không thể có được.
Rốt ráo thanh tịnh
là không xuất không sinh, không được không làm v.v... Ở bên nhân
không sinh khởi gọi là không xuất, ở bên duyên không sinh khởi
gọi là không sinh. Tướng sinh nhất định không thể có được, nên
gọi là không xuất không sinh. Vì không xuất không sinh nên gọi
là không thể có được. Vì không thể có được nên gọi là không làm
không khởi. Pháp có khởi, làm đều là hư dối; lìa tướng như vậy
gọi là rốt ráo thanh tịnh.
Xá lợi phất hỏi Phật: Bồ tát ma ha tát tu
hành được đạo rốt ráo thanh tịnh như vậy vì học pháp gì, vì được
pháp gì?
Phật đáp: Học được như vậy kà vì không học
gì, không được gì.
Hỏi: Bồ tát dùng rốt ráo không ấy, học sáu Ba
la mật cho đến mười tám pháp không chung, cớ sao nói không có
pháp gì có thể học?
Ðáp: Trong đây Phật tự nói, các pháp không
giống như chỗ chấp trước của phàm phu. Tâm phàm phu có vô minh,
tà kiến kiết sử, những điều nghe, thấy, biết đều khác với pháp
tướng; cho đến nghe Phật thuyết pháp, đối với Thánh đạo và quả
báo đều chấp trước, làm ô nhiễm đạo.
Xá lợi phất bạch Phật rằng: Nếu chỗ thấy của
người phàm phu đều chẳng thật, vậy nay các pháp ấy làm sao có?
Phật dạy: Các pháp chẳng có gì, người phàm
phu nơi chỗ chẳng có gì cũng cho là có, vì cớ sao? Vì người phàm
phu ấy lìa vô minh tà kiến thời không thể có chỗ xem thấy, vì
thế nên nói chấp trước chỗ không có gì nên gọi là vô minh. Ví
như nắm tay trống không để gạt con nít, con nít chấp trước nên
cho là có.
Xá lợi phất hỏi Phật: Những pháp gì không có
vì chấp trước nên gọi là vô minh?
Phật đáp: Sắc cho đến mười tám pháp không
chung, trong đó vì vô minh tham ái nên ức tưởng phân biệt, thứ
minh ấy là vô minh, rơi vào hữu biên vô biên, mất ánh sáng trí
tuệ. Vì mất ánh sáng trí tuệ nên không thấy không biết sắc rốt
ráo không, không có gì, mà tự sinh ức tưởng phân biệt rồi chấp
trước; cho đến thức uẩn, mười hai nhập, mười tám giới, mười hai
nhân duyên, hoặc nghe pháp lành như sáu Ba la mật cho đến mười
tám pháp không chung, cũng như pháp thế gian; ức tưởng phân biệt
chấp trước thánh pháp cũng như vậy.Do vậy gọi là rơi vào số phàm
phu, giống trẻ con, bị người khinh cười. Như người lấy ngón tay
chỉ mặt trăng, người ngu chỉ thấy ngón tay không thấy mặt trăng;
người trí khinh cười nói: Sao ông không hiểu được ý người chỉ,
ngón tay là nhân duyên để biết mặt trăng, mà lại xem ngón tay
không biết mặt trăng. Chư Phật hiển thánh nói pháp cho người
phàm phu mà người phàm phu cứ chấp âm thanh ngữ ngôn, không nắm
lấy ý thánh nhân, không được thật nghĩa. Vì không được thật
nghĩa nên trở lại nơi thật nghĩa sinh chấp trước. Nay Phật chỉ
lỗi của người phàm phu, nên nói không thể vượt qua ba cõi, cũng
không thể lìa hai thừa. Vì không nắm được ý thánh nhân nên nghe
nói các pháp không mà chẳng tin, vì không tin nên không thật
hành, không an trú sáu Ba la mật, cho đến mười tám pháp không
chung. Vì mất các công đức như vậy nên gọi là phàm phu, con nít.
Con nít chấp trước năm uẩn, mười hai nhập, mười tám giới, ba
độc, các phiền não cho đến mười tám pháp không chung; Vô thượng,
Chánh đẳng, Chánh giác đều chấp trước, nên gọi là kẻ chấp trước.
Xá lợi phất hỏi: Nếu Bồ tát tu hành như vậy,
gọi là không hành Bát nhã ba la mật, không hành Bát nhã ba la
mật nên chẳng được Trí nhất thiết chủng ư?
Phật hứa khả Xá lợi phất rằng: Như vậy, như
vậy! Liền vì nói nhân duyên cho là Bồ tát mới tu hành, không có
sức phương tiện, nghe nói Bát nhã ba la mật ấy, ức tưởng phân
biệt, tìm cầu muốn lấy, nghĩ rằng: Ta bỏ cái vui thế gian, lại
không được Bát nhã ba la mật, ấy là mất cả hai, chuyên tìm cầu
muốn được. Hoặc bảo nói không, là Bát nhã ba la mật; hoặc nói
không cũng không, là Bát nhã ba la mật; hoặc nói các pháp như
thật tướng là Bát nhã ba la mật. Như vậy dùng sáu mươi hai kiến,
chín mươi tám tâm kiết sử phiền não, chấp trước cho là Bát nhã
ba la mật, cho đến Trí nhất thiết chủng cũng chấp như vậy. Lấy
tâm chấp trước ấy mà học các pháp, không thể được Trí nhất thiết
chủng. Cùng với đây trái nhau là có thể hành Bát nhã ba la mật,
cũng có thể được Trí nhất thiết chủng; nghĩa là không thấy Bát
nhã ba la mật, không thấy hành giả, không thấy duyên pháp, không
thấy cũng không thấy.
Xá lợi phất lại hỏi nhân duyên không thấy,
Phật đáp Bồ tát ấy vào mười tám Không, cho nên không thấy, chẳng
phải vô trí nên không thấy.
(Hết cuốn 43 theo bản
Hán)
--o0o --
|
|