---o0o---
Tập 2
Cuốn 29
Kinh:
Muốn do tâm tùy hỷ trong
một niệm mà vượt quá hết thảy người bố thí để cầu Thanh văn,
Bích-chi Phật, cần nên học Bát-nhã ba-la-mật. Muốn do tâm tùy
hỷ trong một niệm mà vượt quá hết thảy người trì giới để cầu
Thanh văn, Bích-chi Phật, cần nên học Bát-nhã ba-la-mật. Muốn
do tâm tùy hỷ trong một niệm mà vượt quá hết thảy người tu
tam-muội, trí tuệ giải thoát, giải thoát tri kiến để cầu Thanh
văn, Bích-chi Phật, cần nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận:
Tâm tùy hỷ thì như trong phẩm Tùy hỷ đã nói rồi.
Lại nữa, tùy hỷ là khi thấy có người làm
việc công đức sanh tâm hoan hỷ theo, mà tán thán rằng: Lành
thay! ở trong thế giới vô thường, bị si ám che lấp, mà có thể
mở rộng đại tâm, kiến lập công đức ấy, thí như các thứ hương
thơm, một người bán, một người mua, người ở hai bên cũng ngửi
được mùi thơm, mà mùi thơm không tổn, hai người chủ không mất
chi. Như vậy có người thí, có người thọ nhận, có người ở bên
hoan hỷ theo, đều được công đức, mà hai người chủ kia không
mất chi. Tướng trạng như vậy gọi là tùy hỷ. Do vậy, Bồ-tát chỉ
đem tâm tùy hỷ, mà vượt quá người cầu nhị thừa, huống chi tự
mình làm bố thí.
Hỏi:
Tại sao Bồ-tát có thể do tâm tùy hỷ mà vượt trên người cầu
Thanh văn, Bích-chi Phật đem tài vật bố thí?
Đáp:
Thanh văn, Bích-chi Phật làm bố thí, Bồ-tát ở bên trông thấy
nhất tâm niệm tùy hỷ khen rằng: Lành thay! lấy phước đức tùy
hỷ ấy hồi hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì độ hết
thảy chúng sanh, vì nhờ đó được vô lượng Phật pháp. Do hai
công đức này vượt trên người bố thí để cầu Thanh văn, Bích-chi
Phật.
Lại nữa, lấy tâm trí tuệ biết thật tướng
các pháp mà tùy hỷ, nên vượt trên người bố thí để cầu Thanh
văn, Bích-chi Phật.
Lại nữa, Bồ-tát đem phước đức quả báo do
tâm tùy hỷ sanh, mà hồi hướng cúng dường ba đời mười phương
Phật, nên vượt trên người bố thí để cầu Thanh văn, Bích-chi
Phật, ví như người đem một ít vật dâng lên quốc vương, được
đáp trả rất nhiều. Lại như thổi kèn, sáo, dùng hơi ít mà âm
thanh rất lớn.
Lại nữa, Bồ-tát lấy công đức tùy hỷ hòa hợp
với vô lượng các công đức khác, cho đến khi pháp diệt cũng
không hết, ví như một ít nước đổ vào trong biển lớn, thì khi
kiếp tận nó mới hết. Công đức trì giới, thiền định, trí tuệ,
giải thoát, giải thoát tri kiến cũng như vậy.
Hỏi:
Dưới Phật có Bồ-tát, dưới Bồ-tát có Thanh văn, Bích-chi Phật,
nay nói Bồ-tát muốn hơn người bố thí để cầu Thanh văn,
Bích-chi Phật, thì có gì lạ?
Ðáp:
Không lấy công đức bố thí, trì giới... của Thanh văn, Bích-chi
Phật so với công đức của Bồ-tát, mà chỉ lấy tâm tùy hỷ đã có
thể hơn, huống gì công đức mà Bồ-tát tự làm. Người Thanh văn,
Bích-chi Phật, đem thân siêng làm công đức bị mệt mỏi, Bồ-tát
yên lặng tùy hỷ, mà phước đức của năng lực trí tuệ quá hơn
Thanh văn, Bích-chi Phật, ví như người thợ, chỉ dùng trí tuệ
bày vẻ rồi bỏ đi, người cầm rìu búa mệt nhọc tối ngày, mà tính
công lãnh thưởng thì người thợ được gấp ba.
Lại như đánh giặc, người chiến đấu mạo hiểm
chết, mà chủ tướng lãnh công.
Hỏi:
Nếu tâm tùy hỷ hơn số bố thí, trì giới, cớ sao chỉ nói Bồ-tát
tùy hỷ là hơn?
Đáp:
Người phàm phu bị phiền não che tâm, chấp ngã chưa dứt, đắm
vui thế gian, làm sao hơn được người cầu Thanh văn, Bích-chi
Phật, lợi tuy hơn độn, nhưng đồng ở địa vị Thanh văn, nên
không nói.
Hỏi:
Công đức của Thanh văn, Bích-chi Phật. Pháp công đức rất
nhiều, cớ sao chỉ nói sáu pháp?
Đáp:
Vì trong sáu pháp này nhiếp hết pháp của Thanh văn, Bích-chi
Phật. Nếu nói bố thí là đã nói công đức của tín nghe, vì sao?
Vì trước nghe rồi mới tin, tin rồi mới bố thí.
Bố thí có hai thứ là: 1. Tài thí, 2. Pháp
thí.
Trì giới nhiếp ba giới là: luật nghi giới,
định cọng giới, đạo cọng giới (vô lậu giới).
Ðịnh nhiếp các thiền, định, giải thoát,
tam-muội...
Tuệ nhiếp văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ.
Giải thoát nhiếp hai giải thoát là hữu vi
giải thoát, vô vi giải thoát.
Giải thoát tri kiến nhiếp tận trí, tự biết
lậu hoặc đã hết, giải thoát khỏi ba cõi, ở trong đó thấy biết
rõ ràng. Trong đây đã nói trợ đạo pháp và thánh đạo pháp.
Lại nữa, nếu công đức không hướng đến
Niết-bàn, thì trong đây không nói vượt quá, vì công đức ấy
mỏng.
Hỏi:
Hơn là chỉ cho thế lực tranh giành nhau, nay Bồ-tát không cạnh
tranh với Thanh văn, Bích-chi Phật, cớ sao nói hơn?
Đáp:
Hơn là cùng ở trong một việc, mà do tâm lực trí tuệ phương
tiện cho nên được phước nhiều, ví như người đối với cái hoa
chỉ lấy hương sắc, còn con ong chỉ lấy vị để làm thành mật.
Cũng như lấy nước, đồ chứa lớn thời được nhiều, đồ chứa nhỏ
thời được ít. Do các ví dụ như vậy, đủ biết đem tâm tùy hỷ
thâm sâu mãnh lợi, có trí tuệ tương ưng, nên công đức hơn bố
thí để cầu Thanh văn, Bích-chi Phật.
Sáu pháp này, đầu hết là bố thí, như ở
trong nghĩa Ðàn ba-la-mật đã phân biệt nói về pháp của Thanh
văn, Bích-chi Phật. Trì giới như ở trong nghĩa Thi-la
ba-la-mật đã phân biệt nói về pháp của Thanh văn, Bích-chi
Phật. Tam-muội, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến như ở
trong nghĩa niệm Phật đã phân biệt nói.
Kinh:
Muốn do tâm tùy hỷ trong một niệm mà vượt quá hết thảy
người tu các thiền, định, giải thoát, tam-muội để cầu Thanh
văn, Bích-chi Phật, cần nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận:
Thiền định là bốn thiền và chín định thứ đệ. Giải thoát
tam-muội là tám bội xả, ba giải thoát môn, tuệ giải thoát,
cọng giải thoát, thời giải thoát, bất thời giải thoát, hữu vi
giải thoát, vô vi giải thoát... Tam-muội có giác có quán,
tam-muội không giác có quán, tam-muội không giác không quán;
Không tam-muội, Vô tướng tam-muội, Vô tác tam-muội, các
tam-muội như vậy.
Hỏi:
Trong sáu pháp trên, tam-muội tức là thiền, định, giải thoát,
tam-muội, sao nay còn nói lại?
Đáp:
Có hai thứ tam-muội: 1. Thuộc phần tuệ giải thoát. 2. Thuộc
phần cọng giải thoát. Thuộc phần tuệ giải thoát thì không thể
vào thiền định, chỉ nói đó là tam-muội trong Vị đáo địa. Trong
đây nói tam-muội thuộc phần cọng giải thoát thì đủ có thiền,
định, giải thoát, tam-muội. Kia nói lược, đây nói rộng; kia
chỉ nói tên, trong đây phân biệt nghĩa.
Lại nữa, trước Thắng tam-muội là có người
nói một, hai tam-muội, chứ chẳng phải Thâm tam-muội, nay trong
đây nói thiền, định, giải thoát là Thậm thâm tam-muội.
Lại nữa, thiền, định, giải thoát, tam-muội
có hai thứ: 1. Khi lìa dục liền được. 2. Cầu mà được. Khi lìa
dục liền được như trước đã nói. Cầu mà được là đây nói.
Lại nữa, thiền, định, giải thoát, tam-muội,
được nó rất khó, tinh tấn cầu mới được. Bồ-tát chỉ đem tâm tùy
hỷ bèn được hơn kia. Đó là pháp chưa từng có, cho nên nói lại.
Hỏi:
Trong kia tam-muội, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến
cũng khó được, cớ sao nói đây khó được?
Đáp:
Trước đã trả lời, kia là thuộc phần tuệ giải thoát, không tận
cùng nghĩa thậm thâm. Còn A-la-hán cọng giải thoát, A-la-hán
đủ ba minh khó được, nên nói lại.
Lại nữa, tam-muội, trí tuệ, giải thoát,
giải thoát tri kiến ấy, tuy khó được mà không rộng lớn khắp
hết, chỉ trực tiếp vì Niết-bàn, còn đây nói rõ A-la-hán muốn
được cái vui thiền định hiện tại đó là diệt tận định, đảnh tế
thiền, nguyện trí, Vô tránh tam-muội, nhưng việc như vậy,
chẳng phải trực tiếp vì Niết-bàn. Vì vậy nên lại nói rộng, vì
cớ sao? Vì thứ trước là trực tiếp vì Niết-bàn, trong đó nói
giải thoát rồi giải thoát tri kiến, nên biết đó là một đường
thẳng đến Niết-bàn.
Hỏi:
Nếu vì thiền, định, giải thoát, tam-muội khó được, nên nói
lại, trí tuệ là rất khó, vi diệu trong hết thảy pháp, sao
không nói lại?
Ðáp:
Ở trên đã nói trong đoạn nói muốn vượt qua trí tuệ Thanh văn,
Bích-chi Phật, nên học Bát-nhã ba-la-mật. Còn thiền định này
chưa nói, cho nên nói lại. Thiền định, trí tuệ, là hai pháp
tối diệu, có được hai hạnh này thì sở nguyện đều được, như
chim có hai cánh, có thể đi đến chỗ này chỗ kia. Giải thoát từ
hai pháp đó mà được, giải thoát tri kiến tức là trí tuệ. Bố
thí, trì giới là thân nghiệp, khẩu nghiệp thô hạnh dễ được cho
nên không nói lại.
Hỏi:
Bồ-tát lấy tâm tùy hỷ hơn Thanh văn, Bích-chi Phật tu bố thí,
trì giới, trí tuệ. Có thể như vậy, vì cớ sao? Vì việc bố thí,
trì giới, mắt thấy được, tai nghe được, trí tuệ cũng là pháp
nghe được, nên có thể sanh tâm tùy hỷ, còn thiền định, giải
thoát, tam-muội, là pháp không thể thấy, nghe, thì làm sao tùy
hỷ?
Đáp:
Bồ-tát do trí biết tha tâm mà tùy hỷ.
Hỏi:
Pháp của trí biết tha tâm là, trí hữu lậu biết tha tâm thì
biết tâm hữu lậu của người khác, trí vô lậu biết tha tâm thì
biết tâm vô lậu của người khác. Bồ-tát chưa thành Phật, làm
sao biết được tâm vô lậu của Thanh văn, Bích-chi Phật?
Ðáp:
Trong pháp Thanh văn thì như vậy, còn trong pháp Ðại thừa,
Bồ-tát được vô sanh nhẫn, dứt các kiết sử, đời đời thường
không mất sáu thần thông, trí hữu lậu biết Tha tâm có thể biết
tâm vô lậu của người khác, huống gì lấy trí vô lậu biết Tha
tâm.
Lại có người nói: Bố-tát mới phát tâm, chưa
được pháp tánh sanh thân, hoặc thấy hoặc nghe Thanh văn,
Bích-chi Phật bố thí, trì giới, so sánh biết họ sẽ được
A-la-hán, sanh tâm tùy hỷ nói: Người ấy biết được thật tướng
các pháp, lìa khỏi ba cõi. Ta muốn độ hết thảy chúng sanh
thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết. Nay họ đã thoát được, ấy là
việc của ta.
Có các nhân duyên tùy hỷ như vậy, nên tùy
hỷ không lỗi.
Kinh:
Bồ-tát ma-ha-tát thực hành một ít thí, ít giới, ít nhẫn, ít
tấn, ít thiền, ít trí, muốn do sức phương tiện hồi hướng mà
được vô lượng vô biên công đức, cần nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận. Hỏi:
Trước đã nói sáu Ba-la-mật, sao nay
còn nói lại?
Ðáp:
Trên là nói tướng tổng quát, đây muốn nói tướng sai biệt. Trên
nói nhân duyên, đây nói quả báo.
Hỏi:
Không phải vậy, trên kia nói sáu Ba-la-mật đều đầy đủ rộng
khắp, đây nói một ít thí cho đến một ít trí, in tuồng không
đồng với nghĩa sáu Ba-la-mật trên?
Ðáp:
Không phải! Chính là sáu Ba-la-mật, sao vậy? Vì nghĩa của sáu
Ba-la-mật cốt ở tâm không phải cốt ở sự nhiều ít. Bồ-tát thật
hành hoặc nhiều hoặc ít, đều là Ba-la-mật. Như kinh Hiền Kiếp
nói 84.000 các Ba-la-mật. Trong Kinh ấy cũng nói, có thế gian
Ðàn ba-la-mật, có xuất thế gian Ðàn ba-la-mật, cho đến Bát-nhã
ba-la-mật cũng có thế gian, xuất thế gian.
Hỏi:
Sao Bồ-tát bố thí ít?
Đáp:
Có nhiều nhân duyên nên ít thí. Hoặc có Bồ-tát mới phát tâm,
phước đức chưa nhiều, vì nghèo nên ít thí. Hoặc có Bồ-tát nghe
bố thí không kể nhiều ít, công đức tại tâm, vì vậy nên không
cầu bố thí nhiều vật, chỉ cầu tâm tốt. Hoặc có Bồ-tát nghĩ
rằng nếu ta cầu chất chứa cho nhiều tài vật mà phá giới mất
lành, tâm bị tán loạn, não hại chúng sanh nhiều. Nếu não hại
chúng sanh để cúng dường Phật, Phật không chấp nhận, vì phá
chấp để cầu tài. Hoặc bố thí cho phàm phu mà cướp kia cho đây,
là không bình đẳng. Ðúng như pháp Bồ-tát, tâm bình đẳng đối
với tất cả, đều như con một, vì vậy nên ít thí.
Lại nữa, Bồ-tát có hai: 1. Bại hoại Bồ-tát.
2. Thành tựu Bồ-tát. Bồ-tát bại hoại là vốn phát tâm Bồ-đề,
song không gặp thiện duyên, bị năm triền cái che tâm, làm tạp
hạnh, khi chuyển thân hưởng thụ giàu sang lớn, hoặc làm quốc
vương, hoặc làm đại quỉ thần vương, long vương... vì đã tạo ác
nghiệp thân khẩu ý không thanh tịnh nên không được sanh ở
trước Phật, và các chỗ vô tội trong cõi trời cõi người; ấy gọi
là bại hoại Bồ-tát. Những người như vậy, tuy mất tâm Bồ-tát
song do nhân duyên đời trước, còn ưa bố thí, nên não hại nhiều
chúng sanh, cướp giựt phi pháp, để lấy của đem làm phước.
Bồ-tát thành tựu là không mất tâm Bồ-đề,
thương xót chúng sanh, hoặc có người tại gia thọ năm giới, có
người xuất gia thọ giới. Tại gia Bồ-tát, tuy hạnh nghiệp thành
tựu, có người vì nhân duyên đời trước phải chịu nghèo cùng,
nghe Phật dạy có hai cách bố thí là pháp thí, tài thí. Người
xuất gia nên nhiều pháp thí, người tại gia nên nhiều tài thí.
Ta nay vì nhân duyên đời trước, không sanh nhà giàu, thấy
Bồ-tát bại hoại kia tạo tội để bố thí, tâm không vui mừng,
nghe Phật không khen ngợi tài thí nhiều, chỉ khen tâm thanh
tịnh thí, vì vậy nên ta tùy có được vật gì thí vật ấy.
Lại xuất gia Bồ-tát thủ hộ giới nên không
chứa tài vật.
Lại tự suy nghĩ công đức của giới hơn công
đức của bố thí, nên tùy có được vật gì thí vật ấy.
Lại nữa, Bồ-tát nghe trong Phật pháp nói
nhân duyên đời trước bố thí ít được quả báo nhiều, như
A-la-hán Bạt-câu-la lấy thuốc một trái Ha-lê-lặc bố thí mà 91
kiếp không đọa ác đạo, hưởng phước vui cõi trời cõi người,
thân thường không bệnh, thân cuối cùng được quả A-la-hán. Lại
như Sa-môn Nhị-thập-ức tu ở trong pháp đức Phật Tỳ-bà-thi, làm
một phòng xá cấp cho Tỳ-kheo Tăng, trải một tấm da dê để cho
Tăng bước lên, nhờ nhân duyên ấy, trong 91 kiếp chân không đạp
đất, hưởng vô lượng phước vui trong cõi người cõi trời, thân
cuối cùng được sanh vào nhà đại Trưởng giả, thọ thân đoan
chánh, dưới chân mọc lông dài hai tấc, màu như lưu ly xanh,
xoay về phía hữu. Lúc mới sanh, phụ thân cho ông hai mươi ức
lượng vàng, lúc sau chán đời ngũ dục, xuất gia đắc đạo, Phật
khen là Tỳ-kheo tinh tấn đệ nhất.
Lại như Tỳ-kheo Tu-mạn-nhĩ, đời trước trông
thấy tháp Phật Tỳ-bà-thi, lấy hoa Tu-mạn trên tai bố thí, nhờ
nhân duyên ấy trong 91 kiếp thường không bị đọa ác đạo, hưởng
phước vui cõi trời cõi người, thân cuối cùng, khi sanh ra, có
hoa Tu-mạn ở trên tai, hương thơm đầy nhà, cho nên đặt tên là
Tu-mạn-nhĩ. Lúc sau chán đời xuất gia, chứng đạo quả A-la-hán.
Như vậy, Bồ-tát nhờ nhân duyên đời trước bố
thí ít được quả báo nhiều, bèn tùy theo vật có được nhiều ít
mà bố thí.
Lại nữa, Bồ-tát cũng không nhất định thường
bố thí ít vật, mà tùy theo vật có được nhiều thời thí nhiều,
ít thời thí ít.
Lại nữa, Phật muốn tán thán công đức
Bát-nhã ba-la-mật lớn lao, nên nói thí ít mà được quả báo
nhiều, công đức vô lượng.
Hỏi:
Như A-la-hán Bạt-câu-la... cũng bố thí ít mà được quả báo
nhiều, đâu có dùng Bát-nhã ba-la-mật?
Ðáp:
Bạt-câu-la tuy được quả báo, nhưng có kiếp số hạng lượng, được
đạo quả nhỏ, vào Niết-bàn. Còn Bồ-tát do Bát-nhã ba-la-mật
phương tiện hồi hướng, nên bố thí ít mà phước đức vô lượng vô
biên vô số.
Hỏi:
Thế nào là do phương tiện hồi hướng, nên bố thí ít mà công đức
vô lượng vô biên?
Ðáp:
Tuy bố thí ít mà đều hồi hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, Bồ-tát suy nghĩ rằng: Ta do phước đức nhân duyên này
không phải để cầu các vui thế gian trong cõi trời cõi người,
mà chỉ để cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng như Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác vô lượng vô biên, nên phước đức
ấy cũng vô lượng vô biên.
Lại phước đức ấy vì độ hết thảy chúng sanh,
cũng như chúng sanh vô lượng vô biên nên phước đức cũng vô
lượng vô biên.
Lại nữa, phước đức ấy dùng đại từ bi gây
dựng, đại từ bi vô lượng vô biên, nên phước đức ấy cũng vô
lượng vô biên.
Lại nữa, phước đức của Bồ-tát hòa hợp với
thật tướng các pháp, nên ba phần đều thanh tịnh là người nhận,
người cho và tài vật, đều chẳng thể có được. Như trong Kinh
Bát-nhã ba-la-mật, khi ban đầu vì Xá-lợi-phất nói Bồ-tát bố
thí, cả người cho, người nhận, và tài vật đều không thể có
được, nên đầy đủ Bát-nhã ba-la-mật. Dùng trí tuệ thật tướng ấy
bố thí nên được vô lượng vô biên phước đức.
Lại nữa, các Bồ-tát đều ghi nhớ phước đức
có được đều là như tướng, pháp tánh tướng, thật tế tướng. Ví
như, pháp tánh, thật tế vô lượng vô biên, nên phước đức ấy
cũng vô lượng vô biên.
Hỏi:
Nếu đại Bồ-tát quán các pháp thật tướng biết như, pháp tánh,
thật tế, là tướng tịch diệt vô vi, thì làm sao còn sanh tâm để
tạo phước đức?
Đáp:
Bồ-tát tu tập tâm đại bi lâu ngày, khi tâm đại bi phát khởi,
suy nghĩ rằng: Chúng sanh không biết thật tướng các pháp, ta
sẽ làm cho chúng sanh biết được thật tướng ấy, nên dùng sức
Tinh tấn ba-la-mật giúp cho tâm đại bi, trở lại thật hành
nghiệp nhân duyên về phước đức, ví như lửa tắt gặp được gió,
củi thời bừng cháy lại.
Lại nữa, vì nhớ lại bản nguyện, và mười
phương Phật đến nói rằng: Ngươi hãy nhớ lại khi mới phát tâm
và nay ngươi mới được một pháp môn ấy, còn vô lượng pháp môn
như vậy, ngươi chưa được tất cả, hãy trở lại chứa nhóm các
công đức, như trong Thất địa của kinh Tiệm bị nói rõ.
Hỏi:
Bố thí nhiều ít thì có thể như vậy. Về giới có năm giới, giới
thọ một ngày, mười giới, nhiều ít cũng có thể được, vì nó
thuộc sắc pháp có thể phân biệt được. Còn bốn Ba-la-mật kia,
làm sao biết nó nhiều ít?
Ðáp:
Nó đều biết được, như nhẫn có hai thứ là thân nhẫn và tâm
nhẫn. Thân nhẫn là tuy thân miệng không động nhưng tâm không
thể không động khởi, vì thiểu nhẫn cho nên không thể chế tâm.
Tâm nhẫn là thân tâm đều nhẫn, giống như cây khô.
Lại nữa, thiểu nhẫn là bị người đánh mắng
không đánh mắng lại. Ðại nhẫn là không phân biệt người mắng,
người nhẫn và sự nhẫn.
Lại nữa, nhẫn đối với chúng sanh là thiểu
nhẫn, nhẫn đối với pháp là đại nhẫn. Như vậy là phân biệt
thiểu nhẫn.
Thiểu tinh tấn có hai là thân tấn và tâm
tấn. Thân tấn là thiểu, tâm tấn là đại. Tinh tấn bên ngoài là
thiểu, tinh tấn bên trong là đại. Thân miệng tinh tấn là
thiểu, ý tinh tấn là đại. Như Phật nói ý nghiệp sức lớn, như
khi vị đại tiên nhẫn nổi sân, có thể khiến một nước lớn tiêu
diệt.
Lại nữa, thân miệng làm tội ngũ nghịch, bị
quả báo lớn ở trong địa A-tỳ chỉ một kiếp, trong khi đó ý
nghiệp sức lớn, được sanh cõi trời Phi hữu tưởng phi vô tưởng,
sống tám vạn đại kiếp và cũng ở mười phương cõi Phật sống vô
lượng kiếp. Vì vậy nên biết thân miệng tinh tấn là tiểu, ý
tinh tấn là đại.
Lại nữa, như Kinh nói: Nếu thân, miệng, ý,
tịch diệt bất động, ấy là đại tinh tấn. Ðộng là tiểu tinh tấn,
như vậy gọi là tiểu tấn.
Tiểu thiền là dục giới định, vị đáo địa, vì
không lìa dục nên gọi là tiểu, và quán hai thiền. Sơ thiền là
tiểu, cho đến Diệt tận định, hữu lậu là tiểu, vô lậu là đại.
Chưa được bất thối, chưa được vô sanh nhẫn pháp thiền là tiểu,
được bất thối, được vô sanh nhẫn pháp thiền là đại. Cho đến
ngồi đạo tràng định tương ưng với giải thoát thứ mười sáu là
tiểu, Kim cang tam-muội thứ mười bảy là đại.
Lại nữa, nếu Bồ-tát quán hết thảy pháp
thường định, không tán loạn, không nương tựa, không phân biệt,
ấy là đại, ngoài ra đều là tiểu.
Tuệ có hai là thế gian tuệ và xuất thế gian
tuệ. Thế gian tuệ là tiểu, xuất thế gian tuệ là đại. Tịnh tuệ,
tạp tuệ, tướng tuệ, vô tướng tuệ, phân biệt tuệ, vô phân biệt
tuệ, tùy pháp tuệ, phá pháp tuệ, vì sanh tử tuệ, vì Niết-bàn
tuệ, vì tự lợi ích tuệ, vì lợi ích hết thảy chúng sanh tuệ...
cũng như vậy.
Lại nữa, văn tuệ là tiểu, tư tuệ là đại, tư
tuệ là tiểu, tu tuệ là đại, hữu lậu tuệ là tiểu, vô lậu tuệ là
đại, tuệ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là tiểu, tuệ
tu hành sáu độ là đại, tu tuệ là tiểu, phương tiện tuệ là đại,
trong các địa phương tiện triển chuyển có đại tiểu, cho đến
mười địa. Như vậy phân biệt nhiều và ít.
Phật khen Bồ-tát kỳ lạ đặc biệt, trong việc
nhỏ mà được vô lượng vô biên công đức, huống chi việc lớn. Còn
các người khác bỏ nhiều tài vật, thân miệng siêng khổ mà được
phước ít. Trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ
cũng như vậy, không kịp được Bồ-tát tu ít mà quả báo nhiều.
Như trước nói ví dụ hơi miệng phát ra tiếng không vang đi xa,
tiếng thổi vào trong cõi thời có thể vang xa. Như vậy nghiệp
thân bố thí ít, các người khác làm thời được phước đức cũng
ít, còn đại Bồ-tát do lực phương tiện Bát-nhã ba-la-mật hồi
hướng, nên được vô lượng vô biên phước đức.
Do vậy nên nói muốn thật hành ít thí, ít
giới, ít nhẫn, ít tấn, ít thiền, ít trí.
Kinh:
Bồ-tát ma-ha-tát muốn thực hành Bố
thí ba-la-mật, Trì giới ba-la-mật, Nhẫn nhục ba-la-mật, Tinh
tấn ba-la-mật, Thiền ba-la-mật, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Nghĩa của các Ba-la-mật như trước đã nói.
Hỏi:
Tướng năm Ba-la-mật tức là tướng Bát-nhã ba-la-mật chăng? Nếu
là tướng Bát-nhã ba-la-mật thời không nên có năm tên sai khác,
cớ sao nói muốn thực hành Bố thí ba-la-mật, nên học Bát-nhã
ba-la-mật?
Ðáp:
Cũng đồng, cũng khác. Khác là Bát-nhã ba-la-mật là quán thật
tướng các pháp mà không lãnh thọ, không dính mắc các pháp. Bố
thí là bỏ tất cả vật sở hữu trong ngoài. Ðem tâm Bát-nhã
ba-la-mật làm việc bố thí, khi ấy bố thí được gọi là
Ba-la-mật.
Lại nữa, năm Ba-la-mật gieo trồng các công
đức, còn Bát-nhã ba-la-mật trừ tâm tà kiến chấp trước. Như một
người gieo lúa, một người bừa trừ cỏ rác, để cho lúa tăng
trưởng đơm hoa kết trái. Bốn Ba-la-mật kia cũng như vậy.
Hỏi:
Nay làm sao muốn thực hành Bố thí ba-la-mật, nên học Bát-nhã
ba-la-mật?
Ðáp:
Bố thí có hai, một tịnh, hai bất tịnh. Bất tịnh là vì kiêu mạn
nên bố thí, nghĩ rằng: người thua ta mà còn bố thí, ta há lại
không làm được ư? Vì ganh ghét nên bố thí, nghĩ rằng, kẻ oán
ghét ta nhờ bố thí mà được tiếng hơn ta, vậy nay ta sẽ thí cho
nhiều thì chắc chắn hơn người kia. Vì nghèo nên bố thí, nghĩ
rằng: Ta bố thí một ít vật mà được quả báo gấp ngàn vạn, cho
nên bố thí. Vì danh nên bố thí, nghĩ rằng, nay ta ưa bố thí,
ta sẽ ở vào số người tốt, được mọi người tín mộ. Vì thu nhiếp
người nên bố thí, nghĩ rằng: Nay ta bố thí, chắc người sẽ quy
về ta. Các lối hành thí xen tạp kiết sử như vậy, gọi là bất
tịnh.
Tịnh là, không có việc xen tạp như trên,
chỉ đem tâm thanh tịnh, tin nhân quả, cung kính thương xót
người thọ nhận, không cầu lợi đời nay, chỉ cầu công đức đời
sau. Lại có cách tịnh thí không cầu lợi ích đời sau, chỉ đem
tâm tu hành giúp cầu Niết-bàn. Lại có cách tịnh thí là sanh
tâm đại bi, vì chúng sanh nên không cầu tư lợi, sớm được
Niết-bàn, mà chỉ vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ấy gọi là
tịnh thí. Do tâm Bát-nhã ba-la-mật nên có thể tịnh thí như
vậy. Do vậy nên nói muốn thực hành Bố thí ba-la-mật, nên học
Bát-nhã ba-la-mật.
Lại nữa, do năng lực Bát-nhã ba-la-mật, bỏ
tâm chấp trước các pháp, huống gì tâm chấp ngã lại không bỏ
được. Vì bỏ tâm chấp ta, nên xem tự thân và vợ con như cỏ,
đất, không chút luyến tiếc, đều bố thí hết cả.
Do vậy nên muốn thực hành Bố thí ba-la-mật,
nên học Bát-nhã ba-la-mật. Các Ba-la-mật khác cũng như vậy.
Nhờ tâm Bát-nhã ba-la-mật giúp thành tựu vậy.
Lại nữa, các Ba-la-mật kia, không nhờ có
Bát-nhã ba-la-mật thời không được gọi là Ba-la-mật, và cũng
không bền chắc. Như trong phẩm sau nói: Năm Ba-la-mật không có
được Bát-nhã ba-la-mật thời không được gọi là Ba-la-mật. Lại
như Chuyển luân thánh vương, không có xe báu thời không gọi là
Chuyển luân thánh vương, không thể lấy báu khác để gọi được.
Cũng như nhóm người mù không ai dẫn dắt thì không thể đi đến
được. Bát-nhã ba-la-mật cũng như vậy, dắt dẫn năm Ba-la-mật
khiến đạt đến Tát-bà-nhã (nhất thiết chủng trí). Ví như đại
quân không có tướng giỏi, không thành công đánh giặc. Lại như
thân người, các căn tuy có đủ, nếu không có mắt, không thể tự
đến đâu được. Lại như người không có mạng căn, thời các căn
khác đều hoại diệt, có mạng căn thời các căn khác hữu dụng.
Bát-nhã ba-la-mật cũng như vậy. Năm Ba-la-mật kia không có
Bát-nhã ba-la-mật không được tăng trưởng, có được Bát-nhã
ba-la-mật thời các Ba-la-mật kia được tăng trưởng đầy đủ.
Do vậy nên Phật nói, muốn thực hành Bố thí
ba-la-mật nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Kinh:
Bồ-tát ma-ha-tát muốn đời đời thân
thể tương tợ với Phật, muốn đầy đủ 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy
hình, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Trong kinh Thanh
văn nói: Bồ-tát tu hành qua khỏi ba A-tăng-kỳ kiếp, trong một
trăm kiếp tiếp theo gieo trồng nhân duyên về 32 tướng, sao nay
nói đời đời thân thể tương tợ với Phật, có 32 tướng, 80 vẻ đẹp
tùy hình?
Ðáp:
Trong A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa
(Abhidharma-vibbassa) của Ca-chiên-diên-tử nói như vậy, chứ
không phải trong Tam tạng nói, vì sao? Vì 32 tướng người khác
cũng có, đâu đủ cho là quý, như Nan-đà ở kiếp trước, nhân một
lần tắm cho chúng Tăng phát nguyện rằng: nguyện cho tôi đời
đời đoan chánh thanh thiết. Lại trong một kiếp khác, gặp tháp
Bích-chi Phật, lấy tranh vẽ trang nghiêm tượng Bích-chi Phật,
phát nguyện rằng: nguyện cho tôi đời đời có sắc tướng nghiêm
thân. Do nhân duyên ấy, đời đời được thân tướng trang nghiêm,
cho đến thân cuối xuất gia làm Sa-môn, Chúng tăng ở xa trông
thấy gọi đó là Phật, đồng đứng dậy nghinh đón. Nan-đà Tiểu
thừa gieo ít công đức mà còn được quả báo ấy, huống chi Bồ-tát
trong vô lượng vô số kiếp tu tập công đức mà đời đời thân hình
không tương tợ Phật sao?
Lại như Di-lặc Bồ-tát, khi còn làm kẻ bạch
y, vị thầy tên là Bà-bạt-lê có ba tướng: 1. Tướng lông trắng
giữa hai chân mày. 2. Tướng lưỡi phủ cả mặt. 3. Tướng mã âm
tàng.
Như vậy, không phải là Bồ-tát cũng đều có
tướng, thì Bồ-tát há phải sau ba vô số kiếp mới gieo nhân về
tướng tốt?
Lại nữa, trong Ðại thừa, có Bồ-tát từ khi
mới phát tâm cho đến khi chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, không hề sanh ác tâm, đời đời được quả báo có ngũ thông,
thân thể tợ Phật.
Hỏi:
Bồ-tát chưa được Phật đạo, sao được thân tướng như Phật?
Đáp:
Bồ-tát vì độ chúng sanh, mà hoặc làm thân Chuyển luân thánh
vương, hoặc làm thân Ðế-thích, hoặc làm thân Phạm-vương, hoặc
làm thân Thanh văn, thân Bích-chi Phật, thân Bồ-tát, thân
Phật. Như trong kinh Thủ-lăng-nghiêm, Văn-thù-sư-lợi tự nói:
Bảy mươi hai ức phen làm một Duyên-giác mà vào Niết-bàn. Lại
hiện làm Phật hiệu là Long-chủng-tôn. Thời ấy chưa phải có
Phật mà chúng sanh vẫn thấy thân Phật, hoan hỷ lãnh thọ giáo
hóa.
Hỏi:
Nếu Bồ-tát có thể làm thân Phật thuyết pháp độ sanh, vậy với
Phật có gì sai khác?
Đáp:
Bồ-tát có đại thần lực, ở địa vị thập trú, đầy đủ Phật pháp mà
trú thế gian, vì rộng độ chúng sanh nên không thủ chứng
Niết-bàn, cũng như huyển sư tự biến hóa thân thuyết pháp cho
người, chẳng phải thân Phật thật. Tuy độ thoát chúng sanh như
vậy, song có lượng có hạn, còn Phật độ sanh vô lượng vô hạn.
Bồ-tát tuy làm thân Phật, không thể cùng khắp mười phương thế
giới, còn Phật thân thời cùng khắp vô lượng thế giới, trước
những người đáng được độ, đều hiện Phật thân. Cũng như trăng
đêm mười bốn tuy có sáng mà không bằng trăng đêm rằm. Bồ-tát
và Phật có sai khác cũng như vậy.
Hoặc có Bồ-tát được vô sanh pháp nhẫn, pháp
tánh sanh thân, ở địa vị thất trụ, có năm thần thông, biến hóa
thân như Phật, giáo hóa chúng sanh.
Hoặc có Bồ-tát mới phát tâm, tu sáu
Ba-la-mật, do nhân duyên hạnh nghiệp ấy, được thân tướng giống
Phật, giáo hóa chúng sanh.
Hỏi:
Ba mươi hai tướng là quả báo do bố thí... còn Bát-nhã
ba-la-mật là không có gì, như hư không, cớ sao nói muốn được
tướng tốt nên học Bát-nhã ba-la-mật?
Đáp:
Ba mươi hai tướng có hai loại: 1. Ðầy đủ như Phật. 2. Không
đầy đủ, như Chuyển luân thánh vương, Nan-đà... Bát-nhã
ba-la-mật hòa hợp với bố thí, nên được tướng tốt đầy đủ như
Phật. Các người khác chỉ hành bố thí không có Bát-nhã, nên
tướng không đầy đủ.
Hỏi:
Tại sao bố thí... mà được 32 tướng?
Đáp:
Như đàn việt khi bố thí, người thọ lãnh được sắc lực... năm
việc ích thân, nên người bố thí được đầy đủ tướng vành xe
(xoáy tròn) ở chân tay. Như trong chương Ðàn ba-la-mật ở trước
đã nói rộng. Thật hành trì giới, nhẫn nhục... cũng như vậy,
đều làm cho đủ 32 tướng. Những gì là 32 tướng? Một tướng dưới
bàn chân bằng phẳng, còn các tướng khác như trong phẩm Tán
Bồ-tát ở trước đã nói rõ.
Hỏi:
Nhân duyên gì được tướng bàn chân bằng phẳng?
Đáp:
Phật đời đời nhất tâm kiên cố trì giới, cũng không khiến người
khác phá giới, nên được tướng thứ nhất. Ðược tướng thứ nhất ấy
thì ở trong tự pháp không ai lay động được, nếu làm Chuyển
luân thánh vương, thì ở trong tự quốc độ không ai xâm lăng
được. Do hạnh nghiệp đúng như pháp nuôi dưỡng, bảo hộ nhân dân
và Sa-môn xuất gia, nên được tướng bánh xe ngàn tăm, là tướng
ban đầu chuyển pháp luân, nếu làm Chuyển luân thánh vương thì
được Chuyển bảo luân. Do nghiệp xa lìa sát sanh nên được ngón
tay dài. Do nghiệp không trộm cắp nên được tướng gót chân đầy
đặn. Do nghiệp lấy bốn nhiếp pháp thu nhiếp chúng sanh nên
được tướng mạng lưới ở giữa các ngón tay chân. Do nghiệp lấy y
phục, ẩm thực, ngọa cụ thượng diệu cúng dường bậc tôn trưởng
nên được tướng tay chân mềm mại. Do nghiệp tu phước càng tăng
nên được tướng mu bàn chân cao, tướng mỗi lỗ chân lông mọc một
lông, lông đều hướng lên trên. Do nghiệp đúng như pháp sai
khiến hòa hợp làm phước và mau mắn dạy người, nên được tướng
chân đùi đẹp như nai chúa Y-nê-diên. Do đúng như pháp lấy tịnh
vật bố thí, không não hại người thọ lãnh, nên dược tướng đứng
thẳng tay dài quá gối, tướng thân ngay ngắn như cây
Ni-câu-lô-đà. Do tu tâm biết tàm quý nhiều và dứt tà tâm, lấy
phòng xá, y phục, vật che trùm để bố thí, nên được tướng âm
tàng như ngựa chúa. Do tu Từ tam-muội, tâm tịnh tín nhiều, và
dùng ẩm thực, y phục, ngọa cụ màu sắc đẹp để bố thí, nên được
tướng kim sắc, tướng hào quang một trượng. Do thường ưa vấn
nghĩa, cung cấp người tôn trọng và người lành, nên được tướng
da tế mịn. Do đúng pháp xét đoán sự việc, không tự chuyên
chấp, ủy thác việc chấp chánh, nên được tướng phần trên như sư
tử, tướng dưới nách đầy đặn, tướng mi mắt tròn. Do cung kính
đưa đón hầu hạ tôn trưởng nên được tướng thân thẳng rộng. Do
bố thí đầy đủ nên được tướng bảy chỗ đầy đặn. Do thí xả tất cả
không tiếc lẫn, nên được tướng má vuông. Do lìa nói hai lưỡi
nên được tướng 40 cái răng, tướng răng khít và ngang bằng. Do
thường tu tâm từ, tư duy đều tốt, nên được răng trắng không
lồi lõm. Do lìa vọng ngữ nên được tướng lưỡi mỏng rộng. Do bố
thí đồ ăn ngon, không não hại người lãnh thọ nên được tướng có
chất vị tối thượng trong thực vị. Do lìa ác khẩu nên được
tướng Phạm âm. Do thiện tâm mắt hiền nhìn chúng sanh nên được
tướng con mắt xanh biếc, như con mắt trâu chúa. Do lễ kính bậc
tôn kính và tự trì giới, lấy giới dạy người, nên được tướng
nhục kế. Do tán thán người đáng tán thán nên được tướng lông
trắng giữa hai chân mày; ấy là nghiệp duyên tạo thành 32 tướng
theo trong pháp Thanh văn.
Nghiệp duyên tạo 32 tướng theo trong pháp
Ðại thừa là:
Hỏi:
Chư Phật mười phương, các pháp ba đời, đều là tướng vô tướng,
cớ sao nay nói 32 tướng? một tướng còn không thật, huống gì
32?
Đáp:
Phật pháp có hai đế: 1. Thế đế. 2. Ðệ nhất nghĩa đế. Vì thế đế
nên nói 32 tướng, vì đệ nhất nghĩa đế nên nói vô tướng.
Có hai đạo: 1. Khiến chúng sanh tu phước
đạo. 2. Tuệ đạo. Vì phước đạo nên nói 32 tướng, vì tuệ đạo nên
nói vô tướng, vì sanh thân nên nói 32 tướng, vì pháp thân nên
nói vô tướng. Phật thân lấy 32 tướng 80 vẻ đẹp tùy hình để tự
trang nghiêm. Pháp thân lấy mười lực, bốn vô sở úy, bốn vô
ngại trí, mười tám pháp không chung, các công đức để trang
nghiêm.
Chúng sanh có hai nhân duyên: 1. Nhân duyên
phước đức. 2. Nhân duyên trí tuệ. Muốn lấy phước đức nhân
duyên dẫn đạo chúng sanh nên dùng 32 tướng, muốn lấy trí tuệ
nhân duyên dẫn đạo chúng sanh nên dùng pháp thân.
Có hai loại chúng sanh: 1. Chúng sanh biết
các pháp là giả danh. 2. Chúng sanh chấp vào danh tự. Vì chúng
sanh chấp vào danh tự nên nói vô tướng, vì chúng sanh biết các
pháp là giả sanh nên nói 32 tướng.
Hỏi:
Công đức mười lực, bốn vô sở úy cũng đều có tướng riêng, cớ
sao nói pháp thân vô tướng?
Đáp:
Hết thảy pháp vô lậu tương ứng với 16 hành (quán
16 hành tướng của bốn đế - ND), ba tam-muội (không
vô tướng, vô tác – ND) nên đều gọi là vô tướng.
Phật muốn cho chúng sanh hiểu nên phân biệt nói các tướng. Nói
hết thảy Phật pháp, lấy không, vô tướng, vô tác ấn ký, nên đều
vào như, pháp tánh, thật tế, nhưng vì hạng người nhờ trông
thấy sắc mà hoan hỷ phát đạo tâm, nên hiện thân 32 tướng trang
nghiêm.
Lại nữa, vì hiển bày sự tối thắng đối với
chúng sanh nên hiện ra 32 tướng mà không phá pháp vô tướng,
như Bồ-tát mới sanh trong bảy ngày đầu, quấn bằng lụa trắng,
đưa chỉ các thầy tướng, các thầy tướng lấy sách tướng xưa ra
đoán và trả lời vua rằng: theo pháp sấm ký của chúng tôi, thì
người có 32 tướng, nếu ở nhà thường làm Chuyển luân thánh
vương, nếu xuất gia sẽ được thành Phật. Chỉ có hai lẽ đó,
không có lẽ thứ ba. Các thầy tướng lui ra rồi, Bồ-tát ngủ
nghỉ.
Lại có tiên nhân tên A-tư-đà thưa vua
Tịnh-phạn rằng: Tôi dùng Thiên nhĩ nghe chư thiên quỷ thần
nói, Tịnh-phạn vương sanh con có tướng Phật thân cho nên đến
xin xem. Vua rất hoan hỷ, người này là tiên thánh mới từ xa
đến muốn xem con ta, liền sắc các người hầu, đưa thái tử đến.
Người hầu trả lời vua: thái tử vừa ngủ. A-tư-đà nói: Thánh
vương xin thường thí cam lồ cho tất cả, không nên ngủ. Liền
đứng dậy đi đến chỗ thái tử, bồng lên trên tay, xem tướng trên
dưới xong òa khóc, không tự cầm nỗi, vua rất không vui, hỏi
A-tư-đà có gì không lành mà khóc lóc như vậy? A-tư-đà đáp: Giả
sử trời mưa núi Kim cang lớn, không thể làm lay động một sợi
lông của vị này, đâu có gì không tốt. Thái tử chắc sẽ làm
Phật, tôi nay tuổi đã xế chiều, sẽ sanh lên cõi trời Vô sắc,
không được thấy Phật, không nghe được giáo pháp của Ngài, tự
thương cho mình quá!
Vua nói: Các thầy tướng nói không nhất định
một việc, nếu ở nhà thì sẽ làm Chuyển luân thánh vương, nếu
xuất gia thì sẽ được làm Phật.
A-tư-đà nói: Các thầy tướng nói chỉ lấy
việc đời so sánh mà biết, chẳng phải do Thiên nhãn biết. Sách
tướng của chư thánh lại không đầy đủ biết khắp các tướng, chỉ
xem tổng quát, không thể rõ ràng cho nên hoặc nói ở nhà sẽ làm
Chuyển luân thánh vương, xuất gia sẽ làm Phật. Nay 32 tướng
của thái tử, ngay thẳng rõ ràng, sâu xa trong sạch, chắc chắn
sẽ làm Phật, chứ không phải làm Chuyển luân thánh vương.
Vì vậy nên biết 32 tướng là rất thù thắng
đối với hết thảy chúng sanh.
Nói pháp vô tướng là để phá chấp tướng
thường, tịnh, lạc, ngã, nam, nữ, sanh, tử... vì vậy nên Phật
pháp tuy là tướng vô tướng, mà hiện ra 32 tướng để dẫn đạo
chúng sanh, khiến họ biết Phật là đệ nhất mà sanh lòng tin
thanh tịnh, nên nói 32 tướng mà không bị lỗi.
Hỏi:
Vì cớ sao nói 32 tướng chứ không nhiều không ít?
Đáp:
Hoặc nói nhiều, hoặc nói ít, đều sẽ có vấn nạn.
Lại nữa thân Phật cao 1 trượng 6, nếu nói
ít tướng thời không khắp, không đủ trang nghiêm. Nếu quá 32
tướng thời bị tạp loạn, ví như đồ vật trang sức thân, tuy giàu
có châu ngọc, không thể mang nặng anh lạc vào mình, thế nên 32
tướng không nhiều không ít, vừa được trung bình.
Lại nữa, nếu ít không đoan nghiêm, thì để
lại chỗ cho 80 vẻ đẹp tùy hình, còn quá 32 tướng thì tạp loạn.
Hỏi:
Nếu cần có 80 vẻ đẹp tùy hình, thì sao không gọi cả là tướng
mà gọi riêng là vẻ đẹp?
Ðáp:
Tướng lớn nghiêm thân, nếu nói lớn là bao gồm nhỏ.
Lại nữa, tướng thì thô mà vẻ đẹp thì tế.
Chúng sanh thấy Phật thời thấy tướng, còn vẻ đẹp khó thấy. Lại
tướng thì các người khác cũng có, còn vẻ đẹp thì hoặc có hoặc
không, vì vậy nên nói riêng tướng và vẻ đẹp.
Hỏi:
Phật rốt ráo dứt hết tướng chúng sanh, tướng tôi ta, đầy đủ
tướng không pháp, cớ sao lại lấy tướng trang nghiêm, như cách
của người chấp thủ tướng?
Đáp:
Nếu Phật chỉ lấy diệu pháp trang nghiêm tâm, còn thân không có
tướng hảo, thì hoặc có chúng sanh khả độ, họ sanh tâm khinh
mạn cho Phật không đủ thân tướng, nên không thể nhất tâm vui
thọ pháp Phật. Ví như lấy đồ nhơ mà đựng thức ăn ngon, người
ta không mừng. Như lấy đãy da thúi đựng vật báu, người cầm lấy
không vui. Vì vậy nên Phật lấy 32 tướng trang nghiêm thân
mình.
Lại nữa, Phật thường ở giữa đại chúng, cất
tiếng rống sư tử rằng: Ta có hết thảy công đức rất là đệ nhất
giữa chúng sanh, nếu Phật sanh thân không lấy tướng hảo trang
nghiêm, thì hoặc có người nói: Thân hình xấu xí, có thể biết
được gì! Phật dùng 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình trang nghiêm
thân mà chúng sanh còn có kẻ không tin, huống là không dùng
tướng hảo trang nghiêm!
Lại nữa, Phật pháp xâu xa, tướng thường
vắng lặng, nên chúng sanh cuồng ngu không tin không thọ, cho
rằng thân diệt tận rồi không còn có thứ gì nữa. Vì vậy nên
Phật đưa tướng lưỡi rộng dài, phát ra tiếng Phạm âm, thân
phóng hào quang lớn, dùng các nhân duyên thí dụ, nói pháp
thượng diệu, chúng sanh được thấy thân tướng của Phật oai đức,
lại nghe âm thanh, đều hoan hỷ tin vui.
Lại nữa, vật trang nghiêm có trong ngoài.
Thiền định, trí tuệ, các công đức, là trang nghiêm trong, thân
tướng oai đức, trì giới đầy đủ, là trang nghiêm ngoài, Phật cả
trong ngoài đều đầy đủ.
Lại nữa, Phật thương nghĩ chúng sanh mà
xuất hiện ở đời, lấy các công đức trí tuệ làm lợi ích cho
chúng sanh lợi căn, lấy thân tướng trang nghiêm làm lợi ích
cho chúng sanh độn căn. Tâm trang nghiêm mở cửa Niết-bàn, thân
trang nghiêm mở cửa trời người an lạc. Thân trang nghiêm nên
đặc chúng sanh vào ba chỗ phước, tâm trang nghiêm nên đặc
chúng sanh vào ba cửa giải thoát; thân trang nghiêm nên nhổ
chúng sanh ra khỏi ba đường ác, tâm trang nghiêm nên nhổ chúng
sanh ra khỏi ngục ba cõi.
Như vậy có vô lượng nhân duyên lợi ích, nên
lấy tướng hảo trang nghiêm sanh thân.
Kinh:
Muốn sanh vào nhà Bồ-tát, muốn được
đất Cưu-ma-la-già, muốn được không lìa chư Phật, nên học
Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Nhà Bồ-tát:
Nếu phát tâm đại bi thậm thâm đối với chúng sanh, ấy là sanh
vào nhà Bồ-tát. Như sanh vào nhà vua, không ai dám khinh, cũng
không sợ đói khát, lạnh, nóng... người vào đạo Bồ-tát, sanh
vào nhà Bồ-tát cũng như vậy. Vì là Phật tử nên chư thiên,
rồng, quỷ thần, các thánh nhân không ai dám khinh, càng thêm
cung kính, không sợ ác đạo, chỗ thấp hèn trong cõi trời người,
không sợ người Thanh văn, Bích-chi Phật, hay ngoại đạo luận sư
đến làm trở ngại tâm kia.
Lại nữa, Bồ-tát mới phát tâm, một lòng phát
nguyện từ ngày nay không còn theo các ác tâm, chỉ muốn độ
thoát hết thảy chúng sanh, sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác.
Lại nữa, Bồ-tát nếu biết được thật tướng
các pháp chẳng sanh chẳng diệt, được vô sanh pháp nhẫn, từ đó
trở đi thường trụ Bồ-tát đạo, như Phật nói trong kinh Trì tâm:
Từ khi Ta thấy đức Phật Ðỉnh Quang (Nhiên Ðăng) được pháp vô
sanh nhẫn mới bắt đầu đầy đủ sáu Ba-la-mật, còn từ đó về
trước, hoàn toàn không có bố thí, trì giới...
Lại nữa, nếu Bồ-tát nghỉ rằng, lấy kiếp số
nhiều như cát sông Hằng làm một ngày một đêm, dùng ngày đêm
ấy, 30 ngày làm một tháng, 12 tháng làm một năm, số năm như
vậy quá trăm ngàn vạn ức kiếp mới có một đức Phật ra đời. Ðối
với chỗ đức Phật ấy, cúng dường, trì giới, chứa các công đức,
ở nơi chư Phật nhiều như cát sông Hằng như vậy, vậy sau mới
được thọ ký làm Phật, mà tâm Bồ-tát không giải đãi, không mất
không chán, thảy đều vui tu hành.
Lại nữa, Bồ-tát đối với chúng sanh tà định,
ngũ nghịch, và người dứt thiện căn, mà sanh tâm từ bi, khiến
họ vào chánh đạo, không cầu báo ân.
Lại nữa, Bồ-tát khi mới phát tâm đến nay,
không bị các phiền não che lấp, phá hoại.
Lại nữa, Bồ-tát tuy quán thật tướng các
pháp, đối với các quán, tâm cũng không chấp trước.
Lại nữa, Bồ-tát tự nhiên, miệng thường nói
thật, cho đến trong mộng cũng không nói dối.
Lại nữa, Bồ-tát thấy sắc đều là sắc Phật,
do năng lực của niệm Phật tam-muội, không đắm trước nơi sắc.
Lại nữa, thấy hết thảy chúng sanh bị trôi
lăn trong khổ sanh tử, nên đối với hết thảy sự vui, tâm cũng
không đắm trước, chỉ nguyện rằng: Ta và chúng sanh, lúc nào sẽ
được độ thoát.
Lại nữa, Bồ-tát đối với hết thảy trân bảo,
tâm không đắm trước, chỉ vui theo Tam bảo.
Lại nữa, Bồ-tát thường dứt năm dục, cho đến
không sanh tâm tưởng nhớ, huống có thật sự.
Lại nữa, chúng sanh mắt trông thấy Bồ-tát,
liền được từ tam-muội.
Lại nữa, Bồ-tát hay làm cho hết thảy pháp
đều là Phật pháp, không có pháp Thanh văn, Bích-chi Phật và
pháp phàm phu sai khác.
Lại nữa, Bồ-tát phân biệt hết thảy pháp,
đối với hết thảy pháp cũng không sanh tướng pháp, cũng không
sanh tướng phi pháp. Có vô lượng nhân duyên như vậy, ấy gọi là
sanh vào nhà Bồ-tát.
Hỏi:
Từ khi phát tâm lại đây, đã sanh vào nhà
Bồ-tát, sao nay còn nói muốn sanh vào nhà Bồ-tát, nên học
Bát-nhã ba-la-mật?
Đáp:
Có hai thứ nhà Bồ-tát: là có thối chuyển và không có thối
chuyển; nhà danh tự, nhà thật; nhà tịnh, nhà tạp; nhà có tin
kiên cố, nhà không tin kiên cố. Vì muốn được nhà không thối
chuyển, cho đến nhà có lòng tin kiên cố, nên nói: muốn được
sanh vào nhà Bồ-tát, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Muốn được đất
Cưu-ma-la-già (đồng chơn): Hoặc
có Bồ-tát từ khi mới phát tâm đã dứt dâm dục, cho đến Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác, thường hành Bồ-tát đạo, ấy gọi
là đất Cưu-ma-la-già.
Lại nữa, hoặc có Bồ-tát phát nguyện rằng:
Ðời đời làm đồng nam xuất gia hành đạo, không thọ ái dục thế
gian, ấy gọi là đất Cưu-ma-la-già.
Lại nữa, như con vua tên Cưu-ma-la-già,
Phật là vua pháp, Bồ-tát từ khi vào chánh vị của pháp, cho đến
chứng mười địa, đều gọi là con vua, đều kham làm Phật, như
Văn-thù-sư-lợi, đủ các Phật sự mười lực, bốn vô sở úy... nên ở
đất Cưu-ma-la-già, rộng độ chúng sanh.
Lại nữa, như đồng tử quá 4 tuổi trở lên,
chưa đủ 20 tuổi gọi là Cưu-ma-la-già. Hoặc có Bồ-tát mới sanh
vào nhà Bồ-tát giống như hài nhi, khi được vô sanh pháp nhẫn
cho đến mười trụ địa, dứt các việc ác, gọi là đất
Cưu-ma-la-già. Muốn được địa vị như vậy, nên học Bát-nhã
ba-la-mật.
Thường muốn không lìa
chư Phật:
Bồ-tát đời đời sanh ra thường gặp
chư Phật.
Hỏi:
Bồ-tát thường giáo hóa chúng sanh, cớ sao thường muốn gặp
Phật?
Ðáp:
Có Bồ-tát chưa vào địa vị Bồ-tát, chưa được bất thối chuyển,
chưa được thọ ký biệt, nên nếu lìa chư Phật, liền hoại các
thiện căn, chìm trong phiền não, tự không độ được, đâu độ được
người, như người cỡi thuyền giữa dòng bị hư hỏng, muồn vớt
người khác, trở lại bị chìm luôn.
Lại như một ít nước sôi đổ vào ao băng lớn,
tuy tan băng một chỗ nhỏ, vẫn trở lại thành băng. Bồ-tát chưa
vào pháp vị, nếu xa lìa chư Phật, vì ít công đức, không sức
phương tiện mà muốn giáo hóa chúng sanh, tuy được ít lợi ích
vẫn trở lại đọa lạc! Vì vậy nên hàng tân học Bồ-tát không nên
xa lìa chư Phật.
Hỏi:
Nếu như vậy, sao không nói không xa lìa Thanh văn, Bích-chi
Phật, vì Thanh văn, Bích-chi Phật cũng có thể làm lợi ích cho
Bồ-tát?
Ðáp:
Bồ-tát có tâm lớn, Thanh văn, Bích-chi Phật tuy có lợi ích
Niết-bàn, mà vì không có nhất thiết trí nên không thể giáo
hóa, dẫn đạo Bồ-tát. Chư Phật có nhất thiết chủng trí nên có
thể giáo hóa dẫn đạo Bồ-tát, như voi lún dưới bùn, phi sức voi
không kéo ra được. Bồ-tát cũng như vậy, nếu vào trong phi đạo,
chỉ có Phật cứu được, vì đồng đạo lớn. Vì vậy, nên nói Bồ-tát
thường muốn không lìa chư Phật.
Lại nữa, Bồ-tát suy nghĩ rằng ta chưa được
Phật nhãn, không khác người mù, nếu không được Phật dẫn đạo,
thời không đến được, lầm đi vào đường khác, dầu nghe nói Phật
pháp ở chỗ khác lưu hành, mà chưa biết thời tiết giáo hóa,
hành pháp nhiều hay ít.
Lại nữa, Bồ-tát thấy Phật thời được các thứ
lợi ích, hoặc mắt thấy mà tâm được thanh tịnh, hoặc nghe nói
mà tâm vui pháp, được đại trí tuệ, theo pháp tu hành được giải
thoát. Như vậy, gặp Phật được vô lượng lợi ích, đâu lại không
một lòng cầu muốn thấy Phật, ví như hài nhi, không nên lìa mẹ.
Lại như đi đường, không lìa lương thực, như lúc nóng bức không
lìa gió mát nước lạnh, như lúc đại hàn không muốn xa lửa, như
qua nước sâu, không nên lìa thuyền, như người bệnh không lìa
lương y. Bồ-tát không lìa chư Phật, quá hơn các việc trên ấy,
vì cớ sao? Vì cha mẹ, thân thuộc, tri thức người, trời, vua...
đều không lợi ích bằng Phật. Phật lợi ích các Bồ-tát, lìa các
chỗ khổ, ở đất của Thế Tôn. Do nhân duyên ấy, Bồ-tát thường
không lìa Phật.
Hỏi:
Pháp hữu vi giả dối không thật, đều không thể tin, làm sao
được như nguyện “không lìa chư Phật”?
Đáp:
Ðầy đủ phước đức, trí tuệ còn có thể làm Phật, huống chi là
không lìa chư Phật. Vì chúng sanh có tội nghiệp nhân duyên từ
vô lượng kiếp nên không được như nguyện. Tuy hành phước đức mà
trí tuệ mỏng ít, tuy hành trí tuệ mà phước đức mỏng ít, nên sở
nguyện không thành. Bồ-tát cầu Phật đạo nên cần tu hai nhẫn là
sanh nhẫn và pháp nhẫn. Hành sanh nhẫn nên phát tâm từ bi đối
với chúng sanh, diệt tội vô lượng kiếp, được vô lượng phước
đức. Hành pháp nhẫn nên phá vô minh đối với các pháp, được vô
lượng trí tuệ. Hai hành hòa hợp nên nguyện gì cũng được thành.
Vì vậy nên Bồ-tát đời đời thường không lìa Phật.
Lại nữa, Bồ-tát thường ưa vui niệm Phật,
nên bỏ thân thọ thân, thường được gặp Phật, ví như chúng sanh
tâm tập dục nặng, nên sanh làm thân loài chim đa dâm như khổng
tước, uyên ương... ; tập sân hận nhiều nên sanh loài trùng
độc, là ác long, la-sát, rết, rắn độc... tâm Bồ-tát không quí
phước vui của Chuyển luân thánh vương, người, trời, mà chỉ
niệm Phật, nên theo chỗ tâm thiên nặng mà thọ thân hình.
Lại nữa, Bồ-tát thường khéo tu niệm Phật
tam-muội, nên sanh ra thường được gặp Phật, như nói ở trong
Ban châu tam-muội; Bồ-tát vào tam-muội này liền thấy Phật
A-di-đà, bèn hỏi Phật kia do nghiệp gì nên được sanh nước
Cực-lạc ấy. Phật liền trả lời: Này thiện nam tử, do thường tu
niệm Phật tam-muội, ghi nhớ không bỏ, nên được sanh nước ta.
Hỏi:
Thế nào là niệm Phật tam-muội được sanh nước kia?
Đáp:
Niệm Phật là niệm 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình, thân sắc vàng,
thân phóng hào quang chiếu khắp mười phương, như vàng
Diêm-phù-đàn nấu chảy, sắc nó sáng trong. Lại như núi chúa Tu
di ở giữa biển lớn, khi mặt trời chiếu vào sắc nó phát sáng,
hành giả lúc ấy không còn tưởng các sắc khác, như sắc núi đất
cây cỏ... chỉ thấy thân tướng chư Phật giữa hư không, như vàng
đỏ trong bình lưu ly thật hiện ra ngoài, cũng như Tỳ-kheo khi
vào bất tịnh quán, chỉ thấy thân thể phình trướng, tan hoại,
cho đến chỉ thấy bộ xương người, bộ xương người ấy không có
động tạo tác, cũng không đến đi, chỉ do ức tưởng nên thấy.
Bồ-tát ma-ha-tát khi vào niệm Phật tam-muội, thấy chư Phật
cũng lại như vậy. Vì nhiếp tâm vì tâm thanh tịnh, ví như người
trang nghiêm thân mình, soi kính thủy sạch, thấy hết tất cả.
Trong kính thủy ấy cũng không có hình tướng, chỉ vì sáng sạch
nên trông thấy thân tướng mình.
Các pháp từ xưa đến nay thường tự thanh
tịnh, Bồ-tát đem tâm thanh tịnh, tùy ý thấy hết thảy chư Phật,
hỏi chỗ nghi ngờ, Phật đáp câu hỏi; nghe điều Phật dạy, tâm
rất hoan hỷ; từ tam-muội khởi dậy suy nghĩ rằng: Phật từ đâu
lại, thân ta cũng không đi, liền biết chư Phật không từ đâu
đến, ta cũng không đi đâu.
Lại suy nghĩ rằng: Các vật hiện hữu trong
ba cõi, đều do tâm làm, vì cớ sao? Vì tùy tâm nghĩ đến thảy
đều được thấy. Lấy tâm thấy Phật, lấy tâm làm Phật, tâm tức là
Phật, tâm tức thân ta, tâm không tự biết, cũng không tự thấy.
Nếu chấp thủ tâm tướng, thảy đều vô trí, tâm cũng hư dối, đều
từ vô minh xuất sanh. Nhân tâm tướng ấy, liền vào thật tướng
các pháp, là “thường không”.
Ðược tam-muội và trí tuệ như vậy rồi, do
năng lực của hai hành ấy, nên tùy ý sở nguyện không xa lìa chư
Phật, như chim Kim sí, nhờ đủ hai cánh nên tự tại bay liệng
giữa hư không. Bồ-tát được năng lực tam-muội và trí tuệ nên
thân hiện tại tùy ý cúng đường chư Phật, sau khi mạng chung
cũng lại gặp được chư Phật.
Vì vậy nên nói: Bồ-tát muốn thường không
lìa chư Phật, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
(Hết cuốn 29 theo
bản Hán)
--o0o --
Mục Lục
Tập 2
Cuốn
21
| 22
| 23
|
24
|
25
|
26
|
27
|
28
|
29
|
30
31
|
32
|
33
|
34
|
35
|
36
|
37
|
38
|
39
|
40
--o0o --
Mục Lục Tổng Quát Luận Đại Trí Độ
Tập 01
|
Tập 02
|
Tập 03
|
Tập 04
|
Tập 05
--o0o --
Cập nhật: 01-07-2003