---o0o---
Cuốn 18
CHƯƠNG
27
GIẢI THÍCH: BÁT-NHÃ
BA-LA-MẬT
KINH: Ðối với hết thảy pháp, tâm không trụ trước,
nên đầy đủ Thiền Ba-la-mật.
LUẬN:
Hỏi:
Thế
nào là Bát-nhã Ba-la-mật?
Ðáp: Chư
Bồ-tát từ khi mới phát tâm cầu trí
Nhất thiết chủng, ở giữa khoảng thời gian ấy tuệ biết rõ thật
tướng
các pháp, ấy là Bát-nhã Ba-la-mật.
Hỏi:
Nếu
như
vậy, không nên gọi là Ba-la-mật, vì cớ sao? Vì chưa
đến bên bờ trí tuệ?
Ðáp: Trí
tuệ của Phật chứng được
thật là thật Ba-la-mật. Nhân nơi
Ba-la-mật ấy
mà sở hành của Bồ-tát cũng gọi là
Ba-la-mật; vì là trong nhân nói quả vậy. Bát-nhã Ba-la-mật
ấy, ở trong tâm Phật thì đổi tên là trí
Nhất thiết chủng. Bồ-tát
thực hành trí tuệ cầu đến bờ kia, nên gọi
là Ba-la-mật; Phật đã đến
bờ kia, nên gọi trí của Phật là
Nhất thiết chủng.
Hỏi:
Hết
thảy phiền não và tập khí Phật đã đoạn, con mắt trí tuệ thanh
tịnh, nên đúng như
thật chứng được
thật tướng
các pháp; thật tướng
các pháp tức là Bát-nhã Ba-la-mật.
Bồ-tát chưa
diệt tận các lậu, mắt tuệ chưa
thanh tịnh, làm sao có thể biết được
thật tướng
các pháp?
Ðáp:
Nghĩa
ấy sẽ nói rộng ở trong chương
sau, nay chỉ lược
nói. Như
người
vào biển, có người
mới vào, có người
tận thấu đáy nguồn, cạn sâu tuy khác mà đều gọi là vào. Phật
và Bồ-tát cũng như
thế. Phật thời cùng tận đáy nguồn, còn Bồ-tát chưa
dứt phiền não và tập khí, thế lực ít ỏi, không thể sâu vào.
Như
ở trong phẩm sau có nói thí dụ: Như
người
ở trong nhà tối đốt đèn chiếu các vật, mỗi mỗi đều rõ ràng,
lại có thêm đèn lớn nữa thì lại càng rõ hơn,
thời biết bóng tối của ngọn đèn sau chiếu phá cùng với bóng
tối của ngọn đèn trước
chiếu phá cùng ở trong một chỗ. Ngọn đèn trước
tuy cùng bóng tối ở chung, mà cũng chiếu sáng được
các vật. Nếu ngọn đèn trước
không có bóng tối ở chung, thời ngọn đèn sau không ích thêm
gì. Trí tuệ của Phật và Bồ-tát cũng như
vậy. Trí tuệ của Bồ-tát tuy cùng với phiền não và tập khí hợp
một chỗ, mà vẫn có thể biết được
thật tướng
các pháp, cũng như
ngọn đèn trước
có thể soi được
vật; còn trí tuệ của Phật dứt hết các phiền não tập khí và
cũng biết được
thật tướng
các pháp; như
ngọn đèn sau lại càng sáng rõ gấp bội.
Hỏi:
Thế
nào là thật tướng
các pháp?
Ðáp:
Mọi
người
đều nói đến thật tướng
các pháp, tự cho là phải. Trong đây nói thật tướng
là không thể phá họai, thường
trú không đổi khác, không ai làm ra được.
Như
trong chương
sau Phật nói với Tu-bồ-đề: “Nếu Bồ-tát quán
hết thảy pháp chẳng
phải thường,
chẳng phải vô thường,
chẳng phải khổ chẳng phải lạc, chẳng phải ngã chẳng phải vô
ngã, chẳng phải có chẳng phải không v.v... cũng không tác ý
về quán ấy, ấy gọi là Bồ-tát thực
hành Bát-nhã Ba-la-mật. Theo nghĩa này là bỏ hết thảy quán,
dứt hết thảy ngôn ngữ, lìa các tâm hành, từ xưa
lại nay bất sanh bất diệt như
tướng
Niết-bàn. Tướng
hết thảy
pháp cũng như
vậy, ấy là thật tướng
các pháp. Như
bài kệ khen ngợi Bát-nhã Ba-la-mật rằng:
“Bát-nhã
Ba-la-mật,
Thật pháp không điên đảo,
Niệm, tưởng,
quán đã trừ,
Ðường
ngữ ngôn cũng dứt.
Vô
lượng
tội trừ hết,
Tâm thường
nhất thanh tịnh.
Người
tôn diệu như
vậy,
Thời thấy được
Bát-nhã,
Như
hư
không vô nhiễm,
Vô
hý, vô văn tự,
Nếu quán được
như
vậy,
Ấy
tức là thấy Phật,
Ðúng như
pháp quán Phật,
Bát-nhã và Niết-bàn,
Ba
điều ấy một tướng,
Ðúng thật không sai khác.
Chư
Phật và Bồ-tát,
Lợi ích cho tất cả,
Bát-nhã chính là mẹ,
Hay xuất sanh nuôi nấng,
Phật là cha chúng sanh,
Bát-nhã sanh ra Phật,
Bát-nhã là tổ mẫu,
Của hết thảy
chúng sanh.
Bát-nhã là một pháp,
Phật nói ra nhiều tên.
Tùy sức các
chúng sanh,
Lập ra danh tự khác.
Nếu người
được
Bát-nhã,
Tâm nghị luận đều dứt.
Như
khi mặt trời mọc,
Sương
sớm biến tan liền.
Oai đức của Bát-nhã,
Lay động hai hạng người:
Kẻ
vô trí sợ hãi,
Người
có trí hoan hỷ.
Nếu người
được
Bát-nhã,
Thời là chủ Bát-nhã,
Ðối Bát-nhã không vướng,
Huống gì đối pháp khác.
Bát-nhã không đâu đến,
Cũng lại không đi đâu,
Người
trí khắp mọi nơi,
Tìm cầu không thấy được.
Nếu không thấy Bát-nhã,
Ấy
là thời bị buộc.
Nếu người
thấy Bát-nhã,
Ấy
cũng là bị buộc.
Nếu người
thấy Bát-nhã,
Ấy
thời được
giải thoát.
Nếu không thấy Bát-nhã,
Ấy
cũng được
giải thoát.
Việc ấy rất hy hữu,
Sâu xa có đại danh,
Thí như
vật huyễn hóa,
Thấy mà không thể thấy.
Chư
Phật và Bồ-tát,
Thanh-văn,
Bích-chi Phật,
Ðạo
giải thoát Niết-bàn,
Ðều từ Bát-nhã được.
Ngôn thuyết là thế tục,
Vì
thương
xót hết thảy,
Giả danh nói các pháp,
Tuy nói mà chẳng nói.
Bát-nhã Ba-la-mật,
Thí như
ngọn lửa lớn,
Bốn phía không thủ được,
Không lấy cũng chẳng lấy,
(Vô thủ diệc bất thủ).
Một chấp thủ đã xả,
Ấy
gọi không thể thủ.
Không thể thủ mà thủ,
Ấy
tức gọi là thủ.
Tướng
Bát-nhã không hoại,
Vượt
qua mọi ngôn ngữ,
Vưà
không nương
tựa đâu,
Ai
khen được
đức nó,
Bát-nhã chẳng thể khen.
Tôi nay được
tán thán,
Tuy chưa
khỏi đất chết,
Thì cũng
đã được
ra”.
GIẢI THÍCH: TƯỚNG BÁT-NHÃ
Hỏi:
Sao chỉ gọi riêng
Bát-nhã Ba-la-mật là Ðại (Ma ha) mà không gọi năm Ba-la-mật
kia?
Ðáp:
Ma
ha, Trung hoa dịch là Ðại, Bát-nhã dịch là Tuệ. Bát-nhã
Ba-la-mật dịch là Ðáo bỉ ngạn. Vì
đến được bờ kia của biển cả trí tuệ, đến bờ mé của hết thảy trí tuệ, đến
chỗ cùng tột nên gọi là đáo bỉ
ngạn.
Chư
Phật trong ba đời mười phương lớn bậc nhất, thứ đến là
Bồ-tát, Bích-chi Phật, Thanh-văn; bốn bậc đại nhân ấy đều từ
Bát-nhã Ba-la-mật xuất sanh nên gọi là Ðại.
Lại nữa,
nó hay đem lại cho chúng sanh quả báo lớn,
vô lượng vô tận, thường không biến
khác, gọi là Niết-bàn. Còn năm Ba-la-mật kia không được như
vậy. Bố thí v.v... mà lìa Bát-nhã Ba-la-mật thì chỉ đem lại
cho chúng sanh quả báo thế gian, cho nên không được
gọi là Ðại.
Hỏi:
Cái gì là trí tuệ?
Ðáp:
Bát-nhã
Ba-la-mật thu nhiếp tất
cả trí tuệ; vì cớ sao, vì
Bồ-tát cầu Phật đạo nên phải học tất cả pháp, được tất cả trí
tuệ; đó là tất cả trí tuệ của Thanh-văn, Bích-chi
Phật, Phật. Trí tuệ ấy có ba thứ:
Học, vô học, phi học phi vô học. Trí phi học phi vô học là
như càn huệ địa, bất tịnh quán, an-na-bát-na, tứ niệm xứ thuộc
Dục giới, noãn pháp, đảnh pháp, nhẫn pháp, thế đệ nhất pháp
v.v... Trí học là khổ pháp trí, nhẫn, tuệ cho đến hướng
A-la-hán, Kim-cang tam-muội tuệ trong vô ngại đạo (vô gián
đoạn) thứ chín. Trí vô học là A-la-hán với trí giải thoát thứ
chín (giải thoát đạo). Từ đó về sau, hết thảy trí vô học như
Tận trí, Vô sanh trí v.v... Trí tuệ cầu đạo Bích-chi
Phật cũng như vậy.
Hỏi:
Nếu
Bích-chi Phật đạo cũng như vậy,
thời làm sao phân biệt giữa Thanh-văn và Bích-chi Phật?
Ðáp:
Ðạo
tuy một thứ mà dụng trí có khác. Nếu lúc chư Phật không xuất
hiện, hoặc lúc Phật pháp đã diệt, người ấy do nhân duyên đời
trước, tự xuất phát trí tuệ, không theo người khác nghe, do tự
trí
tuệ đắc đạo. Như một Quốc vương đi dạo chơi ở trong vườn, ban
mai trong sáng trông thấy rừng cây hoa quả tốt tươi, rất đáng
ưa vui. Vua ăn xong nằm nghỉ, các đại phu thể nữ của vua,
chung nhau hái hoa, bẻ phá cây rừng, vua thức dậy, thấy cây bị
hủy hoại, mà tự giác ngộ: “Tất cả thế gian vô thường, biến
hoại, đều cũng như vậy!” Suy nghĩ như vậy, tâm vô lậu
phát sanh, dứt hết kiết sử, chứng đắc đạo Bích-chi Phật, đủ
sáu thần thông, liền bay đến giữa rừng yên vắng. Nhân
duyên như vậy, do phước đức, nguyện hạnh, quả báo đời trước,
đời nay thấy được một ít nhân duyên mà chứng thành đạo
Bích-chi Phật. Như vậy là sai khác.
Lại nữa, Bích-chi Phật có hai
hạng: Một gọi là Ðộc giác, hai gọi là Duyên giác như trên đã
nói. Ðộc giác là người này trong đời này thành đạo, tự mình
giác ngộ không theo người khác nghe, ấy gọi là Ðộc giác
Bích-chi-ca Phật.
Ðộc giác Bích-chi-ca Phật có
hai hạng: 1- Vốn là học nhân, sanh trong loài người, lúc bấy
giờ không có Phật, Phật pháp đã
diệt, vị Tu-đà-hoàn này đã mãn bảy phen sanh, không còn phải
sanh phen thứ tám, tự được thành đạo. Người này không gọi là
Phật, không gọi là A-la-hán, chỉ gọi là Tiểu
Bích-chi-ca Phật, cùng với A-la-hán
không khác. Hoặc có vị không bằng Ðại A-la-hán Xá-lợi-phất
v.v... 2- Là Ðại Bích-chi-ca Phật, trong một trăm kiếp
tạo công đức, tăng trưởng trí tuệ,
được phần ba mươi hai tướng, hoặc được ba mươi mốt tướng, ba
mươi tướng, hai mươi chín tướng, cho đến một tướng trong chín
hạng A-la-hán, trí tuệ thông lợi hơn, vào được trong tổng
tướng, biệt tướng của các pháp thậm thâm, lâu ngày tu tập
định, thường ưa ở một mình. Tướng trạng như vậy, gọi
là Ðai Bích-chi Phật, vì thế mà có sai khác.
Người cầu Phật địa, từ khi mới
phát tâm khởi nguyện: “Nguyện tôi làm Phật
độ thoát chúng sanh, được hết
thảy Phật pháp, thực hành sáu
Ba-la-mật; phá chúng Ma quân và các phiền não, được Nhất thiết
trí, thành tựu Phật đạo, cho đến vào Vô-dư Niết-bàn. Tùy theo
bản nguyện bản hạnh, từ trung gian ấy có được trí tuệ, hết
thảy tổng tướng, biệt tướng đều biết hết; ấy gọi là trí tuệ
của Phật đạo. Ba thứ trí tuệ ấy đều biết cả, đến tận cùng bờ
mé nó; do vậy nên nói là đến bờ trí tuệ.
Hỏi:
Nếu như đã nói hết
thảy trí tuệ đều nên vào, hoặc thế gian, hoặc xuất thế gian;
sao chỉ nói trí tuệ của ba thừa đến tận cùng bờ nó, mà không
nói các trí khác?
Ðáp:
Trí
tuệ của ba thừa là thật trí tuệ, các trí khác đều là hư vọng.
Bồ-tát tuy biết mà không
chuyên làm. Như trừ núi Ma-lê, các núi khác không sản xuất
cây hương Chiên-đàn. Hoặc ở chỗ khác có lời nói hay,
đều từ trong Phật pháp mà có được. Từ nơi phi Phật pháp, mới
nghe tuy hay ho, mà lâu thời không
đẹp; thí như sữa bò sữa lừa, sắc nó tuy giống nhau, mà sữa bò
thời thành váng sữa, sữa lừa thời thành phân. Lời Phật
pháp và lời của ngoại đạo đều nói: “Không
giết, không trộm, từ mẫn chúng sanh, nhiếp tâm lìa dục; và
quán “không” tuy đồng, nhưng lời ngoại đạo nói
lúc đầu tuy in tuồng đẹp, mà cùng tột chỗ về thời là hư dối.
Tất cả ngoại đạo đều mắc vào ngã kiến. Nếu thật có ngã
thời nó phải rơi vào hai chỗ làtướng hủy hoại; hoặc là tướng
không hủy hoại; nếu làtướng hủy hoại thời phải như da bò, nếu
là tướng không hủy hoại thời phải như hư
không. Ở hai chỗ ấy không có tội sát, không có phước bất sát. Nếu
như hư không, mưa móc không
thể thấm, gió nóng không thể làm khô, thế thời rơi vào tướng
thường; nếu thường thời khổ không thể não hại, lạc không thể
làm vui. Nếu không chịu khổ lạc, thời không nên tránh khổ tìm
phước. Nếu như da Bò, bị gió mưa làm hư hoại, thời rơi vào vô
thường; nếu vô thường thời không tội phước. Lời ngoại
đạo nói nếu đúng thật như vậy, thời đâu có việc
không sát là phước, sát sanh là tội?
Hỏi:
Phước đức trì giới
của ngoại đạo có lỗi như
vậy, còn thiền định và trí tuệ thì thế nào?
Ðáp:
Ngoại
đạo lấy tâm chấp ngã chạy theo thiền cho nên phần nhiều còn
ái, kiến, mạn, không xả hết
thảy pháp nên không có trí tuệ thật.
Hỏi:
Ông có
ngoại đạo quán “không”, quán
“không” thời xả hết thảy pháp, tại sao nói ngoại đạo
không xả hết thảy pháp, nên
không có trí tuệ thật?
Ðáp:
Ngoại
đạo tuy quán “không”, mà lại chấp thủ tướng
không, tuy biết các pháp không mà
không tự biết ta không; vì ái trước theo trí tuệ quán
không vậy.
Hỏi:
Ngoại
đạo có định vô tưởng, ở đó tâm tâm số pháp đều diệt; vì đều
diệt nên không có lỗi thủ tướng ái
trước trí tuệ?
Ðáp:
Do
định lực vô tưởng cưỡng làm cho tâm diệt, chẳng phải do sức
của thật trí tuệ; lại ở trong đó sanh tưởng cho đó là
Niết-bàn, không biết đó có được là chỉ do hòa hợp làm ra, do
vậy rơi vào trong điên đảo; trong đó tâm tuy tạm diệt, sau khi
gặp nhân duyên thì sanh trở lại; ví như người ngủ say không
mộng, tâm tưởng không hoạt động, nhưng đến khi thức thời có
trở lại.
Hỏi:
Ðịnh
vô tưởng có lỗi như vậy, còn có Ðịnh
phi hữu tưởng phi vô tưởng, ở đó không hết thảy vọng tưởng,
cũng chẳng giống như cưỡng làm cho tưởng diệt như ở
định vô tưởng; mà ở trong đây do sức trí tuệ, nên không còn
tưởng?
Ðáp:
Trong
ấy có tưởng, vì tế vi nên không biết; nếu là vô tưởng thì Phật
đệ tử còn vì lẽ gì lại cầu được trí tuệ thật? Trong Phật
pháp, thức của trong Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng ấy, nương nơi
ba uẩn (thọ, tưởng, hành) mà trụ. Bốn uẩn này thuộc nhân
duyên cho nên vô thường, vô thường nên khổ, vô thường khổ nên
không, không nên vô ngã, không vô ngã nên có thể xả bỏ. Các
ông ưa đắm trí tuệ nên không được Niết-bàn; ví như con sâu đo,
co để chân sau an ổn mới cất chân trước, nếu chỗ tựa hết,
không còn tiến tới được nữa mà trở lui. Ngoại
đạo nương Sơ thiền để xả tham dục hạ địa, cho đến nương phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ,
để xả vô sở hữu xứ, trên đó không còn chỗ nương nữa, thời
không thể xả phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ.
Vì không còn chỗ nương, nên lo sợ mất ngã, sợ rơi vào trong
chỗ vô sở đắc.
Lại nữa, trong kinh
ngoại đạo có cho phép
sát, đạo, dâm, vọng ngữ, uống rượu, nói rằng vì tế trời nên
chú nguyện mà giết không tội. Vì
hành đạo, nếu gặp cấp nạn,muốn toàn thân mà giết người nhỏ,
không tội. Lại gặp cấp nạn mà vì hành đạo, trừ vàng, ngoài ra
được phép trộm lấy để tự cứu toàn, sau sẽ trừ ương tội ấy.
Trừ vợ của Thầy, phu nhân của Quốc vương, vợ của thiện tri
thức, đồng nữ, ngoài ra những nữ nhân khác vì bức bách cấp
nạn, được phép tà dâm. Vì thầy, vì cha mẹ, vì bò, vì thân, vì
làm môi giới, được phép nói dối. Ở xứ lạnh cho phép uống rượu
thạch mật, trong khi tế trời cho phép nếm một hai giọt rượu.
Trong Phật pháp thì không như vậy. Ðối với hết thảy
chúng sanh, tâm từ xem bình đẳng, cho đến một con kiến cũng
không cướp mạng nó, huống gì giết
người? Một cây kim, một sợi chỉ không lấy huống gì nhiều
vật? Ðối với kẻ dâm nữ vô chủ không lấy tay đụng, huống gì là
vợ con người? Ðùa giỡn còn không được nói dối, huống chi cố ý
nói dối. Tất cả rượu hết thảy thời không được uống, huống chi
ở xứ lạnh, khi tế trời? Ngoại đạo
các ông so với Phật pháp khác xa nhau như trời với đất. Pháp
ngoại đạo các ông là chỗ sanh
ra các phiền não, còn Phật pháp thời là chỗ diệt các phiền
não. Ðó là chỗ khác nhau lớn.
Pháp của Phật vô
lượng, giống như biển lớn, tùy ý dục của
chúng sanh mà thuyết ra mỗi mỗi
pháp; hoặc nói có, hoặc nói
không; hoặc nói thường, hoặc nói vô thường; hoặc nói
khổ, hoặc nói vui; hoặc nói ngã, hoặc nói vô ngã; hoặc nói
siêng làm ba nghiệp, thu nhiếp các thiện pháp; hoặc nói hết
thảy các pháp không có tác tướng.
Như vậy mỗi mỗi nói sai khác. Người vô trí nghe đến là cho
trái nghịch sai lầm, còn người trí nhập vào ba pháp môn, quán
hết thảy lời Phật nói đều là thật pháp, không trái nghịch
nhau.
Những gì là ba pháp
môn? 1- Côn-lặc-môn, 2- A-tỳ-đàm môn, 3- Không môn?
Hỏi:
Sao gọi là
Côn-lặc-môn? Sao gọi là A-tỳ-đàm môn? Sao gọi là Không môn?
Ðáp:
Côn-lặc
có ba triệu hai trăm ngàn lời. Lúc Phật còn tại thế, Ðại
Ca-chiên-diên viết ra. Sau khi Phật diệt độ, tuổi thọ con
người giảm dần, sức nhớ biết ít, không thể đọc tụng rộng, các
vị đắc đạo soạn làm ba trăm tám mươi bốn ngàn lời. Nếu người
nào vào Côn-lặc-môn, thời luận nghị sẽ vô cùng, trong đó có
các môn tùy tướng, môn đối trị v.v...
Tùy tướng môn như
Phật nói kệ:
“Các việc ác
chớ làm,
Các việc lành
vâng làm,
Tự thanh tịnh ý
mình,
Ấy là chư Phật
dạy”.
Trong đó nói đủ các
tâm số pháp, nay chỉ nói tự thanh tịnh ý mình, thời nên biết
đã nói đủ các tâm số pháp. Sao vậy? Vì hành tướng và sở
duyên đồng nhau vậy. Như Phật nói bốn niệm xứ, trong ấy không
rời bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, vì sao?
Trong bốn niệm xứ, bốn tinh tấn là bốn chánh cần, bốn định tức
là bốn như ý túc, năm thiện pháp tức là năm căn lực. Phật tuy
không nói các pháp môn khác mà chỉ nói bốn niệm xứ, nên biết
đã nói các pháp môn khác. Như Phật ở trong bốn đế, hoặc nói
một đế, hoặc nói hai, hoặc nói ba. Như Mã-tinh Tỳ-kheo
(Assaji – A-thuyết-thị: Mã- thắng, Mã-sư) nói kệ cho
Xá-lợi-phất:
“Các pháp từ
duyên sanh,
Pháp ấy duyên
đến, diệt,
Thầy tôi Ðại
Thánh chủ,
Nói nghĩa ấy
như vậy”.
Bài kệ này chỉ nói
đến ba đế, nên biết đạo đế đã có ở trong đó, vì không rời
nhau. Ví như một người phạm lỗi, cả nhà chịu tội. Như vậy
v.v... gọi là tùy tướng môn.
Ðối trị môn là, như
Phật chỉ nói bốn điên đảo, thường điên đảo, lạc điên đảo, ngã
điên đảo, tịnh điên đảo. Trong ấy tuy không nói bốn niệm xứ,
song nên biết đã có nghĩa bốn niệm xứ; ví như nói thuốc là đã
biết bệnh nó, nói bệnh là biết thuốc nó. Nếu nói bốn niệm xứ
thời biết đã nói bốn đảo. Bốn đảo là tướng tà; nếu nói bốn
đảo là đã nói các kiết
sử, vì cớ sao? Vì nói cội gốc thời biết đủ cành lá nó. Như
Phật nói hết thảy thế gian có ba độc; nói ba độc nên biết đã
nói ba phần, tám chánh đạo. Nếu nói ba độc, nên biết là đã
nói hết thảy các phiền não độc.
Mười lăm thứ ái là tham dục độc, năm thứ sân là sân nhuế độc,
mười lăm thứ vô minh là ngu si độc; các tà kiến, kiêu mạn,
nghi thuộc về vô minh. Như vậy tất cả các kiết sử đều
thu vào ba độc. Lấy gì để diệt nó? Lấy ba phần, tám chánh
đạo. Nếu nói ba phần, tám chánh đạo, nên biết đã nói ba mươi
bảy trợ đạo phẩm. Các tướng như vậy, gọi là đối trị môn.
Những pháp tùy tướng môn, đối trị môn như vậy, gọi là
Côn-lặc-môn.
Sao gọi là môn
A-tỳ-đàm? Hoặc Phật tự nói nghĩa các pháp, hoặc Phật tự nói
danh tự các pháp, các đệ tử tập họp thuật giải nghĩa lý của
nó. Như Phật nói: Có Tỳ-kheo đối với các pháp hữu vi, không
chánh ức niệm, mà muốn được đệ nhất pháp của thế gian (thế đệ
nhất), không có lẽ đó. Nếu không được đệ nhất pháp của thế
gian mà muốn vào trong chánh vị, không có lẽ đó. Nếu không
vào trong chánh vị mà muốn được quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm,
A-na-hàm, A-la-hán, không có lẽ đó. Nếu có Tỳ-kheo đối với
các pháp hữu vi, chánh ức niệm, muốn được pháp đệ nhất của thế
gian, việc ấy có được. Nếu được pháp đệ nhất của thế gian,
nên được vào chánh vị, vào chánh vị nên được quả vị
Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, thì chắc chắn có lẽ
ấy. Như Phật nói đi thẳng đến pháp đệ nhất của thế gian mà
không nói các nghĩa tướng của nó như nó hệ thuộc giới nào,
nhân duyên gì, quả báo gì? Từ pháp đệ nhất của thế gian, các
pháp sở hành của hàng Thanh-văn, cho đến Vô-dư Niết-bàn, mỗi
mỗi phân biệt nghĩa tướng của nó, ấy
gọi là
A-tỳ-đàm môn.
Không môn là Sanh
không, Pháp không; như trong kinh Tần-bà-ta-la Vương Nghinh
Phật nói: “Phật bảo Ðại vương: “Khi sắc sanh chỉ là ”không”
sanh, khi sắc diệt chỉ là “không” diệt, khi các hành sanh chỉ
là “không” sanh. Khi diệt chỉ là “không” diệt, trong ấy không
có tự ngã, không người, không thần ngã, không có người từ đời
này đến đời sau, trừ nhân duyên hòa hợp danh tự là chúng sanh;
kẻ phàm phu ngu si chạy theo danh để cầu thật”. Trong các
kinh như vậy, Phật nói về sanh không.
Pháp không là, như
Phật nói ở trong kinh Ðại Không: Mười hai nhân duyên từ vô
minh cho đến già chết, nếu người nói đó là già chết , hoặc nói
ai già chết? đều là tà kiến. Sanh, hữu, thủ, thọ, ái, xúc,
lục nhập, danh sắc, thức, hành, vô minh cũng như vậy. Hoặc có
người nói thân tức là thần ngã, hoặc nói thân khác thần ngã;
hai lời đó tuy khác nhau, song đồng là tà kiến. Phật nói:
Thân tức là thần ngã, tà kiến như vậy, chẳng phải đệ tử Ta.
Hoặc nói thân khác thần ngã, cũng là tà kiến, chẳng phải đệ tử
Ta. Trong kinh ấy Phật nói về pháp không. Nếu nói: “ai già
chết”, nên biết đó là lời hư vọng, ấy gọi là sanh không. Nếu
nói: “ấy là già chết”, nên biết đó là lời hư vọng, ấy gọi là
pháp không. Cho đến vô minh cũng như vậy.
Lại nữa, Phật nói
về sáu mươi hai kiến trong kinh Phạm Võng: Nếu có người nói
“thần ngã thường, thế gian cũng thường”, ấy là tà kiến. Nếu
nói: “thần ngã vô thường, thế gian vô thường” ấy cũng là tà
kiến. Nếu nói: “thần ngã và thế gian cũng thường cũng vô
thường, thần ngã và thế gian
chẳng phải
thường và chẳng phải
vô thường” đều là tà kiến. Do vậy,
biết các pháp đều là không, ấy mới là thật.
Hỏi:
Nếu nói thần ngã
thường, nên là tà kiến vì cớ sao? vì tánh thần ngã không có.
Nếu nói thần ngã thường cũng phải là tà kiến, vì cớ sao? vì
thế gian thật vô thường, vì điên đảo cho nên nói thường. Nếu
nói thần ngã vô thường, cũng là tà kiến, vì cớ sao? vì tánh
thần ngã không có, không nên nói là vô thường. Còn nếu nói
thế gian là vô thường thì chẳng phải là tà kiến, vì cớ sao?
vì tánh hết thảy pháp
hữu vi, thật đều vô thường?
Ðáp:
Nếu
hết thảy pháp thật đều
vô thường, sao Phật nói: “nói thế
gian vô thường, ấy gọi là tà kiến. Thế cho nên biết thế gian
chẳng phải thật là vô thường.
Hỏi:
Nơi nơi Phật đều
nói: Quán pháp hữu vi vô thường, khổ, không, vô ngã, khiến
người ta đắc đạo; sao đây nói vô thường bị rơi vào tà kiến?
Ðáp:
Phật
nơi nơi thuyết vô thường, nơi nơi thuyết bất diệt. Như
Ma-ha-nam Thích vương đi đến Phật, bạch Phật rằng: “Ở thành
Ca-tỳ-la này dân chúng đông nhiều, có khi tôi gặp họ rong xe,
ruổi ngựa, voi cuồng, đấu sức, bèn mất tâm niệm Phật. Khi ấy
tôi tự nghĩ: Nếu nay tôi chết, sẽ sanh về đâu?” Phật bảo
Ma-ha-nam: “Ngươi chớ sợ hãi. Ngươi bấy giờ không sanh vào ác
thú mà sanh đến thiện thú; ví như cây thường nghiêng về hướng
đông, nếu có bị đốn, chắc ngã về hướng đông; người lành cũng
như vậy. Nếu khi thân tử hoại, thiện tâm ý thức thường lấy
tín, giới, văn, thí, huệ huân tâm, nên chắc chắn được lợi ích,
được sanh lên cõi trời. Nếu
hết thảy pháp niệm niệm sanh
diệt vô thường, sao Phật nói có các
công đức huân tập, cho nên mới chắc chắn được sanh lên cõi
trời. Do vậy nên biết chẳng phải tánh
vô thường.
Hỏi:
Nếu vô thường là
không thật, sao Phật nói vô thường?
Ðáp:
Phật
tùy chỗ thích ứng của chúng sanh mà thuyết pháp. Vì phá điên
đảo chấp thường cho nên Phật nói vô thường. Vì người không
biết không tin có đời sau nên Phật nói tâm đi đến đời sau,
sanh lên cõi trời do nghiệp tội phước, trăm ngàn vạn kiếp
không mất. Ðây là Ðối
trị Tất-đàn, chẳng phải Ðệ nhất nghĩa Tất-đàn. Thật tướng các
pháp, chẳng phải thường,
chẳng phải vô thường. Nhiều nơi
Phật cũng nói các pháp không, trong các pháp không, cũng không
vô thường. Do vậy nên nói thế gian vô thường là tà kiến.
Thế nên gọi là pháp không.
Lại nữa, Phạm-chí ở
thành Tỳ-gia-ly tên Luận Lực. Những người có tài lợi hưng
thịnh đem nhiều vật báu thuê Luận Lực đến tranh luận với
Phật. Nhận vật thuê xong, ngay đêm ấy soạn năm trăm nạn vấn,
sáng sớm cùng các người tài lực đi đến chỗ Phật, hỏi Phật
rằng: “Một đạo cứu kính hay nhiều đạo cứu kính?” Phật nói:
“Một đạo cứu kính chứ không nhiều”. Phạm-chí nói: “Phật nói
một đạo, các thầy ngoại đạo đều có đạo cứu kính. Thế là nhiều
chứ không phải một?”. Phật nói: “Tuy tên có nhiều mà đều
chẳng phải thật đạo, vì cớ sao? Vì hết thảy đều mắc vào tà
kiến, nên không gọi là đạo cứu kính”. Phật hỏi Phạm-chí:
“Lộc Ðầu Phạm-chí đắc đạo chăng?” Ðáp: “Trong hết thảy người
đắc dạo, đây là đệ nhất”. Khi ấy Tỳ-kheo Trưởng lão Lộc Ðầu
Phạm-chí, đang ở sau lưng Phật hầu quạt cho Phật, Phật hỏi
Phạm-chí: “Ông biết Tỳ-kheo này chăng?” Phạm-chí thưa biết,
rồi hổ thẹn cúi đầu. Bấy giờ Phật nói nghĩa phẩm kệ:
“Mỗi mỗi cho
cứu kính,
Mà mỗi tự ưa
đắm,
Cho mình phải
người trái,
Ấy đều chẳng
cứu kính.
Người ấy vào
luận chúng,
Khi biện minh
nghĩa lý,
Mỗi mỗi thị phi
nhau,
Hơn thua ôm lo
mừng.
Người hơn rơi
hầm kiêu,
Kẻ thua sa ngục
lo.
Cho nên người
có trí,
Không theo hai
pháp ấy.
Luận Lực ông
nên biết,
Pháp của đệ tử
Ta,
Không hư cũng
không thật.
Ông muốn cầu
việc gì?
Ông muốn hoại
luận tôi,
Trọn đã không
hoại được,
Khó thắng bậc
đại trí,
Chỉ đủ tự hủy
hoại”.
Như vậy, nhiều nơi
trong các kinh
Thanh-văn, Phật thuyết các pháp không.
Ðại thừa Không môn là, hết thảy
các pháp, tánh thường tự không, không do trí tuệ phương tiện
quán cho nên không. Như Phật nói
với Tu-bồ-đề: ”Sắc, sắc tự không, thọ, tưởng, hành, thức, thức
tự không. Mười hai nhập, mười tám giới, mười hai nhân duyên,
ba mươi bảy đạo phẩm, mười lực, bốn vô sở úy, mười tám pháp
bất cọng, đại từ đại bi, Tát-bà-nhã, cho đến Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác đều tự không.
Hỏi:
Tất cả các pháp
tánh thường tự không, không có gì, sao không đọa vào tà kiến?
Tà kiến gọi là không tội, không phước, không đời này đời sau,
cùng với đây nói “không” không khác nhau?
Ðáp:
Người
nói không tội, không phước, họ không nói không có đời này, chỉ
nói không có đời sau; như loài cây cỏ tự sanh tự diệt. Hoặc
người sanh, hoặc người giết, chỉ ở trong đời hiện tại, không
còn có sanh ở đời sau, mà họ không biết quán trong thân ngoài
thân tự tướng đều không. Do đó mà có khác.
Lại nữa, người tà
kiến, làm nhiều việc ác, dứt các việc lành, còn người quán
không, đối với thiện pháp còn không muốn làm, huống chi làm
ác?
Hỏi:
Tà kiến có hai
thứ: thứ phá nhân phá quả, có thứ phá quả không phá nhân.
Như lời ông nói là phá quả không phá nhân. Phá quả phá nhân
là nói không nhân không duyên, không tội không phước; ấy là
phá nhân. Nói không đời này, đời sau, tội phước quả báo; ấy
là phá quả. Người quán không nói “đều không” thời tội phước
nhân quả đều không, thời cùng với tà kiến đây có gì khác?
Ðáp:
Người
tà kiến, đối với các pháp đoạn diệt làm cho không; còn người
Ðại thừa biết các pháp thật không, không phá không hoại.
Hỏi:
Ba thứ tà kiến:
1- Phá quả báo tội phước, không phá tội phước; phá quả báo
nhân duyên, không phá nhân duyên; phá đời sau, không pháđời
này. 2- Phá quả báo tội phước; cũng phá tội phước; phá quả
báo nhân duyên, cũng phá nhân duyên; phá đời sau, cũng pháđời
này, không phá hết thảy
pháp. Phá hết thảy pháp, đều làm cho không có gì. Người quán
không, cũng nói chơn không không có gì, cùng với người
tà kiến thứ ba này có gì khác?
Ðáp:
Người
tà kiến phá các pháp làm cho không; còn người quán không biết
các pháp thật không, không phá không hoại.
Lại nữa,
người
tà kiến nói các pháp đều không, không có gì, chấp thủ hý luận
về tướng không của các pháp; còn người quán không, biết các
pháp không, không thủ tướng, không hý luận.
Lại nữa,
người
tà kiến tuy miệng nói hết thảy
không, nhưng ở chỗ ưa thời sanh ưa,
ở chỗ giận thì sanh giận, ở chỗ kiêu mạn thời sanh kiêu mạn, ở
chỗ ngu si thời sanh ngu si, tự dối gạt mình. Còn như đệ tử
Phật thật biết không, tâm không lay động; hết thảy chỗ
kiết sử sanh không còn sanh; ví như
hư không, khói lửa không thể làm nhơ, mưa lớn không thể ướt.
Quán không như vậy, các thứ phiền não không còn dính vào tâm.
Lại nữa,
người
tà kiến nói không có gì, không từ ái (thạch bản ghi là chữ
thọ?) làm nhân duyên xuất sanh; còn chơn không là từ ái làm
nhân duyên xuất sanh, thế là khác. Bốn vô lượng tâm, các pháp
thanh tịnh, vì sở duyên của nó không thật nên còn không bằng
với trí tuệ chơn không, huống là tà kiến này?
Lại nữa,
kiến ấy gọi là
tà kiến, còn chơn không kiến gọi là chánh kiến. Người hành tà
kiến, đời này gọi là người tệ ác, đời sau sẽ rơi vào địa
ngục. Người hành trí tuệ chơn không, đời này được khen ngợi,
đời sau được làm Phật; ví như nước khác với lửa; cũng như cam
lồ với độc dược; là phân hôi so với vị tô-đà, thức ăn của
trời.
Lại nữa,
trong
chơn không có Không không tam muội, tà kiến thấy không, tuy có
không mà không có Không không tam muội.
Lại nữa,
người quán
chơn không; trước hết bố thí, trì giới, thiền định vô lượng,
tâm kia dịu mềm , các kiết sử mỏng, sau mới đắc chơn không.
Người tà kiến không có các việc ấy, chỉ muốn lấy ức tưởng
phân biệt, tà tâm thủ không; ví như người ở nông điền, lúc
đầu không biết muối, thấy người ta lấy muối bỏ vào rau thịt mà
ăn. Hỏi rằng: “Vì sao làm như vậy?” Trả lời rằng: “Vì muối
ấy có thể làm cho đồ ăn ngon lành”. Người kia bèn nghĩ rằng,
muối ấy có thể làm cho đồ ăn ngon thì chất vị nó phải nhiều,
liền bốc toàn muối bỏ vào miệng mà ăn, muối mặn rách miệng,
mới hỏi lại rằng: “Sao ông nói muối có thể làm cho ngon?
Người kia nói: “Ðồ ngu! Phải trù lượng nhiều ít hòa vào mới
ngon được, cớ sao ăn toàn cả muối”, không thực hành các công
đức, mà chỉ muốn được không, ấy là tà kiến, dứt các thiện căn.
Các nghĩa như vậy
gọi là Không môn. Nếu người nào vào ba môn (Côn-lặc,
A-tỳ-đàm, Không môn) này thời hiểu nghĩa Phật pháp không hề
trái nghịch nhau. Biết được việc ấy tức là năng lực của
Bát-nhã Ba-la-mật, đối với
hết thảy pháp
không gì quái ngại. Nếu không được Bát-nhã Ba-la-mật, mà vào
A-tỳ-đàm môn thời rơi trong chấp hữu, vào Không môn thời rơi
trong chấp vô; nếu vào Côn-lặc môn thời rơi trong chấp cả hữu
cả vô.
Lại nữa, Bồ-tát
Ma-ha Tát thực hành Bát-nhã Ba-la-mật, tuy biết các pháp nhất
tướng, cũng biết được hết thảy pháp chủng chủng tướng. Tuy
biết các pháp chủng chủng tướng, cũng biết được hết thảy pháp
nhất tướng. Trí tuệ như vậy của Bồ-tát, gọi là Bát-nhã
Ba-la-mật.
Hỏi:
Bồ-tát Ma-ha Tát
làm sao biết hết thảy pháp chủng chủng tướng? Làm sao biết
hết thảy pháp nhất tướng?
Ðáp:
Bồ-tát
quán các pháp nhất tướng, đó là tướng có; nhân tướng có ấy,
trong các pháp có tâm sanh, như vậy hết thảy có.
Hỏi:
Trong pháp không
sao cũng có tâm sanh?
Ðáp:
Nếu
nói “không”, sự ấy tức là có.
Lại nữa, Bồ-tát
quán hết thảy pháp
nhất tướng, đó là vô tướng; như
tướng trâu không có tướng dê, nơi dê không có tướng trâu. Như
vậy trong các pháp, mỗi mỗi không có tướng của pháp khác; như
trước đã nói, nhân có nên có tâm sanh, pháp ấy khác với có, vì
khác cho nên không. Nếu pháp “có” là trâu thì dê cũng nên là
trâu, vì sao? Vì pháp “có” không khác nhau vậy. Nếu khác với
có thời là không, như vậy hết thảy là
không.
Lại nữa, Bồ-tát
quán hết thảy pháp là
một, nhân pháp một ấy mà trong các pháp chỉ một tâm sanh. Các
pháp mỗi mỗi có tướng một, hợp các một nên gọi là hai, gọi là
ba .... Một là thật; hai, ba ... là hư.
Lại nữa, Bồ-tát
quán các pháp có sở nhân
nên có, như thân người vô thường; vì sao? Vì là tướng sanh
diệt. Hết thảy pháp đều như vậy, có sở nhân nên có.
Lại nữa, hết thảy pháp không sở
nhân nên có, như thân người vô thường sanh diệt; nhân sanh
diệt nên biết vô thường. Nhân ấy lại nên có nhân. Như vậy
thì vô cùng, nếu vô cùng thời vô nhân. Nếu nhân ấy lại không
có nhân, thời nhân vô thường ấy cũng
không phải nhân. Như vậy, hết thảy
không có nhân.
Lại nữa, Bồ-tát
quán hết thảy pháp
có tướng, không có pháp gì không
tướng; như đất có tướng cứng nặng, nước có tướng lạnh ướt; lửa
có tướng nóng, chiếu sáng; gió có tướng nhẹ, động; hư không có
tướng dung chứa; phân biệt giác tri là tướng của thức; có đây
có kia là tướng của phương; có lâu có mau là tướng của thời;
tâm trược ác não loạn chúng sanh là tướng của tội; tâm tịnh
thiện thương xót chúng sanh là tướng của phước; đắm trước các
pháp là tướng của trói buộc; không đắm trước các pháp là
tướng của giải thoát. Hiện tiền hết thảy pháp, không
bị chướng ngại là tướng của Phật.
Như vậy, hết thảy đều có tướng.
Lại nữa, Bồ-tát
quán hết thảy pháp
đều không tướng, các tướng ấy do
nhân duyên hòa hợp sanh, không có tự tánh cho nên không. Như
đất; do hương, vị, xúc bốn pháp hòa hợp lại gọi là đất. Không
phải chỉ có sắc mà gọi là đất; cũng không phải chỉ vị, xúc mà
gọi là đất; vì cớ sao, nếu chỉ có sắc là đất, còn ba thứ kia
không phải là đất, vậy là đất không có hương, vị, xúc? Hương,
vị, xúc cũng như vậy.
Lại nữa, bốn pháp
ấy sao làm một pháp? Sao một pháp làm bốn pháp? Vì thế không
được lấy bốn thứ làm đất, cũng thế không được lìa bốn thứ làm
đất.
Hỏi:
Tôi không cho bốn
pháp là đất, chỉ nhân bốn pháp cho nên có pháp đất sanh; đất
ấy trụ ở giữa bốn pháp?
Ðáp:
Nếu
từ bốn pháp sanh ra đất, thời đất với bốn pháp khác nhau; như
cha mẹ sanh ra con, thời con khác với cha mẹ. Nếu như vậy,
nay con mắt thấy sắc, mũi biết hương, lưỡi biết vị, thân biết
xúc; đất nếu khác với bốn pháp đó, thời phải nên có căn khác,
thức khác để biết đất. Nếu không có căn khác, thức khác để
biết đất, thời không có đất.
Hỏi:
Nếu trên kia nói
về tướng đất có lỗi, phải nên như A-tỳ-đàm nói về tướng đất:
Ðất gọi là sắc do bốn đại tạo ra, trong đó chỉ địa chủng là
tướng cứng. Ðất là sắc có thể thấy?
Ðáp:
Nếu
đất chỉ là sắc, trước kia đã nói lỗi. Lại đất là tướng cứng,
nhưng con mắt chỉ thấy sắc, như thấy trăng dưới nước, tượng
trong gương, bóng của cây cỏ thời không có tướng cứng, tướng
cứng là do thân căn xúc chạm mà biết.
Lại nữa, nếu con
mắt thấy sắc ấy là đất, còn tướng cứng là địa chủng; con mắt
thấy sắc ấy là nước, lửa, còn tướng ướt là thủy chủng, tướng
nóng là hỏa chủng. Nếu như vậy, thì gió và phong chủng, cũng
nên phân biệt, nhưng mà không phân biệt được. Như nói: “Thế
nào là gió, thế nào là phong chủng? Thế nào là phong chủng?
Thế nào là gió? Nếu gió và phong chủng là một vật, thời không
nên đáp hai cách. Nếu gió và phong chủng không khác thời đất
và địa chủng cũng không thể khác.
Hỏi:
Bốn đại, mỗi mỗi
không lìa nhau; như trong đất có nước, lửa, gió bốn thứ.
Nhưng trong đất thì đất nhiều hơn hết, nên gọi là đất; trong
nước, lửa, gió cũng như vậty?
Ðáp:
Không
phải, vì sao? Vì nếu trong lửa có bốn đại, thì phải nên đều
nóng cả, vì không có lửa gì không nóng; nếu ba đại kia ở trong
lửa mà không nóng, thời không gọi là lửa. Nếu nóng thời đất,
nước, gió bỏ mất tự tánh, đều gọi là lửa. Nếu cho là nó vi tế
nên không thể biết, thời không khác gì với không có. Nếu có
thô có thể biết được, thời biết có vi tế; nếu không thô thời
cũng không tế. Vì các nhân duyên như vậy, biết tướng đất
không thể có được. Nếu tướng đất không thể có được thời tướng
của hết thảy pháp
cũng không thể có được. Thế nên hết thảy pháp đều một
tướng.
Hỏi:
Chẳng nên nói vô
tướng, vì sao, vì đối với các pháp vô tướng tức là tướng, Nếu
không có vô tướng thời không thể phá tướng
hết thảy pháp, vì sao, vì
không có vô tướng. Nếu có vô tướng
ấy, thời không thể nói hết thảy pháp vô tướng.
Ðáp:
Lấy
vô tướng để phá tướng các pháp; nếu có tướng vô tướng, thời
đọa vào trong tướng các pháp. Nếu không đọa vào trong tướng
các pháp, thời không nên hạn hỏi. Vô tướng phá hết tướng các
pháp, cũng là tướng tự diệt; ví như que củi mồi lửa, sau khi
đốt hết củi, cũng lại tự đốt. Thế nên Thánh nhân thực hành Vô
tướng vô tướng tam muội, để phá vô tướng.
Lại nữa, Bồ-tát
quán hết thảy pháp không
hợp, không tan, không sắc, không hình, không đối, không bày,
không nói, chỉ có một tướng, đó là vô tướng. Như vậy các pháp
một tướng,
Làm sao quán chủng chủng
tướng? Hết thảy các pháp thu nhiếp vào hai pháp là danh, sắc;
sắc, vô sắc; có thể thấy, không thể thấy; có đối, không đối;
hữu lậu, vô lậu; hữu vi, vô vi v...v... Hai trăm pháp môn hai
phần, như trong phẩm Thiên Nạn nói.
Lại nữa, có
hai pháp, là nhẫn nhục và nhu
hòa. Lại có hai pháp là thân kính và cúng dường. Hai thí là
tài thí và pháp thí. Hai lực là lực tuệ phân biệt và lực tu
đạo. Hai cụ túc là giới cụ túc và chánh kiến cụ túc. Hai
tướng là tướng chất trực và tướng nhu nhuyến. Hai pháp là
định và trí. Hai pháp là minh và giải thoát. Hai pháp là thế
gian pháp và đệ nhất nghĩa pháp. Hai pháp là niệm và xảo
tuệ. Hai đế là thế đế và đệ nhất nghĩa đế. Hai giải thoát là
đãi thời giải thoát và bất hoại tâm giải thoát. Hai Niết-bàn
là Hữu-dư Niết-bàn và Vô-dư Niết-bàn. Hai cứu cánh là sự cứu
cánh và nguyện cứu cánh. Hai kiến là tri kiến và đoạn kiến.
Hai cụ túc là nghĩa cụ túc và ngữ cụ túc. Hai pháp là thiểu
dục và tri túc. Hai pháp là dễ nuôi và dễ đủ. Hai pháp là
pháp tùy và pháp hành. Hai trí là tận trí và vô sanh trí.
Nh