Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

 Luận 


...... ... .


 

 Luận Đại Trí Độ
( Mahàprajnàparamitàsatra)

Tác giả: Nàgàrjuna (Long Thọ)
Dịch Phạn ra Hán: Cưu Ma La Thập
Dịch Hán ra Việt: Thích Thiện Siêu

Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
Ấn hành 1997

---o0o---

 

Cuốn 17

 

CHƯƠNG 26

GIẢI THÍCH: THIỀN BA-LA-MẬT

KINH:  Do không loạn, không ưa đắm, nên đầy đủ Thiền Ba-la-mật.

LUẬN: Hỏi:  Bồ-tát là lấy việc độ hết thảy chúng sanh làm sự nghiệp, cớ sao lại ngồi nhàn trong rừng, chằm, ở yên lặng trong núi, lo tốt riêng cho mình mà bỏ rơi chúng sanh?

Ðáp:  Thân Bồ-tát tuy xa lìa chúng sanh, mà tâm thường không bỏ, ở chỗ yên vắng cầu định, chứng được trí huệ chơn thật để độ hết thảy.  Ví như lúc uống thuốc nuôi thân, tạm thời dứt mọi công việc, đến khi khí lực bình phục, tráng kiện thời làm việc lại như cũ.  Bồ-tát ở yên lặng cũng như vậy, dùng sức thiền định, uống thuốc trí tuệ, được đức thần thông, trở lại ở với chúng sanh, hoặc ở với cha mẹ, vợ con, hoặc thầy trò tông trưởng, hoặc trời hoặc người, xuống đến súc sanh, dùng các thứ ngữ ngôn, phương tiện khai đạo.

Lại nữa, Bồ-tát thực hành ba sự là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, gọi là phước đức môn, trong vô lượng đời được làm Thiên-vương, Thích-đề-hoàn-nhơn, Chuyển luân Thánh vương, Diêm-phù-đề vương, thường đem y phục bảy báu thí cho chúng sanh, theo sự ưa muốn của năm căn, đời này đời sau đều làm cho đầy đủ, như trong kinh nói Chuyển luân Thánh vương đem mười điều thiện dạy dân tu, đời sau đều được sanh lên cõi trời, đời đời làm lợi ích chúng sanh khiến được khoái lạc. Nhưng cái vui ấy vô thường, còn trở lại chịu khổ, Bồ-tát nhân đó phát tâm đại bi, muốn đem cái Niết-bàn thường vui làm lợi ích chúng sanh.   Niết-bàn thường vui nầy từ trí tuệ chơn thật sanh, trí tuệ chơn thật lại từ nhất tâm thiền định sanh, ví như đốt đèn, đèn tuy cháy đỏ nhưng ở giữa gió to thời không thể dùng được, nếu để nhà kín, công dụng của nó mới toàn vẹn.  Trí tuệ ở giữa tán tâm cũng như vậy, nếu không có nhà thiền định yên lặng, thời có trí tuệ mà công dụng của nó không toàn, nếu được có thiền định thời trí tuệ chơn thật sanh.  Do vậy nên Bồ-tát tuy xa lìa chúng sanh, ở chỗ xa vắng, để cầu được thiền định.  Do thiền định thanh tịnh nên trí tuệ cũng thanh tịnh, ví như dầu và tim sạch thì ánh sáng trong.  Do vậy nên người muốn được trí tuệ thanh tịnh, phải thực hành thiền định.

Lại nữa,  nếu muốn cầu việc thiển cận của thế gian, mà không chuyên tâm thời sự nghiệp cũng không thành, huống gì cầu Phật đạo thậm thâm mà lại không dùng đến thiền định?   Thiền định là thu nhiếp các loạn tâm, loạn tâm nhẹ bay hơn cả lông hồng, chạy tán loạn không dừng, nhanh hơn gió lốc, không thể cấm chỉ, quá hơn khỉ vượn, vừa hiện liền mất, nhanh hơn điện chớp.  Tâm tướng như vậy, không thể cấm chỉ, nếu muốn chế ngăn mà không tu thiền không thể định được, như kệ nói:

Thiền là kho giữ trí,

Là ruộng phước công đức,

Thiền là nước thanh tịnh,

Rửa sạch các dục trần.

Thiền là áo Kim-cang,

Ngăn mũi tên phiền não,

Tuy chưa chứng Vô dư,

Ðã được phần Niết-bàn.

Chứng tam muội Kim-cang,

Xô nát núi kiết sử,

Ðược sáu thần thông lực,

Hoá độ vô lượng người.

Bụi bay che mặt trời,

Mưa lớn làm tan mất,

Gíó giác quán tán tâm,

Thiền định làm tiêu diệt”.

Lại nữa, thiền định khó được, hành giả nhất tâm chuyên caàu, mới thành tựu được.  Chư thiên và thần tiên còn không thể thành được huống chi người phàm phu giải đãi!  Như Phật tọa thiền dưới gốc cây Ni-câu-lô, ba người con gái của Ma vương thuyết kệ hỏi rằng:

“Ðộc tọa giữa rừng cây,

Sáu căn thường tịnh lặng,

Có người mất trân bảo,

Không cứu sầu thống khổ.

Dung mạo đời không bằng,

Mà thường nhắm mắt ngồi,

Lòng chúng tôi có nghi:

Cầu gì mà ở đây?

Bấy giờ Thế Tôn nói kệ đáp:

“Ta được vị Niết-bàn,

Không ưa chỗ nhiễm ái,

Giặc trong ngoài đã trừ,

Cha ngươi cũng lui mất.

Ta được vị cam-lồ,

An lạc ngồi trong rừng,

Chúng sanh bị ân ái,

Vì chúng khởi bi tâm”.

Khi ấy ba người con gái sanh hổ thẹn mà tự nói rằng:  “Người này ly dục không thể động được, liền biến mất không hiện.

Hỏi:  Thực hành phương tiện gì mà được thiền Ba-la-mật?

Ðáp:  Bỏ năm sự (năm trần), trừ năm pháp (năm triền cái), hành năm hành (Sơ thiền năm chi là tầm, tứ, hỷ, lạc, xả).

Thế nào là bỏ năm sự?  Ðó là phải mắng trách năm dục.  Thương thay chúng sanh thường bị năm dục làm bức não, mà vẫn tìm cầu không nghĩ.  Năm dục này được nó càng kịch liệt như lửa hơ ghẻ; năm dục vô ích như chó gặm xương; năm dục tăng sự tranh giành như quạ giành thịt; năm dục thiêu đốt người như ngược gió thành đuốc; năm dục hại người như đạp rắn độc; năm dục không thật như vật được trong mộng; năm dục không bền như vay mượn giây lát.  Người đời u mê tham đắm năm dục, đến chết  không bỏ, vì nó mà đời sau chịu vô lượng khổ.  Ví như người ngu ham đắm quả ngon, leo lên cây ăn, không chịu trụt xuống, người đốn cây, cây ngã bị rớt, thân đầu tan nát, thống não mà chết.  Lại năm dục này, khi được vui chốc lát, khi mất khổ quá nhiều.  Mật ngọt dính đầu mũi dao, kẻ thích ngọt ham liếm không biết họa đứt lưỡi.  Năm dục ở chung với súc sanh, người trí biết rõ tự xa lìa được.  Như nói có một Ưu -bà-tắc, cùng các khách buôn đi xa tìm kế sống, gặp lúc tuyết lạnh, đêm đi lạc bạn, tạm trú trong một hang đá, khi ấy thần núi biến làm một người nữ đi đến muốn thử, nói kệ rằng:

“Tuyết trắng phủ núi rừng,

Chim thú đều ẩn núp,

Tôi không nơi nương cậy,

Xin dũ lòng xót thương”

Ưu -bà-tắc lấy hai tay bịt tai mà đáp kệ rằng:

“Kẻ ác không biết hổ,

Nói lời bất tịnh ấy,

Nước trôi lửa cháy đi,

Không muốn nghe tiếng ấy.

Có vợ lòng không dục,

Huống gì tạo tà dâm,

Các dục vui rất cạn,

Ðại khổ hoạn rất sâu.

Các dục được không chán,

Mất nó khổ rất lớn.

Chưa được mong cho được,

Ðược rồi bị khổ não.

Các dục vui rất ít,

Ưu khổ độc rất nhiều,

Vì nó mất thân mạng,

Như nga sa vào đèn.”

Thần núi nghe kệ đó xong, liền vác người ấy đưa đến giữa chúng bạn.  Ấy là kẻ trí qưở trách dục, không thể để cho đắm trước.

Năm dục là sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, xúc mịn.  Muốn cầu thiền định đều phải xa bỏ nó.

Thế nào là xa bỏ sắc?   Quán xét tai họa của sắc.  Người đắm sắc, các ngọn lửa kiết sử đều bừng cháy, thiêu hại thân người, cũng như lửa đốt vàng bạc, nước sôi, mật nóng, tuy có sắc đẹp vị ngon, nhưng làm đốt thân cháy miệng, phải gấp xa bỏ nó. Nếu người nhiễm đắm sắc đẹp, vị ngon cũng như vậy.
Lại nữa, đẹp xấu tại người, chứ sắc không nhất định, sao biết?  Như ở xa trông thấy người đáng yêu liền sanh tâm yêu mừng;  nếu ở xa trông thấy người hung ác oan gia liền sanh tâm oán hại; nếu trông thấy người không oán không thương, thời không giận  không mừng.  Nếu muốn dứt bỏ tánh mừng, tánh nóng giận, thì phải trừ tà niệm và sắc, xả bỏ cả hai trong một lần.  Ví như nấu vàng chảy cháy thân, nếu muốn trừ nó không thể chỉ bỏ lửa giữ lại vàng, mà phải vàng và lửa đều bỏ.  Như vua Tần-bà-ta-la, vì mê sắc nên thân vào nước địch ở một mình trong phòng dâm nữ A-phạm-bà-la.  Vua Ưu-điền vì nhiễm đắm sắc nên mới cắt tay chân năm trăm tiên nhân.   Các nhân duyên như vậy, gọi là mắng trách sắc dục.

Thế nào là mắng trách tiếng?  Tướng của âm thanh không dừng, vừa nghe được liền mất, người ngu si không hiểu tướng âm thanh vô thường biến mất như vậy nên đối với âm thanh, vọng sanh tâm ưa thích, đối với âm thanh đã trôi qua còn nhớ lại mà sanh tâm đắm trước.  Như năm trăm tiên nhân tu ở trong núi, nghe tiếng của gái Chân-đà-la ca lên khi đang tắm trong ao núi tuyết, liền mất thiền định, tâm mê say cuồng dật, không còn tự giữ được.  Ví như gió lớn thổi các cây rừng, nghe tiếng ca dịu dàng êm ái, trong trẻo ấy, sanh niệm tưởng tà vạy, cho nên không tự giác được tâm cuồng loạn, đời này mất các công đức, đời sau phải đọa đường ác.  Người có trí quán biết âm thanh niệm niệm sanh diệt, trước sau không cùng lúc, không theo kịp nhau.  Biết được như vậy thời không sanh tâm nhiễm trước.  Những người trí như thế, âm nhạc của chư Thiên còn không làm loạn được huống là âm nhạc của loài người?   Các nhân duyên như vậy, là mắng trách thanh dục.

Thế nào là mắng trách hương?  Có người nói đắm hương ít tội, nhưng nhiễm ái hương thời sẽ mở cửa cho các kiết sử, nên tuy năm trăm trì giới, có thể một ngày mất hết.  Như vị A-la-hán thường vào Long cung ăn xong đưa bình bát cho Sa-di rửa, trong bát còn thừa vài hạt đồ ăn, Sa-di ngửi thấy rất thơm, ăn rất ngon mới tìm cách vào núp dưới giường dây của Thầy, hai tay nắm chặt chân giường, khi Thầy đi thì cả cái giường cùng vào Long cung, Rồng nói:  “Người này chưa đắc đạo, vì sao đem đến?”  Thấy nói:  “Vì tôi không biết... “

Sa-di đã được ăn cơm lại thấy Long nữ thân thể đoan chánh, thơm đẹp không ai bằng, tâm rất nhiễm trước, liền ước nguyện rằng:  “Ta sẽ tạo phước, chiếm lấy chỗ Rồng ở, vào cung điện Rồng”.  Rồng nói:  “Lần sau chớ đem Sa-di ấy đến”.

Sa-di  trở về rồi, nhất tâm lo bố thí, trì giới, chuyên cầu sở nguyện, nguyện sớm được làm Rồng.  Khi ấy đi nhiễu quanh chùa, dưới chân có nước trồi lên, tự biết chắc được làm Rồng, liền đi thẳng đến bên ao lớn, chỗ trước kia Thầy đi vào, lấy Cà-sa trùm đầu mà vào, liền chết biến làm Rồng lớn, do phước đức lớn, nên giết Rồng kia, cả ao đều đỏ.  Trước khi xảy ra việc ấy, Thầy và chúng Tăng qưở trách, Sa-di nói:  “Tâm tôi đã định, tướng của tâm đã xuất hiện”.  Bấy giờ Thầy đưa chúng Tăng đi đến ao xem.  Các nhân duyên như vậy là vì mê đắm mùi thơm.

Lại nữa, có một Tỳ-kheo đi kinh hành bên ao sen ở trong rừng, nghe mùi sen thơm, mũi ngửi tâm đắm, vị Thần ao nói:  “Sao ông bỏ chỗ ngồi thiền định ở trong rừng kia, mà trộm hương của ta?”  Vì đắm hương nên các kiết sử trước kia đã nằm xuống nay đều tỉnh dậy.  Khi ấy lại có một người đi vào ao bẻ lấy nhiều hoa đào kéo gốc rễ, bỏ bậy bạ mà đi,  thần ao lặng lẽ không nói gì.  Tỳ-kheo thấy vậy nói:  “Người này phá ao ông, lấy hoa ông, ông không nói gì cả; còn tôi chỉ đi bên bờ ao, lại bị ông qưở mắng cho là tôi ăn trộm hương?”   Thần ao nói:  “Người thế gian xấu ác thường ở trong phân nhơ tội cấu, bất tịnh, ngập đầu, nên không nói tới.  Còn ông là người tốt hành thiền, mà đắm hương ấy, phá mất việc tốt của ông, cho nên ta qưở ông.  Ví như lụa trắng tinh khiết mà bị dính một điểm đen thì ai cũng thấy, còn người ác kia ví như áo đen có thêm chấm đen, người ta cũng không thấy, ai hỏi làm chi.  Các nhân duyên như vậy là mắng trách hương dục.

Thế nào là mắng trách vị? Nên tự giác ngộ ta chỉ vì tham đắm vị ngon mà phải chịu các khổ, nước đồng sôi rót vào miệng, nuốt hoàn sắt nóng.  Nếu không quán sát đồ ăn, tâm ham thích dính cứng, phải đọa trong loài trùng bất tịnh, như một Sa-di tâm thường ưa thích váng sữa, khi các Ðàn-việt thiết đãi Chúng Tăng váng sữa, Sa-di được mỗi phần thừa, tâm ưa đắm, vui mừng không nguôi, sau khi mạng chung sanh vào trong bình váng sữa thừa ấy.  Thầy của Sa-di đã chứng được đạo quả A-la-hán, mỗi khi Tăng chia thứ váng sữa, thì Thầy nói:  “Từ từ!  Chớ làm tổn thương kẻ Sa-di ưa váng sữa ấy”.  Mọi người nói:  Ðó là loài trùng, sao lại gọi là Sa-di ưa váng sữa?”  Thầy đáp:”  Con trùng ấy vốn là Sa-di của tôi, chỉ vì tham váng sữa thừa nên sanh ra trong bình đó.”  Thầy được phần váng sữa, trùng từ trong bò ra, thầy nói:  “Ngươi ưa váng sữa hay sao mà ngươi đến đây?”  Liền lấy váng sữa  đưa cho.

Lai nữa, như một Quốc thổ, vua tên là Nguyệt Phần, vua có Thái tử ưa đắm vị ngon, người giữ vườn của vua một ngày đưa đến một quả ngon.  Trong vườn có một cây lớn, trên cây có chim mẹ đang nuôi con, chim mẹ thường bay đến trong núi hương lấy trái thơm ngon để nuôi con, bầy con dành nhau, một quả rơi xuống đất, người giữ vườn sáng sớm trông thấy cho là phi thường kỳ lạ, liền nhặt đem cho vua, vua quý quả ấy thơm đẹp khác thường, Thái tử thấy đòi xin, vua thương con liền cho.  Thái tử ăn quả được mùi vị đó, tâm nhiễm đắm sâu xa, muốn được quả mỗi ngày.  Vua liền gọi người giữ vườn đến hỏi lý do của quả ấy.  Người giữ vườn nói quả ấy không có trồng, từ đất lượm được, chẳng biết do từ đâu đến.

Thái tử khóc lóc không chịu ăn, vua thúc dục qưở trách người giữ vườn:  “Ngươi hãy kiếm cho được”.  Người giữ vườn đi đến chỗ lượm quả, thấy có ổ chim, biết chim ngậm quả đem đến, dấu thân trên cây, rình để lấy, khi chim mẹ bay đến, liền cướp quả đem vua, cứ mỗi ngày như vậy, chim mẹ nổi giận, bay đến trong núi Hương lấy quả độc, huơng vị sắc toàn giống như quả trước, người giữ vườn  cướp được đem nộp cho vua, vua cho Thái tử ăn, trong chốc lát thân thịt bị rã nát mà chết.  Các nhân duyên như vậy là mắng trách vị dục.

Thế nào là mắng trách xúc?  Xúc là nguyên nhân lớn sanh ra các kiết sử , là gốc rễ trói buộc tâm, vì sao?  Vì bốn căn kia mỗi thứ đương lấy phần của mình, còn xúc này biến khắp thân thức, vì chỗ phát sanh rộng, nên sanh nhiều nhiễm trước, sự nhiễm trước này khó lìa, vì sao?  Như người nhiễm trước sắc, quán thân có ba mươi sáu thứ bất tịnh thời sanh tâm nhàm chán, còn nếu sanh nhiễm trước xúc, thời tuy biết là bất tịnh nhưng lòng tham xúc tinh tế êm dịu, quán bất tịnh không có ích, thế nên khó lìa.

Lại nữa, vì nó khó xả cho nên thường vì nó mà gây trọng tội.  Nếu đọa địa ngục, địa ngục có hai bộ:  Một là băng lạnh, hai lửa cháy.  Trong hai ngục này đều lấy thân xúc chịu tội, khổ độc muôn mối.  Xúc là chỗ đại hắc ám, là đường hiểm nguy nan... Các nhân duyên như vậy là mắng trách tế hoạt xúc dục.  Như vậy là mắng trách năm dục.

Trừ năm cái (che lấp), người bị tham dục cái thì cách đạo rất xa, vì sao?  Vì dục là trú xứ của các thứ não loạn; nếu tâm tham đắm dục thì không do đâu gần đạo được.  Như bài kệ trừ dục cái nói:

“Người vào đạo biết hổ thẹn,

Ôm bát làm phước chúng sanh.

Tại sao phóng túng trần dục,

Chìm đắm vào nơi năm căn.

Mặc giáp cầm dao gậy,

Thấy giặc bỏ chạy lui,

Người khiếp nhược như thế,

Người đời đều khinh cười.

Tỳ kheo làm khất sĩ,

Cạo tóc mặc Cà-sa,

Bị ngựa năm căn cầm.

Chuốc cười cũng như thế.

Lại như người hào quý,

Mặc đẹp để nghiêm thân,

Mà đi xin cơm áo,

Chuốc cười nơi mọi người.

Tý-kheo bỏ trang sức,

Xấu hình để nhiếp tâm,

Mà còn cầu dục lạc,

Chuốc cười cũng như thế..

Ðã xả năm dục lạc,

Bỏ đi không ngó lại,

Tại sao lại muốn được,

Nhu ngu mửa lại ăn.

Người tham dục như vậy,

Không biết xét bản nguyện,

Cũng không biết  tốt xấu,

Cuồng say theo khát ái.

Pháp tôn trọng tàng quý,

Tất cả đều bỏ hết,

Hiền trí không thân cận,

Kẻ ngu si ưa gần.

Các dục khi cầu khổ,

Ðược rồi nhiều sợ hãi,

Khi mất lòng sầu não,

Mọi thời đều không vui.

Các dục hoạn như vậy,

Lấy gì xả  bỏ nó?

Ðược các vui thiền định,

Thời không bị dối gạt.

Lạc dục đắm không chán,

Lấy gì diệt trừ được?

Nếu được bất tịnh quán,

Tâm ấy tự nhiên không.

Ðắm dục không tự giác,

Lấy gì ngộ được tâm?

Hãy quán già bệnh chết,

Mới ra khỏi bốn châu.

Các dục khó phóng xả,

Lấy gì xa được nó?

Nếu ưa vui thiện pháp.

Dục ấy tự nhiên dứt.

Các dục khó mở được,

Lấy gì để mở nó

Quán thân biết thật tướng,

Thời không bị ràng buộc.

Các quán pháp như vậy,

Diệt được các lửa dục.

Ví như đổ mưa lớn,

Lửa nội đều dập tắt”.

Các nhân duyên như vậy là diệt trừ được dục cái.

Người bị sân nhuế cái thì mất gốc các thiện pháp, là nguyên nhân đọa vào các ác đạo, oan gia của pháp lạc, giặc lớn của thiện tâm, kho chứa các thứ ác khẩu.  Như Phật nói kệ dạy đệ tử hay sân rằng:

“Ngươi nên biết suy ghĩ,

Thọ thân ở trong thai.

Nhơ nhớp tối tăm khổ,

Sanh cũng được gian nan.

Ðã được ý nghĩ này,

Mà còn không diệt sân.

Thời nên biết bọn ấy,

Chính là ngưởi vô tâm.

Nếu không quả báo tội,

Cũng không bị qưở trách.

Cho nên phải từ nhẫn,

Huống người nhiều khổ quả.

Hãy quán già bệnh chết,

Không một ai tránh khỏi.

Nên khởi tâm từ bi,

Cớ sao đem ác hại.

Chúng sanh giặc oán nhau,

Ðâm chém chịu khổ độc.

Cớ sao người tu thiện,

Mà còn gây khổ hại.

Thường nên hành từ bi,

Ðịnh tâm tu các thiện,

Không nên ôm ác ý,

Xâm hại đến tất cả.

Nên siêng tu đạo pháp,

Việc não hại không làm,

Thiện ác thế không đều,

Như nước lửa trái nhau.

Sân giận che lấp tâm,

Không biết được tốt xấu,

Cũng không biết lợi hại,

Không biết sợ ác đạo.

Không kể người khổ não,

Không biết thân tâm mệt,

Trước tự chịu nhân khổ,

Sau đem khổ đến người.

Nếu muốn dứt sân giận,

Hãy suy nghĩ từ tâm,

Tự độc cư thanh nhàn,

Ngừng việc dứt nhân duyên.

Nên sợ già bệnh chết,

Chín thứ sân não trừ,

Như vậy tư duy “từ”.

Thời dứt được sân độc”.

Các nhân duyên như vậy, trừ sân nhuế cái.

Thùy miên cái là có thể phá hỏng ba việc của đời này là dục lạc, lợi lạc và phước đức, có thể phá hỏng cái vui rốt ráo của đời này đời sau không khác gì người chết, chỉ còn có hơi thở.  Như một vị Bồ-tát nói kệ qưở trách đệ tử ưa ngủ rằng: 

“Ngươi dậy chớ ôm thân thối nằm,

Ðủ thứ bất tịnh giả danh ngươi,

Như mắc trọng bệnh, tên vào thân,

Các thống khổ nhòm, đâu được ngủ!

Lửa chết đốt hết thảy thế gian,

Ngươi đang cầu ra, không được ngủ!

Như người bị trói đem đi giết,

Tai hại đến nơi, đâu được ngủ!

Giặc kết chưa dứt, hại chưa trừ,

Như cùng rắn độc ngủ chung nhà,

Cũng như lâm trận giữa gươm súng.

Bấy giờ đâu thể được ngủ nghỉ,

Ngủ là tối tăm không thấy gì,

Ngày ngày dối gạt cướp sáng người,

Vì ngủ che tâm không hiểu gì,

Tội lỗi như vậy đâu được ngủ”!

Các nhân duyên như vậy, là mắng trách thùy miên cái.

Trạo hối cái:  trạo là dao động, phá hại tâm xuất gia, như người nhiếp tâm, còn không thể trụ được, huống chi dao động, tán loạn.  Người dao động tán loạn như voi say không móc câu, như lạc đà sức mũi, không thể cấm chỉ, như kệ nói:

“Ngươi đã cạo đầu mặc cà-sa,

Cầm bình bát gốm đi khất thực,

Tại sao vui đắm sự trạo hý,

Ðã không pháp lợi, mắt thể lạc”.

Hối là như người phạm tội lớn, thường ôm lòng sợ hãi, mũi tên hối hận găm vào lòng, cứng không thể nhổ, như kệ nói:

“Không nên làm mà làm,

Nên làm mà không làm,

Lửa hối não thiêu đốt.

Ðời sau đọa ác đạo.

Nếu người tội biết hối,

Hối rồi nên phóng xả,

Như vậy tâm an vui,

Không nên thường chớ nhặt.