---o0o---
Cuốn 17
CHƯƠNG 26
GIẢI THÍCH: THIỀN
BA-LA-MẬT
KINH: Do không loạn, không
ưa
đắm, nên đầy đủ Thiền Ba-la-mật.
LUẬN:
Hỏi:
Bồ-tát là lấy việc độ
hết thảy chúng sanh
làm sự nghiệp, cớ sao lại ngồi nhàn trong rừng, chằm, ở yên
lặng trong núi, lo tốt riêng cho mình mà bỏ rơi
chúng sanh?
Ðáp:
Thân
Bồ-tát tuy
xa lìa chúng sanh, mà tâm thường
không bỏ, ở chỗ yên vắng cầu định, chứng
được
trí huệ chơn
thật để độ
hết thảy. Ví như
lúc uống thuốc nuôi thân, tạm thời dứt mọi công việc, đến khi
khí lực bình phục, tráng kiện thời làm việc lại như
cũ. Bồ-tát ở yên lặng cũng như
vậy, dùng sức thiền định, uống thuốc trí tuệ,
được
đức thần thông, trở lại ở với
chúng sanh, hoặc ở
với cha mẹ, vợ con, hoặc thầy trò tông trưởng,
hoặc trời hoặc người,
xuống đến súc sanh, dùng các thứ ngữ ngôn, phương
tiện khai đạo.
Lại
nữa, Bồ-tát
thực hành ba sự là bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, gọi là phước
đức môn, trong vô lượng
đời
được
làm Thiên-vương,
Thích-đề-hoàn-nhơn,
Chuyển luân
Thánh vương,
Diêm-phù-đề vương,
thường
đem y phục bảy báu thí cho
chúng sanh, theo sự
ưa muốn của
năm căn, đời này đời sau đều làm cho đầy đủ, như
trong kinh nói Chuyển luân Thánh vương
đem mười
điều thiện dạy dân tu, đời sau đều
được sanh
lên cõi trời, đời đời làm lợi ích chúng sanh khiến
được khoái
lạc. Nhưng
cái vui ấy vô thường,
còn trở lại chịu khổ, Bồ-tát nhân đó phát tâm đại bi, muốn đem
cái Niết-bàn thường
vui làm lợi ích chúng sanh. Niết-bàn thường
vui nầy từ trí tuệ chơn
thật sanh, trí tuệ chơn
thật lại từ nhất tâm thiền định sanh, ví như
đốt đèn, đèn tuy cháy đỏ nhưng
ở giữa gió to thời không thể dùng
được, nếu để
nhà kín, công dụng của nó mới toàn vẹn. Trí tuệ ở giữa tán
tâm cũng như
vậy, nếu không có nhà
thiền định yên lặng, thời có trí tuệ mà công dụng của nó không
toàn, nếu
được có
thiền định thời trí tuệ chơn
thật sanh. Do vậy nên Bồ-tát tuy xa lìa
chúng sanh, ở chỗ
xa vắng, để cầu
được thiền
định. Do thiền định thanh tịnh nên
trí tuệ cũng thanh tịnh, ví như
dầu và tim sạch thì ánh sáng trong. Do vậy nên người
muốn
được
trí tuệ thanh tịnh, phải
thực hành thiền định.
Lại
nữa, nếu muốn cầu việc thiển cận của thế gian, mà không
chuyên tâm thời sự nghiệp cũng không thành, huống gì cầu Phật
đạo thậm thâm mà lại không dùng đến
thiền định? Thiền
định là thu nhiếp các loạn tâm, loạn tâm nhẹ bay hơn
cả lông hồng, chạy tán loạn không dừng, nhanh hơn
gió lốc, không thể cấm chỉ, quá hơn
khỉ vượn,
vừa hiện liền mất, nhanh hơn
điện chớp. Tâm tướng
như
vậy, không thể cấm chỉ, nếu muốn chế ngăn mà không tu thiền
không thể định
được, như
kệ nói:
“Thiền là kho
giữ trí,
Là ruộng phước
công đức,
Thiền là nước
thanh tịnh,
Rửa sạch các dục
trần.
Thiền là áo
Kim-cang,
Ngăn mũi tên
phiền não,
Tuy chưa
chứng Vô dư,
Ðã
được phần
Niết-bàn.
Chứng tam muội
Kim-cang,
Xô nát núi kiết
sử,
Ðược
sáu thần thông lực,
Hoá độ vô lượng
người.
Bụi bay che mặt
trời,
Mưa
lớn làm tan mất,
Gíó giác quán
tán tâm,
Thiền định làm
tiêu diệt”.
Lại
nữa, thiền
định khó
được, hành
giả nhất tâm chuyên caàu, mới thành tựu
được. Chư
thiên và thần tiên còn không thể thành
được huống
chi người
phàm phu giải đãi! Như
Phật tọa thiền dưới
gốc cây Ni-câu-lô, ba người
con gái của Ma vương
thuyết kệ hỏi rằng:
“Ðộc tọa giữa rừng cây,
Sáu căn thường tịnh lặng,
Có người mất trân bảo,
Không cứu sầu thống khổ.
Dung mạo đời không bằng,
Mà thường
nhắm mắt ngồi,
Lòng chúng tôi có nghi:
Cầu gì mà ở đây?”
Bấy giờ Thế Tôn nói
kệ đáp:
“Ta được
vị Niết-bàn,
Không ưa
chỗ nhiễm ái,
Giặc trong ngoài đã trừ,
Cha ngươi
cũng lui mất.
Ta được
vị cam-lồ,
An lạc ngồi trong rừng,
Chúng sanh bị ân ái,
Vì chúng khởi bi tâm”.
Khi ấy
ba người
con gái sanh hổ thẹn mà tự nói rằng: “Người
này ly dục
không thể động
được, liền
biến mất không hiện.
Hỏi:
Thực
hành phương
tiện gì mà
được
thiền Ba-la-mật?
Ðáp:
Bỏ
năm sự (năm trần), trừ năm pháp (năm triền cái), hành năm hành
(Sơ
thiền năm chi là tầm, tứ, hỷ, lạc, xả).
Thế
nào là bỏ năm sự? Ðó là phải mắng trách năm dục. Thương
thay chúng
sanh thường
bị năm dục làm bức não, mà vẫn tìm
cầu không nghĩ. Năm dục
này
được nó càng
kịch liệt như
lửa hơ
ghẻ; năm dục vô ích như
chó gặm xương;
năm dục tăng sự tranh giành
như
quạ giành thịt; năm dục
thiêu đốt người
như
ngược
gió thành đuốc; năm dục hại
người
như
đạp rắn độc; năm dục không
thật như
vật
được trong
mộng; năm dục không bền như
vay mượn
giây lát. Người
đời u mê tham đắm năm dục, đến chết
không bỏ, vì nó mà đời sau chịu vô lượng
khổ. Ví như
người
ngu ham đắm quả ngon, leo lên cây ăn, không chịu trụt xuống,
người
đốn cây, cây ngã bị rớt, thân đầu tan nát, thống não mà chết.
Lại năm dục này, khi
được vui
chốc lát, khi mất khổ quá nhiều. Mật ngọt dính đầu mũi dao,
kẻ thích ngọt ham liếm không biết họa đứt lưỡi.
Năm dục ở chung với súc
sanh, người
trí biết rõ tự xa lìa
được. Như
nói có một
Ưu
-bà-tắc, cùng các khách buôn đi xa tìm kế sống, gặp lúc tuyết
lạnh, đêm đi lạc bạn, tạm trú trong một hang đá, khi ấy thần
núi biến làm một người
nữ đi đến muốn thử, nói kệ rằng:
“Tuyết
trắng phủ núi rừng,
Chim thú đều ẩn núp,
Tôi không nơi
nương
cậy,
Xin dũ lòng xót
thương”
Ưu
-bà-tắc lấy hai tay bịt tai mà đáp kệ rằng:
“Kẻ ác không biết hổ,
Nói lời bất tịnh ấy,
Nước
trôi lửa cháy đi,
Không muốn nghe tiếng ấy.
Có vợ lòng không dục,
Huống gì tạo tà dâm,
Các dục vui rất cạn,
Ðại khổ hoạn rất sâu.
Các dục được
không chán,
Mất nó khổ rất lớn.
Chưa được mong cho được,
Ðược
rồi bị khổ não.
Các dục vui rất ít,
Ưu
khổ độc rất nhiều,
Vì nó mất thân mạng,
Như nga sa vào đèn.”
Thần
núi nghe kệ đó xong, liền vác người
ấy
đưa
đến giữa chúng bạn. Ấy là kẻ trí qưở
trách dục,
không thể để cho đắm trước.
Năm dục là sắc đẹp,
tiếng hay, hương
thơm,
vị ngon, xúc mịn. Muốn cầu thiền định đều phải xa bỏ nó.
- Thế nào là xa
bỏ sắc? Quán xét tai họa của sắc. Người
đắm sắc, các ngọn lửa kiết sử đều
bừng cháy, thiêu hại thân người,
cũng như
lửa đốt vàng bạc, nước
sôi, mật nóng, tuy có sắc đẹp vị ngon, nhưng
làm đốt thân cháy miệng, phải gấp xa bỏ nó. Nếu người
nhiễm đắm sắc đẹp, vị ngon cũng như
vậy.
Lại nữa,
đẹp xấu tại người,
chứ sắc
không nhất định, sao biết? Như
ở xa trông thấy người
đáng yêu liền sanh tâm yêu mừng; nếu ở xa trông thấy người
hung ác oan gia liền sanh tâm oán hại; nếu trông thấy người
không oán không thương,
thời không giận không mừng. Nếu muốn dứt bỏ tánh mừng, tánh
nóng giận, thì phải trừ tà niệm và sắc, xả bỏ cả hai trong một
lần. Ví như
nấu vàng chảy cháy thân, nếu muốn trừ nó không thể chỉ bỏ lửa
giữ lại vàng, mà phải vàng và lửa đều bỏ. Như
vua Tần-bà-ta-la, vì mê sắc nên
thân vào nước
địch ở một mình trong phòng dâm nữ A-phạm-bà-la. Vua
Ưu-điền
vì nhiễm đắm sắc nên mới cắt tay chân năm trăm tiên nhân.
Các nhân duyên như
vậy, gọi là mắng trách sắc dục.
- Thế nào là
mắng trách tiếng? Tướng
của âm thanh không dừng, vừa nghe
được liền
mất, người
ngu si không hiểu tướng
âm thanh vô thường
biến mất như
vậy nên đối với âm thanh, vọng sanh tâm
ưa thích,
đối với âm thanh đã trôi qua còn nhớ lại mà sanh tâm đắm trước.
Như
năm trăm tiên nhân tu ở
trong núi, nghe tiếng của gái Chân-đà-la
ca lên khi đang tắm trong ao núi tuyết, liền mất
thiền định, tâm mê say cuồng dật,
không còn tự giữ
được. Ví như
gió lớn thổi các cây rừng, nghe tiếng ca dịu dàng êm ái, trong
trẻo ấy, sanh niệm tưởng
tà vạy, cho nên không tự giác
được tâm
cuồng loạn, đời này mất các công đức, đời sau phải đọa
đường ác.
Người
có trí quán biết âm thanh niệm niệm sanh diệt, trước
sau không cùng lúc, không theo kịp nhau. Biết
được như
vậy thời không sanh tâm nhiễm trước.
Những người
trí như
thế, âm nhạc của chư
Thiên còn không làm loạn
được huống
là âm nhạc của loài người?
Các nhân duyên như
vậy, là mắng trách thanh dục.
- Thế nào là
mắng trách hương?
Có
người
nói đắm hương
ít tội, nhưng
nhiễm ái hương
thời sẽ mở cửa cho các kiết sử, nên tuy năm trăm trì giới, có
thể một ngày mất hết. Như
vị A-la-hán thường
vào Long cung ăn xong
đưa
bình bát cho Sa-di rửa, trong bát còn thừa vài hạt đồ ăn,
Sa-di ngửi thấy rất thơm,
ăn rất ngon mới tìm cách vào núp dưới
giường
dây của Thầy, hai tay nắm chặt chân giường,
khi Thầy đi thì cả cái giường
cùng vào Long cung, Rồng nói: “Người
này chưa
đắc đạo, vì sao đem đến?” Thấy nói: “Vì tôi không biết... “
Sa-di
đã
được
ăn cơm
lại thấy Long nữ thân thể đoan chánh, thơm
đẹp không ai
bằng, tâm rất nhiễm trước,
liền
ước
nguyện rằng: “Ta sẽ tạo phước,
chiếm lấy chỗ Rồng ở, vào cung điện Rồng”. Rồng nói: “Lần
sau chớ đem Sa-di ấy đến”.
Sa-di trở về rồi, nhất tâm lo bố thí, trì giới, chuyên cầu sở
nguyện, nguyện sớm
được
làm Rồng. Khi ấy đi nhiễu quanh chùa, dưới
chân có nước
trồi lên, tự biết chắc
được
làm Rồng, liền đi thẳng đến bên ao lớn, chỗ trước
kia Thầy đi vào, lấy Cà-sa trùm đầu mà vào, liền chết biến làm
Rồng lớn, do phước
đức lớn, nên giết Rồng kia, cả ao đều đỏ. Trước
khi xảy ra việc ấy, Thầy và chúng Tăng qưở
trách, Sa-di nói: “Tâm tôi đã định, tướng
của tâm đã xuất hiện”. Bấy giờ Thầy
đưa
chúng Tăng đi đến ao xem. Các nhân duyên như
vậy là vì mê đắm mùi thơm.
Lại
nữa, có một Tỳ-kheo đi kinh hành bên ao sen ở trong rừng, nghe
mùi sen thơm,
mũi ngửi tâm đắm, vị Thần ao nói: “Sao ông bỏ chỗ ngồi thiền
định ở trong rừng kia, mà trộm hương
của ta?” Vì đắm hương
nên các kiết sử trước
kia đã nằm xuống nay đều tỉnh dậy. Khi ấy lại có một người
đi vào ao bẻ lấy nhiều hoa đào kéo gốc rễ, bỏ bậy bạ mà đi,
thần ao lặng lẽ không nói gì. Tỳ-kheo thấy vậy nói: “Người
này phá ao ông, lấy hoa ông, ông không nói gì cả; còn tôi chỉ
đi bên bờ ao, lại bị ông qưở
mắng cho là tôi ăn trộm hương?”
Thần ao nói: “Người
thế gian xấu ác thường
ở trong phân nhơ
tội cấu, bất tịnh, ngập đầu, nên không nói tới. Còn ông là người
tốt hành thiền, mà đắm hương
ấy, phá mất việc tốt của ông, cho nên ta qưở
ông. Ví như
lụa trắng tinh khiết mà bị dính một điểm đen thì ai cũng thấy,
còn người
ác kia ví như
áo đen có thêm chấm đen, người
ta cũng không thấy, ai hỏi làm chi. Các nhân duyên như
vậy là mắng trách hương
dục.
- Thế nào là
mắng trách vị? Nên tự giác ngộ
ta chỉ vì tham đắm vị ngon mà phải chịu các khổ, nước
đồng sôi rót vào miệng, nuốt hoàn sắt nóng. Nếu không quán
sát đồ ăn, tâm ham thích dính cứng, phải đọa trong loài trùng
bất tịnh, như
một Sa-di tâm thường
ưa
thích váng sữa, khi các Ðàn-việt thiết đãi Chúng Tăng váng
sữa, Sa-di
được
mỗi phần thừa, tâm
ưa
đắm, vui mừng
không nguôi, sau khi mạng chung sanh vào trong bình váng sữa
thừa ấy. Thầy của Sa-di đã
chứng
được đạo quả
A-la-hán, mỗi khi Tăng chia thứ
váng sữa, thì Thầy nói: “Từ từ! Chớ làm tổn thương
kẻ Sa-di
ưa
váng sữa ấy”. Mọi người
nói: Ðó là loài trùng, sao lại gọi là Sa-di
ưa
váng sữa?” Thầy đáp:” Con trùng ấy vốn là Sa-di của tôi, chỉ
vì tham váng sữa thừa nên sanh ra trong bình đó.” Thầy
được
phần váng sữa, trùng từ trong bò ra, thầy nói: “Ngươi
ưa
váng sữa hay sao mà ngươi
đến đây?” Liền lấy váng sữa
đưa
cho.
Lai
nữa, như
một Quốc thổ, vua tên là Nguyệt Phần, vua có Thái tử
ưa
đắm vị ngon, người
giữ vườn
của vua một ngày
đưa
đến một quả ngon. Trong vườn
có một cây lớn, trên cây có chim mẹ đang nuôi con, chim mẹ thường
bay đến trong núi hương
lấy trái thơm
ngon để nuôi con, bầy con dành nhau, một quả rơi
xuống đất, người
giữ vườn
sáng sớm trông thấy cho là phi thường
kỳ lạ, liền nhặt đem cho vua, vua quý quả ấy thơm
đẹp khác thường,
Thái tử thấy đòi xin, vua thương
con liền cho. Thái tử ăn quả
được
mùi vị đó, tâm nhiễm đắm sâu xa, muốn
được
quả mỗi ngày. Vua liền gọi người
giữ vườn
đến hỏi lý do của quả ấy. Người
giữ vườn
nói quả ấy
không có trồng, từ đất lượm
được, chẳng
biết do từ đâu đến.
Thái
tử khóc lóc
không chịu ăn, vua thúc dục qưở
trách người
giữ vườn:
“Ngươi
hãy kiếm cho
được”.
Người
giữ vườn
đi đến chỗ lượm
quả, thấy có ổ chim, biết chim ngậm quả đem đến, dấu thân trên
cây, rình để lấy, khi chim mẹ bay đến, liền cướp
quả đem vua, cứ mỗi ngày như
vậy, chim mẹ nổi giận, bay đến trong núi Hương
lấy quả độc, huơng
vị sắc toàn giống như
quả trước,
người
giữ vườn
cướp
được đem nộp
cho vua, vua cho Thái tử ăn, trong chốc lát thân thịt bị rã
nát mà chết. Các nhân duyên như
vậy là mắng trách vị dục.
- Thế nào là
mắng trách xúc? Xúc là nguyên nhân lớn sanh ra các kiết
sử , là gốc rễ trói buộc tâm, vì sao? Vì bốn căn kia mỗi thứ
đương lấy
phần của mình, còn xúc này biến khắp thân thức, vì chỗ phát
sanh rộng, nên sanh nhiều nhiễm
trước,
sự nhiễm trước
này khó lìa, vì sao? Như
người
nhiễm trước
sắc, quán thân có ba mươi
sáu thứ bất tịnh thời sanh tâm nhàm chán, còn nếu sanh
nhiễm trước
xúc, thời tuy biết là bất tịnh nhưng
lòng tham xúc tinh tế êm dịu, quán bất tịnh không có ích, thế
nên khó lìa.
Lại nữa,
vì nó khó xả cho nên thường
vì nó mà gây trọng tội. Nếu đọa địa ngục, địa ngục có hai
bộ: Một là băng lạnh, hai lửa cháy. Trong hai ngục này đều
lấy thân xúc chịu tội, khổ độc muôn mối. Xúc là chỗ đại hắc
ám, là
đường
hiểm nguy nan... Các nhân duyên như
vậy là mắng
trách tế hoạt xúc dục. Như
vậy là mắng trách năm dục.
Trừ năm cái (che
lấp), người
bị tham dục cái thì cách đạo rất xa, vì sao? Vì dục là trú xứ
của các thứ não loạn; nếu tâm tham đắm dục thì không do đâu
gần đạo
được. Như
bài kệ trừ dục cái nói:
“Người
vào đạo biết hổ thẹn,
Ôm bát làm phước
chúng sanh.
Tại sao phóng túng trần dục,
Chìm đắm vào nơi
năm căn.
Mặc giáp cầm dao gậy,
Thấy giặc bỏ chạy lui,
Người
khiếp nhược như
thế,
Người
đời đều khinh cười.
Tỳ kheo làm khất sĩ,
Cạo tóc mặc Cà-sa,
Bị ngựa năm căn cầm.
Chuốc cười
cũng như thế.
Lại như
người hào quý,
Mặc đẹp để nghiêm thân,
Mà đi xin cơm
áo,
Chuốc cười
nơi mọi người.
Tý-kheo bỏ trang sức,
Xấu hình để nhiếp tâm,
Mà còn cầu dục lạc,
Chuốc cười
cũng như thế..
Ðã xả năm dục lạc,
Bỏ đi không ngó lại,
Tại sao lại muốn được,
Nhu ngu mửa lại ăn.
Người
tham dục như vậy,
Không biết xét bản nguyện,
Cũng không biết tốt xấu,
Cuồng say theo khát ái.
Pháp tôn trọng tàng quý,
Tất cả đều bỏ hết,
Hiền trí không thân cận,
Kẻ ngu si ưa
gần.
Các dục khi cầu khổ,
Ðược
rồi nhiều sợ hãi,
Khi mất lòng sầu não,
Mọi thời đều không vui.
Các dục hoạn như
vậy,
Lấy gì xả bỏ nó?
Ðược
các vui thiền định,
Thời
không bị dối gạt.
Lạc dục đắm không chán,
Lấy gì diệt trừ được?
Nếu được
bất tịnh quán,
Tâm ấy tự nhiên không.
Ðắm dục không tự giác,
Lấy gì ngộ được
tâm?
Hãy quán già bệnh chết,
Mới ra khỏi bốn châu.
Các dục khó phóng xả,
Lấy gì xa được
nó?
Nếu ưa
vui thiện pháp.
Dục ấy tự nhiên dứt.
Các dục khó mở được,
Lấy gì để mở nó
Quán thân biết thật tướng,
Thời không bị ràng buộc.
Các quán pháp như
vậy,
Diệt được
các lửa dục.
Ví như
đổ mưa lớn,
Lửa nội đều dập tắt”.
Các
nhân duyên như
vậy là diệt trừ
được
dục cái.
Người
bị sân nhuế cái thì mất gốc các thiện pháp, là nguyên nhân đọa
vào các ác đạo, oan gia của pháp lạc, giặc lớn của thiện tâm,
kho chứa các thứ ác khẩu. Như
Phật nói kệ dạy đệ tử hay sân rằng:
“Ngươi nên biết suy ghĩ,
Thọ thân ở trong thai.
Nhơ nhớp tối tăm khổ,
Sanh cũng được gian nan.
Ðã được ý nghĩ này,
Mà
còn không diệt sân.
Thời nên biết bọn ấy,
Chính là ngưởi
vô tâm.
Nếu không quả báo tội,
Cũng không bị qưở
trách.
Cho nên phải từ nhẫn,
Huống người
nhiều khổ quả.
Hãy quán già bệnh chết,
Không một ai tránh khỏi.
Nên khởi tâm từ bi,
Cớ sao đem ác hại.
Chúng sanh giặc oán nhau,
Ðâm chém chịu khổ độc.
Cớ sao người
tu thiện,
Mà còn gây khổ hại.
Thường
nên hành từ bi,
Ðịnh tâm tu các thiện,
Không nên ôm ác ý,
Xâm hại đến tất cả.
Nên siêng tu đạo pháp,
Việc não hại không làm,
Thiện ác thế không đều,
Như
nước lửa trái nhau.
Sân giận che lấp tâm,
Không biết được
tốt xấu,
Cũng không biết lợi hại,
Không biết sợ ác đạo.
Không kể người
khổ não,
Không biết thân tâm mệt,
Trước
tự chịu nhân khổ,
Sau đem khổ đến người.
Nếu muốn dứt sân giận,
Hãy suy nghĩ từ tâm,
Tự độc cư
thanh nhàn,
Ngừng việc dứt nhân duyên.
Nên sợ già bệnh chết,
Chín thứ sân não trừ,
Như
vậy tư duy “từ”.
Thời dứt được
sân độc”.
Các
nhân duyên như
vậy, trừ sân nhuế cái.
Thùy
miên cái là có thể phá hỏng ba việc của đời này là dục lạc,
lợi lạc và phước
đức, có thể phá hỏng cái vui rốt ráo của đời này đời sau
không khác
gì người
chết, chỉ còn có hơi
thở. Như
một vị Bồ-tát nói kệ qưở
trách đệ tử
ưa ngủ
rằng:
“Ngươi
dậy chớ ôm thân thối nằm,
Ðủ thứ bất tịnh giả danh ngươi,
Như
mắc trọng bệnh, tên vào thân,
Các thống khổ nhòm, đâu được
ngủ!
Lửa chết đốt hết thảy thế gian,
Ngươi
đang cầu ra, không được
ngủ!
Như
người bị trói đem đi
giết,
Tai hại đến nơi,
đâu được ngủ!
Giặc kết chưa
dứt, hại chưa trừ,
Như
cùng rắn độc ngủ chung nhà,
Cũng như
lâm trận giữa gươm súng.
Bấy giờ đâu thể được
ngủ nghỉ,
Ngủ là tối tăm không thấy gì,
Ngày ngày dối gạt cướp
sáng người,
Vì ngủ che tâm không hiểu gì,
Tội lỗi như
vậy đâu được ngủ”!
Các
nhân duyên như
vậy, là mắng trách thùy miên cái.
Trạo
hối cái: trạo là dao động, phá hại tâm xuất gia, như
người
nhiếp tâm, còn
không thể trụ
được, huống
chi dao động, tán loạn. Người
dao động tán loạn
như
voi say không móc câu, như
lạc đà sức mũi, không thể cấm chỉ, như
kệ nói:
“Ngươi
đã cạo đầu mặc cà-sa,
Cầm bình bát gốm đi khất thực,
Tại sao vui đắm sự trạo hý,
Ðã không pháp lợi, mắt thể lạc”.
Hối là như
người
phạm tội lớn, thường
ôm lòng sợ hãi, mũi tên hối hận găm vào lòng, cứng không thể
nhổ, như
kệ nói:
“Không nên làm mà làm,
Nên làm mà không làm,
Lửa hối não thiêu đốt.
Ðời sau đọa ác đạo.
Nếu người
tội biết hối,
Hối rồi nên phóng xả,
Như
vậy tâm an vui,
Không nên thường
chớ nhặt.
Có hai thứ hối hận,
Không làm hoặc đã làm,
Do thế, hối dính tâm,
Ấy là tướng
người ngu.
Không vì tâm hối hận,
Không làm mà hay làm,
Các việc ác đã làm,
Không thể khiến không làm”.
Các
nhân duyên như
vậy, là mắng trách trạo hối cái.
Nghi cái là nghi
ngờ che lấp nên không
được định
tâm đối với các pháp. Ðịnh tâm không có nên đối với Phật pháp
trống không, không
được gì. Ví
như
người
đi vào núi báu, nếu không có tay thì không thể lấy
được gì. Như
bài kệ nói về nghĩa “Nghi” rằng:
“Như
người ở đường
rẽ,
Nghi hoặc không chỗ tới,
Ðối các pháp thật tướng,
Nghi hoặc cũng như
vậy.
Vì nghi không cần cầu.
Thật tướng của các pháp,
Nghi ấy từ si sanh,
Tệ ác trong tệ ác.
Trong pháp thiện bất thiện,
Sanh, tử và Niết-bàn,
Là pháp quyết thật có,
Nơi đó chớ sanh nghi.
Ngươi nếu sanh tâm nghi,
Thần chết, sứ ngục trói,
Như Sư tử bắt Nai,
Không thể được
giải thoát.
Ở đời tuy có nghi,
Nên theo pháp diệu thiện,
Ví như
xem đường rẽ,
Ðường tốt ấy nên đi”.
Các
nhân duyên như
vậy nên xả bỏ nghi.
Bỏ
được năm cái
(ngăn che) ấy, như
mắc nợ
được thoát,
bệnh nặng
được lành, ở
chỗ đói khát
được đến nước
giàu, như
từ ngục
được ra, như
trong chỗ giặc ác
được tự
thoát khỏi, an ổn không hoạn nạn. Hành giả
cũng như
vậy , trừ bỏ
năm cái thì tâm
được an ổn,
thanh t ịnh khoái lạc. Ví như
mặt trơøi,
mặt trăng bị năm thứ che mờ là khói, mây, bụi, mù, tay La-hầu
A-tu-la che, thời không thể soi sáng. Tâm người
cũng như
vậy, bị năm cái che ngăn tự mình
không lợi cũng không thể ích người.
Nếu hay qưở
trách năm dục, trừ năm cái, hành năm pháp là dục, tinh tấn,
niệm, xảo tuệ, nhất tâm, hành năm pháp này thời
được năm
chi, thành tựu Sơ
thiền.
Dục
là muốn ra khỏi dục giới, muốn
được Sơ
thiền.
Tinh tấn là xuất
gia trì giới, đầu đêm, cuối đêm chuyên tinh không
giải đãi, tiết chế ăn uống, nhiếp tâm không cho dong
ruổi, tán loạn.
Niệm
là nghĩ tới cái vui
ở Sơ
thiền, biết dục giới bất tịnh, cuồng loạn, mê hoặc, đáng hèn,
còn Sơ
thiền là tôn trọng đáng quý.
Xảo tuệ
là quán sát, so
lường
với cái vui ở dục giới, cái vui ở Sơ
thiền nặng nhẹ,
được mất.
Nhất tâm
là thường
buộc tâm vào trong một duyên không cho phân tán.
Lại nữa, chuyên cầu
Sơ
thiền, phóng xả cái vui dục giới. Ví như
sợ kẻ oán muốn diệt trừ thời không bị oán làm hại. Như
Phật vì kẻ Bà-la-môn đắm dục nói: “Ta vốn quán sát dục, dục
là sợ hãi, là nhân lo khổ; dục là ít vui nhiều khổ; dục là lưới
ma, ràng buộc khó ra, dục thiêu đốt, khô kiệt các thứ vui. Ví
như
rừng cây, bốn bề bốc lửa; dục như
tới hố lửa rất đáng sợ hãi, như
ép bức rắn độc, như
giặc oán rút dao, như
ác La-sát, như
độc ác vào miệng, như
uống nước
đồng sôi, như
ba dòng voi điên, như
đi tới hố sâu lớn, như
sư
tử chặn
đường, như
cá Ma-kiệt hả miệng, các dục cũng như
vậy, rất đáng sợ hãi. Nếu đắm trước
các dục, khiến cho người
khổ não. Người
đắm dục cũng như
ngục tù, như
nai giữa vòng vây, như
chim mắc lưới,
như
cá nuốt câu, như
beo bắt chó, như
quạ giữa đàn chim cắt, như
rắn gặp heo rừng, như
chuột ở giữa mèo, như
bọn mù đi tới hố, như
ruồi đậu dầu nóng, như
người
yếu đuối ra trận, như
người
khèo chân gặp lửa, như
vào sông nước
mặn sôi, như
liếm mật dính đầu lưỡi
dao, như
thái thịt giữa ngã tư
đường, như
vải mỏng phủ rừng dao, như
hoa che bất tịnh, như
mật bôi bình độc, như
hòm rắn độc, như
mộng hư
dối, như
vay mượn
phải trả về, như
trò huyễn gạt trẻ con, như
lửa không thật, như
chìm nước
lớn, như
thuyền vào miệng cá Ma-kiệt, như
mưa
đá hại lúa, như
sấm sét đánh người.
Các dục cũng như
vậy, hư
dối không
thật, không bền không mạnh, vui ít khổ nhiều. Dục là Ma quân
phá công đức thiện, thường
cướp
hại chúng sanh. Như
vậy là các thí dụ về dục.
Mắng năm dục, trừ
năm cái, hành năm pháp
được đến Sơ
thiền.
Hỏi:
Tám
bội xả, tám thắng xứ và mười
nhất thiết nhập, bốn vô lượng
tâm, các định tam muội, những định như
vậy, sao không gọi là Ba-la-mật, mà chỉ gọi thiền Ba-la-mật?
Ðáp:
Công
đức của các định ấy, đều là tư
duy tu. Thiền Trung hoa nói là Tư
duy tu, nói thiền Ba-la-mật là bao gồm tất cả.
Lại
nữa, Thiền tối đại như
vua, nói thiền là gồm tất cả, nói định thời
không gồm
được, vì
sao? Trong Tứ thiền, trí và định ngang nhau nên vui: Vị đáo
địa, Trung gian địa, trí nhiều mà định ít. Ðịnh vô sắc giới
thì định nhiều mà trí ít, nên các chỗ này không vui. Ví như
xe một bánh mạnh, một bánh yếu, thời không đi an ổn, trí và
định không ngang nhau cũng như
vậy.
Lại
nữa, nơi
Tứ thiền có
bốn đẳng tâm, năm thần thông, tám
bội xả, tám thắng xứ, mười
nhất thiết xứ, vô tránh tam muội, nguyện trí, đỉnh thiền, tự
tại định, luyện thiền, mười
bốn biến hóa tâm, ban châu ban, các tam muội Thủ Lăng Nghiêm,
v.v... của Bồ-tát, lược
nói thời có một trăm hai mươi,
còn các tam muội bất động v.v... của chư
Phật lược
nói thời có một trăm lẻ tám, và Phật đắc đạo, xả thọ mạng, các
công đức diệu định như
vậy, đều ở trong Thiền cả. Do vậy, nên gọi Thiền là
Ba-la-mật, các định khác
không gọi là
Ba-la-mật .
Hỏi:
Trước
đây, ông nói mắng
năm dục, trừ năm cái, hành năm pháp,
được Sơ
thiền, tu việc gì, nương
đạo gì có thể
được Sơ
thiền?
Ðáp:
Nương
bất tịnh quán và các môn định An-na-ban-na... Như
bài kệ thiền nghĩa trong thiền kinh nói:
“Lìa dục và
ác pháp,
Có giác và
có quán,
Ly sanh được
hỷ lạc,
Người ấy vào
Sơ thiền.
Ðã được lìa
lửa dâm,
Thời được
định trong mát,
Như người
rất nóng bức,
Vào ao lạnh
thời vui.
Như nghèo
được kho báu,
Hỷ giác làm
động tâm,
Phân biệt,
ấy là quán.
Vào Sơ thiền
cũng vậy.
Biết giác
quán loạn tâm,
Tuy thiện mà
phải lìa,
Như nước lớn
đứng lặng,
Sóng dậy
cũng không thấy.
Ví như
người rất mệt,
Khi an ổn
nằm ngủ,
Nếu có tiếng
kêu gọi,
Thì tâm rất
não loạn.
Khi nhiếp
tâm vào thiền,
Vì giác quán
làm não,
Cho nên trừ
giác quán,
Ðược vào
nhất thức xứ.
Nhờ nội tâm
thanh tịnh,
Ðịnh sanh
được hỷ lạc,
Ðược vào Nhị
thiền đây,
Hỷ tâm mạnh
rất vui.
Nhất tâm đệ
nhất định,
Yên lặng
không niệm gì,
Sợ hỷ muốn
bỏ nó,
Cũng như bỏ
giác quán.
Do thọ nên
có hỷ,
Mất hỷ thời
sanh lo,
Lìa hỷ lạc
thân thọ.
Xả niệm và
phương tiện.
Thánh nhân
hay xả được,
Người khác
xả là khó,
Nếu biết lạc
là nạn.
Thấy bất
động rất yên.
Ưu hỷ trước
đã trừ,
Khổ lạc nay
cũng dứt,
Xả niệm tâm
thanh tịnh,
Vào trong đệ
Tứ thiền.
Lạc trong đệ
Tam thiền,
Vô thường
động nên khổ,
Trong dục
giới đoạn ưu,
Sơ Nhị thiền
trừ hỷ.
Cho nên Phật
Thế Tôn,
Nói trong đệ
Tứ thiền,
Trước đã
đoạn ưu hỷ,
Nay được trừ
khổ lạc”.
Lại nữa,
trì giới thanh tịnh, nhàn cư
một mình, nhiếp giữ các căn,
đầu đêm cuối đêm
chuyên tinh suy nghĩ, vứt bỏ thú vui bên ngoài, lấy thiền làm
vui, lìa các dục và pháp bất thiện, nương
vị đáo địa
được Sơ
thiền. Sơ
thiền, như
trong luận tạng nói: Thiền có bốn thứ: 1- Vị tương
ưng, 2-
Tịnh, 3- Vô lậu, 4- Năm uẩn do báo đắc nhiếp thuộc Sơ
thiền, trong ấy hành giả vào tịnh vô lậu. Nhị thiền, Tam
thiền, Tứ thiền cũng như
vậy. Như
Phật nói: “Nếu có Tỳ-kheo lìa các dục và pháp ác bất thiện,
có giác có quán, ly dục sanh hỷ lạc vào Sơ
thiền”.
Các dục là năm dục
ái trước
như
sắc v.v... Suy nghĩ phân biệt, mắng trách dục như
trước
nói. Pháp ác bất thiện là năm cái như
tham dục v.v...
Lìa hai việc trong
ngoài ấy nên
được Sơ
thiền. Tướng
của Sơ
thiền là có giác có quán, hỷ lạc, nhất tâm. Có giác có quán
là
được công
đức thiện pháp chưa
từng
được của
trong Sơ
thiền, nên tâm rất kinh ngạc tỉnh ngộ, thường
bị lửa dục thiêu đốt, nên khi
được Sơ
thiền như
người
vào ao nước
trong mát, lại như
người
nghèo bỗng
được kho
báu. Hành giả suy nghĩ phân biệt về tội lỗi ở Dục giới và
biết công đức lợi ích của Sơ
thiền rất nhiều, tâm rất hoan hỷ; ấy gọi là có giác có quán.
Hỏi:
Có
giác có quán là một pháp hay hai pháp?
Ðáp:
Hai
pháp, thô tâm mới nghĩ đến, ấy gọi là giác. Tế tâm phân biệt
kỷ, ấy gọi là quán. Ví như
đánh chuông, khi tiếng mới phát lớn, ấy là giác, sau tiếng nhỏ
lần, ấy gọi là quán.
Hỏi:
Như
luận nói: “Từ Dục giới cho đến
Sơ
thiền, trong một tâm có giác quán tương
ưng, sao nay
nói thô tâm mới nghĩ đến gọi là giác, tế
tâm phân biệt kỷ gọi là quán ?
Ðáp:
Hai
pháp tuy ở một tâm mà hai tướng
không đều, khi “giác” thời “quán”
không rõ ràng,
khi “quán” thời “giác” không
rõ ràng. Ví như
khi mặt trời mọc thì các sao không hiện ra. Hết thảy tâm tâm
số pháp tùy thời mà đặt tên cũng như
vậy. Như
Phật nói: “Nếu đoạn
được một
pháp. Ta ấn chứng cho chứng
được
A-na-hàm”. Một pháp đó là xan
tham. Ðúng thật nên phải nói là đoạn hết năm hạ phần kiết
thời chứng
được
A-na-hàm. Thế sao đây nói chỉ
đoạn một pháp? Vì người
ấy xan tham nhiều hơn,
các kiết sử khác đều từ nơi
tham sanh ra, cho nên xan tham hết thì các kiết sử cũng đoạn.
Giác và quán cũng như
vậy. Hành giả biết các giác quán ấy, tùy là thiện pháp nhưng
nó làm nhiễu loạn định tâm. Vì tâm muốn lìa nên mắng giác
quán ấy. Nghĩ rằng: “Giác quán nhiễu động thiền tâm, ví như
nước
trong, sóng nổi dậy thời
không trông thấy
gì. Lại như
người
mỏi mệt
được nghỉ
muốn ngủ, người
bên cạnh kêu gọi thời rất não loạn. Khi nhiếp tâm nội định bị
giác quán làm lay động cũng như
vậy. Các thứ nhân duyên như
vậy, mắng trách giác quán, giác quán dứt, bên trong thanh
tịnh, cột tâm một chỗ,
không
giác không
quán, định sanh hỷ lạc, vào nhị
thiền. Ðã
được
nhị thiền thời
được
sự hỷ lạc vô tỷ chưa
từng
được
của trong nhị thiền.
Giác
quán diệt là biết tội lỗi của giác quán nên diệt; bên trong
thanh tịnh là vào sâu thiền định, tin rằng xả giác quán của Sơ
thiền thời sự lợi ích trọng đại, sự mất rất ít, sự
được
rất nhiều. Buộc tâm vào một duyên, nên gọi là bên trong thanh
tịnh. Hành giả quán tội lỗi của hỷ cũng như
giác quán, tùy chỗ có hỷ, hễ nhiều hỷ là nhiều
ưu,
vì cớ sao? Như
người
nghèo
được
của báu hoan hỷ vô lượng,
một mai bị mất thì
ưu
cũng sâu, hỷ liền chuyển thành
ưu,
cho nên, nên xả. Lìa hỷ ấy nên hành xa niệm trí, thọ thân
lạc, lạc ấy Thánh nhân có thể
được
có thể xả, nhất tâm ở nơi
lạc, vào đệ Tam thiền.
Xả là
xả hỷ tâm
không còn hối tiếc. Niệm trí là đã
được cái vui
Tam thiền không làm cho sanh
hoạn nạn đối với lạc. Thọ thân lạc là cái vui
Tam thiền lan khắp toàn thân
đều lãnh thọ. Thánh nhân có thể
được xả là,
cái vui ấy là nhất của thế gian hay làm phát sanh tâm đắm trước,
kẻ phàm phu ít ai xả được.
Do vậy nên Phật nói: “Quả báo của sự thực hành lòng từ là thứ
nhất của trong Biến-tịnh-địa (Biến-tịnh-thiên).
Hành giả quán xét cái lỗi của lạc
cũng như
cái lỗi của
hỷ, biết chỗ tâm bất động là tối đệ nhất, chỗ có lay động thời
là có khổ. Hành giả vì cái
vui đệ Tam thiền lay động
nên cầu chỗ bất động. Vì dứt khổ lạc trước
nên dứt
ưu hỷ, không
khổ không vui, xả niệm thanh tịnh,
vào đệ Tứ thiền.
Trong
đệ Tứ thiền ấy, không khổ
không vui, chỉ có trí tuệ bất động, vì vậy nên nói
đệ Tứ thiền là xả niệm thanh
tịnh. Ở đệ Tam thiền có cái vui
làm lay động nên nói là khổ, cho nên trong đệ Tứ thiền nói có
cái vui dứt khổ.
Như
Phật nói: “Qua khỏi hết thảy sắc tướng,
không tưởng
niệm biệt tướng,
diệt hữu đối tướng
vào Vô biên hư
không xứ”.
Hành
giả nghĩ rằng: “Nếu
không sắc thời
không có cái khổ đói khát, lạnh nóng, thân sắc ấy thô trọng tệ
ác, hư
dối không thật, do nhân duyên đời
trước
hoà hợp
được
thân quả báo này, là chỗ ở của các khổ não, làm sao thoát khỏi
được
thân nạn này? Nên quán thân này trong thân trống
không, thường
quán thân không, như
cái lồng, như
nồi đất, thường
niệm nhớ không bỏ thời
được qua
khỏi sắc, không còn thấy thân. Giống như
nội không, ngoại không cũng vậy.
Bấy giờ có thể quán vô lượng
vô biên hư
không. Ðược
quán ấy rồi không khổ không lạc, tâm ấy càng tăng, như
chim nhốt trong bình, bình vỡ
được bay ra;
ấy gọi là Ðịnh không xứ.
Không ấy
vô biên vô lượng,
lấy thức duyên theo, duyên nhiều thời tán loạn, có thể phá
định. Hành
giả quán hư
không, duyên
thọ, tưởng,
hành, thức như
bệnh, như
ung, như
ghẻ, như
gai nhọn, vô thường,
khổ, không, vô ngã, giả dối, hòa hợp thời có, chẳng phải thật
có. Niệm như
vậy xong xả tâm duyên hư
không mà chỉ duyên thức.
Thế nào mà duyên?
Thức hiện tiền duyên đến vô lượng
vô biên thức quá khứ, vị lai. Thức ấy vô lượng
vô biên như
hư
không vô lượng
vô biên; ấy gọi là Ðịnh thức xứ.
Thức ấy vô lượng
vô biên, lấy thức duyên theo, thức
nhiều thời tán loạn, có thể phá định. Hành
giả quán duyên thức, thọ tưởng
hành thức như
bệnh, như
ung, như
ghẻ, như
gai nhọn, vô thường,
khổ, không, vô ngã, giả dối hòa hợp mà có, chẳng phải thật
có. Như
vậy quán rồi thời phá thức tướng,
ấy là mắng trách thức xứ, tán thán vô sở hữu xứ, phá các thức
tướng,
cột tâm ở trong vô sở hữu xứ, ấy gọi là Ðịnh vô sở hữu xứ.
Vô sở hữu xứ duyên
thọ, tưởng,
hành, thức như
bệnh, như
ung, như
ghẻ, như
gai nhọn, vô thường,
khổ, không, vô ngã, giả dối hòa hợp mà có, chẳng phải thật
có. Như
vậy, tư
duy vô tưởng
xứ như
ung, hữu tướng
xứ như
bệnh, như
ung, như
ghẻ, như
gai nhọn, diệu xứ đệ nhất là
Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ.
Hỏi:
Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ
có thọ, tưởng,
hành, thức tại sao nói Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng?
Ðáp:
Trong
ấy có tưởng,
song vi tế khó biết, nên gọi là Phi-hữu-tưởng,
song có tưởng
nên gọi là Phi-vô-tưởng.
Tâm phàm phu cho ở đó là
được
thật tướng
các pháp, ấy là Niết-bàn, còn trong Phật pháp tuy biết ở đó có
tưởng,
song nhân vì tên gọi cũ của nó, nên gọi là
Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng.
Hỏi:
Thế
nào là Vô tưởng?
Ðáp:
Vô
tưởng
có ba là vô tưởng
định, diệït thọ tưởng
định và vô tưởng
thiên. Người
phàm phu muốn diệït tâm để vào vô tưởng
định, còn đệ tử Phật muốn diệt tâm để vào Diệt thọ tưởng
định.
Các
thiền định ấy có hai thứ, hoặc hữu lậu hoặc vô lậu. Hữu lậu
là sở hành của phàm phu, như
trước
đã nói. Vô lậu là mười
sáu thánh hành. Nếu là hữu lậu đạo thì nương
thượng
địa mà lìa cái dục của hạ địa. Nếu vô lậu đạo thì lìa cả cái
dục của tự địa và thượng
địa. Vì vậy phàm phu ở Hữu đỉnh xứ
không
được ly dục,
vì không còn có thượng
địa để nương.
Nếu đệ tử Phật muốn lìa cái dục của
dục giới. Phiền não của Dục
giới thuộc loại tư
duy đoạn có chín bậc thượng,
trung, hạ, là thượng
thượng,
thượng
trung, thượng
hạ, trung thượng,
trung trung, trung hạ, hạ thượng,
hạ trung, hạ hạ. Ðể đoạn chín bậc ấy,
đệ tử Phật hoặc nương
hữu lậu đạo, cầu
được
Sơ
thiền. Bấy giờ ở trong chín vô ngại đạo (chín vô gián đạo),
tám giải thoát đạo, của vị đáo địa, hiện tại tu hữu lậu đạo,
vị lai tu hữu lậu vô lậu đạo. Trong giải thoát đạo thứ chín ở
vị đáo địa,
hiện tại tu hữu lậu đạo, vị lai tu
vị đáo địa hữu lậu, vô lậu đạo và hữu lậu của biên địa Sơ
thiền. Nếu vô lậu đạo muốn
được
Sơ
thiền cũng như
vậy. Nếu nương
hữu lậu đạo, lìa cái dục của Sơ
thiền, nơi
biên địa của đệ Nhị thiền, trong chín vô ngại đạo, tám giải
thoát đạo, hiện tại tu Nhị thiền biên địa hữu lậu, vị lai tu
Nhị thiền biên địa hữu lậu đạo, cũng tu Sơ
thiền vô lậu và quyến thuộc. Trong giải thoát đạo thứ chín, nơi
biên địa của đệ Nhị thiền, hiện tại tu Nhị thiền biên địa hữu
lậu đạo, vị lai tu Nhị thiền biên địa, Sơ
thiền vô lậu và quyến thuộc, Nhị thiền tịnh vô lậu. Nếu vô
lậu đạo, lìa cái dục của Sơ
thiền trong chín vô ngại đạo, tám giải thoát đạo, hiện tại tu
vô lậu đạo nơi
tự địa, vị lai tu Sơ
thiền và quyến thuộc hữu lậu vô lậu đạo. Trong giải thoát
đạo thứ chín, hiện tại tu vô lậu đạo nơi
tự địa, vị lai tu Sơ
thiền và quyến thuộc hữu lậu vô lậu đạo, và tu Nhị thiền tịnh
vô lậu, cho đến khi Vô sở hữu xứ lìa dục cũng như
vậy. Khi ở Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng
lìa dục, thì trong chín vô ngại đạo, tám giải thoát đạo chỉ tu
hết thảy vô lậu đạo. Trong giải thoát đạo thứ chín, tu thiện
căn của tam giới và vô lậu đạo, trừ vô tâm định.
Tu có
hai thứ: 1- Ðắc tu; 2- Hành tu. Ðắc tu là trứơc
vốn không
được
mà nay
được
, đời vị lai tu việc mình cũng tu
việc khác. Hành tu là đã từng tu, trong hiện tại tu, vị lai
cũng tu, không tu việc
khác. Như
vậy là lối tu trong các thứ thiền định.
Lại nữa,
tướng
của thiền định lược
nói có hai mươi
ba thứ, đó là tám
vị thiền, tám tịnh thiền,
bảy vô lậu thiền.
Lại có sáu nhân: Tương
ưng nhân,
cọng nhân, tương
tợ nhân, biến nhân, báo nhân, danh nhân, mỗi mỗi đều vô lậu.
Bảy vô lậu nhân là
tương
tợ vô lậu, trong tự địa tăng thêm vô lậu tương
ưng và nhân
cọng hữu. Sơ
vị định sơ
vị định nhân, cho đến hậu vị định hậu vị định nhân. Tịnh cũng
như
vậy.
Bốn duyên là nhân
duyên, thứ đệ duyên, duyên duyên, tầng thượng
duyên. Nhân duyên như
trên đã nói.
Sơ
thiền vô lậu
định, thứ lớp sanh sáu định: 1- Sơ
thiền tịnh,
2- Vô lậu, 3- Nhị thiền tịnh, 4- Vô lậu, 5- Tam thiền tịnh,
6- Vô lậu.
Nhị
thiền vô lậu định thứ lớp
sanh tám định: 1- Tự địa tịnh, 2- Vô lậu, 3- Sơ
thiền tịnh, 4- Vô lậu, 5- Tam thiền tịnh, 6- Vô lậu, 7- Tứ
thiền tịnh, 8- Vô lậu.
Tam
vô lậu định thứ lớp sanh mười
định là ở Tự địa có hai, ở Hạ địa có bốn, ở Thượng
địa có bốn. Ðệ tứ thiền và Không xứ cũng thứ lớp sanh mười
định như
vậy.
Thức xứ
vô lậu định, thứ lớp sanh
chín định là ở Tự địa có hai, ở Hạ địa có bốn, ở Thượng
địa có ba.
Vô sở hữu xứ
vô lậu định, thứ lớp sanh
bảy định là ở Tự địa có hai, ở Hạ địa có bốn, ở Thượng
địa có một.
Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ
thứ lớp sanh sáu tâm là ở Tự địa có hai, ở Hạ địa có bốn. Các
tịnh địa khác cũng như
vậy. Lại đều lợi ích tự địa vị.
Sơ
thiền vị thứ
lớp có hai là vị và tịnh, cho đến
Phi tưởng
phi phi tưởng
xứ vị cũng
như
vậy.
Tịnh vàvô lậu
thiền, hết thảy xứ đều duyên. Vị thiền duyên vị trong tự địa,
cũng duyên tịnh, ái, vì không có vô lậu duyên, nên không duyên
vô lậu.
Tịnh và vô lậu căn
bản vô sắc định, không duyên hữu lậu của hạ địa. Danh nhân và
Tăng thượng
duyên thông hết thảy định.
Bốn
vô lượng
tâm, tám bội xả, tám thắng xứ, và tám nhất thiết xứ
đều duyên dục giới.
Năm thần thông thì
duyên dục giới, sắc giới, ngoài ra đều tùy theo chỗ thích hợp
mà duyên.
Diệt thọ tưởng
định thì không duyên gì. Trong Tứ thiền có luyện pháp, lấy vô
lậu luyện hữu lậu, nên
được Tứ
thiền tâm tự tại. Lấy vô lậu đệ Tứ thiền luyện hữu lậu đệ Tứ
thiền, vậy sau đệ Tam, đệ Nhị, đệ Nhất thiền đều lấy tự địa vô
lậu luyện tự địa hữu lậu.
Hỏi:
Sao
gọi là luyện thiền?
Ðáp:
Các
thánh nhân thích
vô lậu định, không
thích hữu lậu. Khi ly dục, tịnh hữu lậu không thích mà tự
được. Nay
muốn trừ cấu uế đó nên lấy vô lậu để luyện nó. Ví như
luyện vàng bỏ cấu bẩn, vô lậu luyện hữu lậu
cũng như
vậy. Từ vô lậu thiền khởi dậy, nhập vào tịnh thiền, luôn luôn
như
vậy gọi là luyện. Lại nữa, trong các
thiền có đảnh
thiền.
Sao gọi là đảnh? Có hai loại
A-la-hán là hoại pháp và bất hoại pháp. Bất hoại pháp
A-la-hán
được tự tại
đối với hết thảy thiền định sâu xa, có thể phát khởi đỉnh
thiền. Ðược
đỉnh thiền ấy, có thể chuyển sự sống lâu thành giàu sang,
chuyển sự giàu sang thành sống lâu.
Lại có nguyện trí,
tứ biện, vô tránh tam muội.
Nguyện trí là nguyện muốn biết việc ba đời, tùy sở nguyện thời
đều biết
được.
Nguyện trí này nhiếp vào hai nơi
là dục giới và
đệ Tứ thiền.
Tứ biện là pháp
biện, từ biện thì nhiếp vào hai nơi
là dục giới và Sơ
thiền; nghĩa biện và lạc thuyết thì nhiếp vào chín nơi
là dục giới, bốn thiền, bốn
vô sắc định.
Vô
tránh tam muội là làm cho tâm người
khác không
khởi tranh cãi, nó nhiếp vào năm nơi
là dục giới và
bốn thiền.
Hỏi:
Ðược
các thiền còn có pháp khác nữa
ư?
Ðáp:
Vì
định sanh cũng
được,
thối cũng
được.
Tịnh thiền thì khi sanh
được,
khi ly dục
được,
khi vô lậu ly dục
được,
khi thối
được.
Chín
địa vô lậu định là bốn
thiền, ba vô sắc định, vị đáo địa thiền, trung gian thiền, có
thể đoạn kiết sử. Ở vị đáo địa thiền, trung gian thiền có xả
căn tương
ưng. Nếu người
thành tựu thiền, tâm biến hoá của hạ địa cũng thành tựu. Như
sơ
thiền thành tựu tâm biến hóa, một là Sơ
thiền, hai là Dục giới, Nhị
thiền có ba, Tam thiền có bốn, Tứ thiền có năm, nếu trong
Nhị thiền, Tam thiền, Tứ
thiền khi muốn nghe, thấy, xúc, chạm đều dùng thức của trời
Phạm thế, khi thức diệt thì ngưng.
Bốn vô lượng
tâm, năm thần thông, tám bội xả,
tám thắng xử, mười
nhất thiết nhập, chín thứ đệ định, chín tưởng,
mười
tưởng,
ba tam muội, ba giải thoát môn, ba vô lậu căn, ba mươi
bảy phẩm trợ đạo. Các công đức như
vậy, đều từ trong thiền Ba-la-mật phát sanh. Trong đó nên
rộng nói.
Hỏi:
Nên
phải nói là Thiền Ba-la-mật, cớ sao chỉ nói thiền?
Ðáp:
Thiền
là gốc của Ba-la-mật. Ðược
thiền ấy rồi thương
xót chúng sanh, trong nội tâm có các diệu lạc của thiền định
nhưng
không biết cầu, nên mới cầu cái vui ở trong pháp khổ bất tịnh
bên ngoài. Quán như
vậy rồi sanh tâm đại bi, lập thệ nguyện rộng lớn” “Ta sẽ làm
cho chúng
sanh đều
được cái vui
bên trong thiền định, lìa
cái vui bất tịnh. Nương
cái vui thiền định, rồi tiếp đến
làm cho
được
cái vui của Phật đạo”. Bấy giờ thiền
được
gọi là Ba-la-mật.
Lại nữa,
ở trong thiền ấy, không vì lãnh thọ thiền vị, không vì cầu quả
báo, không vì tùy báo sanh ra, mà vì điều phục tâm nên nhập
thiền, dùng trí tuệ phương
tiện sanh trở lại dục giới, độ thoát
hết thảy chúng
sanh, bấy giờ thiền
được
gọi là Ba-la-mật.
Lại
nữa, Bồ-tát nhập thiền định sâu xa,
hết thảy trời người
không thể biết
được
tâm Bồ-tát nương
dựa đâu, duyên đâu, trong các pháp thấy nghe hay biết, tâm
không lay động, như
trong Kinh Tỳ-ma-la-cật
(Duy-ma-cật) vì
Xá-lợi-phất mà nói pháp an tọa,
không nương
dựa thân, không nương
dựa tâm, không nương
dựa ba cõi. Ở trong ba cõi không tìm thấy thân tâm, như
vậy là an tọa.
Lại nữa,
nếu người
nghe nói cái
vui thiền định hơn
cái vui cõi
người,
cõi trời, bèn bỏ cái vui ngũ dục mà cầu
thiền định. Ấy là tự cầu làm lợi
mình, không đủ cho là lạ. Bồ-tát
thời không như
thế, chỉ vì đem vui cho chúng sanh nên làm cho tâm từ bi thanh
tịnh, không bỏ chúng sanh.
Bồ-tát
thiền, trong thiền phát tâm đại bi,
thiền có cái vui cực diệu bên trong, nhưng
chúng sanh
thì bỏ đi mà cầu cái vui bên
ngoài. Ví như
người
mù giàu lớn, có nhiều kho báu mà vì
không biết, không
thấy mà phải đi xin. Người
trí thương
xót người
ấy có vật qúy mà không thể thấy biết, nên phải đi xin
người
khác. Chúng
sanh cũng như
vậy, trong tâm có nhiều
cái vui
thiền định mà không biết
phát huy, trở lại cầu cái vui bên
ngoài.
Lại
nữa, Bồ-tát biết thật tướng
các pháp nên
vào thiền, trong lòng an ổn không đắm thiền vị, các ngoại đạo
khác tuy vào thiền định, mà tâm không an ổn, không
biết thật tướng
các pháp nên
đắm trước
thiền vị.
Hỏi:
A-la-hán,
Bích-chi Phật đều không đắm
trước
thiền vị, cớ sao không
được Thiền
Ba-la-mật?
Ðáp:
A-la-hán,
Bích-chi Phật tuy không đắm
trước
thiền vị, song không có tâm đại bi
nên không gọi là thiền
Ba-la-mật. Lại không thể hành hết các thiền, còn
Bồ-tát thì hành hết các thiền thô tế, lớn nhỏ, sâu cạn, nội
duyên, ngoại duyên, hết thảy đều thực hành. Do vậy nên trong
tâm Bồ-tát gọi là thiền
Ba-la-mật, các người
khác chỉ gọi là thiền. Lại nữa, Ngoại đạo, Thanh-văn, Bồ-tát
đều
được
thiền định, nhưng
trong thiền ngoại đạo có ba điều hoạn, hoặc đắm trước,
hoặc tà kiến, hoặc kiêu mạn. Trong thiền Thanh-văn tâm từ bi
mỏng, đối với các pháp
không thể dùng lợi
trí để thông đạt thật tướng
các pháp, lo tốt riêng cho thân mình, dứt hết hạt giống phật.
Còn trong thiền Bồ-tát
không có việc ấy.
Muốn tập họp hết thảy Phật pháp, nên ở
trong thiền mà không quên
chúng sanh, cho đến côn trùng cũng thường
gia niệm thương
xót. Như
đức Phật Thích-ca Văn-ni, vốn là
tiên nhân búi tóc, gọi là Thượng-xà-lê,
thường
hành thiền thứ tư,
hơi
thở ra vào dứt, ngồi dưới
một gốc cây cao chót bất động, chim trông thấy như
vậy cho là cây, đẻ trứng trong búi tóc.
Bồ-tát
từ thiền định khởi giác, biết trên đầu có trứng chim,
liền suy nghĩ: “Nếu ta đứng dậy chim mẹ chắc không còn đến,
chim mẹ không đến trứng chim phải hỏng, liền vào thiền trở
lại, cho đến khi chim con bay đi, mới đứng dậy.
Lại
nữa, trừ Bồ-tát, các người
khác với tâm dục giới
không thể thứ lớp
vào thiền. Bồ-tát thực hành thiền
Ba-la-mật, với tâm dục giới
thứ lớp vào thiền, vì cớ sao?
Bồ-tát đời đời tu các công đức, tâm kiết sử mỏng, tâm mềm dịu
vây.
Lại
nữa, các người
khác
được
trí tuệ biết tổng tướng
các pháp mà có thể lìa dục, như
quán vô thường,
quán khổ,
quán bất tịnh.
Bồ-tát có thể phân biệt
được
biệt tướng
của hết thảy
pháp mà lìa dục. Như
năm trăm tiên nhân khi đang bay đi, nghe tiếng ca của con gái
Khẩn-đà-la, sanh tâm đắm trước
cuồng say, liền mất hết thần túc mà cùng một lúc rớt xuống
đất. Lại như
hàng Thanh-văn nghe tiếng ca
hát gảy đàn của vua Khẩn-đà-la tên là Ðôn-luân-ma, đem
thật tướng
các pháp mà
tán thán Phật. Bấy giờ núi Tu-di và cây cối đều rung động,
các đại đệ tử như
Ðại Ca-diếp v.v... đều không
an ổn ngay trên chỗ ngối của mình. Thiên-nam
Bồ-tát hỏi Ðại Ca-diếp: “Ông tuổi
rất cao, tu hạnh đầu đà bậc nhất, nay vì sao không thể
chế tâm an ổn
được?”
Ðại Ca-diếp đáp: “Tôi đối
với các dục của người
và trời, tâm không khuynh động, nhưng
đây là tiếng của vô lượng
công đức quả báo của
Bồ-tát, lại là tiếng do trí huệ ban
phát ra, nên không thể nhịn
được. Nếu
gió bốn phương
khởi lên thì không thể làm cho núi Tu-di động, nhưng
khi kiếp tận gió Tỳ-lam thổi đến thời làm cho núi Tu-di lay
động như
cỏ mục.”
Do vậy nên biết
Bồ-tát quán biệt tướng
mà lìa
được
các dục, các người
khác chỉ
được
gọi là thiền chứ không
được
gọi là Ba-la-mật.
Lại
nữa, các người
khác biết tâm Bồ-tát nhập thiền xuất thiền chứ không thể biết
tâm khi trú thiền duyên đâu đến đâu, biết các pháp sâu cạn ra
sao, chính A-la-hán, Bích-chi Phật còn không thể biết huống
chi các người
khác, ví như
Voi chúa lội nước,
khi vào khi ra, dấu chân thấy
được,
còn khi ở trong nước
không thể biết
được.
Nếu
được
Sơ
thiền thì người
đồng
được
Sơ
thiền biết
được,
nhưng
không thể biết Bồ-tát nhập Sơ
thiền. Có người
được
Nhị thiền, quán biết
được
tâm người
được
Sơ
thiền rất rõ ràng nhưng
không thể biết tâm Bồ-tát khi nhập Sơ
thiền. Cho đến Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ
cũng như
vậy.
Lại
nữa, trong sự siêu việt tam muội, từ Sơ
thiền khởi đệ Tam thiền, từ Tam thiền khởi nhập Hư-không-xứ,
từ Hư-không-xứ
khởi nhập Vô-sở-hữu-xứ. Nhị thừa chỉ siêu việt
được
một chứ
không thể siêu việt
được hai.
Còn Bồ-tát thì tự tại siêu việt,
từ Sơ
thiền khởi hoặc nhập Tam thiền
như
lệ thường,
hoặc nhập đệ Tứ thiền, hoặc nhập
Không-xứ, Thức-xứ, Vô-sở-hữu-xứ, Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ,
hoặc nhập Diệt-thọ-tưởng-định;
từ Diệt-thọ-tưởng-định
khởi hoặc nhập Vô-sở-hữu-xứ, hoặc Thức-xứ, Không-xứ, Tứ thiền
cho đến Sơ
thiền, hoặc có khi vượt
một bậc, có khi vượt
hai bậc, cho đến vượt
chín bậc. Hàng Thanh-văn
không thể
vượt
hai bậc, vì cớ sao? Vì trí tuệ, công đức và sức thiền mỏng.
Giống như
hai loại Sư
tử. Một
huỳnh Sư
tử , hai
Sư
tử bờm
trắng. Huỳnh Sư
tử tuy nhảy
được nhưng
không bằng Sư
tử chúa bờm
trắng. Các nhân duyên như
vậy, là phân biệt thiền Ba-la-mật.
Lại
nữa, bấy giờ Bồ-tát, thường
vào thiền định, nhiếp tâm bất động,
không sanh giác
quán, cũng có thể vì chúng sanh mười
phương
đem vô lượng
âm thanh thuyết pháp để độ thoát; ấy gọi là Thiền
Ba-la-mật.
Hỏi:
Như
trong kinh nói: Trước
có giác quán
tư
duy sau mới thuyết pháp, còn vào trong
thiền định không
có ngữ ngôn giác quán, thì
không thể nói pháp
được. Sao
nay ông nói thường
ở trong thiền định
không khởi giác quán mà vẫn
thuyết pháp cho chúng sanh?
Ðáp:
Cách
thức của người
còn sanh tử khi nhập thiền định, trước
do có giác
quán về ngôn ngữ, sau mới thuyết pháp. Còn pháp thân
Bồ-tát lìa thân sanh tử, biết
hết thảy pháp thường
trú như
tướng
thiền định,
không thấy sự tán loạn, pháp thân
Bồ-tát biến hóa ra vô lượng
thân thuyết pháp cho chúng sanh, mà tâm
Bồ-tát không phân biệt. Như
đàn cầm của A-tu-la thường
tự phát ra tiếng theo ý muốn, không phải có ai gảy, nó cũng
không tán tâm, cũng không nhiếp tâm. Chỉ do phước
đức quả báo sanh, tùy ý người
mà phát ra tiếng. Pháp thân Bồ-tát
cũng như
vậy, không
phân biệt, cũng không tán tâm, cũng không có tướng
thuyết pháp. Ấy là do vô lượng
phước
đức, trí tuệ, thiền định, nên
pháp thân Bồ-tát tùy chỗ ứng
hợp mà phát ra pháp âm. Người
có tâm xan tham nhiều, thì nghe âm thanh thuyết về bố thí; người
phá giới, sân nhuế, giải đãi, loạn tâm, ngu si nhiều thì nghe
âm thanh thuyết về trì giới, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ.
Nghe pháp ấy rồi mỗi người
tự suy nghĩ, dần dần do tam thừa mà
được
độ thoát.
Lại
nữa, Bồ-tát quán
hết thảy pháp hoặc
loạn, hoặc tịnh, đều là tướng
bất nhị, còn người
khác thì từ nơi
loạn mà cầu định, vì cớ sao? Vì trong pháp loạn thì khởi sân
tưởng,
trong pháp định thì khởi trước
tưởng,
như
tiên nhân Uất-đà-la-ca được
ngũ thông, ngày ngày bay đến trong cung vua mà ăn,
được
vương
đại phu nhân theo đúng quốc pháp lạy xuống tiếp chân, tay phu
nhân chạm đến, tiên nhân liền mất thần thông, theo vua xin xe
để cỡi mà trở về chỗ cũ. Ði vào giữa rừng, lại cầu ngũ thông,
nhất tâm chuyên chú, khi sắp chứng
được,
có con chim trên cây kêu cấp kíp, làm cho loạn ý, ông bỏ gốc
cây đi đến bờ nước
cầu nhập định, lại nghe tiếng quậy nứơc
của bầy cá đấu nhau, ông ấy cầu nhập thiền mà không
được,
liền sanh sân nhuế: “Ta sẽ giết hết cá chim”. Ông ấy lâu về
sau nhờ tư
duy
được
định, sanh lên Phi-hữu-tưởng-phi-vô-tưởng-xứ.
Tuổi thọ hết ở đây lại sanh xuống làm con cáo bay, giết hết cá
chim, gây vô lượng
tội, đọa vào ba ác đạo.
Ấy là
do trong thiền định có tâm đắm trước.
Ngoại đạo như
thế, trong hàng đệ tử Phật cũng có như
thế. Như
một Tỳ-kheo tu
được
Tứ thiền, sanh tâm tăng thượng
mạn cho là
được
bốn đạo quả. Khi
được
Sơ
thiền thì cho là đắc Tu-đà-hoàn, khi
được
Nhị thiền thì cho là đắc Tư-đà-hàm,
khi
được
Tam thiền thì cho là đắc A-na-hàm, khi
được
Tứ thiền thì cho là đắc A-la-hán. Ỷ vào đó mà ngừng lại,
không cầu
tiến nữa. Khi sắp mệnh chung, thấy tướng
trung ấm của tứ thiền hiện đến bèn sanh tà kiến cho là không
có Niết-bàn, Phật đã dối ta. Sanh ác tà kiến như
vậy nên mất trung ấm của Tứ thiền bèn thấy tướng
trung ấm của địa ngục A-tỳ. Các Tỳ-kheo hỏi Phật: “Tỳ-kheo
tu A-la-nhã ấy mạng chung sanh về đâu?” Phật nói: “Người
ấy sanh trong địa ngục A-tỳ”. Các Tỳ-kheo đều rất kinh ngạc
lấy làm lạ hỏi: “Vị ấy tọa thiền trì giới, do đâu mà dẫn đến
như
vậy?” Phật nói: “Ông ấy tăng thượng
mạn, vì khi
được
Tứ thiền thì cho là
được
bốn đạo quả.
Khi sắp mệnh chung,
thấy tướng
trung ấm của Tứ thiền bèn sanh tà kiến, bảo là không có
Niết-bàn: “Ta là A-la-hán mà phải
sanh trở lại, như
vậy Phật hư
dối”. Khi
ấy liền thấy tướng
trung ấm của địa ngục A-tỳ. Mạng chung liền sanh trong địa
ngục A-tỳ”. Lúc ấy Phật nói kệ:
“Ða văn, trì
giới, thiền.
Chưa được vô
lậu pháp,
Tuy có công
đức ấy,
Việc ấy
không thể tin”.
Tỳ-kheo ấy chịu khổ
ở ác đạo. Cho nên biết chấp thủ loạn tướng
thì dễ sanh các phiền não sân v.v... chấp thủ định tướng
thì dễ sanh đắm trước.
Bồ-tát không chấp thủ loạn tướng
cũng không chấp thủ thiền định tướng.
Tướng
loạn và tướng
định là một, nên gọi là Thiền
Ba-la-mật. Như
tướng
Sơ
thiền là lìa dục, trừ cái, nhiếp tâm một chỗ.
Bồ-tát lợi căn lấy
trí tuệ quán sát, nên đối với năm cái không có gì phải buông
xả, đối với tướng
thiền định không có gì phải
chấp thủ, vì tướng
các pháp là không.
Tại sao đối với năm
cái không có gì xả? Vì tham dục cái chẳng phải ở trong chẳng
phải ở ngoài, cũng chẳng phải trung gian, vì cớ sao? Vì nếu
nội pháp là có, thời không cần chờ ngoài mới sanh. Nếu ngoại
pháp là có thời không có hoạn nạn đối với ta, nếu ở trung gian
là có, thời trung gian là không có chỗ nhất định, cũng không
từ đời trước
đi đến, vì sao? Vì hết thảy các pháp không đến, như
đồng tử không có lòng dục, nếu đời trước
đã có, thời ngay khi nhỏ cũng phải có, vì sao? Vì biết đời trước
không đến thì cũng không đến đời sau; chẳng từ các phương
đến; cũng không thường
tự có; chẳng phải trong một phần, cũng chẳng phải trong khắp
thân; cũng chẳng từ năm trần đến; cũng chẳng từ năm căn ra,
không từ đâu sanh, không từ đâu diệt. Tham dục ấy hoặc trước
sanh, hoặc sau sanh, hoặc cùng một thời sanh, đều không đúng,
vì sao? Vì nếu trước
có sanh sau mới có tham dục, thế là không phải từ tham dục
sanh, vì trước
chưa
có tham dục; nếu sau có sanh thời trước
đã có tham dục, thời sanh mà không sanh gì cả; nếu cùng một
thời sanh, thời không có sự sanh, không có chỗ sanh, vì sự
sanh và chỗ sanh không có phân biệt.
Lại nữa,
tham dục và người
tham dục không phải một, không phải khác, vì cớ sao? Vì lìa
sự tham dục không thể có
được, lìa người
tham dục thì sự tham dục không thể có
được, nó chỉ
từ nhân duyên hòa hợp mà sanh, Pháp do nhân duyên hòa hợp
sanh tức là tự tánh không.
Như
vậy sự tham dục và người
tham dục khác nhau, là không thể có
được. Còn
nếu một thì giữa sự tham dục và người
tham dục không phân biệt
được. Các
nhân duyên như
vậy, tham dục sanh
là không thể có
được. Nếu
pháp ấy đã không sanh thì pháp ấy cũng không diệt. Vì không
sanh không diệt thời không định không loạn.
Quán tham dục cái
như
vậy cùng với thiền là một. Bốn triền cái khác cũng như
thế. Nếu rõ
được
thật tướng
các pháp, thời quán thấy năm triền cái
không có gì, khi ấy
liền biết thật tướng
của năm triền cái là
thật tướng
của thiền, thật tướng
của thiền là thật tướng
của năm triền cái.
Bồ-tát biết
được năm dục
và năm cái, thiền định và chi tướng
của thiền như
vậy không dựa vào đâu mà vào thiền định, ấy
là Thiền Ba-la-mật.
Lại
nữa, khi
Bồ-tát hành Thiền Ba-la-mật, có năm
Ba-la-mật kia hòa hợp giúp thành, ấy gọi
là Thiền Ba-la-mật.
Lại
nữa, do sức Thiền Ba-la-mật mà đắc thần thông, trong khoảnh
khắc một niệm
không khởi định, mà
có thể cúng dường
mười
phương
chư
Phật hương
hoa, trân bảo các thứ.
Lại
nữa, Bồ-tát
do sức Thiền Ba-la-mật, biến thân vô số khắp vào năm
đường,
lấy pháp Tam thừa giáo hóa
chúng sanh.
Lại
nữa, Bồ-tát
vào trong Thiền Ba-la-mật, trừ các ác bất thiện pháp mà vào Sơ
thiền cho đến Phi hữu tưởng phi vô
tưởng định.
Tâm điều hoà nhu thuận, trong mỗi thiền thực hành đại từ bi,
do nhân duyên từ bi, mà nhổ hết tội trong vô lượng
kiếp. Ðược
trí biết thật tướng
chư
pháp, nên
được
mười
phương
chư
Phật và đại Bồ-tát hộ niệm.
Lại
nữa, Bồ-tát
vào trong Thiền Ba-la-mật, dùng thiên nhãn quán chúng sanh
trong năm
đường
ở mười
phương,
thấy kẻ sanh trong sắc giới, thọ lạc của thiền định, trở lại
bị đọa vào loài cầm thú chịu đủ thứ khổ, lại thấy chư
thiên cõi Dục, tự vui thú với hương
hoa trong ao thất bảo, sau bị đọa vào địa ngục sôi mặn. Lại
thấy trong loài người
kẻ đa văn, thế trí biện thông, vì không đắc đạo nên trở lại
đọa vào loài heo dê súc thú,
không biết gì cả.
Những thân như
thế, mất hết các thú vui lớn, bị khổ lớn, mất lợi lớn, vị suy
lớn, mất hết tôn quý, bị ti tiện.
Ðối với các hạng
chúng sanh ấy mà sanh bi tâm, dần dần lớn rộng,
được thành
đại bi, không tiếc thân mạng, chỉ vì chúng sanh nên siêng tu
tinh tấn, để cầu Phật đạo.
Lại
nữa, không
loạn, không đắm trước
gọi là thiền Ba-la-mật. Như
Phật bảo Xá-lợi-phất: “Bồ-tát
trú trong Bát-nhã Ba-la-mật, thì đầy đủ Thiền Ba-la-mật, vì
không loạn, không vị vậy”.
Hỏi:
Sao
gọi là loạn?
Ðáp:
Loạn
có hai: Một là tế, hai là thô. Tế loạn có ba: 1- Ái nhiều,
2- Mạn nhiều, 3- Kiến nhiều.
Thế
nào là ái nhiều? Ðược
cái vui thiền định, tâm
ưa
tham ái nhiều.
Thế
nào là mạn nhiều? Khi được
thiền tự cho việc khó đã thành được,
để mà tự cao.
Thế
nào là kiến nhiều? Dùng ngã kiến mà vào thiền định. Phân biệt
chấp thủ tướng
cho đây là thật, ngoài ra là vọng ngữ. Ba điều ấy gọi là vi
tế loạn. Do nhân duyên đó mà thối thất thiền định, khởi lên
ba độc, ấy là thô loạn. Vị là khi mới được
thiền định một lòng
ưa
thích ấy là vị.
Hỏi:
Hết
thảy phiền não đều có thể làm ái nhiễm đắm trước,
sao chỉ gọi là ái vị?
Ðáp:
Ái
với thiền tương
tợ, vì cớ sao? Thiền thời nhiếp tâm kiên trụ, ái cũng chuyên
tham đắm khó bỏ. Lại khi mới cầu thiền, tâm chuyên muốn được.
Tánh của ái là ham muốn
ưa
vui, chuyên cầu mong tham muốn, cùng với thiền định
không trái nhau.
Ðã được
thiền định, nhiễm đắm không
bỏ, thì hoại thiền định , ví
như
bố thí vật cho người,
lại mong quả báo hiện tiền, thời không phước
đức; ở nơi
thiền yên thân, yêu đắm nơi
thiền, cũng lại như
thế. Thế nên chỉ lấy ái làm thời vị, không lấy các kiết sử
khác làm vị.
(Hết
cuốn 17 theo bản Hán)
--o0o --
Mục Lục
Tập 01
Cuốn 1
| 2
| 3
| 4
| 5
| 6
| 7
| 8
| 9
| 10
11
| 12
| 13
| 14
| 15
| 16
| 17
| 18
| 19
| 20
--o0o --
Mục Lục Tổng Quát Luận Đại Trí Độ
Tập 01
|
Tập 02
|
Tập 03
|
Tập 04
|
Tập 05
--o0o --
Cập nhật: 01-07-2003