---o0o---
Cuốn 15
GIẢI THÍCH:
SẰN-ÐỀ BA-LA-MẬT PHÁP NHẪN
Sao
gọi là pháp nhẫn?
Nhẫn
đối với chúng sanh cung kính cúng dường
và đối với các người
phiền não, dâm dục; ấy gọi là Sanh nhẫn. Nhẫn đối với pháp
cung kính cúng dường
và pháp phiền não, dâm dục; ấy gọi là Pháp nhẫn.
Lại
nữa, Pháp nhẫn là trong không đắm sáu căn, ngoài không thọ sáu
trần. Ðối với hai thứ đó không khởi tâm phân biệt, vì sao?
Vì tướng
trong như
ngoài, tướng
ngoài như
trong, cả hai tướng
đều không thể có được
(bất khả đắc), vì là nhất tướng,
vì là nhân duyên hợp, vì là nó thật không, vì là hết thảy pháp
tướng
thường
thanh tịnh, vì là như
tánh tướng
pháp chơn
tế, vì là bất nhị thập, tuy không hai cũng không một. Quán
các pháp như
vậy, tâm tin chắc không lay chuyển, ấy gọi là nhẫn. Như
trong kinh Tỳ-ma-la-cật nói: ”Bồ-tát Pháp-Trụ nói: Sanh và
diệt là hai, bất sanh bất diệt là nhập pháp môn bất nhị. Cho
đến Văn-thù-thi-lỵ nói: “Không nghe, không thấy, tất cả tâm
duyệt, không thuyết, không nói là nhập pháp môn bất nhị.
Tỳ-ma-la-cật thì im lặng không nói. Các Bồ-tát tán thán:
“Lành thay! Lành thay! Ấy thật là nhập pháp môn bất nhị”.
Lại
nữa, hết thảy pháp có hai: 1- Chúng sanh, 2- Các pháp.
Bồ-tát nhẫn đối với chúng sanh, như
trước
đã nói. Nay nói nhẫn đối với pháp. Pháp có hai là: Tâm pháp
và phi tâm pháp. Trong phi tâm pháp có nội có ngoại. Ngoại
có rét, nóng, gió, mưa
v.v... Nội có đói, khát, già, bệnh, chết, v.v... Các thứ như
vậy gọi là phi tâm pháp. Trong tâm pháp có hai: 1-Sân nhuế,
ưu
sầu, nghi, v.v... 2- Dâm dục, kiêu mạn, v.v... Hai thứ đó gọi
là tâm pháp. Bồ-tát đối với hai pháp đó, an nhẫn không lay
động, ấy gọi là Pháp nhẫn.
Hỏi:
Ðối
với chúng sanh hoặc làm họ sân hận, làm não hại mạng họ thì
mắc tội, nếu thương
xót họ thì
được
phước.
Còn đối với lạnh, nóng, gió, mưa
... không có làm tăng hay tổn gì ai, vì sao mà phải nhẫn?
Ðáp:
Tuy
không tăng hay tổn, song tự mình sanh não loạn
ưu
khổ thì sẽ làm hại Bồ-tát đạo, vì vậy nên phải nhẫn.
Lại
nữa, không phải chỉ sát hại bức não chúng sanh nên mắc tội, mà
vì ác tâm làm nhân duyên nên mắc tội. Vì sao? Vì tuy giết
chúng sanh mà tâm vô ký, là không mắc tội, thường
nghĩ tới chúng sanh, tuy không cho gì mà rất
được
phước.
Lạnh, nóng, gió, mưa...
tuy không làm tăng tổn, nhưng
vì ác ý cho nên mắc tội. Do vậy, nên phải nhẫn.
Lại
nữa, Bồ-tát tự biết do nhân duyên của tội đời trước
nên sanh vào chỗ khổ này. Ấy là do ta làm, ta nên tự chịu.
Suy nghĩ như
vậy, cho nên hay nhẫn.
Lại
nữa, Bồ-tát suy nghĩ: “Quốc độ có hai thứ: Có thứ tịnh, có
thứ không tịnh. Bồ-tát nếu sanh vào trong Quốc độ không tịnh,
chịu cay đắng, đói rét các khổ, thì tự phát lời nguyện thanh
tịnh rằng: “Khi ta thành Phật, trong Quốc độ không có các thứ
khổ ấy...”. Như
vậy, quốc độ đây tuy không tịnh, nhưng
mà có lợi cho ta.
Lại
nữa, Bồ-tát suy nghĩ: “Tám pháp của thế gian, Hiền Thánh còn
không thể tránh
được,
huống gì là ta?” Do vậy, phải nên nhẫn.
Lại
nữa, Bồ-tát suy nghĩ: “Biết thân người
đây không bền, không mạnh, bị già bệnh chết đuổi theo. Tuy
lại còn có thân trời thanh tịnh, không già không bệnh, nhưng
lại đắm mê thú vui cõi trời thì cũng giống như
người
say, không thể tu hành phứơc
đức Thánh đạo, xuất gia lìa dục. Vì vậy nên đối nhân thân này
tự gắng nhẫn nhục tu phứơc,
lợi ích chúng sanh”.
Lại
nữa, Bồ-tát suy nghĩ: “Ta thọ xác thân tứ đại ngũ uẩn này, tất
phải chịu phần thống khổ. Không ai có thọ thân mà không khổ.
Giàu sang, nghèo hèn, xuất gia, tại gia, ngu trí, sáng tối,
không ai khỏi khổ
được,
vì sao? Vì người
giàu sang thường
hay sợ hãi, thủ hộ tài vật; giống như
dê béo, phải sớm đến máy đồ tể; như
Quạ tha miếng thịt, cả bầy Quạ đuổi theo. Người
nghèo hèn thì có cái khổ đói rét; người
xuất gia, đời nay tuy khổ mà đời sau hưởng
phước
đắc đạo. Người
tại gia, đời nay tuy vui, mà đời sau chịu khổ. Người
ngu lúc đầu cầu cái vui đời này, nhưng
khi vô thường
đối mặt đến, sau lại phải chịu khổ. Người
trí lúc đầu suy nghĩ về cái khổ vô thường,
sau lại
được
thọ vui. Như
vậy, người
đã có thọ thân, chẳng ai không khổ”. Cho nên Bồ-tát phải nên
thực hành nhẫn nhục.
Lại
nữa, Bồ-tát suy nghĩ: “Hết thảy thế gian đều khổ, làm sao ta ở
trong đó mà lại cầu vui
được?”
Lại
nữa, Bồ-tát suy nghĩ: “Ta ở trong vô lượng
kiếp, thường
chịu các khổ, mà không có lợi ích gì, chưa
từng vì pháp, ngày nay vì chúng sanh, mà cầu Phật đạo, tuy có
chịu khổ này, song sẽ
được
lợi lớn”. Thế nên đối với các khổ trong, ngoài, đều nên nhẫn
chịu.
Lại
nữa, Bồ-tát đại tâm thề nguyện rằng: “Nếu gặp cái khổ ở Vô
gián địa ngục mà ta còn phải nhẫn, huống chi cái khổ nhỏ mà
không thể nhẫn sao? Nếu khổ nhỏ không nhẫn
được
làm sao nhẫn
được
khổ lớn? Như
vậy nhẫn
được
các pháp bên ngoài, gọi là Pháp nhẫn.
Hỏi:
Làm
sao nhẫn
được
tâm pháp bên trong?
Ðáp:
Bồ-tát
suy nghĩ: “Ta tuy chưa
đắc đạo, các kiết sử chưa
dứt, nếu không nhẫn thì chẳng khác gì phàm phu, chẳng phải là
Bồ-tát”. Lại tự suy nghĩ: “Nếu ta đắc đạo, các kiết sử chưa
dứt hết, thời không còn có pháp chi để nhẫn”.
Lại
nữa, đói khát, lạnh nóng là ma quân bên ngoài; kiết sử, phiền
não là Ma tặc bên trong. Hãy phá hai tên quân đó để thành
Phật đạo. Nếu không như
vậy thời Phật đạo không thành. Như
nói trong khi Phật tu khổ hạnh sáu năm, Ma vương
đến nói” “Quý nhân giòng Sát-lợi, trong ngàn phần sanh của ngươi
chỉ còn có một phần sống! Mau mau đứng dậy trở về trong nước,
bố thí tu phước,
thì có thể
được
cái vui ở cõi người
cõi trời, đời này và đời sau. Ðạo không thể nào đắc, ngươi
chỉ luống công cần khổ. Nếu ngươi
không chịu nghe lời dịu ngọt, cố thủ sự u mê không đứng dậy,
thì ta đem đoàn đại quân đến đánh phá ngươi”.
Bồ-tát nói: Ta nay còn phá cả đội quân sức mạnh bên trong của
ngươi,
huống là đội quân bên ngoài?” Ma nói: “ Những gì là đội
quân bên trong của ta?” Bồ-tát đáp:
“Dục
là quân đầu của ngươi,
Ưu
sầu là quân thứ hai,
Ðói khát là quân thứ ba,
Khát ái là quân thứ tư,
Ngủ nghỉ là quân thứ năm,
Sợ
hãi là quân thứ sáu,
Nghi hối là quân thứ bảy,
Sân nhuế là quân thứ tám,
Lợi dưỡng,
hư
danh chín,
Tự
cao, kiêu mạn mười,
Các tên quân như
vậy,
Chán ghét người
xuất gia,
Ta
dùng sức thiền, trí,
Phá quân ấy của ngươi,
Ðược
thành Phật đạo rồi,
Ðộ
thoát hết mọi người”.
Bồ-tát tuy chư
athể các thứ quân ấy, nhưng
mặc áo giáp nhẫn nhục, cầm gươm
trí tuệ, cầm cái thuẩn thiền định, chặn các mũi tên phiền não,
ấy gọi là nội nhẫn.
Lại
nữa, Bồ-tát nên tu nhẫn đối với các phiền não, không nên dứt
kiết sử, vì sao? Vì nếu dứt kiết sử, thì bị mất mát rất
nhiều, bị rơi
vào con
đường
A-la-hán, không khác gì người
mà các căn bại liệt. Cho nên ngăn đỡ kiết sử mà không dứt.
Do tu nhẫn nhục, không theo kiết sử.
Hỏi:
Làm
sao kiết sử chưa
đứt mà không theo nó
được?
Ðáp:
Nhờ
Chánh tư
duy nên tuy có phiền não mà không theo nó.
Lại
nữa, nhờ tư
duy quán sát tướng
không, vô thường,
nên tuy có năm dục tốt đẹp, mà không sanh các kiết sử; ví như
Quốc vương
có một đại thần, tự che dấu tội, không người
nào biết. Vua bảo: “Ngươi
hãy chọn lấy một con dê béo mà không có mỡ đem lại đây, nếu
không
được
sẽ bắt tội ngươi”.
Vị đại thần có trí, cột một con dê lớn, khéo nuôi bằng cỏ,
lúa, song mỗi ngày cho ba con chó sói đến khủng bố, dê tuy
được
nuôi béo mà không mỡ. Khi dắt đến cho vua, vua sai người
giết, quả là béo mà không mỡ. Vua hỏi: “Làm sao
được
như
vậy?” Ðại thần đáp lại việc trên. Bồ-tát cũng như
vậy, vì do thấy chó sói vô thường,
khổ, không, nên làm cho mỡ các kiết sử phải tiêu, mà thịt các
công đức thì béo.
Lại
nữa, Bồ-tát do vô lượng
phước
báo công đức, nên tâm
được
nhu nhuyến, các kiết sử mỏng, dễ tu nhẫn nhục. Ví như
sư
tử chúa rống ở giữa rừng, có người
trông thấy, cúi đầu cầu xin, thời nó thả cho đi, nhưng
cọp beo là vật nhỏ, thì không thể thả như
vậy, vì sao? Vì sư
tử chúa là loài thú quý, có trí phân biệt , còn cọp beo là
loài trùng hèn, không biết phân biệt. Lại như
quân bại trận, gặp
được
đại tướng
thời sống, gặp phải tiểu binh thời chết.
Lại
nữa, Bồ-tát công đức trí tuệ lực quán sự sân nhuế có các điều
xấu ác, quán sự nhẫn nhục có các thứ công đức, cho nên hay
nhẫn các kiết sử.
Lại
nữa, tâm Bồ-tát có trí lực, hay dứt kiết sử, vì chúng sanh nên
trụ lâu tại thế gian. Biết kiết sử là giặc, cho nên nhẫn mà
không theo. Bồ-tát trói giặc kiết sử ấy lại, không cho phóng
túng, mà lo tu công đức. Ví như
có giặc, vì có nhân duyên nên không giết, chỉ nhốt kỹ một nơi
mà tự tu tập sự nghiệp.
Lại
nữa, Bồ-tát nhờ thật biết tướng
các pháp, nên không cho các kiết sử là xấu, không cho các công
đức là tốt, cho nên đối với kiết sử không sân, đối với công
đức không ái. Do trí lực ấy nên hay tu nhẫn nhục, như
kệ nói:
“Bồ-tát đoạn trừ các bất thiện,
Cho đến vi tế, dứt không còn,
Phước đại công đức
không có lượng,
Sự nghiệp tạo tác đều thành tựu.
Bồ-tát nhờ sức đại trí tuệ,
Nên các kiết sử không não hại.
Cho nên biết được
các pháp tướng.
Sanh tử Niết-bàn một không hai.”
Do
các nhân duyên như
vậy, tuy chưa
đắc đạo, mà có thể nhẫn đối với các pháp phiền não; ấy gọi là
Pháp nhẫn.
Lại
nữa, Bồ-tát đối với hết thảy pháp, biết là một tướng
không hai. Hết thảy pháp đều là pháp có tướng
khả thức, cho nên nói một. Nhãn thức thức sắc cho đến ý thức
thức pháp, ấy là pháp có tướng
khả thức, cho nên nói một.
Lại
nữa, hết thảy pháp có tướng
khả tri, cho nên nói một. Khổ pháp trí, khổ tỷ trí (khổ loại
trí), biết Khổ đế. Tập pháp trí, tập tỷ trí, biết Tập đế.
Diệt pháp trí, diệt tỷ trí, biết Diệt đế. Ðạo pháp trí, đạo
tỷ trí, biết Ðạo đế. Và thế trí thiện cũng biết được
Khổ, Tập, Diệt, Ðạo và hư
không, chẳng phải là trí duyên Diệt đế. Ấy là pháp có tướng
khả tri cho nên nói một.
Lại
nữa, hết thảy pháp có tướng
khả duyên, cho nên nói một. Nhãn thức và pháp tương
ưng
với nhãn thức duyên sắc, nhĩ thức, thiệt thức, thân thức cũng
như
vậy. Ý thức và pháp tương
ưng
với ý thức cũng duyên nhãn, cũng duyên sắc, cũng duyên nhãn
thức, cho đến duyên ý, duyên pháp, duyên ý thức. Hết thảy
pháp có tướng
khả duyên, cho nên nói một.
Lại
nữa, hết thảy pháp đều là một, một lại có một gọi là hai, ba
lần gọi là ba. Như
vậy cho đến ngàn, vạn cũng đều là một mà giả gọi là ngàn, vạn.
Lại
nữa, hết thảy pháp có tướng,
cho nên nói một. Do một tướng
gọi là một. Hết thảy vật gọi là pháp. Hết thảy vật gọi là
pháp, tướng
của pháp gọi là một. Do vô lượng
nhất môn như
vậy, nên phá tướng
khác, không đắm tướng
một, ấy gọi là pháp nhẫn.
Lại
nữa, Bồ-tát quán hết thảy pháp là hai. Thế nào là hai? Hai
là tướng
trong và tướng
ngoài. Vì có tướng
trong ngoài, nên tướng
trong chẳng phải ngoài, tướng
ngoài chẳng phải trong.
Lại
nữa, hết thảy pháp hữu tướng,
vô tướng
cho nên là hai. Không, bất không; thường,
phi thường;
ngã, phi ngã; sắc, phi sắc; thấy được,
không thấy được;
có đối ngại, không đối ngại; hữu lậu, vô lậu; hữu vi, vô vi;
tâm pháp, phi tâm pháp; tâm số pháp, phi tâm số pháp; pháp tương
ưng
với tâm, pháp không tương
ưng
với tâm. Do vô lượng
nhị môn như
vậy, nên phá tướng
một, không đắm tướng
hai; ấy gọi là Pháp nhẫn.
Lại
nữa, Bồ-tát quán hết thảy pháp là ba. Thượng,
trung, hạ; thiện, bất thiện, vô ký; có, không, chẳng phải có
chẳng phải không; kiến đế đoạn, tư
duy đoạn, không đoạn; học, vô học, phi học phi vô học; quả
báo, có quả báo, chẳng phải quả báo chẳng phải có quả báo. Do
vô lượng
tam môn như
vậy, nên phá tướng
một, không đắm tuớng khác; ấy gọi là Pháp nhẫn.
Lại
nữa, Bồ-tát tuy chưa
được
vô lậu đạo, kiết sử chưa
dứt, mà có thể tin Thánh pháp vô lậu, và ba pháp ấn: Một là
pháp ấn: hết thảy pháp hữu vi sanh đều vô thường.
Hai là pháp ấn: hết thảy pháp vô ngã. Ba là pháp ấn: Niết-bàn
chơn
thật. Bậc Hiền Thánh đắc đạo, tự được
tự biết. Bồ-tát tuy chưa
đắc đạo, mà có thể tin và thọ; ấy gọi là Pháp nhẫn.
Lại
nữa, đối với mười
bốn pháp nạn vấn không đáp. Có thường
hay không thường,
v.v... quán sát không ngăn ngại, không mất trung đạo, hay nhẫn
được
pháp ấy; gọi là Pháp nhẫn. Như
có một Tỳ-kheo đối với mười
bốn pháp nạn vấn ấy, tư
duy quán sát, không thể thông đạt được
nên tâm không nhẫn được,
mới ôm y bát đi đến chỗ Phật, bạch Phật rằng: “Phật có thể
giải mười
bốn nạn vấn này cho con, khiến cho con được
hiểu rõ, thì con sẽ làm đệ tử, nếu không thể hiểu rõ, thì con
sẽ đi tìm đạo khác”. Phật dạy: ”Người
ngu! Ông có từng
ước
hẹn với Ta, nếu Ta đáp mười
bốn nạn vấn thì ông làm đệ tử Ta chăng?” Tỳ-kheo nói: “Bạch
Thế Tôn, không!” Phật nói: ”Ông là người
ngu, sao nay lại nói nếu không đáp cho con, con sẽ không làm
đệ tử? Ta vì người
già, bệnh, chết mà thuyết pháp tế độ cho họ. Mười
bốn nạn vấn ấy là pháp đấu tranh, không ích chi đến Chánh
pháp, chỉ là hý luận, hỏi để làm chi? Nếu đáp cho ông, tâm
ông không rõ, đến chết vẫn không hiểu, vẫn không thoát được
sanh, già, bệnh, chết. Ví như
có người,
thân bị tên độc, bà con mời thầy thuốc để rút mũi tên, người
ấy bèn nói: “Chưa
được
rút mũi tên, trước
tiên phải nói cho tôi biết họ, tên, thân lý, cha mẹ, tuổi tác
người
bắn; tôi lại muốn biết mũi tên xuất từ núi nào, cây gì, lông
gì, bịt nhọn mũi tên là người
nào, làm bằng sắt gì, lại muốn biết chiếc cung làm bằng cây ở
núi nào, sừng con chi, rồi lại muốn biết cây thuốc sanh ở chỗ
nào, tên chủng loại gì? Những việc như
vậy tôi cần biết rõ tất cả, sau tôi mới cho người
rút mũi tên và xức thuốc”. Phật hỏi Tỳ-kheo: “Người
kia có thể cho biết hết mọi việc ấy, sau mới cho rút mũi tên
ư?”
Tỳ-kheo thưa:
“Không thể biết được.
Nếu chờ cho biết hết, thời đã chết mất rồi!” Phật nói: ”Ông
cũng như
vậy, bị mũi tên tà kiến, bôi thứ thuốc độc ái, đã thấm vào tâm
ông, trước
vì mũi tên ấy nên làm đệ tử Ta, nhưng
nay lại không muốn nhổ mũi tên, chỉ muốn tìm biết hết thế gian
là thường
hay vô thường,
hữu biên hay vô biên v.v... tìm biết chưa
được
thì đã mất tuệ mạng, chết như
súc sanh, tự rơi
vào tối tăm!” Tỳ-kheo hổ thẹn, biết sâu lời Phật, liền
chứng được
đạo quả A-la-hán.
Lại
nữa, Bồ-tát muốn làm người
Nhất thiết trí, nên suy tìm hết thảy pháp, biết thật tướng
của nó, đối trong mười
bốn nạn vấn không trệ, không ngại, biết nó là bệnh nặng của
tâm, nên thoát ra được,
nhẫn được;
ấy gọi là Pháp nhẫn.
Lại
nữa, Phật pháp thậm thâm, thanh tịnh vi diệu, diễn bày vô lượng
các thứ pháp môn, mà có thể nhất tâm tín thọ, không nghi,
không hối; ấy gọi là Pháp nhẫn. Như
Phật đã dạy: “Các pháp tuy không, cũng không đoạn, cũng không
diệt. Các pháp nhân duyên tương
tục sanh cũng chẳng phải thường.
Các pháp tuy vô ngã, mà cũng không mất tội phước.
Chỉ trong khoảnh khắc một niệm của tâm mà các pháp, các căn,
các tuệ nơi
thân chuyển diệt không ngừng, chẳng kịp đến niệm sau, cứ đổi
mới sanh diệt, cũng không mất nghiệp nhân duyên của vô lượng
đời. Tuy trong năm uẩn, mười
tám giới, mười
hai nhập đều không, vô ngã, mà chúng sanh vẫn luân chuyển
trong năm đường
chịu sanh tử. Ðối với các pháp thậm thâm vi diệu như
vậy, tuy chưa
đắc Phật đạo, mà có thể tin thọ, không nghi, không hối; ấy là
Pháp nhẫn.
Lại
nữa,
A-la-hán, Bích-chi Phật vì sợ sanh
tử xấu ác mà cầu vào Niết-bàn, còn Bồ-tát tuy chưa
được
thành Phật, mà muốn cầu Nhất thiết trí, và thương
xót chúng sanh muốn phân biệt rõ ràng thật tướng
các pháp. Nhẫn được
việc này, gọi là Pháp nhẫn.
Hỏi:
Làm
sao quán được
thật tướng
các pháp?
Ðáp:
Quán
các pháp không có tỳ vết, lỗ hổng, không thể phá, không thể
hoại, ấy là thật tướng.
Hỏi:
Tất
cả lời nói, đều có thể đáp, có thể phá, có thể hoại; tại sao
lại nói không thể phá hoại, ấy là thật tướng?
Ðáp:
Vì
các pháp không thể phá, nên trong Phật pháp tất cả đường
ngôn ngữ đều vượt
qua, chỗ tâm đi qua đều dứt bặt, thường
bất sanh bất diệt, như
tướng
Niết-bàn, vì sao? Vì nếu các pháp tướng
là thật có, thời lúc sau chẳng nên không có, nếu các pháp trước
có mà nay không, tức là đoạn diệt.
Lại
nữa, các pháp chẳng phải là thường,
vì sao? Vì nếu thường
tức không có tội, không có phước,
không có sát thương,
cũng không có thí cho mạng sống, cũng không có lợi ích tu
hành, cũng không triền phược,
không giải thoát, thế gian là Niết-bàn. Do nhân duyên như
vậy, các pháp chẳng phải thường.
Nếu các pháp là vô thường
thời là đoạn diệt, cũng không có tội, không có phước,
cũng không thêm bớt, các nghiệp nhân duyên quả báo đều mất.
Do nhân duyên như
vậy, các pháp chẳng phải vô thường.
Hỏi:
Ông
nói trong Phật pháp thường
cũng chẳng thật, vô thường
cũng chẳng thật, sự ấy không đúng, vì sao? Vì trong Phật pháp
thường
cũng thật, vô thường
cũng thật. Thường
là thường
duyên diệt đế, phi thường
thường
duyên diệt đế, chẳng thường
thường
duyên diệt đế, hư
không, không sanh, không trụ, không diệt, ấy là tướng
thường.
Tướng
vô thường
là, năm uẩn sanh, trụ, diệt là tướng
vô thường,
vì sao ông nói thường
và vô thường
đều chẳng thật?
Ðáp:
Thánh
nhân có hai lối nói: 1- Nói phương
tiện. 2- Nói thẳng. Nói phương
tiện là vì người,
vì nhân duyên. Vì người
là vì chúng sanh mà nói là thường,
là vô thường,
như
trong đoạn “Ðối trị Tất Ðàn” đã nói: “Nếu nói vô thường
là vì muốn cứu chúng sanh khỏi đắm say trong cái vui ba cõi.
Phật suy nghĩ nên lấy pháp gì để khiến chúng sanh được
xa lìa dục, cho nên mới nói các pháp là vô thường”,
như
kệ nói:
“Nếu quán pháp vô sanh,
Ðối pháp sanh được lìa,
Nếu quán pháp vô vi,
Ðối hữu vi được lìa.”
Thế
nào là sanh? Sanh là nhân duyên hòa hợp, vô thường,
không tự tại, thuộc nhân duyên, có tướng
già, bệnh, chết, tướng
hư
dối, tướng
phá hoại; ấy gọi là sanh. Sanh là pháp hữu vi. Như
trong Ðối trị Tất Ðàn nói: “Thường
và vô thường
đều chẳng phải là tướng
thật, vì cả hai đều sai lầm”. Nếu nói các pháp chẳng phải hữu
thường,
chẳng phải vô thường,
ấy là lối lý luận ngu si, vì cớ sao? Vì nếu chẳng phải có
thời phá không, nếu chẳng phải không thời phá có, nếu phá cả
hai sự ấy, thì còn có pháp gì nữa để nói?
Hỏi:
Trong Phật pháp thường
nói không tướng,
chẳng có chẳng không. Không để trừ có, không không để ngăn
không, ấy là chẳng có, chẳng không; sao lại cho là lý luận ngu
si?
Ðáp:
Thật
tướng
chẳng phải có, chẳng phải không, theo trong Phật pháp nói là
không lãnh thọ, không chấp trước.
Còn chẳng phải có, chẳng phải không của ông nói là có lãnh
thọ, có chấp trước,
nên cho là lý luận ngu si. Nếu nói: “Chẳng phải có, chẳng
phải không” thế là có thể nói, có thể phá, là chỗ tâm sanh
khởi, là chỗ đấu tránh. Phật pháp thời không như
vậy. Tuy theo nhân duyên mà nói: “chẳng phải có, chẳng phải
không “ Nhưng
không sanh tâm chấp trước,
không sanh tâm chấp trước
nên không thể hoại, không thể phá. Các pháp hoặc hữu biên,
hoặc vô biên, hoặc vừa hữu biên vừa vô biên, hoặc chẳng phải
hữu biên vô biên, hoặc còn có đi sau khi chết, hoặc không còn
có đi sau khi chết, hoặc vừa có đi vừa không đi sau khi chết,
hoặc chẳng phải có đi chẳng phải không đi sau khi chết, thân
xác là phần hồn, hoặc thân xác khác phần hồn khác, cũng như
vậy, đều chẳng thật. Quán các pháp theo như
trong sáu mươi
hai kiến chấp cũng đều chẳng thật, khước
trừ hết thảy những điều như
vậy, tin Phật pháp là tướng
thanh tịnh bất hoại, tâm không hối hận, không lay chuyển; ấy
gọi là Pháp nhẫn.
Lại
nữa, hữu vô nhị biên, quán các pháp khi sanh, khi trụ, thời là
tướng
hữu kiến. Quán các pháp khi già, khi hoại thời là tướng
vô kiến. Chúng sanh trong ba cõi phần nhiều đắm trước
vào hai kiến đó. Cả hai thứ pháp ấy hư
dối không thật. Hữu tướng
thời chẳng phải vô, vì sao? Vì nay không trước
có là rơi
vào đoạn diệt, nếu đoạn diệt thời là không đúng.
Lại
nữa, hết
thảy các pháp, do danh tự hoà hợp, nên mới gọi đó là có. Do
vậy, pháp do danh tự hoà hợp sanh là pháp chẳng thể có được
(bất khả đắc).
Hỏi:
Pháp
do danh tự
hoà hợp sanh, tuy chẳng thể có được,
song vẫn có danh tự hoà hợp?
Ðáp:
Nếu
không có pháp, thì
danh tự hoà hợp vì
cái gì? Thế ấy là không danh tự.
Lại
nữa, nếu các
pháp thật có, thời không phải cần do tâm thức biết nên mới có,
thế thời chẳng phải có. Như
tướng
cứng của đất, do thân căn, thân thức biết nên mới có. Nếu
không có thân căn, thân thức biết thời không có tướng
cứng.
Hỏi:
Thân
căn, thân thức, hoặc biết, hoặc không biết, thì đất vẫn thường
là tướng
cứng?
Ðáp:
Ðó
là do trước
đã tự biết có tướng
ấy, hoặc do người
khác nói mà biết là có
tướng
cứng. Nếu trước
không tự biết, không nghe người
nói, thời không có
tướng
cứng.
Lại
nữa, đất thường
là tướng
cứng, thời không nên bỏ tướng
đó, như
sữa đặc, sáp ong, nhựa cây, gặp khí nóng tan ra thời bỏ tướng
cứng mà trở thành tướng
ướt;
vàng, bạc, đồng, v.v... sắt cũng như
vậy. Như
nước
là tướng
lỏng
ướt
gặp khí lạnh thời chuyển thành tướng
đặc cứng. Như
vậy, các thứ đều là xả bỏ tướng.
Lại
nữa, các luận nghị sư
có thể khiến có thành không, khiến không thành có. Các bậc
Hiền Thánh, người
tọa thiền, có thể khiến đất thành nước,
nước
thành đất. Nh