---o0o---
Cuốn 10
KINH: Phật Bảo Tích trả lời
Phổ Minh rằng: "Thiện nam tử! Qua khỏi thế giới nhiều như cát
sông Hằng ở về phương Tây, có một thế giới tên là Ta-bà, trong
ấy có Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni, hiện nay muốn thuyết
Bát-nhã Ba-la-mật cho các Bồ-tát Ma-ha-tát, ấy là thần lực của
Ngài".
LUẬN: Hỏi:
Phật cũng như núi Tu-di, không bị
sóng nước biển cả lay động, nay vì sao đáp lời Phổ Minh hỏi?
Ấy là tướng lay động? Nhiếp tâm thời không nói, tán tâm thời
có nói. Nói pháp là từ giác quán phát sinh. Giác quán là việc
thô, Phật không nên có việc thô ấy?
Ðáp:
Phật tuy đã nhập sâu thiền định,
không bị thế sự làm động. Nay vì tâm đại từ bi thương xót
chúng sanh, mà thuyết pháp đoạn trừ nghi ngờ cho họ. Như núi
chúa Tu-di, gió nhỏ không thể lay động, nếu có gió Tùy-lam
thổi đến thời mới rung động mạnh. Phật cũng vậy, khi có ngọn
gió đại từ bi thổi đến thời vì thương xót mà tâm động, phân
tán thân ra vô số đi vào năm đạo để giáo hóa chúng sanh, hoặc
làm thân trời cho đến thân súc sanh.
Lại nữa, thật sự Phật không
động, Ngài thường nhập định, do nhân duyên phước đứùc đời
trước, mà toàn thân phát ra tiếng, ứng tiếp các vật như tiếng
vang, cũng như nhạc trời tự dưng phát ra tiếng. Lại như ngọc
Ma-ni, tùy theo người muốn gì cho nấy. Nếu muốn áo mặc, uống
ăn, thuốc thang, tùy ý cần dùng, tự nhiên đều có được. Phật
cũng như thế, từ trong lỗ chân lông kia, trên thân Ngài tự
nhiên có tiếng, tùy tâm thuyết pháp, trong ấy Phật không hề
nghĩ tưởng, cũng không phân biệt.
Như trong kinh Thuyết-mật-tích
Kim-cang nói: "Phật có ba sự bí mật là thân mật , ngữ mật, ý
mật. Tất cả chư thiên, loài người đều không hiểu, không biết".
Trong một hội chúng sanh, mà
hoặc có người thấy thân Phật sắc hoàng kim, sắc bạch ngân, các
tạp sắc. Có người thấy thân Phật cao một trượng sáu thước.
Hoặc thấy một dặm, mười dặm, trăm ngàn vạn ức, cho đến vô biên
vô lượng khắp cả hư không như thế v.v... gọi là thân mật.
Về ngữ mật là, có người nghe âm
thanh của Phật tỏa xa một dặm, có người nghe mười dặm, trăm
ngàn vạn ức vô số vô lượng khắp cả hư không. Trong một hội
chúng mà hoặc có người nghe thuyết về bố thí, có người nghe
thuyết về trì giới, có người nghe thuyết về nhẫn nhục, tinh
tấn, thiền định, trí tuệ. Như vậy cho đến mười hai bộ kinh,
tám vạn pháp tụ, mỗi mỗi tùy tâm mà nghe, ấy gọi là ngữ mật.
Bấy
giờ Mục-liên tâm suy nghĩ muốn biết âm thanh của Phật gần hay
xa, liền dùng sức Thần túc của mình đi qua ngàn vạn ức thế
giới Phật mới dừng nghỉ, vẫn nghe âm thanh Phật cũng như ở gần
không khác. Nơi thế giới dừng chân ấy, đang là bữa ăn của Phật
và đại chúng, người cõi này thấy Mục-liên ôm bình bát đứng,
các đệ tử của Phật này hỏi Phật của họ rằng: "Người này đầu
như con sâu từ đâu đến, lại khoác áo Sa-môn mà đi vậy?" Phật
này trả lời: "Chớ khinh người ấy. Ở về phương đông, qua khỏi
vô lượng Phật thế giới, có Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni, người
ấy là đệ tử có Thần túc của Phật ấy". Phật này lại hỏi:
"Mục-độ-già-lược-tử (Moudgalyaya-na)! Sao ông lại đến đây?"
Mục-liên thưa: "Con vì tìm âm thanh của Phật, cho nên
đến đây". Ð?c Phật bảo Mục-liên: "Ông tìm âm thanh của Phật,
qua vô lượng ức kiếp, cũng không thể tìm ra được biên tế của
nó".
Lại nữa, Phật ra đời là để dứt
bỏ nghi ngờ cho chúng sanh, cho nên thuyết pháp cho họ. Ðiều
ấy không nên gạn hỏi. Ông không nên hỏi mặt trời tại sao lại
trừ bóng tối? Phật cũng như vậy, không nên hỏi Phật vì sao mà
trả lời.
Hỏi:
Các Phật giác ngộ bằng nhau nên gọi
là Ðẳng giác. Nay vì sao bảo đó là thần lực của Phật kia?
Ðáp:
Chỉ cho thấy là không có tôi, ta,
kia, đây; vì để diệt tật đố, kiêu mạn vậy.
Lại nữa, thế giới có được các
vị trời, thường mong cầu sự tôn trọng hơn cả, vì kiêu mạn mà
tự nói rằng: Trời, đất, người, vật đều do ta biến hóa ra. Như
Phạm-thiên vương nói với các Phạm-thiên rằng: "Ta tạo ra các
ngươi". Trời Tỳ-nữu (Virnu) nói: "Ở thế gian mà có kẻ rất giàu
sang danh tiếng, đều là một phần sức mạnh oai đức của thân ta.
Ta có thể thành tựu thế gian, cũng có thể phá hoại thế gian.
Oai đức thế gian đều do ta làm". Vì có các trời như vậy nên họ
phá pháp tướng nhân duyên. Cho nên nói đó là thần lực của Phật
kia.
KINH: Bấy giờ Phổ Minh
Bồ-tát bạch Phật Bảo Tích rằng: "Bạch Thế Tôn! Con nay sẽ đến
thăm Phật Thích-ca Mâu-ni để lễ bái cúng dường, và thăm các vị
đại Bồ-tát là những vị kế thừa tôn vị, đều đã chứng được
Ðà-la-ni và các Tam muội, ở trong các Tam muội đều được
tự tại.
LUẬN: Hỏi:
Sự trì giới, thiền định, trí tuệ và
độ người của chư Phật đều như nhau, Bồ-tát Phổ-Minh ấy tại sao
còn muốn đến thăm Phật Thích-ca Mâu-ni?
Ðáp:
Các Bồ-tát thường muốn thăm Phật
không biết nhàm chán, nghe pháp không biết nhàm chán , thấy
các Bồ-tát không biết nhàm chán. Các Bồ-tát đều nhàm chán đối
với pháp thế gian, mà đối với ba việc trên, tâm không hề biết
nhàm chán.
Như Thủ cư sĩ từ trên cõi trời
Tịnh-cư, đi đến muốn thấy Phật, nhưng vì thân ông quá vi tế,
giống như sữa lỏng không tụ lại trên mặt đất. Phật nói với Thủ
cư-sĩ rằng: "Ông hãy hóa làm thân thô, quán sắc tướng của mặt
đất này", Cư sĩ liền như lời Phật dạy, hóa làm thân thô, quán
niệm tướng đất, rồi đầu mặt lễ chân Phật, đứng qua một bên,
Phật hỏi cư sĩ: "Ông có bao nhiêu việc
không nhàm chán mà được sanh trong cõi trời Tịnh-cư?"
Bạch rằng: "Con có ba sự không nhàm
chán mà được sanh lên cõi trời Tịnh-cư: 1- Thấy Phật để
cúng dường không nhàm chán. 2- Nghe
pháp không nhàm chán. 3- Cung cấp cho chúng Tăng không nhàm
chán. Cũng như lúc Phật ở tại Diêm-phù-đề, bốn bộ chúng thường
đi theo Phật để nghe pháp, hỏi pháp. Chư thiên Tịnh-cư chúng
con cũng thường theo con để nghe pháp, hỏi pháp".
Hàng
Thanh-văn còn nghe pháp không biết nhàm chán, huống hàng
Bồ-tát pháp tánh thân, vì cớ sao? Phổ-Minh Bồ-tát đến thăm
Phật Thích-ca Mâu-ni và thăm các Bồ-tát Ma-ha-tát ở đó, là
những vị kế thừa tôn vị, đều đã chứng được Ðà-la-ni và các Tam
muội, như trong chương Tán Bồ-tát trước kia đã nói: Ðã được tự
tại đối với các Tam muội.
Hỏi:
Như Phật là một người đã được tự
tại trong hết thảy Tam muội, sao lại nói Bồ tát cũng được tự
tại trong hết thảy Tam muội?
Ðáp:
Có hai thứ Tam muội: Một là Tam
muội của Phật, hai là Tam muội của Bồ-tát. Các Bồ tát ấy được
tự tại đối với Bồ tát tam muội, chẳng phải đối với Phật tam
muội. Như ở trong kinh Chư Phật Tập Yếu có nói: "Văn thù
thi-lợi muốn thấy Phật tập hội, mà không thể đến được, chư
Phật đã trở về chỗ cũ." Văn thù thi-lợi đến chỗ chư Phật tập
hội, ở đó có một người nữ ngồi gần Phật kia mà nhập vào Tam
muội. Văn thù thi-lợi đi vào, đảnh lễ dưới chân Phật xong,
bạch Phật rằng: "Cớ sao người nữ này được ngồi gần Phật mà con
không được?" Phật bảo Văn thù thi-lợi: "Ông hãy đánh thức
người nữ này dậy khỏi Tam muội rồi ông hãy tự hỏi người ấy".
Văn thù thi-lợi bèn khảy móng tay để thức màkhông dậy, cất
tiếng kêu lớn cũng không dậy, cầm tay kéo cũng không dậy, lại
dùng Thần túc làm rung động Tam thiên đại thiên thế giới cũng
không dậy. Văn thù thi-lợi bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, con không
thể thức dậy được". Khi ấy Phật phóng ánh sáng lớn chiếu thế
giới hạ phương, trong ấy có một vị Bồ-tát trên là Khí-chư-cái,
liền từ hạ phương xuất hiện đến chỗ Phật, đầu mặt đảnh lễ dưới
chân Phật rồi đứng sang một bên. Phật bảo Khí-chư-cái Bồ-tát:
"Ông hãy đánh thức người nữ ấy". Bồ-tát liền khảy móng tay,
người nữ ấy liền từ Tam muội dậy. Văn thù thi-lợi bạch Phật:
"Vì nhân duyên gì con làm rung động cả Tam thiên đại thiên thế
giới mà vẫn không thể khiến người nữ ấy khởi dậy, còn
Khí-chư-cái Bồ-tát khảy móng tay một cái là khởi dậy khỏi Tam
muội liền?" Phật bảo Văn thù thi-lợi: "Ông nhân người nữ ấy mà
bắt đầu phát ý A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam Bồ-đề, người nữ ấy
nhân Khí-chư-cái Bồ-tát mà bắt đầu phát ý A-nậu-đa-la Tam-miệu
Tam Bồ-đề. Vì thế nên ông không thể đánh thức dậy".
Ðối
với chư Phật tam muội, công đức ở trong Tam muội của chư
Bồ-tát thì được tự tại, nhưng ở trong Tam muội của chư Phật
thì mới vào được ít nhiều mà chưa được tự tại.
KINH: Phật bảo Phổ Minh:
"Ông muốn đi qua thì tùy ý, nên biết phải thời". Bấy giờ Phật
Bảo Tích lấy hoa sen sắc vàng ngàn cánh đưa cho Phổ Minh
Bồ-tát mà bảo rằng: "Thiện nam tử! Ông đem hoa này rải lên
trên Phật Thích-ca Mâu-ni. Các Bồ-tát sanh ở thế giới Ta-bà
kia, là những vị khó hơn, khó bì kịp, ông hãy nhất tâm đi tới
thế giới kia".
LUẬN: Hỏi:
Vì sao Phật nói muốn đi tùy ý, nên
biết phải thời?
Ðáp:
Vì Phật đã cắt đứt tình riêng đối
với đệ tử và trong tâm Ngài không còn ràng buộc với đệ tử.
Lại
nữa, vị Bồ-tát ấy chưa chứng được Nhất-thiết-trí, chưa chứng
được Phật nhãn, nên trong tâm còn nhiều nghi ngờ cho rằng Phật
Thích-ca Mâu-ni công đức lớn, được lợi ích hoặc nhiều hơn, cho
nên nói "muốn đi qua tùy ý".
Lại
nữa, vị Bồ-tát ấy ở xa trông thấy Phật Thích-ca Mâu-ni thân
nhỏ, lòng hơi có chút kiêu mạn nói là Phật kia không bằng
(Phật này). Cho nên Phật bảo ông đi qua chỗ đó chớ quan sát
thân Phật, chớ nghĩ đến thế giới mà chỉ nghe Phật thuyết pháp
thôi.
Lại
nữa, thế giới ấy cách thế giới này rất xa, ở tận nước phương
Ðông. Vị Bồ-tát ấy nghe Phật Thích-ca Mâu-ni thuyết các pháp
tướng với Phật Bảo Tích thuyết các pháp tướng rất giống nhau,
mới nói: "Thế giới tuy xa, mà pháp tướng không khác, do đó
niềm tin lớn tăng thên, tâm trở nên kiên cố".
Lại
nữa, do nhân duyên đời trước, tuy sanh ở nơi xa, mà nên đi đến
nghe thuyết pháp. Thí như dây buộc chân chim Sẻ, cũng bay xa,
nhưng khi kéo lại thì về.
Lại
nữa, các Bồ-tát trong thế giới Ta-bà thấy Bồ-tát Phổ Minh từ
xa đến nghe pháp, liền suy nghĩ rằng: "Kia từ xa còn đến nghe
pháp, huống ta sanh trong thế giới này mà không nghe pháp?"
Bởi các nhân duyên như vậy nên nói: "muốn đi qua tùy ý, nên
biết phải thời".
Hỏi:
Thần lực của chư Phật ngang nhau,
lại không cầu phước, tại sao lấy hoa làm tin?
Ðáp:
Vì hành theo pháp thế gian vậy. Như
hai vị Quốc vương, thế lực tuy đồng nhau, cũng gửi đồ tặng cho
nhau.
Lại nữa, biểu thị thiện tâm nhu
nhuyến cho nên lấy hoa làm tin. Trong pháp thế gian, kẻ sứ giả
từ xa đến tất phải có tin. Phật theo
pháp thế gian cho nên gởi tin.
Lại nữa, vì chư Phật cung kính
pháp, nên cúng dường pháp, lấy pháp làm Thầy, vì cớ sao? Vì ba
đời các đức Phật đều lấy thật tướng chư pháp làm Thầy.
Hỏi:
Vì sao không tự cúng dường pháp
trong thân mình, mà lại cúng dường pháp của người khác?
Ðáp:
Theo pháp thế gian, như Tỳ-kheo
muốn cúng dường Pháp bảo, nhưng không tự cúng dường pháp ở
trong thân mà cúng dường các người trì pháp, biết pháp, hiểu
pháp. Phật cũng vậy, tuy trong thân có pháp, mà lại cúng dường
pháp của Phật khác.
Hỏi:
Như Phật thì không còn cầu phước
đức, tại sao còn cúng dường?
Ðáp:
Phật từ trong vô lượng A-tăng-kỳ
kiếp tu các công đức, thường hành các việc thiện, không chỉ
cầu quả báo, mà vì kính trọng các công đức mà làm việc cúng
dường. Như khi Phật còn tại thế, có một Tỳ-kheo mù, mắt không
trông thấy nhưng tay thì khâu áo. Khi kim sút chỉ, thầy nói:
"Ai ưa có phước đức, xin xâu kim hộ tôi?" Gặp khi Phật đi đến
nơi đó, Ngài nói với Tỳ-kheo: "Ta là người ưa có phước đức, để
Ta xâu kim hộ cho ông". Vị Tỳ-kheo nghe biết tiếng Phật, vội
đứng dậy sửa áo đảnh lễ dưới chân Phật, bạch Phật rằng: "Công
đức của Phật đã đầy đủ, sao còn nói ưa có công đức?" Phật bảo:
"Ta tuy công đức đã đầy đủ, mà Ta biết sâu xa về nhân duyên
của công đức, quả báo của công đức, năng lực của công đức. Nay
Ta được là tối đệ nhất trong hết thảy chúng sanh, là do công
đức ấy, cho nên Ta ưa có". Phật vì vị Tỳ-kheo ấy mà tán thán
công đức xong, tiếp đó Ngài tùy ý thuyết pháp cho ông. Vị
Tỳ-kheo ấy được pháp nhãn thanh tịnh, nhục nhãn lại sáng ra.
Lại nữa, Phật tuy
công đức đã đầy đủ, không còn cần
gì nữa, nhưng vì giáo hóa đệ tử nên nói: "Ta còn làm công đức,
các ông vì sao không làm?" Như trong nhà kỹ nhạc, một ông lão
trăm tuổi mà múa, có người chê rằng: "Ông già đã trăm tuổi,
còn muá mà làm gì?!" Ông đáp: "Ta không cần gì mà múa, ta chỉ
muốn dậy con cháu mà thôi". Phật cũng vậy, công đức tuy đã đầy
đủ, mà vì để dạy đệ tử làm công đức nên làm việc cúng dường
Hỏi:
Nếu như vậy, sao Phật không từ xa
rải hoa đến trên Phật Thích-ca Mâu-ni, mà lại sai người đi
cúng dường?
Ðáp:
Vì ở đây các Bồ-tát tin nơi Phổ
Minh vậy.
Lại nữa, sứ giả của Phật sai
đi, nước, lửa, binh, độc, trăm ngàn thứ hại, không thể làm
thương tổn, đường sá xa xôi, muốn cho được an ổn.
Hỏi:
Sao không lấy bảo vật đẹp đẽ, kinh
điển sâu xa, hay Phật bảo, Bồ-tát bảo (tức là thứ báu này chư
thiên không thấy được, nó xuất sanh các thứ vật quý như ngọc
Ma-ni, nên gọi là Phật bảo) làm tin, mà lại lấy Hoa sen? Hoa
sen là vật nhỏ mọn đâu đủ làm tin?
Ðáp:
Phật không cần vật. Bảo vật của
Phật, bảo vật của trời còn không cần huống là bảo vật của
người. Vì không cần nên không sai mang đi. Cũng vì các Phật tự
có đủ như nhau, nên không sai mang đi. Kinh điển sâu xa cũng
vậy.
Lại nữa, các kinh đối với Phật
không có gì thậm thâm, nói thậm thâm là xuất tự nơi người
phàm. Ðiều người phàm nghi ngờ, đối với Phật vô ngại. Khó đối
với người phàm, đối với Phật đều dễ. Lại nữa, hoa hương thanh
diệu, đáng dùng để cúng dường, như người hiến tặng, tất phải
dùng vật lạ.
Hỏi:
Sao chỉ dùng Hoa sen, không dùng
vật khác?
Ðáp:
Cúng dường thì chỉ dùng hoa, hương,
tràng phan, bảo cái. Hoa có hai sự là sắc và hương.
Hỏi:
Hoa khác cũng có hương, có sắc, sao
chỉ dùng Hoa sen cúng dường?
Ðáp:
Như trong kinh Hoa Thủ nói: "Mười
phương Phật đều lấy hoa cúng dường Thích-ca Văn Phật".
Lại nữa,
Hoa sen có ba loại: Hoa của người,
hoa của trời, hoa của Bồ-tát. Hoa của người, thứ hoa sen lớn
có trên 10 cánh, hoa của trời có 100 cánh, hoa của Bồ-tát 1000
cánh. Trong thế giới kia, phần nhiều có Hoa sen ngàn cánh sắc
vàng chói sáng. Trong thế giới Ta-bà tuy có hoa biến hóa ngàn
cánh, mà không có hoa sanh trong nước, cho nên Ngài sai mang
đi. Hoa sen ngàn cánh sắc vàng ấy, như đã nói ở trong đoạn về
tướng lưỡi.
Hỏi:
Sao Phật sai Phổ Minh lấy hoa rải
trên Phật?
Ðáp:
Pháp cúng dường là hoa, hương,
phướn, lọng. Phướn, lọng thì nên ở trên, hương khô thì nên
đốt, hương nước thì nên bôi dưới đất, hương bột và hương nước
nên rải.
Hỏi:
Sao không chỉ cúng dâng rồi thôi,
mà còn tự tay rải lên trên?
Ðáp:
Tự tay cúng dường là thân nghiệp,
lời nói êm dịu hỏi han là khẩu nghiệp, phát khởi thân nghiệp
khẩu nghiệp là ý nghiệp. Ba nghiệp ấy được công đức bền chắc,
làm nhân duyên cho Phật đạo.
Hỏi:
Vì sao nói "Ông nên nhất tâm cung
kính thận trọng, các Bồ-tát trong thế giới Ta-bà là khó bì
kịp, khó hơn?"
Ðáp:
Phật, Bích-chi Phật, A-la-hán, tất
cả các Hiền Thánh, đều nhất tâm cung kính thận trọng. Ma hoặc
Ma dân, các kiết sử của nội thân, các tội báo đời trước đều là
giặc. Gần các thứ giặc ấy, nên phải nhất tâm, cung kính, thận
trọng. Cũng như đi vào giữa giặc, không tự thận trọng giữ gìn,
thì giặc bắt. Vì vậy nên nói nhất tâm cung kính thận trọng để
đi qua thế giới kia.
Lại nữa, vì lòng người dễ tán
loạn, như cuồng như say, nhất tâm
cung kính thận trọng là đầu của các công đức. Nhiếp tâm được
thiền, liền được trí tuệ chơn thật, được trí tuệ chơn thật,
liền được giải thoát, được giải thoát liền được hết khổ. Những
việc như vậy, đều từ nhất tâm mà được. Như sau khi Phật Bát
Niết-bàn một trăm năm, có một thầy Tỳ-kheo tên là Ưu-ba-cúc,
là vị A-la-hán chứng được lục thông, làm Ðại đạo sư của cõi
Diêm-phù-đề lúc bấy giờ. Lúc ấy có một Tỳ-kheo-ni, 120 tuổi,
vị Tỳ-kheo-ni ấy lúc nhỏ đã từng thấy Phật. Ngài Ưu-ba-cúc vào
nhà bà để hỏi về dung nghi của Phật, trước tiên sai đệ tử đến
nói với Tỳ-kheo-ni rằng: "Ðại sư tôi là Ưu-ba-cúc muốn đến
thăm bà để hỏi về dung nghi của Phật".
Khi
ấy vị Tỳ-kheo-ni lấy bình bát đựng đầy dầu mè, đặt dưới cánh
cửa để thử coi oai nghi của Ưu-ba-cúc có được rõ ràng chăng?
Ưu-ba-cúc đi vào, từ từ đẩy cánh cửa, làm đổ một ít dầu. Ngồi
xong, Ngài hỏi Tỳ-kheo-ni: "Bà đã từng thấy Phật chăng? Dung
mạo giống như thế nào? Xin nói cho tôi được rõ". Tỳ-kheo-ni
đáp: "Lúc ấy tôi còn niên thiếu, thấy Phật đi vào làng, mọi
người đều nói "Phật đến", tôi theo mọi người chạy ra, trông
thấy ánh sáng của Ngài tôi liền lễ bái, chiếc thoa vàng trên
đầu tôi rơi xuống đất, tại rừng cây tối mù, ánh sáng Phật soi
đến, mọi vật u ẩn đều được trông thấy, tôi liền lượm được
thoa. Từ đó về sau, tôi làm Tỳ-kheo-ni. Ưu-ba-cúc lại hỏi:
"Lúc Phật còn ở đời, oai nghi lễ pháp của các Tỳ-kheo như thế
nào?" Ðáp: " Lúc Phật còn ở đời, Lục quần Tỳ-kheo rất là tệ
ác, không biết tàm quý, mà oai nghi phép tắc hơn ông bây giờ,
vì sao mà biết thế? Vì Lục quần Tỳ-kheo đi vào cửa, không làm
dầu đổ. Lục quần Tỳ-kheo tuy là tệ ác, mà đúng như nghi pháp
của Tỳ-kheo, đi, đứng, nằm, ngồi không mất pháp tắc. Ông tuy
là A-la-hán có sáu thần thông mà không bằng bọn họ." Ưu-ba-cúc
nghe nói lời ấy, hết sức hổ thẹn. Vì vậy nên nói nhất tâm cung
kính thận trọng, là tướng trạng của bậc thiện nhân vậy.
Lại nữa, vì sao nói là
nhất tâm cung kính thận trọng? Vì
các vị Bồ-tát ấy khó hơn, khó bì kịp, khó phá, khó gần. Cũng
như Sư tử chúa to lớn, khó hơn, khó phá hoại; cũng như Bạch
tượng vương và Long vương; cũng như ngọn lửa lớn, đều khó có
thể đến gần. Các Bồ-tát ấy có đại phước đức trí tuệ lực, nếu
người nào muốn hơn hay muốn phá hoại, đều không thể được; mà
chỉ có thể tự hại mà thôi. Thế nên nói là khó gần.
Hỏi:
Hết thảy đại Bồ-tát đều có đại công
đức, trí tuệ lợi căn, hết thảy đều khó gần, cớ sao chỉ nói các
Bồ-tát trong thế giới Ta-bà là khó gần?
Ðáp:
Ðúng như lời ấy. Chỉ vì các Bồ-tát
từ trong thế giới Ða Bảo đi đến, thấy thế giới Ta-bà này không
bằng, toàn đá, cát, ô uế, xấu xa, thân Bồ-tát thì nhỏ, tất cả
mọi sự đều không bằng, chắc sanh lòng nghi mạn, thế nên Phật
nói hãy nhất tâm cung kính thận trọng, các Bồ-tát kia khó gần.
Lại nữa, người sanh ở chỗ vui,
phần nhiều không dũng mãnh, không thông minh, ít trí tuệ, như
người sanh ở châu Uất-đơn-la-việt, vì quá vui mà không xuất
gia, không thọ giới. Sanh trong cõi trời cũng vậy, còn trong
thế giới Ta-bà này nhân duyên của
sự vui ít, có ba điều dữ là già, bệnh, chết, cách nuôi sống
theo đất đai khó, cho nên dễ sanh tâm nhàm chán. Thấy già bệnh
chết kéo đến, tâm rất chán sợ, thấy người nghèo cùng, biết do
nhân duyên đời trước gây nên, sanh tâm rất chán, do vậy nên
nói có trí tuệ lợi căn. các Bồ-tát ở trong cõi kia, là thế
giới bảy báu, các thứ cây báu, tâm tưởng tới uống ăn, tùy ý
liền có được. Như vậy nên khó sanh tâm nhàm chán, cho nên trí
tuệ không thể thông lợi, lớn lao. Cũng như dao bén, đặt vào
trong đồ uống ăn tốt, dao dễ sanh rỉ sét, đồ uống ăn tuy tốt
nhưng không thích hợp với dao. Nếu lấy đá mà mài, lấy mỡ, tro
mà lau chùi, thì rỉ sét liền sạch, dao được bén. Bồ-tát cũng
như vậy, sanh trong thế giới hỗn tạp, nên có lợi trí mà khó
gần. Như người lúc nhỏ siêng năng khó nhọc, thì có nhiều tài
năng, cũng kham được nhiều việc. Lại như nuôi Ngựa mà không
cỡi, thì không dùng được việc gì.
Lại
nữa, trong thế giới Ta-bà, Bồ-tát có nhiều phương tiện nên khó
gần, các nơi khác thì không vậy. Như Phật nói: "Ta tự nhớ đời
trước, một ngày bố thí cho người nghìn thân mạng, vì để độ
chúng sanh. Tuy các công đức, sáu Ba-la-mật, tất cả Phật sự
đầy đủ mà không làm Phật, thường dùng phương tiện độ thoát
chúng sanh. Vì những việc ấy, các Bồ-tát trong thế giới
Ta-bàlàkhó gần.
KINH: Bấy giờ Phổ Minh
Bồ-tát từ nơi Phật Bảo Tích nhận lấy Hoa sen sắc vàng ngàn
cánh, với vô số hàng xuất gia, tại gia và các đồng nam đồng nữ
cùng cất bước.
LUẬN: Hỏi:
Phổ-Minh Bồ-tát có đại lực thần
thông nên có thể đi đến, còn hàng xuất gia, tại gia Bồ-tát, và
các đồng nam đồng nữ làm sao tự đi được? Ða Bảo thế giới ở tận
cùng phía Ðông, dặm đường xa xôi, các hàng ấy tự dùng sức mình
mà đi, hay là sức của Phật Bảo Tích? Hay là sức
của Phổ-Minh Bồ-tát? Hay là
sức của Phật Thích-ca Mâu-ni?
Ðáp:
Hoàn toàn do sức của cả bốn hạng
người. Các hàng Bồ-tát xuất gia tại gia ấy là những Bồ-tát đã
được bất thối, thành tựu ngũ thông, khéo tu bốn Như ý túc, có
nhân duyên với đức Phật Thích-ca Mâu-ni từ đời trước, cũng do
tự sức mình, cũng do sức của Bồ-tát Phổ-Minh, vì cớ sao? Trong
đó, người thế lực mỏng thời do sức của Bồ-tát Phổ-Minh mà đến
được. Như khi Chuyển luân Thánh vương bay đi, thì cả bốn thứ
binh và các cung, quán, súc vật, thú vật tất cả đều bay. Vì
công đức của Chuyển luân Thánh vương rất lớn, đủ khiến cho tất
cả bay đi. Ðây cũng như vậy, người thế lực mỏng thì do sức của
Bồ-tát Phổ-Minh, đều cũng đi theo được. Cũng là do sức của
Phật Bảo Tích và ánh sáng của
Phật Thích-ca Mâu-ni soi cho. Nếu
tự không có sức, chỉ do ánh sáng của
Phật Thích-ca Mâu-ni soi đến cũng
có thể đến được, huống gì có cả ba sức.
Hỏi:
Bồ-tát Phổ-Minh sao không chỉ đi
một mình mà đem nhiều người thế?
Ðáp:
Vì đúng lẽ là có vây cánh đi theo
vậy. Cũng như khi Quốc vương đi ra ngoài, tất cả có quần thần
đi theo.
Lại nữa, đó là người có nhân
duyên với Phổ-Minh Bồ-tát và đức
Phật Thích-ca Mâu-ni, cớ sao vậy? Vì trong đại chúng kia hai
chúng cùng đến, nên biết kẻ có nhân duyên thì đi đến,
kẻ không có nhân duyên thì ở lại.
Hỏi:
Vị Bồ-tát ấy vì sao cùng đi đến với
các tại gia, xuất gia, đồng nam, đồng nữ?
Ðáp:
Bảy chúng đệ tử Phật là Tỳ-kheo,
Tỳ-kheo-ni, Học giới ni, Sa-di, Sa-di-ni, Ưu -bà-tắc,
Ưu-bà-di. Ưu -bà-tắc, Ưu-bà-di là tại gia, năm chúng kia là
xuất gia. Trong chúng xuất gia tại gia hoặc có hai hạng, hoặc
lớn tuổi, hoặc nhỏ tuổi. Nhỏ
là đồng nam, đồng nữ, ngoài ra là lớn tuổi.
Hỏi:
Người lớn nên đi, còn người nhỏ làm
sao có thể đến được?
Ðáp:
Tại công đức, không tại lớn nhỏ.
Nếu mất sự lợi ích của công đức, làm điều bất thiện, thì tuy
già mà nhỏ, nếu có công đức lợi ích, làm điều thiện, thời tuy
nhỏ mà lớn.
Lại nữa, thấy
người nhỏ đi đến, người trông thấy
sẽ khen: "Nhỏ mà còn được vậy, còn vì pháp mà từ xa đi đến".
Cũng hiển bày Phật pháp dù nhỏ hay lớn đều được phụng hành.
Trong pháp của ngoại đạo, hàng Bà-la-môn mới được hành pháp
đó, chẳng phải Bà-la-môn thì không được hành. Phật pháp không
kể lớn, không kể nhỏ, không kể trong, không kể ngoài, hết thảy
đều được tu hành, cũng như uống thuốc, cốt để trừ bệnh, không
lựa người sang, hèn, lớn nhỏ.
KINH: Ðều cúng dường, cung
kính, tôn trọng, tán thán các đức Phật ở phương Ðông.
LUẬN: Hỏi:
Nếu cúng dường khắp
cả các đức Phật ở phương Ðông, thì các đức Phật rất nhiều,
biết bao giờ mới cúng xong mà đến được nơi ấy?
Ðáp:
Các Bồ-tát không cúng dường theo
cách của người, trời, mà tự làm theo cách của Bồ-tát. Cách
cúng dường của Bồ-tát, thân vào thiền định, thân ấy đi thẳng
đến, rồi từ trên thân ấy, xuất ra vô lượng thân, hoá làm đủ
thứ vật cúng dường, đầy khắp thế giới của chư Phật, cũng như
khi Long vương đi, từ thân tuôn nước, mưa khắp thiên hạ.
Hỏi:
Các Bồ-tát ấy muốn đi đến chỗ Phật
Thích-ca Mâu-ni, cớ sao giữa đường lại cúng dường chư
Phật?
Ðáp:
Chư Phật là phước điền bậc nhất,
nếu ai cúng dường thì được quả báo lớn. Cũng như người
sửa sang nhiều công nghiệp ruộng vườn là để được nhiều lúa.
Chư Bồ-tát thấy chư Phật cúng dường mà được quả báo
làm Phật, cho nên cúng dường.
Lại nữa,
Bồ-tát thường kính trọng Phật, như
người ta kính trọng cha mẹ. Chư Bồ-tát nhờ nghe Phật
thuyết pháp mà được các thứ Tam muội, các thứ
Ðà-la-ni, các thứ thần lực. Vì biết
ơn Phật cho nên cúng dường rộng khắp. Như trong kinh Pháp Hoa,
Bồ-tát Dược vương từ nơi Phật mà được Tam muội Biến hiện sắc
thân, mới suy nghĩ rằng: "Ta sẽ cúng dường Phật và
Pháp Hoa Tam muội như thế nào?"
Liền bay lên đến giữa trời, dùng sức Tam muội mưa xuống bảy
báu, hương hoa, tràng phan, bảo cái, cúng dường Phật.
Sau khi ra khỏi Tam muội, ý còn cho
như vậy là chưa đủ, trong một ngàn hai trăm năm ăn những thức
ăn thơm, uống các dầu thơm, rồi sau dùng giạ trắng quấn vào
mình mà đốt lên và tự phát thệ rằng: "Mong cho ánh sáng của
thân tôi chiếu đến tám mươi hằng hà sa thế giới Phật". Chư
Phật trong tám mươi hằng hà sa thế giới ấy tán thán rằng:
"Làng thay, lành thay! Thiện nam tử! Lấy thân cúng dường, ấy
là bậc nhất, hơn đem quốc thành thê tử cúng dường gấp trăm
ngàn vạn lần, không thể đem thí dụ so sánh". Trong một ngàn
hai trăm năm, thân cháy mãi không tắt.
Lại nữa, sự cúng dường Phật ấy
được vô lượng tiếng tăm, phước đức lợi trí. Các việc bất thiện
đều diệt trừ hết, các thiện căn được tăng trưởng, đời này đời
sau thường được quả báo cúng dường, lâu về sau sẽ được làm
Phật.
Cúng dường Phật như vậy, được
vô lượng các thứ lợi ích, thế nên các
Bồ-tát cúng dường Phật.
KINH: Cầm các hoa hương, Anh
lạc, hương bột, hương nước, hương đốt, hương xoa, y phục,
tràng phan, bảo cái, hướng đến chỗ Phật Thích-ca Mâu-ni, đến
rồi đầu mặt đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng qua một bên.
LUẬN: Hỏi:
Nếu có lễ, cớ sao nói đầu mặt đảnh
lễ dưới chân Phật?
Ðáp:
Trong thân thể người ta quý nhất là
đầu, vì là nơi chứa đựng ngũ tinh (năm giác quan) và ở trên
hết. Chân là cái hèn nhất, vì đạp lên chỗ bất tịnh và ở dưới
hết. Cho nên đem cái quý mà lễ cái hèn, là vì cúng dường một
cách quý trọng nhất.
Lại nữa, lễ có bậc thấp, bậc
giữa, bậc cao. Lễ bậc thấp là vái, bậc giữa là quỳ, bậc cao là
cúi đầu. Ðầu mặt lễ dưới chân là cách cúng dường bậc cao. Do
vậy, trong Luật tạng của Phật, hạ tọa Tỳ-kheo hai tay đỡ hai
chân thượng tọa, đầu mặt cúi lễ.
Hỏi:
Oai nghi của thân có bốn là hoặc
ngồi, hoặc đứng, hoặc đi, hoặc nằm, cớ sao chỉ đứng một bên?
Ðáp:
Vì mới đến nên không nên đi, vì
cung kính nên không nên nằm, việc ấy thật dễ rõ, đâu cần phải
hỏi. Nên hỏi tại sao ngồi, tại sao đứng. Ngồi là sự cúng dường
không tôn trọng, còn đứng là sự cúng dường tôn trọng.
Lại nữa, trong Phật pháp, các
hàng ngoại đạo xuất gia và hàng cư sĩ khi đi đến chỗ Phật đều
ngồi. Ngoài đạo là đạo khác, khinh Phật nên họ ngồi, kẻ cư sĩ
thì như khách, cho nên ngồi. Còn hết thảy năm chúng, thân tâm
thuộc vào Phật, cho nên đứng. Nếu là A-la-hán đắc đạo như
Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên,
Tu-bồ-đề v.v... việc phải làm đã làm xong, cho nên được phép
ngồi, ngoài ra các người khác, tuy được chứng ba đạo quả Sơ,
Nhị, Tam cũng không được phép ngồi, vì chưa làm xong đại sự,
chưa phá hết giặc kiết sử. Cũng như vua tôi, người có công lớn
nên được ngồi. Trong các hàng Bồ-tát tuy có kẻ cư sĩ, mà vì từ
xa đi đến cúng dường Phật cho nên đứng.
KINH: Bạch Phật rằng: "Bảo
Tích Như Lai gởi lời hỏi thăm Thế Tôn, được ít bệnh, ít não,
đi và ở được nhẹ nhàng, lanh lợi, khí lực được an vui chăng?",
lại lấy Hoa sen sắc vàng ngàn cánh cúng dường Thế Tôn.
LUẬN: Hỏi: Phật Bảo Tích
là bậc Nhất thiết trí, sao lại còn
phải hỏi Phật Thích-ca Mâu-ni "được ít bệnh, ít não, đi và ở
được nhẹ nhàng, lanh lợi, khí lực được an vui chăng?"
Ðáp:
Pháp của Phật tự nhiên là vậy, biết
mà cố hỏi. Như trong Luật tạng, Tỳ-kheo Ðặc-ni-ca làm một cái
hang bằng gạch màu đỏ, Phật thấy vậy, đã biết mà cố hỏi A-nan:
"Cái đó là vật gì vậy?" A-nan thưa: "Ðó là con của người thợ
gốm xuất gia, tên là Ðặc-ni-ca, làm cái nhà nhỏ bằng cỏ,
thường bị trâu phá đi, ba lần làm, ba lần bị phá, do đó mới
làm cái nhà gạch ngói này". Phật hỏi A-nan: "Hãy phá cái hang
gạch ấy đi, vì cớ sao? Vì bọn ngoại đạo sẽ nói: "Khi Phật đại
sư còn đó, pháp lọt ra từ chỗ rỉ". Nhiều chỗ như vậy, biết mà
cố hỏi.
Lại nữa, Phật tuy là bậc
Nhất thiết trí, nhưng tùy theo pháp
thế gian, người thế gian hỏi thăm, Phật cũng hỏi thăm. Phật
sanh ở trong loài người, chịu theo pháp loài người, lạnh,
nóng, sống, chết v.v... cùng với người như nhau.
Lại nữa, thế giới của Phật Ða
Bảo đó là thanh tịnh trang nghiêm, thân Phật sắc tướng sáng
chói cũng lớn, nếu không hỏi thăm thì người ta cho là khinh
mạn. Lại muốn bày tỏ cho thế giới và thân sắc, ánh sáng của
Phật, tuy có nhiều chỗ hơn, mà trí tuệ thần lực thì đều như
nhau không khác, cho nên hỏi thăm.
Hỏi:
Tại sao hỏi ít não, ít bệnh?
Ðáp:
Có hai thứ bệnh: Một là bệnh do
nhân duyên bên ngoài, hai là bệnh do nhân duyên bên trong. Bên
ngoài là lạnh, nóng, đói, khát, binh, nhẫn, đao, gậy, bị rơi,
bị ngã, bị xô, bị đè ... những thứ như vậy gọi là bệnh ngoài,
gọi là não. Bên ngoài là ăn uống không tiết độ, nằm, đi thất
thường, bốn trăm lẻ bốn bệnh, những thứ như thế gọi là bệnh
trong. Hai thứ bệnh đó hễ có thân đều khổ. Cho nên hỏi "Ít não
ít bệnh chăng?"
Hỏi:
Sao không hỏi không não, không
bệnh, mà lại hỏi ít não, ít bệnh?
Ðáp:
Thánh nhân thật biết thân là gốc
khổ, không lúc nào không bệnh, vì sao? Vì bốn đại hợp lại làm
thân; đất, nước, gió, lửa tánh không hợp nhau, mỗi thứ hại lẫn
nhau cũng như ung thư, không lúc nào không đau, nếu lấy thuốc
xoa, có thể bớt được mà không thể lành. Thân người cũng vậy,
thường bệnh, thường trị, trị thì được sống, không trị thì
chết. Vì lẽ ấy, không thể hỏi không não, không bệnh. Bệnh hoạn
bên ngoài thường bị gió, mưa, lạnh, nóng làm bức não. Lại thân
có bốn oai nghi ngồi, nằm, đi, đứng, ngồi lâu thì rất não; nằm
lâu, đứng lâu, đi lâu cũng não. Cho nên hỏi ít não, ít bệnh.
Hỏi:
Hỏi ít bệnh ít não là đủ, sao còn
nói đi và ở nhẹ nhàng lanh lợi?
Ðáp:
Người ta tuy bệnh lành mà chư a
được bình phục, vì vậy nên hỏi đi và ở nhẹ nhàng lanh lợi.
Hỏi:
Sao lại còn nói khí lực an lạc
chăng?
Ðáp:
Có người bệnh lành, tuy đi lại ngồi
dậy được, nhưng khí lực chưa đủ không thể làm lụng thi vi,
xách nhẹ, vác nặng, do đó hỏi về "khí lực". Có người tuy bệnh
lành, có thể vác nặng xách nhẹ, nhưng chưa được yên vui. Do đó
hỏi "Có yên vui chăng?"
Hỏi:
Nếu không bệnh mà có sức, vì sao
chưa được an vui?
Ðáp:
Có người vì nghèo cùng, sợ hãi, ưu
não, không được an vui. Do đó nên hỏi "Ðược an vui chăng?"
Lại nữa, có hai cách hỏi thăm:
Hỏi thăm về thân, hỏi thăm về tâm. Nếu nói
ít não, ít bệnh, đi và ở nhẹ nhàng
lanh lợi, khí lực là hỏi thăm về thân. Nếu an vui
chăng, là hỏi thăm về tâm.
Các thứ bệnh bên trong, bên ngoài đều được gọi là thân bệnh.
Các thứ phiền não dâm dục, sân nhuế, tật đố, xan tham, ưu sầu,
sợ hãi v.v..., chín mươi tám kiết sử, năm trăm triền cái, các
thứ mong cầu, ham muốn, v.v... đều được gọi là tâm bệnh. Vì
hỏi thăm hai thứ bệnh ấy nên nói "ít
não, ít bệnh, đi và ở nhẹ nhàng lanh lợi, khí lực an vui
chăng?"
Hỏi:
Cách hỏi thăm của loài người thì
hỏi như vậy. Hàng chư thiên còn không nên hỏi thăm như vậy,
huống gì là đối với Phật?
Ðáp:
Thân Phật có hai: Một là thân thần
thông biến hóa, hai là thân cha mẹ sanh. Thân cha mẹ sanh thì
chịu theo phép loài người, không như chư thiên, do đó phải
theo phép loài người mà hỏi thăm.
Hỏi:
Ðối với hết thảy Hiền thánh, tâm
không còn bị dính mắc, không tham thân, không tiếc tuổi thọ,
không ghét chết, không ưa sống, nếu như vậy thì cần gì hỏi
thăm?
Ðáp:
Vì theo phép thế gian chịu theo
phép loài người mà thăm hỏi. Sai thăm hỏi, cũng là chịu theo
phép của loài người.
Hoa
sen sắc vàng ngàn cánh, như trên đã nói.
KINH: Bấy giờ, Phật Thích-ca
Mâu-ni sau khi nhận Hoa sen sắc vàng ngàn cánh, Ngài rải đến
chư Phật trong Hằng hà sa thế giới ở phương Ðông.
LUẬN: Hỏi:
Phật là bậc không ai hơn, không ai
bằng, sao nay lại rải hoa cúng dường chư Phật ở phương Ðông?
Như khi Phật mới đắc đạo, tự suy nghĩ rằng: "Người mà không
có chỗ để tôn thờ thời sự nghiệp sẽ không thành, nay trong
mười phương trời đất ai là kẻ đáng tôn thờ. Ta sẽ kính làm
Thầy mà thờ". Khi ấy Phạm-thiên-vương cùng chư thiên bạch
Phật rằng: "Phật là trên hết, không ai vượt qua Phật". Phật
cũng tự dùng Thiên nhãn xem thấy trong ba đời và mười phương
trời đất, không có ai hơn Phật. Tâm tự nghĩ rằng: "Ta thực
hành Ðại Bát-nhã Ba-la-mật mà nay tự mình được làm Phật. Ðây
là chỗ cho Ta tôn thờ, tức là Thầy của Ta. Ta sẽ cung kính
cúng dường tôn thờ pháp ấy". Thí như có một gốc cây tên là
Hảo-kiên, ở trong lòng đất một trăm năm, cành lá đầy đủ, một
ngày kia ra khỏi lòng đất, cao một trăm trượng. Cây ấy ra khỏi
rồi, muốn tìm gốc cây lớn để che mát cho mình. Khi ấy trong
rừng có vị thần nói với Hảo-kiên rằng: "Trong đời không còn
cây nào lớn hơn ngươi, các cây khác đều ở trong bóng mát của
ngươi". Phật cũng như vậy, Vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, sanh ở
trong lòng đất Bồ-tát, một ngày kia ở tại dưới gốc Bồ-đề, ngồi
trên chỗ tòa Kim-cang, như thật biết rõ hết thảy các pháp
tướng, chứng thành Phật đạo. Bấy giờ tự nghĩ: "Ai đáng tôn thờ
để làm thầy, ta sẽ hầu hạ cung kính cúng dường". Khi ấy ấy
Phạm-thiên-vương cùng chư thiên bạch Phật rằng: "Phật là vô
thượng, không ai hơn Phật". Vậy nay cớ sao lại cúng dường chư
Phật ở phương Ðông?
Ðáp:
Phật tuy trên hết, trong ba đời
mười phương trời đất, không ai hơn Phật để mà thực hành sự
cúng dường. Cúng dường có thượng, trung, hạ. Cúng dường người
thua mình là cúng dường bậc hạ, cúng dường người hơn mình là
cúng dường bậc thượng, cúng dường ngươì ngang mình là cúng
dường bậc trung. Cũng như Tỳ-kheo-ni Ðại-ái-đạo cùng 500
Tỳ-kheo-ni A-la-hán, trong một ngày cùng một lần vào Niết-bàn.
Khi ấy hàng Ưu-bà-tắc chứng đắc ba đạo quả đỡ giường của 500
Tỳ-kheo-ni, Tứ-thiên-vương đỡ giường nhũ mẫu của Phật là
Ðại-ái-đạo, còn Phật tự ở trước bưng lò hương, đốt hoa cúng
dường. Phật nói với các Tỳ-kheo: "Các ông hãy giúp Ta cúng
dường thân nhũ mẫu". Bấy giờ các Tỳ-kheo A-la-hán, mỗi người
dùng lực thần túc, đi đến trên núi Ma-lê, lấy củi hương
Chiên-đàn ngưu đầu chất thành đống giúp Phật. Ấy là cúng dường
bậc hạ. Do đó, tuy không cầu chứng quả mà vẫn thực hành cúng
dường bình đẳng.
Lại nữa, chư Phật nên phải
cúng dường Phật, các người khác
không biết đức của Phật, như kệ nói:
"Người
trí kính người trí,
Trí luận người trí mừng,
Người trí biết được trí,
Như Rắn biết chân Rắn".
Vì
vậy, chư Phật là bậc Nhất thiết trí cúng dường bậc Nhất thiết
trí.
Lại
nữa, mười phương Phật đời đời khuyến trợ Phật Thích-ca Mâu-ni.
Như Thất trụ Bồ-tát quán các pháp là không, vô sở hữu, bất
sanh bất diệt. Quán như vậy rồi, trong hết thảy thế giới, tâm
không dính mắc, muốn buông thả sáu Ba-la-mật mà nhập Niết-bàn.
Cũng như người trong khi mộng làm bè để vượt qua sông lớn, tay
chân mỏi mệt, sanh tâm nhàm chán, đang ở giữa lòng sông mộng
tỉnh, tự nghĩ rằng: "Ðâu có sông để có thể vượt qua?" Khi ấy,
tâm chuyên cần cũng buông bỏ hết, Bồ-tát cũng như vậy. Ở trong
địa vị Thất trụ, chứng được Vô sanh Pháp nhẫn, tâm hành đều
đình chỉ, muốn vào Niết-bàn. Bấy giờ mười phương chư Phật đều
phóng ánh sáng, chiếu trên thân Bồ-tát, lấy tay phải xoa đầu,
nói rằng: "Thiện nam tử! Chớ sanh tâm tưởng ấy. Ông nên nhớ
lại bản nguyện của ông là muốn độ chúng sanh. Ông tuy biết các
pháp là không, mà chúng sanh thì không biết. Ông nên nhóm các
công đức, giáo hóa chúng sanh, chớ vào Niết-bàn. Ông chưa được
thân kim sắc, ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp tùy hình, vô
lượng quang minh, ba mươi hai nghiệp. Ông nay mới chứng được
Vô sanh pháp môn, chớ có mừng lớn." Khi ấy Bồ-tát nghe lời chư
Phật giáo huấn, trở lại sanh tâm nguyện như trước, thực hành
sáu Ba-la-mật để độ chúng sanh. Như vậy, lúc mới đắc Phật đạo,
được sự tá trợ ấy. Lại lúc Phật mới đắc đạo, tâm tự suy nghĩ:
"Pháp này rất sâu xa, chúng sanh ngu muội bạc phước, Ta cũng
sanh trong đời ngũ ác, phải làm sao đây? Suy nghĩ xong, Ta sẽ
từ trong một pháp chia làm ba phần thành ba thừa để độ chúng
sanh". Khi suy nghĩ như vậy, chư Phật mười phương đều hiện ánh
sáng tán thán rằng: "Lành thay! Lành thay! Chúng ta cũng ở
trong đời ngũ ác, chia một pháp làm ba phần để độ chúng sanh".
Khi ấy, Phật nghe tiếng nói của chư Phật mười phương, liền rất
hoan hỷ, xưng niệm "Nam Mô Phật".
Như
vậy, mười phương Phật, nơi nơi đều khuyến trợ làm lợi ích lớn.
Vì biết ân nặng ấy, cho nên lấy hoa cúng dường mười phương
Phật. Phước đức tối thượng, không gì vượt qua phước đức này,
vì cớ sao? Hoa ấy do công đức lực của Phật Bảo Tích
sinh ra, chứ không phải hoa từ trong nước sanh. Phổ Minh là vị
Bồ-tát pháp thân ở địa vị Thập trụ, đưa hoa ấy đến dâng lên
Phật Thích-ca Mâu-ni. Phật Thích-ca
Mâu-ni biết mười phương Phật là phước điền đệ nhất, cho nên
cúng dường, phước ấy nhiều gấp bội, vì cớ sao? Vì Phật tự cúng
dường Phật vậy.
Trong Phật pháp có bốn hạng bố thí: 1- Người thí thanh tịnh,
người thọ không thanh tịnh, 2- Người thí không thanh tịnh,
người thọ thanh tịnh, 3- Người thí thanh tịnh, người thọ cũng
thanh tịnh , 4- Người thí không thanh tịnh, người thọ không
thanh tịnh. Nay thí cho Phật ở phương Ðông là cả hai đều thanh
tịnh, phước ấy rất lớn. Vì vậy nên Phật tự cúng dường mười
phương Phật.
Hỏi:
Hết thảy Thánh nhân đều không thọ
quả báo, đời sau không còn sanh trở lại, cớ sao nói phước bố
thí ấy rất lớn?
Ðáp:
Phước ấy tuy không có người thọ
hưởng, mà tướng nó lại lớn. Nếu có người thọ hưởng thì quả báo
ấy vô lượng. Các Thánh nhân biết pháp hữu vi đều là vô thường,
không, cho nên xả bỏ mà vào Niết-bàn, phước ấy cũng xả. Thí
như thoi vàng đốt cháy, tuy mắt thấy nó đẹp mà không thể lấy
tay đụng, vì sợ cháy tay người.
Lại nữa, như người bị mụn nhọt
thời phải dùng thuốc bôi, nếu người không bị nhọt thì thuốc vô
dụng; người có thân cũng như vậy, thường bị đói khát, lạnh
nóng bức bách. Cũng như bị mụn nhọt, phải lấy áo chăn, ăn
uống, ấm nóng làm cho dễ chịu, như lấy thuốc bôi mụn nhọt. Còn
như kẻ ngu si, vì ham thuốc chứ không phải dùng bôi mụt. Nếu
không mụn nhọt, thì thuốc cũng vô dụng. Chư Phật cho thân là
một mụn nhọt, vì phóng xả thân mụn nhọt nên cũng không lãnh
thọ thuốc quả báo. Vì vậy nên tuy có đại phước, cũng không thọ
báo.
KINH: Hoa sen được rải đến
chư Phật thế giới nhiều như hằng hà sa số ở phương Ðông.
LUẬN: Hỏi:
Hoa ít mà thế giới nhiều, làm sao
rải khắp?
Ðáp:
Do thần thông lực của Phật. Những
sự như trên, có tám cách tụ do biến hóa: Khiến nhỏ thành lớn,
khiến lớn thành nhỏ, khiến nặng thành nhẹ, khiến nhẹ thành
nặng, tự tại vô ngại, tùy ý đi đến, rung động đại địa, thành
tựu sở nguyện. Các đại Thánh nhân đều có tám cách biến hóa tự
tại ấy, cho nên Phật có thể lấy một ít hoa rải khắp hằng hà sa
số thế giới ở phương Ðông.
Lại nữa, để chỉ cho chúng sanh
thấy phước báu vị lai, một ít hoa
như thế mà rải khắp thế giới ở phương Ðông. Lại để khuyên
Bồ-tát ở phương Ðông rằng gieo phước vào trong ruộng Phật thời
được quả báo cũng như hoa ấy đầy khắp vô lượng. Các ông từ xa
đi đến, phải nên hoan hỷ, gặp được phước điền ấy, quả báo vô
lượng.
KINH: Các Bồ-tát xuất gia,
tại gia và đồng nam đồng nữ, đầu mặt đảnh lễ dưới chân Phật
Thích-ca Mâu-ni, mỗi người đem đồ cúng dường mà cúng dường,
cung kính, tôn trọng, tán thán Phật Thích-ca Mâu-ni. Các
Bồ-tát xuất gia, tại gia và đồng nam đồng nữ ấy, mỗi mỗi nhờ
năng lực thiện căn phước đức mà được cúng dường Thích-ca
Mâu-ni Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng Chánh giác.
LUẬN:
Như kệ nói:
"Con
đường các Thánh đến,
Phật cũng đến như vậy,
Thật tướng và chỗ đi,
Phật như vậy không khác.
Chư Thánh nói như thật,
Phật nói cũng như thật,
Do vậy nên gọi Phật,
Là đấng hiệu Như Lai (Tathàgata)
Giáp nhẫn: Tâm kiên cố,
Cung tinh tấn: Sức mạnh,
Tên trí tuệ: Nhọn cứng,
Phá các giặc kiêu mạn.
Ðáng lãnh thọ cúng dường,
Của loài trời, loài người.
Do vậy nên gọi Phật.
Là đấng hiệu Ứng cúng (Araha)
Chính tri thật tướng khổ,
Cũng thật biết khổ tập,
Biết thật tướng khổ diệt,
Cũng biết đạo diệt khổ,
Chơn chánh hiểu Tứ đế,
Ðịnh thật không thể biến,
Cho nên trong mười phương,
Hiệu Chánh đẳng Chánh giác.
Ðược tam minh vi diệu,
Ðầy đủ hạng thanh tịnh,
Do đó hiệu Thế Tôn (Bhagavat)
Là đấng Minh-Hạnh-túc (Vidyà-carana)
Biết rõ hết thảy pháp
Tự được diệu đạo rồi.
Hoặc thời phương tiện thuyết,
Vì thương đến tất cả,
Diệt trừ già, bệnh, chết,
Dẫn đến chỗ an ổn,
Do vậy nên gọi Phật,
Là đấng hiệu Thiện-thệ (Sugata)
Biết đời từ đâu đến,
Cũng biết đường đời diệt,
Do vậy nên gọi Phật,
Là đấng Thế-gian-giải (Loka-vid).
Con mắt thiền, giới, trí,
Không ai bằng, huống hơn,
Do vậy nên gọi Phật,
Là đấng Vô-thượng-sĩ (Anurata).
Ðại bi độ chúng sanh,
Khéo léo dạy, điều ngự,
Do vậy nên gọi Phật,
Là đấng Ðiều-ngự-sư (Purusa-damya Sàrathi).
Trí tuệ, không phiền não,
Thuyết giải thoát tối thượng,
Do vậy nên gọi Phật,
Là đấng Thiên-nhơn-sư (Devamanusyànàmi).
Ba đời động, chẳng động,
Pháp tận và chẳng tận,
Dưới đạo thọ biết hết,
Do vậy nên gọi Phật,
KINH: Vượt qua hằng hà sa
thêá giới chư Phật về phương Nam, ở tại mé thế giới ấy, có thế
giới tên là Ly-nhất-thiết-ưu, Phật hiệu là Vô-ưu-đức, Bồ-tát
hiệu là Ly-ưu. Vượt qua hằng hà sa thêá giới chư Phật về
phương Tây, ở tại mé thế giới ấy, có thế giới tên là Diệt-ác,
Phật hiệu là Bảo-sơn, Bồ-tát hiệu là Nghĩa-ý. Vượt qua hằng hà
sa thêá giới chư Phật về phương Bắc, ở tại mé thế giới ấy, có
thế giới tên là Thắng, Phật hiệu là Thắng vương, Bồ-tát hiệu
là Ðắc Thắng. Vượt qua hằng hà sa thêá giới chư Phật về phương
dưới, ở tại mé thế giới ấy, có thế giới tên là Thiện, Phật
hiệu là Thiện đức, Bồ-tát hiệu là Hoa Thượng. Vượt qua hằng hà
sa thêá giới chư Phật về phương trên, ở tại mé thế giới ấy, có
thế giới tên là Hỷ, Phật hiệu là Hỷ đức, Bồ-tát hiệu là Ðức
Hỷ. Như vậy, hết thảy đều như phương Ðông.
LUẬN:Hỏi:
Như trong Phật pháp thật không có
các "phương", vì cớ sao? Vì không nhiếp vào trong năm ấm, mười
hai nhập, mười tám giới? Trong bốn pháp tạng cũng không. Nói
"phương" là thật pháp, mà tìm nhân duyên cũng không thể có
được; nay cớ sao trong đây nói "mười phương chư Phật", "mười
phương Bồ-tát đến"
Ðáp:
Theo pháp thế tục lưu truyền cho
nên nói "phương", chứ tìm "phương" thật không có.
Hỏi:
Vì sao lại nói "không có phương"?
Trong bốn pháp tạng của các ông không nói, nhưng trong sáu
pháp tạng (sáu cú nghĩa) của chúng tôi có nói. Nó không được
kể đến trong năm ấm, mười hai nhập, mười tám giới nhưng được
kể đến trong Thật cú nghĩa (Ðà-la-phiêu - Draya-Pàdarthà) của
chúng tôi. Pháp "phương" ấy, vì là tướng thường, tướng hữu
thường, nên cũng có, cũng thường. Như trong Kinh nói: "Chỗ mặt
trời mọc là phương Ðông, chỗ mặt trời lặn là phương Tây, chỗ
mặt trời đi qua là phương Nam, chỗ mặt trời không đi qua là
phương Bắc. Mặt trời có ba phần hợp: Hoặc trước hợp, hoặc nay
hợp, hoặc sau hợp. Tùy theo phương mà mặt trời có ba phần. Ðầu
tiên hợp là phương Ðông. Phương Nam phương Tây cũng vậy. Chỗ
mặt trời không đi qua làkhông có phần. Kia cách đây, đây cách
kia, đó là tướng trạng của "phương". Nếu không có "phương"
thời không có kia, đây. Kia là tướng của "phương" nhưng nó
chẳng phải phương?
Ðáp:
Không phải vậy, núi Tu-di ở giữa
bốn châu. Mặt trời đi quanh núi Tu-di, chiếu đến bốn châu
thiên hạ. Ở châu Uất-đơn-la-việt, mặt trời đứng bóng, thì ở
châu Phất-bà-đề, mặt trời mới mọc, vậy người ở châu Phất-bà-đề
là phương Ðông; ở châu Phất-bà-đề mặt trời đứng bóng, thì ở
châu Diêm-phù-đề mặt trời mới mọc, vậy người ở châu
Diêm-phù-đề là phương Ðông, ấy là thật không có bắt đầu, vì cớ
sao? Vì hết thảy đều là phương Ðông, đều là phương Nam, đều là
phương Tây, đều là phương Bắc. Vậy ông nói chỗ mặt trời mọc là
phương Ðông, chỗ mặt trời đi qua là phương Nam, chỗ mặt trời
lặn là phương Tây, chỗ mặt trời không đi qua là phương Bắc,
việc ấy không đúng
Lại nữa, có nơi mặt trời không
hợp, thế là không phải"phương", vì
không có tướng "phương".
Hỏi:
Tôi nói trong một nước có bốn
phương, ông lại đem bốn châu ra nạn. Vì thế nên chẳng phải là
không có bắt đầu ở phương Ðông?
Ðáp:
Nếu ở trong một nước mà mặt
trời cùng với phương Ðông
hợp, thế là có biên, có
biên thì vô thường, vô thường thì chẳng khắp. Vì thế nên
"phương" chỉ có danh mà không có thật.
KINH: Bấy giờ cả ba ngàn đại
thiên thế giới đều thành trân bảo, hoa phủ khắp mặt đất, treo
lụa, phướn, lọng, cây hương, cây hoa, đầy đủ trang nghiêm.
LUẬN: Hỏi:
Do thần lực ai mà làm cho đất thành
báu?
Ðáp:
Ðó là do vô lượng thần lực của Phật
biến hóa làm ra. Có người dùng chú thuật, huyễn pháp, và các
Quỷ thần, Ma vương có thể biến hóa một ít vật, còn nếu làm cho
cả ba ngàn đại thiên thế giới đều thành trân bảo, thì những
người ấy và Phạm-thiên-vương đều không thể làm được. Phật vào
trong bốn thiền với tâm biến hóa, khiến ba ngàn đại thiên thế
giới, tất cả hoa, hương, cây cỏ, đất đai đều được trang
nghiêm, hết thảy chúng sanh đều hòa đồng, với tâm trở nên
thiện, vì cớ sao? Trang nghiêm thế gìới này vì để thuyết
Bát-nhã Ba-la-mật vậy. Cũng vì Bồ-tát khách và các chư thiên,
loài người từ mười phương đến, cho nên trang nghiêm. Như người
ta mời quý khách. Nếu một nhà mời thời trang nghiêm một nhà,
một Quốc chủ mời thời trang nghiêm một nước, Chuyển luân Thánh
vương mời thời trang nghiêm bốn châu thiên hạ,
Phạm-thiên-vương mời thời trang nghiêm ba ngàn đại thiên thế
giới. Phật là chủ của mười phương vô lượng hằng hà sa thế
giới, vì các Bồ-tát khách và các chư thiên, loài người từ tha
hương đến, cũng vì chúng nhân ở đây ở kia hễ thấy sự biến hóa
trang nghiêm này thời sanh đại tâm, sanh tâm thanh tịnh hoan
hỷ. Từ đại tâm phát ra đại nghiệp, từ đại nghiệp được đại báo,
trong khi thọ đại báo lại sanh đại tâm, như vậy triển chuyển
tăng ích, mà chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì
thế nên biến thế giới này đều thành trân bảo.
Sao
gọi là bảo? Có bốn thứ là vàng, bạc, Tỳ-lưu-ly, Pha-lê. Lại có
bảy thứ báu là vàng, bạc, Tỳ-lưu-ly, Pha-lê, Xa-cừ, Mã-não,
Xích-chơn-châu (châu này rất quý, chẳng phải là San-hô). Lại
còn có thứ báu là Ma-la-già-đà (báu này từ miệng chim Kim-sí
mà ra, sắc lục, hay trừ độc), Nhân-đà-ni-la (báu xanh của
trời), Ma-ha-ni-la (báu xanh lớn), Bát-ma-la-già (báu sáng
đỏ), Việt-xà (kim-cương), Long châu, Như ý châu, Ngọc bối,
San-hô, Hổ phách v.v... các thứ gọi là báu. Báu ấy có ba loại
là: Nhân bảo, thiên bảo, Bồ-tát bảo. Nhân bảo năng lực ít, chỉ
có sắc sáng thanh tịnh, trừ độc, trừ quỷ, trừ tội, trừ đói
khát, lạnh, nóng ... các thứ khổ. Thiên bảo cũng lớn, cũng hơn
thường, thường theo chân trời, có thể sai khiến, cùng nói
chuyện, nhẹ mà không nặng. Bồ-tát bảo thì hơn thiên bảo, có
thể gồm cả việc của nhân bảo, thiên bảo. Lại có thể khiến hết
chúng sanh biết gốc ngọn nhân duyên của sự chết đây sanh kia.
Thí như gương sáng, soi thấy mặt mày.
Lại nữa,
Bồ-tát bảo có thể phát ra các thứ
pháp âm, hoặc làm mũ báu đội trên đầu, trời mưa xuống các đồ
cúng dường, nào là tràng phan, hoa cái trên mười phương vô
lượng thế giới chư Phật để cúng dường Phật. Lại mưa các vật để
nuôi sống như áo, chăn, đồ nằm, mọi thứ tùy theo chỗ cần của
chúng sanh mà mưa đủ cả, để cấp thí cho chúng sanh. Các thứ
trân bảo như vậy, để trừ các khổ nghèo cùng của chúng sanh.
Hỏi:
Các thứ trân bảo ấy từ đâu xuất ra?
Ðáp:
Vàng thì xuất từ đá cát, đồng đỏ
trong núi; Trân châu thì xuất từ bụng cá, từ trong tre, từ não
Rắn; Long châu thì xuất từ não Rồng; San-hô thì xuất từ cây đá
trong biển; Ngọc bối thì xuất từ Mai ruà; Bạc xuất từ đá cháy;
còn Lưu-ly, Pha-lê v.v... xuất từ hang núi. Ngọc Như ý xuất từ
Xá-lợi của Phật. Nếu khi chánh pháp chưa tận thì các Xá lợi
đều biến làm Như ý châu, thí như băng giá quá một ngàn năm thì
hóa làm ngọc Pha-lê. Các thứ trân bảo như vậy là trân bảo
thường trong loài người. Tất cả thế giới mà Phật trang nghiêm
là thù thắng hơn cả, chư thiên không thể làm được, vì cớ sao?
Ấy là từ đại công đức sanh ra.
Các
thứ tràng hoa, như trước đã nói. Cây hương gọi là A-già-lâu
(cây mật hương), là Ða-già-lâu (cây mộc hương), Chiên-đàn...,
các thứ cây hoa như vậy. Cây hoa gọi là hoa Chiêm-bặc (cây hoa
vàng), A-du-ca (cây hoa vô ưu), Bà-ha-ca-la (cây hoa đỏ). Các
thứ cây hoa như vậy
KINH: Thí như thế giới Hoa
Tích, thế giới Phổ Hoa, Bồ-tát Diệu Ðức, Bồ-tát Thiện-ý-trụ,
và các Bồ-tát có đại oai thần khác, đều ở nơi đó.
LUẬN: Hỏi:
Vì sao nói "Thí như thế giới Hoa
Tích"?
Ðáp:
Thế giới kia thường có tịnh hoa,
thế giới này biến hóa trong nhất thời, nên lấy để thí dụ. Pháp
thí dụ, là lấy cái nhỏ dụ cái lớn, như người có mặt đẹp thí
như mặt trăng tròn.
Hỏi:
Còn có các thế giới thanh tịnh ở
mười phương, như thế giới An lạc của Phật A-di-đà v.v..., sao
chỉ lấy thế giới Phổ Hoa làm thí dụ?
Ðáp:
Thế giới của Phật A-di-đà không
bằng thế giới của Phật Hoa Tích, vì cớ sao? Tỳ-kheo Pháp Tích
(Pháp Tạng) tuy được Phật dẫn đến mười phương xem thế giới
thanh tịnh, nhưng vì công sức mỏng nên không thể thấy được
thượng diệu thanh tịnh. Do vậy thế giới không bằng.
Lại nữa, ngay khi Phật biến hóa
thế giới này, chính cùng thế giới
Hoa Tích giống nhau. Do vậy nói "Thí như thế giới Hoa Tích".
Hỏi:
Còn có các Bồ-tát khác như
Tỳ-ma-la-cật, Quán Thế_AÂm, Biến-cát v.v... Sao không nói các
Bồ-tát này ở tại đó mà chỉ nói Bồ-tát
Văn-thù-thi-lỵ (Diệu Ðức), Bồ-tát
Thiện-ý-trụ?
Ðáp: Bồ-tát Biến-cát
(Phổ Hiền) ấy, nơi mỗi lỗ chân lông của Ngài thường hiện ra
thế giới chư Phật và chư Phật Bồ-tát đầy khắp mười phương để
hóa độ chúng sanh, nên không có chỗ
ở nhất định. Văn-thù-thi-lỵ phân thân biến hóa vào trong năm
đường, hoặc làm Thanh-văn, hoặc làm Duyên-giác, hoặc làm thân
Phật. Như trong kinh Thủ Lăng nghiêm Tam muội nói: "Bồ-tát
Văn-thù-thi-lỵ đời quá khứ là Long
Chủng Phật Tôn, bảy mươi hai đời làm Bích-chi Phật". Ðó là có
thể nói, có thể thuyết; còn Bồ-tát Biến-cát thì không
thể lượng, không thể nói, không thể biết trú xứ, hoặc trú xứ ở
trong tất cả thế giới. Do đó không nên nói đến.
Lại nữa, nói "và các Bồ-tát có
đại oai thần" là cũng nói chung Bồ-tát Biến-cát và các Bồ-tát
lớn.
KINH: Bấy giờ, Phật biết hết
thảy thế giới, hoặc thế giới Trời, hoặc thế giới Ma, hoặc thế
giới Phạm-thiên, hoặc Sa-môn, Bà-la-môn, hoặc Trời, hoặc
Càn-thát-bà, Người, A-tu-la v.v... Và các Bồ-tát kế thừa Phật
vị, tất cả đều tập hội.
LUẬN: Hỏi:
Thần lực của Phật vô lượng, tất cả
chúng sanh trong mười phương, nếu tất cả đều đến tập hội, thì
hết thảy thế giới phải trống không. Nếu không đến thì thần lực
vô lượng của Phật có chỗ không làm được?
Ðáp:
Không thể đến hết, vì cớ sao? Thế
giới của chư Phật vô biên vô lượng, nếu đến hết thời là hữu
biên. Lại, mười phương đều có Phật, cũng thuyết Bát-nhã
Ba-la-mật. Như trong Chương 43 của kinh Bát-nhã Ba-la-mật nói"
Mười phương đều có hàng ngàn vị Phật xuất hiện, đều thuyết
Bát-nhã Ba-la-mật". Do đó không nên đến cả hết.
Hỏi:
Nếu có mười phương chư Phật đều
thuyết Bát-nhã Ba-la-mật, thế thì mười phương Bồ-tát sao còn
đến đây?
Ðáp:
Như đã nói trong chương Bồ-tát
Phổ-Minh đến. Vì có nhân duyên với Phật Thích-ca Mâu-ni cho
nên đến.
Lại nữa, đó là vì bổn nguyện
của Bồ-tát rằng: "Nếu có chỗ nào
thuyết Bát-nhã Ba-la-mật thời ta sẽ nghe, lãnh thọ, cúng
dường". Vì vậy nên từ xa đi đến. Vì muốn đem thân lực chứa
nhóm công đức, cũng vì muốn tỏ cho chúng sanh rõ rằng: "Ta từ
xa còn đi đến cúng dường pháp, sao các ngươi ở tại thế giới
này mà không cúng dường?"
Hỏi:
Phật đối với pháp không còn dính
mắc, tại sao lại bảy phen hiện thần lực để khiến chúng sanh
tập hội đông đủ?
Ðáp:
Bát-nhã Ba-la-mật ấy rất sâu xa,
khó biết khó hiểu, không thể nghĩ bàn, cho nên tập hội rộng
rãi các Ðại Bồ-tát, làm cho người mới phát tâm được tin vui.
Cũng như lời của kẻ nhỏ không đủ làm cho ai tin, lời của người
quý trọng tất được tin vâng.
Hỏi:
Cớ sao nói "hoặc thế giới Trời,
hoặc thế giới Ma, hoặc thế giới Phạm-thiên"? Chỉ nên nói thế
giới Trời, thế giới Người là đủ, vì cớ sao? Vì trong mười hiệu
của Phật có hiệu là Thiên Nhơn sư. Do vâïy chỉ nên nói Trời và
Người là đủ?
Ðáp:
Chư thiên có Thiên nhãn, Thiên nhĩ,
lợi căn, trí tuệ nhiều, tự biết mà đi đến. Thế nên nói là thế
giới Trời.
Hỏi:
Nếu trong thế giới Trời đã gồm có
Ma, Phạm; sao còn nói riêng Ma hoặc Phạm?
Ðáp:
Trong chư thiên có 3 chủ lớn:
Thích-đề-bà-na-dân làm thiên chủ hai nơi (Tứ thiền thiên và
Tam-thập-tam thiên), Ma vương làm chủ cõi trời Lục dục,
Phạm-thiên-vương làm Thiên chủ trong thế giới Phạm thiên.
Hỏi:
Như cõi trời Dạ-ma, cõi trời
Ðâu-suất-đà, cõi trời Hóa Lạc thảy đều có chủ, tại sao chỉ nói
có ba chủ?
Ðáp:
Thích-đề-bà-na-dân vương nương trên
đất mà ở, Phật cũng nương trên đất đó mà ở. Vì thường đến chỗ
Phật, rất có danh tiếng, nhiều người biết đến. Còn Ma vương
thì thường đến quấy rầy Phật, lại là chủ của tất cả cõi Dục.
Các trời Dạ-ma, trời Ðâu-suất-đà, trời Hóa Lạc đều thuộc Ma
vương.
Lại
nữa, nói thế giới Trời, thời trời của ba cõi đều thuộc về
Trời. Ma là chủ của tất cả cõi Dục, nên nói riêng.
Lại
nữa, Ma thường quấy rầy Phật, mà nay đến nghe thuyết Bát-nhã
Ba-la-mật, thì các người khác cũng thêm lòng tín.
Hỏi:
Trong cõi Sắc có rất nhiều cõi
Trời; tại sao chỉ nói thế giới Phạm thiên tập hội?
Ðáp:
Các cõi Trời cao nữa thì không có
giác và quán, không thích tán tâm lại vì khó nghe. Thế giới
Phạm có bốn thức (nhãn, nhĩ, thân, ý thức) vì dễ nghe được và
vì ở gần.
Lại
nữa, " Phạm" nghĩa là ly dục thanh tịnh. Nay nói thế giới Phạm
là đã nói chung các cõi Trời ở Sắc giới.
Lại
nữa, các cõi Trời khác chưa có dân trời, lúc kiếp sơ sanh,
Phạm-thiên-vương ở một mình trong Thiên cung, vắng vẻ không
ai, tâm không vui nên tự nghĩ: "Sao trong đây không có nhân
dân?" Bấy giờ Quang-âm mệnh tuyệt, ứng theo ý nghĩ kia mà sanh
đến. Phạm vương bèn suy nghĩ: "Chư thiên này trước không có,
theo ý nghĩ của ta mà sanh ra, ta hay sanh ra chư thiên này".
Chư thiên khi ấy ai cũng tự nghĩ: "Ta từ Phạm vương sanh ra.
Phạm vương là cha của ta". Do vậy nên chỉ nói Phạm thế giới.
Lại
nữa, các cõi Trời Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền (các cõi cao
trên Phạm-thiên) thấy Phật, nghe pháp, hoặc khuyến trợ Bồ-tát
ở tại cõi Dục, nhưng nhãn thức, nhĩ thức, thân thức đều tựa
vào thế giới Phạm. Do vậy nên nói riêng Phạm thế giới.
Hỏi:
Tại sao chỉ nói các Sa-môn,
Bà-la-môn, mà không nói đến Quốc vương, Trưởng giả và các
chúng khác?
Ðáp:
Người trí tuệ có hai hạng là Sa-môn
và Bà-la-môn. Xuất gia thì gọi là Sa-môn, tại gia thì gọi là
Bà-la-môn. Các người khác để tâm vào sự vui ở đời, cho nên
không nói. Bà-la-môn phần nhiều học trí tuệ và cầu phước,
người xuất gia thì hết thảy đều cầu đạo, thế cho nên chỉ nói
đến Sa-môn và Bà-la-môn. Trong hàng tại gia, người có bảy đời
thanh tịnh, sanh ra đủ sáu tuổi, đều thụ giới, gọi là
Bà-la-môn. Trong hàng Sa-môn, Bà-la-môn ấy, có đạo đức, trí
tuệ cho nên nói.
Hỏi:
Trước đã nói thế giới Trời, sao nay
còn nói đến trời?
Ðáp:
Thiên thế giới là chỉ
Tứ-thiên-vương , Ðao-lợi thiên; Ma là chỉ cho Tha-hóa-tự-tại
thiên; Phạm là chỉ cho Sắc giới. Nay nói trời là chỉ cho
Dạ-ma, Ðâu-suất-đà, Hóa-lạc và Ái-thân-thiên trong Dục giới.
Ái-thân ở trên Lục-dục-thiên, hình sắc tuyệt đẹp, cho nên gọi
là Ái-thân.
Hỏi:
Tại sao chỉ nói Càn-thát-bà mà
không nói đến các Quỷ thần và Long vương khác?
Ðáp:
Càn-thát-bà là nhạc thần của chư
thiên, thường đi theo chư thiên. Tâm nó nhu nhuyến, phước đức
kém hơn chư thiên. Các Quỷ thần thuộc trong Quỷ thần đạo; Long
vương thuộc trong súc sanh đạo. Chân-đà-la cũng là kỹ nhạc của
trời, đều thuộc vào trời; chung ở cùng ngồi với người mà ăn
uống, và kỹ nhạc thì đồng với trời. Vua Càn-thát-bà tên là
Ðồng-lung-ma (Tàu dịch là Cây). Càn-thát-bà, Chân-chân-đà
thường ở hai chỗ, chỗ thường ở là tại giữa núi Thập Bảo. Có
khi tấu nhạc cho chư thiên ở trên trời. Hai loại này thường
thay đổi giữa cao và thấp.
Người sanh trong bốn châu thiên hạ. Sanh ra có bốn hạng. Sống
rất lâu cho đến vô lượng tuổi, sống rất ngắn cho đến chỉ mười
tuổi.
A-tu-la là ác tâm, ưa đấu tranh mà không phá giới, tu phước bố
thí lớn, sanh ở trên biển lớn, cũng có thành quách cung điện.
Các vua của A-tu-la ấy tên là Tỳ-ba-chất-đa, Ba-lê, La-hầu-la
v.v...
Như
có thuyết kể: "Một lúc nọ, La-hầu-la A-tu-la vương muốn nuốt
mặt trăng. Nguyệt thiên tử sợ hãi, gấp đi đến chỗ Phật nói kệ:
"Phật
Thế Tôn thành tựu đại trí
Con nay quy mạng khể thủ lễ.
La-hầu-la ấy não loạn con,
Xin Phật thương xót mà cứu hộ".
Phật
nói kệ cho La-hầu-la:
"Trăng
hay soi tối lại mát mẻ,
Là ngọn đèn trời giữa hư không.
Sắc nó trong trắng ngàn ánh sáng,
Người chớ nuốt trăng, mau nhả ra".
Khi
ấy La-hầu-la sợ quá toát mồ hôi, liền nhả trăng ra. Ba-lê
A-tu-la vương thấy La-hầu-la sợ hãi, nhả trăng ra, nói kệ hỏi
rằng:
"Ngươi
La-hầu-la vì cớ gì
Sợ hãi run rẩy nhả trăng gấp?
Thân ngươi mồ hôi như người bệnh,
Tâm sợ bất an đến thế kia?"
La-hầu-la bấy giờ nói kệ đáp rằng:
"Thế
Tôn dùng kệ mà dạy tôi,
Tôi không nhả trăng, đầu vỡ bảy.
Dẫu cho sống được, không an ổn,
Vì vậy nên tôi nhả trăng này".
Ba-lê A-tu-la vương nói kệ rằng:
"Chư
Phật rất khó gặp,
Lâu xa mới xuất hiện,
Nói kệ thanh tịnh này,
La-hầu-la nhả trăng".
Hỏi:
Tại sao không nói địa ngục, súc
sanh, ngạ quỷ?
Ðáp:
Ðịa ngục đại khổ, tâm rối loạn
không thể thọ pháp, súc sanh thì ngu si che tâm, không thể thọ
hóa, ngạ quỷ thì đói khát đốt thân cho nên không thể thọ pháp.
Lại
nữa, trong loài súc sanh, ngạ quỷ, ít nhiều có kẻ đến nghe
pháp, chỉ sanh tâm phước đức mà thôi, không tham lãnh thọ đạo,
cho nên không nói.
Hỏi:
Nếu như vậy, cũng không nên nói đến
Càn-thát-bà, A-tu-la, vì sao? Vì đã bao gồm trong ngạ quỷ đạo?
Ðáp:
Phật không nói bao gồm, sao nay nói
bao gồm. Ðó là thuyết của Ca-chiên-diên-tử v.v... Như sức của
A-tu-la ngang với trời, có khi chiến đấu hơn trời. Càn-thát-bà
là nhạc công của chư thiên, đồng thọ phước lạc với trời, có
trí tuệ phân biệt được tốt xấu, vì cớ sao không thể lãnh thọ
đạo pháp? Như phẩm Thiên trong kinh Tạp A-hàm nói: "Mẹ quỷ
thần Phú-na-bà-tẩu, Phật du hành nghỉ đêm nơi đó. Bấy giờ Phật
thuyết về pháp thượng diệu cam lồ, hai người con trai con gái
khóc lóc, mẹ nó nói bài kệ để ngăn rằng:
"Này
con Uất-đát-la chớ ồn,
Phú-na-bà-tẩu cũng chớ khóc.
Ta nay Nghe pháp được Chứng đạo,
Các con cũng sẽ được như ta".
Do
việc ấy nên biết trong hàng Quỷ thần có kẻ đắc đạo.
Lại nữa, trong Ðại thừa, lực sĩ
kim-cang Mật-tích trong hàng các Bồ-tát là hơn hết, hà huống
các người khác.
Như Ðơn-luân-ma, vua của
Chân-đà-la, vua của Càn-thát-bà, đến chỗ Phật gảy đàn ca ngợi
Phật. Ba ngàn thế giới đều chấn động, cho đến Ð?i Ca-diếp ngồi
không yên. Những người như vậy, sao không thể đắc đạo?
Như các A-tu-la vương, Long
vương, đều đến chỗ Phật, hỏi Phật về pháp sâu xa, Phật tùy câu
hỏi mà giải đáp nghĩa sâu, sao nói không thể đắc đạo?
Hỏi:
Trong năm đạo chúng sanh, Phật là
Thầy của trời, người, không nói là Thầy của ba ác đạo, vì ba
ác đạo vô phước, không có phần lãnh thọ đạo pháp, mà Rồng và
Quỷ đều đọa vào trong ác đạo?
Ðáp:
Phật cũng không nói rõ năm đạo. Nói
năm đạo, là do các thầy ở Nhất-thiết-hữu-bộ. Các vị khác ở
phái Ðộc-tử-bộ (Bà-ta-phất-đố-lộ) nói có sáu đạo.
Lại nữa, nên
nói có sáu đạo, vì sao? Ba ác đạo
một mực thuần là chỗ tội lỗi. Nếu phước nhiều tội ít, thì gọi
là A-tu-la, Càn-thát-bà v.v... chỗ thác sanh phải khác, vì vậy
nên có sáu đạo.
Lại nữa,
ba ác đạo cũng có lẽ lãnh thọ đạo
pháp, song vì ít cho nên nói không.
Và
các Bồ-tát sắp nối ngôi vị Phật, như trước đã nói.
(Hết cuốn 10 theo bản Hán)
--o0o --
Mục Lục
Tập 01
Cuốn 1
<