| ...... ... |
. |
Abhidhammattha Saṅgaha
A Manual of Abhidhamma
Vi Diệu Pháp Toát Yếu
Nārada Mahā Thera
Phạm Kim Khánh dịch
---o0o---
- Chương II (tiếp theo)
Những sự phối hợp khác nhau của các tâm sở
| 3.
Tesaṁ cittāviyuttānaṁ [1] --
yathāyogamito paraṁ
Cittuppādesu [2] paccekaṁ--
sampayogo pavuccati
Satta sabbattha yujjanti -- Yathāyogaṁ pakiṇṇakā
Cuddasā' kusalesv'eva -- sobhanesv'eva sobhanā.
4.
Katham?
Sabbacittasādhāraṇā tāva satta cetasikā
sabbesu'pi ek'ūnanavuti-cittuppādesu labbhanti.
Pakiṇṇakesu pana:-
(a) Vitakko tāva dvipañcaviññāṇa
vajjitakāmāva- caracittesu c'eva ekādasasu paṭhamajjhānacittesu
cā'ti pañcapaññāsacittesu uppajjati.
(b) Vicāro pana tesu c'eva ekādasasu dutiyaj- jhānacittesu
c'āti chasaṭṭhi cittesu jāyati.
(c) Adhimokkho dvipañcaviññāṇavicikicchā-
vajjitacittesu.
(d) Viriyaṁ pañcadvārāvajjana -- dvipañca-
viññāṇa - sampaṭicchana - santīrana -
vajjitacittesu.
(e) Pīti domanass'upekkhāsahagata -- kāya- viññāṇa-
catutthajjhāna-vajjitacittesu.
(f) Chando ahetuka-momūhavajjita cittesu labbhati.
5.
Te pana cittuppādā yathākkamaṁ:-
Chasaṭṭhi pañ capaññāsa -- ekādasa ca
solasa
Sattati vīsati c'eva -- pakiṇṇakavivajjitā
Pañcapaññāsa chasaṭṭhiṭṭhasattati tisattati
Ekapaññāsa c'ekūna -- sattati sapakiṇṇakā. |
| §3 Tùy trường hợp, trong
những loại tâm khác nhau sự phối hợp của mỗi tâm sở nầy sẽ được
đề cập đến sau đây.
Bảy, liên hợp với tất cả các loại tâm. Sáu tâm sở Riêng Biệt liên
hợp tùy trường hợp. Mười Bốn chỉ liên hợp với các loại tâm Bất
Thiện. Mười Chín tâm sở Ðẹp, chỉ phát sanh trong tâm Ðẹp.
§4
Bằng cách nào?
Trước tiên, bảy tâm sở Phổ Thông (Biến Hành) được thấy trong tất
cả tám mươi chín loại tâm.
Trong các tâm sở Riêng Biệt (Biệt Cảnh)
(a) "Tầm" [3] phát sanh trong năm mươi lăm
loại tâm, đó là:
(i) Trong tất cả các loại tâm thuộc Dục Giới, ngoại trừ cặp ngũ
quan thức (54 - 10 = 44).
(ii) Cũng phát sanh trong mười một loại tâm của Sơ Thiền (44 + 11
= 55).
(b) "Sát", phát sanh trong sáu mươi sáu
loại tâm, đó là: trong năm mươi lăm loại kể trên và trong
mười một loại tâm của Nhị Thiền. (55 + 11 = 66).
(c) "Xác Ðịnh", phát sanh trong tất cả các loại tâm, ngoại trừ
cặp ngũ song thức và loại tâm liên hợp với "Hoài Nghi". (89 - 11 =
78).
(d) "Tinh Tấn", phát sanh trong tất cả các loại tâm, ngoại trừ
ngũ môn hướng tâm, ngũ song thức, tiếp thọ tâm, và suy đạc tâm. (89
- 16 = 73).
(e) "Hỷ", phát sanh trong tất cả các loại tâm, ngoại trừ những
loại tâm liên hợp với thọ ưu và thọ xả, thân thức [4], và tâm Tứ
Thiền (121 - (2+55+2+11) = 51)
(f) "Dục" phát sanh trong tất cả các loại tâm ngoại trừ những
loại tâm Vô Nhân và hai loại tâm liên hợp với Si (89 - 20 = 69).
§5
Kể theo thứ tự, các loại tâm nầy là:
Sáu mươi sáu, năm mươi lăm, mười một, mười sáu, bảy m uơi
và hai mươi không có tâm sở Riêng Biệt.
Năm mươi lăm, sáu mươi sáu, bảy mươi tám, bảy mươi ba, năm mươi
mốt, sáu mươi chín, phát sanh cù ng với những loại tâm sở
Riêng Biệt [5] . |
Ghi chú:
[1] Cittāviyuttā theo nghĩa từng chữ là không thể tách rời ra khỏi
tâm, tức Cetasikas, các tâm sở
[2] Cittuppādo theo nghĩa từng chữ là: khởi điểm của tâm. Nơi đây
danh từ kép nầy áp dụng cho tâm mà thôi; ở những nơi khác là cả hai, tâm
vương và các tâm sở.
[3] Vitakka do bản chất thiên nhiên, không hiện hữu trong mười hai
loại tâm Quả Thiện và Bất Thiện có liên quan đến ngũ quan. Trong các
tầng Thiền cao Vitakka cũng bị loại trừ do trạng thái tâm an trụ.
[4] Thân thức, tức là cái gì kết hợp với thọ Khổ (Dukkha) và thọ Lạc
(Sukha).
[5] Vào cuối phần nầy có đề cập đến con số tâm vương nhất định trong
đó có tâm sở Riêng Biệt và số tâm vương trong đó không có tâm sở Riêng
Biệt. Nên ghi nhận rằng có nơi đề cập đến con số 121 và có nơi 89.
-ooOoo-
Akusala Cetasika
Tâm sở bất thiện
| 6.
(a) Akusalesu pana Moho, Ahirikaṁ
Anottappaṁ, Uddhaccaṁ c'āti cattāro'me cetasikā sabbākusalasādhāraṇā
nāma. Sabbesu'pi dvādasākusalesu labbhanti.
(b) Lobho aṭṭhasu lobhasahagatesv'eva labbhati
(c) Diṭṭhi catusu diṭṭhigatasampayuttesu.
(d) Māno catusu diṭṭhigatavippayuttesu.
(e) Doso, Issā, Macchariyaṁ, Kukkuccaṁ ca dvīsu paṭighacittesu.
(f) Thīnaṁ, Middhaṁ pañcasu sasaṅkhārikacittesu.
(g) Vicikicchā vicikicchāsahagatacittey'eva labbhatī'ti.
7.
Sabbāpuñ ñesu cattāro -- lobhamūle tayo
gatā
Dosamūlesu cattāro -- sasaṅkhāre dvayaṁ tathā
Vicikicchā vicikicchācitte c'āti catuddasa
Dvādasākusalesv'eva -- sampayujjanti pañcadhā. |
| §6
(a) Trong các tâm sở Bất Thiện có bốn loại nầy [6]-- Si, Không Hổ
Thẹn, Không Sợ và Phóng Dật -- nằm trong tất cả các loại tâm Bất
Thiện.
(b) Tham chỉ nằm trong tám loại tâm bắt
nguồn từ căn tham.
(c) Tà Kiến [7] nằm trong bốn loại tâm liên hợp với tà kiến.
(d) Ngã Mạn [8] nằm trong bốn loại tâm không liên hợp với tà
kiến.
(e) Sân, Ganh Tỵ, Xan Tham và Lo Âu [9], nằm trong hai loại tâm
liên hợp với sân.
(f) Hôn Trầm và Thụy Miên [10], nằm trong
năm loại tâm có sự xúi giục.
(g) Hoài Nghi, chỉ nằm trong loại tâm liên hợp với hoài nghi.
§7. Tóm lược
Bốn được thấy trong tất cả các loại tâm Bất Thiện, ba trong các
loại tâm bắt nguồn từ căn Tham, bốn trong những loại tâm bắt nguồn từ
căn Sân, và hai từ các loại tâm có sự xúi giục.
Hoài Nghi hiện hữu trong loại tâm liên hợp với hoài nghi. Như vậy,
mười bốn tâm sở Bất Thiện chỉ đồng phát sanh cùng mười hai tâm vương
Bất Thiện bằng năm cách. |
Ghi chú:
[6] Moha (Si) là căn nguyên của tất cả các tâm Bất Thiện. Người ta có
hành động bất thiện vì không biết (Si) hậu quả bất thiện của nó. Cùng
liên hợp với "Si" là trạng thái không hổ thẹn khi làm điều bất thiện, và
bất kể đến (không sợ) hậu quả của hành động bất thiện. Khi đã hành động
bất thiện tức nhiên tâm không yên, có trạng thái phóng dật.
[7] Do Tà Kiến phát sanh khái niệm "Ta" và "Của Ta" có liên quan đến
tự ngã. Vì lẽ ấy Tà Kiến phát sanh trong các loại tâm bắt nguồn từ căn
tham.
[8] Māna (Ngã Mạn) cũng phát sanh do khái niệm sai lầm về "Ta". Vì lẽ
ấy, Māna chỉ hiện diện trong những loại tâm bắt nguồn từ căn tham. Tuy
nhiên, Diṭṭhi và Māna không phát sanh cùng một lúc trong một loại tâm
riêng biệt. Nơi nào có Diṭṭhi (Tà Kiến) thì không có Māna (Ngã Mạn). Các
bản chú giải so sánh Diṭṭhi và Māna như hai con sư tử dữ tợn không biết
sợ, không thể cùng sống chung với nhau trong một chuồng. Māna có thể
phát sanh trong bốn loại tâm bất thiện không liên hợp với Tà Kiến. Như
vậy không có nghĩa là Māna luôn luôn hiện diện trong các loại tâm ấy.
[9] Bốn tâm sở nầy không phát sanh trong những loại tâm bắt nguồn từ
căn tham bởi vì trong các tâm sở nầy có một vài hình thức bất toại
nguyện, thay vì có một loại tham ái nào. Chí đến Macchariya (Xan Tham)
cũng là một loại bất toại nguyện đối với kẻ khác, tranh đua với mình.
[10] Hôn Trầm và Thụy Miên, Thīna và Middha, do bản chất thiên nhiên
của nó, là đối nghịch với trạng thái thích ứng. Trong trạng thái thụy
miên và hôn trầm không có sự hối thúc. Do đó hai trạng thái nầy không
thể phát sanh trong những loại tâm không có sự xúi giục (Asaṅkhārika),
vì theo bản chất tự nhiên của nó, những loại tâm nầy là nhiệt thành và
tích cực. Thīna và Middha, Hôn Trầm và Thụy Miên, chỉ phát sanh trong
những loại tâm có sự xúi giục.
-ooOoo-
Sobhana Cetasika
Tâm sở đẹp
| 8.
(a) Sobhanesu pana sobhanasādhāraṇā tāva ek'ūna vīsati cetasikā
sabbesu pi ek'ūnasaṭṭhisobhana- cittesu saṁvijjanti.
(b) Viratiyo pana tisso'pi Lokuttaracittesu sabbathā'pi niyatā
ekato'va labbhanti. Lokiyesu pana Kāmāvacarakusalesv'eva kadāci
sandissanti visuṁ visuṁ.
(c) Appamaññāyo pana dvādasasu
pañcamajjhāna vajjitamahaggatacittesu c'eva Kāmāvacara- kusalesu ca
sahetukakāmāvacarakiriyācittesu c'āti aṭṭhavisaticittesv'eva kadāci
nānā hutvā jāyanti. Upekkhāsahagatesu pan'ettha Karunā Muditā na
santī'ti keci vadanti.
(d) Paññā pana dvādasasu
ñāṇasampayuttakāmā- vacaracittesu c'eva sabbesu pañcatiṁsamahag-
gatalokuttaracittesu c'āti sattacattāḷīsa cittesu sampayogaṁ
gacchatī'ti.
9.
Ek'kūnavīsati dhammā jāyant'ekūnasaṭṭhisu
Tayo soḷasacittesu aṭṭhavisatiyaṁ dvayaṁ
Paññā pakāsitā sattacattāḷīsavidhesu'pi
Sampayuttā catuddhv'evaṁ sobhanesv'eva sobhanā. |
| §8 (a) Trong những tâm
sở "Ðẹp" (Tịnh Quang tâm sở) trước tiên có mười chín tâm sở Ðẹp cùng
chung hiện hữu trong tất cả năm mươi chín loại tâm Ðẹp.
(b) Ba tâm sở Tiết Chế, nhất định luôn luôn đồng phát sanh cù ng
một lúc trong tất cả những loại tâm Siêu Thế. Nhưng, trong những
loại tâm Thiện thuộc Dục Giới, các tâm sở nầy, từng lúc, phát sanh
riêng biệt. (8 + 8 = 16).
(c) Các tâm "Vô Lượng" phát sanh từng lúc và riêng biệt nhau
trong hai mươi tám loại tâm sau đây: Mười hai loại tâm Cao Thượng,
ngoại trừ tâm Ngũ Thiền, tám loại tâm Thiện và tám loại tâm Hành Hữn
Nhân thuộc Dục Giới. Tuy nhiên vài người chủ trương rằng hai tâm sở
Bi và Hỷ không hiện hữu trong những loại tâm liên hợp với thọ Xả.
(12 + 8 + 8 = 28).
(d) Trí Tuệ phối hợp với bốn mươi bảy loại tâm sau đây: Mười hai
loại tâm thuộc Dục Giới có liên hợp với tri kiến, tất cả ba mươi lăm
loại tâm Cao Thượng [11] và Siêu Thế. (12 + 35 = 47).
§9
Mười chín tâm sở phát sanh trong năm mươi chín loại tâm vương, ba
trong mười sáu, hai trong hai mươi tám loại.
Trí Tuệ được xác nhận là nằm trong bốn mươi bảy loại. Tâm
sở Ðẹp chỉ hiện diện trong các tâm vương Ðẹp. Do đó, các tâm sở nầy
phối hợp bằng bốn cách. |
Ghi chú:
[11] Tâm Cao Thượng - Những loại tâm Thiền Sắc Giới và Vô Sắc Giới
được gọi chung là Mahaggata. Ðúng theo nghĩa của từng chữ là "lớn đi
đến", tức là tâm đã được phát triển. Có nơi gọi là Ðại Hành Tâm, nơi
khác gọi là Cao Nhã Tâm.
-ooOoo-
Cetasikarāsi Saṅgaho
Thành phần tâm sở trong những loại
tâm vương khác nhau
| 10.
Issā-Macchera-Kukkucca -- Viratī Karuṇādayo
Nānā kadāci Māno ca -- Thīna-Middhaṁ tathā saha
Yathā vuttānusārena – sesā niyatayogino
Saṅgahañ ca pavakkhāmi -- tesaṁ'dāni yathārahaṁ
Chattiṁsānuttare dhammā -- pañcatiṁsa mahaggate
Aṭṭhatiṁsā'pi labbhanti -- Kāmāvacarasobhane.
Sattavīsatyapuñ ñamhi -- dvādasāhetuke'ti
ca
Yathāsambhavayogena -- pañcadhā tattha saṅgaho. |
| §10 Ganh Tỵ, Xan Tham,
Lo Âu, Tiết Chế (ba) Bi, Hỷ, và Ngã Mạn phát sanh riêng biệt và tùy
lúc. Cùng thế ấy cặp Hôn Trầm và Thụy Miên.
Ngoài ra, những tâm sở còn lại (52 - 11 = 41) phát sanh trong
những loại tâm nhất định. Bây giờ tôi sẽ đề
cập đến sự phối hợp của các tâm sở ấy.
Ba mươi sáu tâm sở phát sanh trong tâm Siêu Thế, ba mươi lăm
trong các tâm Cao Thượng, ba mươi tám trong các tâm Ðẹp thuộc Dục
Giới.
Hai mươi bảy trong những tâm Bất Thiện, mười hai trong các tâm Vô
Nhân. Tùy theo phương thức mà các tâm sở ấy phát sanh, ở đây sự phối
hợp của chúng có năm. |
-ooOoo-
Lokuttara-Cittāni
Tâm siêu thế
| 11.
Katham?
(a) Lokuttaresu tāva aṭṭhasu paṭhamajjhānikacittesu Añ ñasamānā
terasa cetasikā Appamaññāvajjitā
tevīsati Sobhanacetasikā c'āti chattiṁsa dhammā saṅgahaṁ gacchanti.
(b) Tathā Dutiyajjhānikacittesu Vitakkavajjā.
(c) Tatiyajjhānikacittesu Vitakka-Vicāravajjā.
(d) Catutthajjhānikacittesu Vitakka-Vicāra-Pītivajjā.
(e) Pañcamajjhānikacittesu'pi
Upekkhāsahagatā te eva saṅgayhanti'ti sabbathā'pi aṭṭhasu
Lokuttaracittesu Pañcamajjhānavasena pañcadhā'va saṅgaho hotī'ti.
Chattiṁsa pañcatiṁsā ca -- catuttiṁsa
yathākkamaṁ
Tettiṁsadvayam'iccevaṁ -- pañcadhānuttare ṭhitā. |
| §11. Bằng cách nào?
(a) Trước tiên, trong tám loại tâm Sơ Thiền Siêu Thế có ba mươi
sáu tâm sở phối hợp như sau: Mười ba tâm Aññasamānas, Bất Ðồng (tức
7 Phổ Thông và 6 Riêng Biệt) và hai mươi ba tâm sở Ðẹp, ngoại trừ
hai tâm sở Vô Lượng [12]. (13 + 23 = 36).
(b) Cùng thế ấy, trong tâm Nhị Thiền Siêu Thế, tất cả những tâm
sở kể trên, ngoại trừ tâm sở Tầm. [13]
(c) Trong Tam Thiền (tất cả), ngoại trừ Tầm và Sát.
(d) Trong Tứ Thiền (tất cả) ngoại trừ Tầm, Sát và Phỉ.
(e) Trong loại tâm Ngũ Thiền liên hợp với Xả, tất cả những tâm sở
trên, ngoại trừ Tầm, Sát, Phỉ và Lạc.
Như vậy, trong mỗi phương cách, sự phối hợp của những tâm sở phát
sanh trong tám loại tâm Siêu Thế chia làm năm phần, tùy theo năm
tầng Thiền (Jhānas).
Theo thứ tự, có ba mươi sáu, ba mươi lăm, ba mươi bốn, và
ba mươi ba trong hai trường hợp cuối cùng.
Ðó là năm phương cách mà các tâm sở phát sanh trong những loại
tâm Siêu Thế. |
Ghi chú:
[13] Trong tầng Nhị Thiền, tâm sở Tầm, Vitakka, bị loại trừ. Trong
các tầng Thiền còn lại những tâm sở khác cũng lần lượt bị loại cùng một
thế ấy.
[12] Bởi vì đối tượng của các tâm sở Vô Lượng là chúng sanh, trong
khi đối tượng của tâm Siêu Thế là Niết Bàn.
Chú Giải:
52. Aniyatayogi và Niyatayogi, tâm sở Không Cố Ðịnh và tâm sở Cố Ðịnh.
Trong năm mươi hai tâm sở, có mười một được gọi là Aniyatayogi, Không
Cố Ðịnh. Những tâm sở nầy phát sanh riêng rẽ trong những loại tâm khác
nhau, bởi vì đối tượng riêng biệt của mỗi tâm đều khác nhau. Chúng có thể
phát sanh hay không phát sanh trong những loại tâm liên hệ với chúng. Thí
dụ Ganh Tỵ, Xan Tham và Phóng Dật phải phát sanh trong những loại tâm liên
hợp với bất toại nguyện. Một trong ba tâm sở trên phải phát sanh vào một
lúc nhất định. Tất cả ba không phát sanh cùng một lúc.
Ngoài ra, ba loại tâm nầy không nhất thiết phải hiện hữu trong một loại
tâm tương tợ. Cùng thế ấy, ba tâm Tiết Chế, hai tâm Vô Lượng, Ngã Mạn, Hôn
Trầm và Thụy Miên.
Bốn mươi mốt tâm sở còn lại được gọi là Niyatayogi, tâm sở Cố Ðịnh. Các
tâm sở nầy luôn luôn -- một cách cố định, bất di dịch -- phát sanh trong
những loại tâm liên hệ với chúng.
53. Virati, Tiết Chế
Ba tâm sở nầy chỉ được thấy hiện hữu chung trong tâm Siêu Thế, vì chúng
là ba chi (Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng) của Bát Chánh Ðạo. Ba loại
tâm nầy không thể phát sanh chung trong các loại tâm thuộc Sắc Giới và Vô
Sắc Giới, cũng không thể hiện hữu chung trong những tâm Hành (Kriyā) và
tâm Quả (Vipāka) thuộc Dục Giới. Ba tâm nầy liên quan đến ba hình thức
tiết chế là lánh xa hành động bất thiện trong lời nói, việc làm, và lối
nuôi mạng. Như vậy, các tâm sở nầy chỉ phát sanh một cách riêng rẽ trong
tám loại tâm Thiện, tùy theo loại tiết chế nào mà ta thực hành.
Những tiết chế nầy chỉ phát sanh với đầy đủ năng lực trong các loại tâm
Siêu Thế vì các loại tâm Bất Thiện đối nghịch với những tiết chế ấy đều đã
bị tiêu trừ trọn vẹn. Trong những loại tâm Thiện thuộc Dục Giới chỉ có sự
chế ngự tạm thời các tâm Bất Thiện đối nghịch.
Vì tâm Quả thuộc Dục Giới (Kāmāvacara-Vipāka-cittas) chỉ là những hậu
quả, không thể phát sanh trong những tâm Tiết Chế. Chỉ có những vị A La
Hán mới chứng nghiệm các tâm Hành (Kriyā-cittas), vì lẽ ấy tâm sở Tiết Chế
không thể phát sanh trong tâm Hành. Các Tiết Chế không phát sanh trong
những loại tâm thuộc Sắc Giới và Vô Sắc Giới vì tác dụng của các Tiết Chế
là thanh lọc tâm, mà trong những cảnh Sắc và Vô Sắc thì không có nhu cầu
ấy.
54. Appamaññā, Vô Lượng
Trong bốn tâm sở Vô Lượng chỉ có hai được ghi nhận ở đây. Hai tâm sở
kia đã được đề cập đến ở một nơi khác.
Phải ghi nhận rằng đối tượng của những tâm Vô Lượng ấy là chúng sanh.
Vì lẽ ấy các tâm sở nầy không thể phát sanh trong những loại tâm Siêu Thế
mà đối tượng là Niết Bàn.
Như vậy không có nghĩa rằng chư vị A La Hán và các vị Thánh Nhân khác
không có những phẩm hạnh nầy, mà chỉ có nghĩa rằng các tâm sở nầy không có
mặt trong các tâm Ðạo và Quả.
Các Vô Lượng tâm cũng không phát sanh trong Ngũ Thiền vì ở đây thọ là
Xả, Upekkhā. Các loại tâm thuộc Vô Sắc Giới cũng liên hợp với thọ Xả nên
không thể có tâm sở Vô Lượng đồng phát sanh. Trong tám tâm Hành
(Kriyā-cittas) mà chỉ những vị A La Hán mới chứng nghiệm, có hiện hữu tâm
Vô Lượng, vì các Ngài cũng rải những tư tưởng Bi và Hỷ đến tất cả chúng
sanh.
-ooOoo-
Mahaggata-Cittāni
Tâm cao thượng
| 12.
Mahaggatesu pana
(a) tīsu Paṭhamajjhānikacittesu tāva añ ñasamānā
terasa cetasikā Viratittayavajjitā dvāvīsati Sobhanacetasikā c'āti
pañcatiṁsa dhammā saṅgahaṁ gacchanti. Karunā-Muditā pan'ettha
paccekam-'eva yojetabbā. Tathā
(b) Dutiyajjhānikacittesu Vitakka-vajjā,
(c) Tatiyajjhānikacittesu Vitakka Vicāravajjā,
(d) Catutthajjhānikacittesu Vitakka-Vicāra-Pītivajjā,
(e) Pañcamajjhānikacittesu pana paṇṇarasasu Appamaññāyo
na labbhantī'ti sabbathā'pi sattavisati-Mahaggata cittesu
pañcakajjhānavasena pañcadhā'va saṅgaho
hotī'ti.
13.
Pañcatiṁsa catuttiṁsa -- tettiṁsa ca yathākkamaṁ
Dvattiṁsa c'eva tiṁseti-- pañcadhā'va Mahaggate. |
| §12 (a) Trước tiên,
trong ba loại tâm Sơ Thiền Cao Thượng có ba mươi lăm tâm sở phối hợp
như sau: Mười ba Aññasamānā (bảy Phổ Thông
và sáu Riêng Biệt) và hai mươi hai tâm sở Ðẹp, ngoại trừ ba Tiết Chế
[1]. (13+22 = 35). Ở đây Bi và Hỷ phải được
phối hợp riêng với nhau [2].
(b) Cùng thế ấy, trong tâm Nhị Thiền, Tầm được loại trừ.
(c} Trong tâm Tam Thiền, Tầm và Sát được loại trừ.
(d) Trong Tứ Thiền, Tầm, Sát, và Phỉ được loại trừ.
(e) Trong mười lăm loại tâm của Ngũ Thiền [3] không có tâm
Vô Lượng.
Trong tất cả hai mươi bảy loại tâm Cao Thượng có năm phương cách
phối hợp tương hợp với năm tầng Thiền (Jhā na).
§13
Theo thứ tự, có ba mươi lăm, ba mươi bốn, ba mươi ba, ba mươi
hai, và ba mươi. Những tâm sở Cao Thượng phối hợp với nhau bằng năm
cách. |
Ghi chú:
[1] Vì ba tâm sở Tiết Chế nầy chỉ hiện diện trong các loại tâm Siêu
Thế và các loại tâm Thiện thuộc Dục Giới.
[2] Bi và Hỷ không thể phối hợp chung với nhau vì đối tượng khác
nhau.
[3] Tức là 3 Ngũ Thiền và 12 Thiền Vô Sắc. Các chi thiền của Thiền Vô
Sắc (Arūpa Jhāna) giống nhau. Các tâm Vô Lượng không phát sanh trong các
chi thiền nầy vì nó cùng phát sanh với thọ Xả (Upekkhā).
-ooOoo-
Kāmāvacara-Sobhana-Cittāni
Tâm đẹp thuộc dục giới
| 14.
(i) Kāmāvacara-sobhanesu pana kusalesu tāva paṭhamadvaye Añ ñasamānā
terasa cetasikā pañcavisati Sobhanacetasikā c'āti aṭṭhatiṁsa-dhammā
saṅgahaṁ gacchanti.
Appamaññā Viratiyo pan'ettha pañca'pi paccekam'eva yojetabbā.
(ii) Tathā dutiyadvaye ñāṇavajjitā;
(iii) Tatiyadvaye ñāṇasampayuttā
pītivajjitā;
(iv) catutthadvaye ñāṇapītivajjitā. Te eva
saṅgayhanti.
Kiriyacittesu'pi Virativajjitā. Tath'eva catusu'pi dukesu
catudhā' va saṅgayhanti.
Tathā vipākesu ca Appamaññā-Virativajjittā.
Te eva saṅgayhantī'ti sabbathā'pi catuvīsati kāmāvacarasobhana-
cittesu dukavasena dvādasadhā'va saṅgaho hotī'ti.
15.
Aṭṭhatiṁsa sattatiṁsa -- dvayaṁ chattiṁsakaṁ subhe
Pañcatiṁsa catuttiṁsa -- dvayaṁ tettiṁsakaṁ
kriye
Tettiṁsa pāke dvattiṁsa -- dvayekatiṁsakaṁ bhave
Sahetukāmāvacara -- puññapākakriyā mane
16.
Na vijjant'ettha virati -- kriyāsu ca mahaggate
Anuttare appamañ ñā -- kāmapāke dvayaṁ
tathā
Anuttare jhānadhammā -- appamaññā ca majjhime
Virati ñāṇapīti ca -- parittesu visesakā. |
| §14 (i) Trước tiên,
trong hai loại tâm Ðẹp đầu thuộc Dục Giới [1] có ba mươi tám tâm sở
phối hợp nhau như sau: mười ba tâm Aññasamānā
(bảy Phổ Thông và sáu Riêng Biệt) và hai mươi lăm tâm sở Ðẹp.
(13 + 25 = 38).
Hai tâm sở Vô Lượng và ba Tiết Chế phải được phối hợp riêng biệt
[2] .
(ii) Cùng thế ấy trong cặp thứ nhì, tất cả các tâm sở trên đều
hiện hữu, ngoại trừ Tri Kiến;
(iii) Trong cặp thứ ba, liên hợp với Tri Kiến, Hỷ bị loại trừ;
(iv) Trong cặp thứ tư, Tri Kiến và Hỷ [3] bị loại trừ. (v) Trong
tâm Hành, ba Tiết Chế bị loại trừ [4]. Như ở trên, bốn cặp phối hợp
bằng bốn phương cách.
Các tâm sở nầy phát sanh cùng thế ấy trong tâm Quả, ngoại trừ
những tâm sở Vô Lượng và những Tiết Chế [5] . Như vậy trong tất cả
hai mươi bốn loại tâm Ðẹp thuộc Dục Giới có mười hai cách phối hợp,
theo từng cặp.
§15
Ðối với những tâm Hữu Nhân thuộc Dục Giới -- Thiện, Quả và Hành
-- có ba mươi tám phát sanh trong tâm Thiện (cặp đầu tiên), hai lần
ba mươi bảy [6] (trong cặp thứ nhì và thứ ba), và ba mươi sáu (trong
cặp thứ tư). Trong tâm Hành có ba mươi lăm
(trong cặp đầu), hai lần ba mươi bốn (trong cặp thứ nhì và
cặp thứ ba), ba mươi ba (trong cặp thứ tư). Trong tâm Quả ba mươi ba
(trong cặp đầu tiên), hai lần ba mươi hai (trong cặp thứ nhì và thứ
ba), ba mươi mốt (trong cặp thứ tư).
§16
Nơi đây các Tiết Chế không hiện hữu trong tâm Hà nh và tâm
Cao Thượng [7]. Cùng thế ấy, các tâm sở Vô Lượng trong tâm Siêu Thế,
và cả hai (Vô Lượng và Tiết Chế) trong tâm Quả thuộc Dục Giới [8].
Trong tầng Cao Thượng nhất các chi thiền sai khác nhau rõ rệt
[9]; Trong tầng Trung Bình [10], các tâm sở Vô Lượng (và các chi
thiền). Trong Hạ Tầng (tức Dục Giới), các Tiết Chế, Tri Kiến và Hỷ
[11] . |
Ghi chú:
[1] Tức là hai tâm "có và không có sự xúi giục" đồng phát sanh với
thọ Hỷ và liên hợp với Tri Kiến (hay Trí Tuệ).
[2] Bởi vì các tâm sở nầy không phải cố định, có thể phát sanh riêng
biệt và tùy lúc.
[3] Bởi vì tâm nầy liên hợp với Xả.
[4] Bởi vì các vị A La Hán đã tận diệt hoàn toàn những Tiết Chế.
[5] Tâm Quả (Vipāka) chỉ có một số đối tượng hạn định. Số đối tượng
của tâm sở Vô Lượng vô cùng tận. Các Tiết Chế tuyệt đối chỉ có tánh cách
luân lý, do đó không thể phát sanh trong một loại tâm Quả. Tuy nhiên
trong tâm Quả Siêu Thế (Phala) các Tiết Chế nầy phát sanh như phản ảnh
của tâm Ðạo (Magga).
[6] Tức là ba mươi bảy trong cặp thứ nhì và ba mươi bảy trong cặp thứ
ba.
[7] Tức trong cảnh Sắc và Vô Sắc Giới. Vì ở đấy không có cơ hội để
các bất thiện pháp ấy nổi lên.
[8] Xem chú giải số 54, trang 159.
[9] Tức là trong các loại tâm Siêu Thế. Khi các tâm nầy được sắp theo
năm tầng Thiền thì chi thiền trong mỗi loại tâm khác nhau.
[10] Tức trong Sắc Giới và Vô Sắc Giới.
[11] Tâm Thiện khác biệt với tâm Quả và tâm Hành do các Tiết Chế. Tâm
Thiện và Hành khác với Quả do Vô Lượng. Những cặp tương đương khác nhau
do Tri Kiến và Phỉ.
-ooOoo-
Akusala Cittānī
Tâm bất thiện
| 17.
(i) Akusalesu pana lobhamūlesu tāva paṭhame asaṅkhārike añ ñasamānā
terasa cetasikā akusalasādhāraṇā cattāro c'āti sattarasa
lobhadiṭṭhīhi saddhiṁ ekunavīsati dhammā saṅgahaṁ gacchanti.
(ii) Tath' eva dutiye asaṅkhārike lobhamānena.
(iii) Tatiye tath'eva pītivajjitā lobha-diṭṭhīhī saha aṭṭhārasa.
(iv) Catutthe tath'eva lobha-mānena.
(v) Pañcame paṭighasampayutte asaṅkhārike
doso issā macchariyaṁ kukkuccañc'āti catūhi saddhiṁ pītivajjitā te
eva vīsati dhammā saṅgayhaṅti. Issāmacchariyakukkuccāni pan'ettha
paccekam'eva yojetabbāni.
(vi) Sasaṅkhārikapañcake'pi tath'eva thīna- middhena visesetvā
yojetabbā.
(vii) Chanda-pītivajjitā pana aññasamānā
ekādasa akusalasādhāraṇa cattāro c'āti paṇṇarasa dhammā
uddhaccasahagate sampayujjanti.
(viii) Vicikicchāsahagatacitte ca adhimokkha virahitā vicikicchā
sahagatā tath'eva paṇṇa- rasadhammā samupalabbhantī'ti sabbathā'pi
dvādasākusalacittuppādesu paccekaṁ yojiya- mānā'pi gaṇanavasena
sattadhā'va saṅgahitā bhavantī'ti.
18.
Ekūnavīsaṭṭhārasa -- vīsekavīsa vīsati
Dvāvīsa paṇṇarase'ti -- sattadhā kusale thitā
Sādhāraṇā ca cattāro -- samānā ca dasā pare
Cuddasete pavuccanti -- sabbākusalayogi no |
| §17
(i) Bây giờ, để bắt đầu, trong loại tâm Bất Thiện đầu tiê n
không có sự xúi giục [1] mười chín tâm sở phối
hợp như sau: mười ba tâm sở không có tánh cách đạo đức [2],
bốn tâm sở Bất Thiện chung, là mười bảy, cùng với tham và tà kiến.
(13 + 4 + 2 = 19).
(ii) Cùng thế ấy, trong loại tâm thứ nhì không có sự xúi giục
[3], mười bảy tâm sở trên, cùng với tâm sở tham và ngã mạn. (13 + 4
+ 2 = 19).
(iii) Cùng thế ấy, trong loại tâm thứ ba không có sự xúi giục, có
mười tám tâm sở, cùng với tham và tà kiến, nhưng không có hỷ [4].
(12 + 4 + 2 = 18).
(iv) Cùng thế ấy, trong loại thứ tư (có mười tám) cùng với tham
và ngã mạn. (12 + 4 + 2 = 18).
(v) Trong loại tâm không có sự xúi giục thứ năm liê n hợp
với sân, hai mươi tâm sở trên, ngoại trừ hỷ [5], cùng phối hợp với
sân, xan tham, ganh tỵ, và lo âu. Trong bốn tâm sở nầy xan tham và
lo âu phải được phối hợp một cách riêng rẽ [6] . (12 + 4 + 4 = 20).
(vi) Trong năm loại tâm có sự xúi giục [7], các tâm sở
trên phải được phối hợp với nhau cùng thế ấy, có điều khác biệt là
phải thêm vào hai tâm sở hôn trầm và thụy miên. (21; 21; 20; 20; 22)
(vii) Trong loại tâm liên hợp với phóng dật có mười lăm tâm sở
hiện hữu là: mười một tâm Aññasamānā, ngoại
trừ dục [8] và hỷ và bốn tâm sở Bất Thiện Chung. (11 + 4 =
15).
(viii) Trong loại tâm liên hợp với hoài nghi, mười lăm tâm sở
phối hợp như trên cùng với hoài nghi, nhưng không có xác định [9] .
(10 + 4 + 1 = 15).
Như vậy, trong tất cả mười hai loại tâm Bất Thiện hợp lại trở
thành bảy, tùy theo những phương cách phối hợp [10] .
§18
Mười chín, mười tám, hai mươi, hai mươi mốt, hai mươi, hai mươi
hai, mười lăm. Như vậy, trong tâm Bất Thiện có bảy cách phối hợp của
tâm sở.
Mười bốn tâm sở nầy là: bốn Bất Thiện Chung và mười tâm sở không
có tánh cách thiện hay bất thiện [11] được nói
là liên hợp với tất cả các loại tâm vương bất thiện. |
Ghi chú:
[1] Tức, Somanasa sahagata diṭṭhigata sampayutta asaṅkhārika citta -
Loại tâm không có sự xúi giục, đồng phát sanh cùng thọ Hỷ và liên hợp
với Tà Kiến.
[2] Tức là 7 Phổ Thông và 6 Riêng Biệt, không Thiện cũng không Bất
Thiện.
[3] Tức là tâm không có sự xúi giục và không liên hợp với Tà Kiến.
Ngã Mạn và Tà Kiến không thể hiện hữu chung.
[4] Tức là tâm không có sự xúi giục, liên hợp với thọ Xả (Upekkhā).
Hỷ không thể đồng phát sanh cùng Xả.
[5] Hỷ không thể đồng thời phát sanh cùng Sân và Lo Âu.
[6] Vì Xan Tham và Lo Âu là 2 tâm sở Không Cố Ðịnh, Aniyatayogino,
đối tượng khác nhau, nên phát sanh riêng rẽ.
[7] Ðó là bốn loại tâm có sự xúi giục bắt nguồn từ căn Tham và một
bắt nguồn từ căn Sân. Hôn Trầm và Thụy Miên chỉ phát sanh trong tâm Bất
Thiện có sự xúi giục.
[8] Không có Dục (Chanda) bởi vì nơi đây Phóng Dật nổi bật.
[9] Adhimokkha, Xác Ðịnh, là tâm sở nổi bật nhất trong tâm quyết
định, không thể phát sanh trong tâm Hoài Nghi.
[10] (i) Hai loại tâm, thứ nhất và thứ nhì, không có sự xúi giục =
19. (ii) thứ ba và thứ tư = 18. (iii) Loại thứ năm, không có sự xúi giục
= 20. (iv) Hai loại, nhất và nhì, có sự xúi giục = 21. (v) thứ ba và thứ
tư, có sự xúi giục = 20; (vi) Thứ năm, có sự xúi giục = 22; (vii) Loại
tâm Si = 15. Như vậy có tất cả bảy cách phối hợp tùy theo con số.
[11] Aññasamānas gồm 7 tâm sở Phổ Thông và 6 Riêng Biệt hay Biệt cảnh
(7+ 6) = 13. Loại trừ Dục, Hỷ và Xác Ðịnh, còn lại 10.
-ooOoo-
Ahetuka Cittāni
Tâm vô nhân
| 19.
Ahetukesu pana hasanacitte tāva chanda
vajjitā
Aññasamānā dvādasa dhammāsaṅgahaṁ
gacchanti.
Tathā votthapane chanda-pīti-vajjitā.
Sukhasantīraṇe chanda-viriya-vajjitā.
Manodhātuttikāhetukapaṭisandhiyugale chanda-pīti-viriya-vajjitā.
Dvipañcaviññāṇe pakiṇṇakavajjitā te
y'eva saṅgayhanti'- ti sabbathā'pi.
Aṭṭhārasasu ahetukesu gaṇanavasena catudhā va saṅgaho hotī'ti.
20.
Dvādasekādasa dasa satta cā'ti catubbidho
Aṭṭhārasāhetukesu cittuppādesu saṅgaho.
Ahetukesu sabbattha satta sesā yathārahaṁ
Iti vitthārato vuttā tettiṁsavidha saṅgaho.
Itthaṁ cittāviyuttānaṁ sampayogañ ca saṅgahaṁ
Ñatvā bhedaṁ yathāyogaṁ cittena
samamuddise'ti. |
| §19 (i) Ðối với tâm sở
Vô Nhân trong loại tâm làm vui cười [1], để
khởi đầu, có mười hai tâm sở Aññasamānā,
không có tánh cách thiện hay bất thiện phối hợp với nhau,
ngoại trừ dục. (7 + 5 = 12)
(ii) Cùng thế ấy, trong tâm Xác Ðịnh [2], ngoại trừ dục và hỷ. (7
+ 4 = 11)
(iii) Trong loại tâm Suy Ðạc [3], liên hợp với thọ hỷ, tất cả,
ngoại trừ dục và tinh tấn. (7 + 4 = 11)
(iv) Trong bộ ba tâm Manodhātu [4]
và cặp tâm nối liền [5] vô nhân, tất cả, ngoại trừ dục, hỷ và tinh
tấn. (7+3= 10)
(v) Trong hai loại Ngũ Quan Thức [6] tất cả tâm sở phối hợp với
nhau, ngoại trừ các tâm sở Riêng Biệt. (7)
Vậy, trong tất cả mười tám loại tâm Vô Nhân, các tâm sở, xét về
lượng, hợp thành bốn nhóm.
§20
Mười hai, mười một, mười, bảy -- như vậy, đối với mười tám loại
tâm Vô Nhân các tâm sở phối hợp với nhau bằng bốn phương cách.
Trong tất cả các tâm Vô Nhân, bảy Phổ Thông đều có hiện hữu. Các
Riê ng Biệt phát sanh tùy lúc. Vậy, xét vào chi tiết, những sự
phối hợp được nói là có ba mươi ba phương cách [7] .
Ðã hiểu các sự phối hợp và tổ hợp của những tâm sở như vậy, ta
hãy giải thích sự kết hợp của tâm sở với các loại tâm vương [8]. |
Ghi chú:
[1] Trong các loại tâm liên quan đến cười không có tâm sở Dục, hay "ý
muốn làm". Xem Chương I, chú giải 26.
[2] Ðó là Manodvāravajjana, Ý Môn Hướng Tâm, được mang tên Votthapana
- Xác Ðịnh Tâm.
[3] Mặc dầu Santīraṇa có nghĩa là dò xét, hay suy đạc, nó là một tâm
Quả có tánh cách tiêu cực, thiếu cả hai: ý muốn và tinh tấn.
[4] Manodhātu, theo nghĩa từng chữ, là khả năng tri giác suông
(Mananamatta' meva dhātu). Danh từ nầy bao gồm Pañcadvārāvajjana (Ngũ
Môn Hướng Tâm) và hai Sampaṭicchanas (Tiếp Thọ Tâm). Mười loại Ngũ Quan
Thức được gọi là dvipañca viññāṇadhātu. Bảy mươi sáu loại tâm còn lại
được gọi là Manoviññāṇadhātu, các loại tâm nầy tri giác rõ ràng và sâu
rộng hơn những tâm trước.
Cả hai Sampaṭicchanas (Tiếp Thọ) đều liên hợp với Upekkhā, vốn không
thể hiện hữu cùng với Pīti (Hỷ). Cũng như Santīrana (Suy Ðạc) hai tâm
nầy là Quả và có tánh cách tiêu cực. Vì lẽ ấy không có ý muốn và tinh
tấn. Trong Pañcadvārāvajjana (Ngũ Môn Hướng Tâm), cũng như trong
Manodvārāvajjana (Ý Môn Hướng Tâm), không có Dục và Tấn.
[5] Hai Santīraṇa (Suy Ðạc) liên hợp với Upekkhā (Xả), Thiện và Bất
Thiện Quả, được gọi là Ahetuka Paṭisandhi yugala (cặp tâm Nối Liền Vô
Nhân). Tái sanh vào những cảnh khổ là do nơi Akusala Ahetuka Santīrana,
và tái sanh vào cảnh người câm, điếc v.v... từ lúc mới sanh là do Kusala
Ahetuka Santīraṇa. Cặp nầy cũng liên hợp với Upekkhā, Xả.
[6] Ðây cũng là những loại tâm Quả có tánh cách tiêu cực.
[7] Tức là:
i). 5 trong Anuttara (Vô Thượng);
ii). 5 trong Mahaggata (Cao Thượng);
iii). 12 trong Kāmāvacara (Dục Giới);
iv). 7 trong Akusala (Bất Thiện), và
v). 4 trong Ahetuka (Vô Nhân).
Tổng cộng là 33.
[8] Chương nầy giải thích trong loại tâm nào có tâm sở nào hiện hữu,
và các loại tâm sở phát sanh trong mỗi loại tâm.
Trong đoạn kết luận chương nầy, tác giả khuyên người đọc cố gắng giải
thích sự kết hợp của những tâm sở ấy trong mỗi loại tâm tương xứng. Thí
dụ, Phổ Thông có tám mươi chín, vì các tâm sở Phổ Thông hiện diện trong
tất cả những loại tâm. Phassa (Xúc) trong những Riêng Biệt có năm mươi
lăm, vì phát sanh trong năm mươi lăm loại tâm v.v...
---o0o---
Mục lục
| 01 | 02
| 03 | 04
| 05 | 06
| 07 | 08
| 09
---o0o---
|
Thư
Mục Tác Giả |
---o0o---
Source: BuddhaSasana (www.budsas.org)
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật ngày: 01-09-2002
|
|