THỨC THỨ TÁM
(tiếp
theo)
T/S Lâm Như
Tạng
Thức Thứ Tám
trong Kinh Lăng Già Tâm Ấn (Lankâvatâra –sutra)
1/ Bản tính của
Thức Thứ Tám
Trong kinh Lăng Già Tâm
Ấn có bài tụng nói về Thúc Thứ Tám như sau:
“Như biển gặp duyên gió
Khởi mọi thứ sóng mòi
Sanh tác dụng hiện tiền
Không lúc nào gián đoạn
Biển tạng thức cũng thế
Gió cảnh giới kích động
Thường khởi các sóng
Thức
Sanh tác dụng hiện tiền.”
Trong câu đầu của bài
tụng, nói lên bản tính của Thức Thứ Tám. Vì các thức khác như Nhãn, Nhĩ
v.v… không thể ví như biển được. Vì các thức đó hoạt động trong từng
lãnh vực riêng biệt và có gián đoạn, không liên tục.
Trong các kinh Ðại Thừa
đều có nói đến Thức Thứ Tám nầy. Các kinh Ðại Thừa thường nói đến lý vô
ngã, trái với hửu tình ngã . Nói đến sự lưu chuyễn sinh tử của chúng
sinh do nghiệp quả gây nên. Nói đến Niết Bàn tịch tịnh. Nói đến pháp ,
uẩn, xứ, giới…
2/ Sự sanh diệt
của các Thức
Chánh văn kinh có đoạn
nói về sự sanh diệt của các Thức như sau:
“Khi ấy Bồ Tát Đại Huệ
lại bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn, các Thức có mấy thứ sanh, trụ, diệt?
Phật bảo Đại Huệ: Các Thức có hai thứ sanh, trụ, diệt, chẵng phải suy
nghĩ biết được. Các Thức có hai thứ sanh, nghĩa là lưu chú sanh và tướng
sanh. Có hai thứ trụ, nghĩa là lưu chú trụ và tướng trụ. Có hai thứ
diệt, nghĩa là lưu chú diệt và tướng diệt.”
Các Thức đó là tám
thức. Thức Thứ Tám là Tạng Thức, cũng gọi là Như Lai Tạng, hiện thức,
Căn Bản Thức v.v…
Thức nầy chứa những
chủng tử mê, ngộ của tất cả chúng sinh và ngay cả hàng thánh nhân nữa.
Trong kinh luận có lúc nói về bản tánh chơn như của thức thứ tám nầy. Do
đó có người còn gọi phần chơn tướng đó là thức thứ chín. Có người còn
gọi Bạch Tịnh Thức (tên gọi khác của Thức Thứ Tám) là thức thứ chín.
Nhưng thưc ra không có thức thứ chín nào cả. Đó chỉ là bản tánh chân
như của thức thứ tám mà thôi.
Trong Đại Thừa Khởi Tín
luận có nói đến nghiệp tướng, chuyễn tướng, và hiện tướng. Y theo vọng
mà nói thì Như Lai Tàng chuyễn làm Tàng Thức. Thức nầy gồm cả vọng và
chơn. Sanh diệt và không sanh diệt hòa hợp. Chẳng phải có hai tâm, cũng
chỉ điểm khi mê, tướng không sanh diệt vẫn rõ ràng.
Các thức đề cập ở trên
đó là tám thức.
Phần trên có nói về từ
“lưu chú”, có nghĩa là chơn pháp không tánh chẵng hay tự giữ nên có
nghĩa là thiên lưu. Có bất giác vọng động thì có thức sanh. Một phen đi
không trở lại là trụ. Ở cõi trời Vô Tưỡng, chết ngất, ngủ say thức không
sanh đó là tạm diệt. Diệt rồi lại sanh tiếp tục như thế không cùng tột.
Tướng đây là chỉ cho
nghiệp dụng của các thức. Tướng nầy khi chưa che đậy chơn tánh, vì có
lưu chú, niệm chẳng dừng, chính khi sinh đã có nầm diệt.
(3) Thức Tướng y
nơi chơn nhưng do mê mà phát khởi.
Kinh nói các thức có ba
thứ tướng :
“Đại Huệ, các thức có
ba thứ tướng. Đó là Chuyễn Tướng, Nghiệp Tướng, và Chơn Tướng.”
Trong luận Khởi Tín nói
các thức do nơi bất giác vọng động phát sinh. Tuy bất giác vọng động mà
niệm niệm chẵng dừng hiện tại toàn không. Dù trong bất giác vọng động
niệm niệm chẳng dừng mà toàn chơn, không riêng có chuyễn tướng, nghiệp
tướng, lưu chú và tướng vẫn chỉ trong mê sanh diệt.
Từ chuyễn tướng, nghiệp
tướng chỉ ra chơn tướng, trong cõi sanh diệt ấy đầy đủ hành xứ của Như
Lai. Nhưng phải chứng mới biết không thể dùng ý thức mà suy nghiệm
được.
Bồ Tát Thiên Thân nói:
“Hành xứ của chư Phật Như Lai duy có chơn thức, không thể phân biệt
quán sát, như thế vào nơi thức không”. Như thế y nơi thức có thể nhập
nhất thiết pháp vô ngã.
“Nầy Đại Huệ, Nói lược
có ba thức, nói rộng có tám tướng. Những gì là ba? Nghĩa là chơn thức,
hiện thức và phân biệt sự thức. Đại Huệ, ví như gương sáng gìn giữ các
sắc tượng, hiện thức ở trong ấy mà hiện cũng lại như thế.”
Chơn Thức là chỉ tổng
hợp của tám thức. Hiện thức là chỉ cho thức thứ tám. Phân biệt sự thức
là chỉ cho bảy thức còn lại.
Hiện thức ví dụ như ánh
sáng trước gương nên gọi là “hiện”. Phân biệt sự thức giống như sự vật
trước gương nhờ có ánh sáng mà được phân biệt rỏ ràng.
Về thức thể thì dù nơi
phàm thánh vẫn không hai, nhưng về tác dụng thì vẫn phân mê, ngộ.
“Đại Huệ, hiện thức và
phân biệt thức, hai thức nầy tướng hoại và chẳng hoại lần lượt làm nhơn
cho nhau.”
Cả hiện thức và phân
biệt thức đều có hai tướng hoại và chẵng hoại.
Các pháp không thật,
các thứ hư vọng là tướng hoại của hiện thức.
Tất cả căn thức là
tướng hoại của phân biệt thức.
Tại sao gọi là tướng
hoại? Vì tướng sai biệt của hai thức nầy nên gọi là tướng hoại. Trong
chổ sai biệt vốn có chơn tướng không sai biệt. Do đó gọi là tướng không
sai biệt.
Từ chơn tướng không
hoại làm nhơn sinh ra các tướng hoại.
Ngược lại từ các tướng
hoại làm nhơn sinh ra chơn tướng không hoại. Trường hợp nầy tương ứng
với chơn thể của thức ẩn mà không hoại. Cũng như bản hửu chủng tử từ
Thức Thứ Tám làm nhơn phát khởi ra hiện hành. Từ hiện hành lại tạo ra
chủng tử huân tâp trở lại vào Tàng Thức. Từ đó có thể nói là hai tướng
hoại và chẳng hoại làm nhơn cho nhau.
“Đại Huệ, về bất tư
nghì huân và bất tư nghì biến là nhơn của hiện thức.”
Bất tư nghì huân là gì?
Đây có thể phân thành ba trường hợp. Thứ nhất là do dụng công tu tập tạo
được các chủng tử tu chứng. Thứ hai làm việc phước thiện tạo được các
chủng tử thiện. Thứ ba là vì nghiệp chướng tạo ra việc ác thành chủng tử
ác. Cả ba loại chủng tử đều được huân tập vào thức thứ tám nên gọi là
bất tư nghì huân. Niệm niệm bất giác huân thành vô minh. Từ đó nhơn
tướng huân biến không thể nghĩ bàn.
“Đại Huệ, nhận lấy các
trần cảnh và vọng tưởng huân tập từ vô thủy là nhơn của phân biệt sự
thức.”
Do căn đối cảnh mà sinh
ra Thức. Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp (vọng tưởng) là trần cảnh của
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Nó là nhơn sinh ra phân biệt sự thức.Vì
chơn tâm mê mờ, vọng tưởng mà nội thức tiếp cảnh sinh ra cảnh tượng hiện
tiền. Và vì chấp cái hiện tiền ấy mà phát triễn hư vọng. Do đó kinh Lăng
Nghiêm nói: “Tự tâm thủ tự tâm, phi huyễn thành pháp huyễn”.
(4) Trở lại chơn
thức
“Đại Huệ, nếu trở lại
chơn thức thì các thứ chẳng thật, các thứ hư vọng ấy diệt, tức là tất cả
căn thức diệt, thế thì danh tướng diệt.”
Nếu trở lại chơn thức
thì “căn” đối “cảnh” sinh ra “thức” tất cả đều diệt. Do đó gọi là “căn
thức diệt”. “Danh tướng diệt” có thể hiểu “danh” tức là “tâm” cũng gọi
là “Thức thứ tám” , Thức Thứ Tám khi trở về chơn thức chỉ còn là “bạch
tịnh thức”, không còn phần hư vọng phân biệt nữa. “Tướng” có nghĩa là sự
biểu hiện của thức thành những hiện tượng bên ngoài.
Như thế nên khi trở lại
chơn thức thì danh tướng diệt là vậy.
“Đại Huệ, thức tương
tục diệt, bởi nhơn tương tục diệt thì thức tương tục mới diệt. Do chỗ
theo diệt và duyên diệt nên thức tương tục diệt.
Đại Huệ, bởi tại sao?
Vì là chổ nương theo của nó. Chổ nương theo của nó là vọng tưởng từ vô
thủy huân tập. Duyên là kiến v.v…thức cảnh vọng tưởng của tự tâm.”
Người tu khi nhập
thiền, niêm Phật v.v… thì các căn đã bế tỏa không tiếp xúc với trần
cảnh, nghĩa là nhơn tương tục diệt, do đó thức tương tục không thể sinh.
Hơn nữa kiến và tướng phần của thức bế tỏa, dứt vọng tưởng của tâm nghĩa
là tiêu trừ tất cả nguyên nhân sinh ra vọng thức, do đó mà thức tương
tục diệt.
“Nầy Đại Huệ, ví như
khối đất với vi trần chẵng khác, chẵng phải chẵng khác, vàng và các món
đồ trang sức cũng lại như vậy.
Đại Huệ, nếu khối đất
và vi trần khác thì không do vi trần làm thành, mà thật do vi trần làm
thành, thế nên chẳng phải khác. Nếu chẳng khác thì khối đất và vi trần
nên không sai khác.”
Đoạn trên là ví dụ chơn
tướng của Thức Thứ Tám và các chuyễn thức chẵng phải một, chẵng phải
khác. Do đó để chỉ rỏ rằng chuyễn thức diệt mà chơn tướng của Tạng Thức
chẵng diệt.
“Như thế, Đại Huệ!
Chuyễn thức và chơn tướng của tạng thức nếu khác thì tạng thức không
phải là nhơn. Nếu chẳng khác thì chuyễn thức diệt tạng thức cũng phải
diệt, mà chơn tướng của nó chẳng diệt. Thế nên, Đại Huệ! Chẳng phải tự
chơn tướng thức diệt, chỉ nghiệp tướng diệt. Nếu tự chơn tướng thức diệt
thì tạng thức ắt diệt.
Đại Huệ! Nếu tạng thức
diệt thì chẳng khác với ngoại đạo luận chấp đoạn kiến.”
Luận nói: “Nói là diệt
chỉ tâm tướng diệt, chẳng phải tâm thể diệt”. Lại nói: “Chỉ vì si diệt
nên tâm tướng diệt theo”.
Phần trên nói hiện thức
ở đây gọi là tạng thức. Trước nói phân biệt sự thức đây gọi là chuyển
thức.
(5) Tà kiến đoạn
kiến
“Đại Huệ! Các ngoại đạo
kia khởi luận thế nầy: “Cảnh giới nhiếp thọ diệt, thức lưu chú cũng
diệt”. Nếu thức lưu chú diệt thì lưu chú từ vô thủy lẽ ưng cũng đoạn.
“Đại Huệ! Ngoại đạo nói
lưu chú làm sanh nhơn, chẳng phải do nhãn thức, sắc, ánh sáng nhóm họp
mà sanh, lại có dị nhơn.
Đại Huệ! Về nhơn kia,
họ nói hoặc là thắng diệu, hoặc là sĩ phu, hoặc tự tại, hoặc thời, hoặc
vi trần.”
Các thứ thu góp các
trần tướng đây gọi là cảnh giới nhiếp thọ. Khi tướng nầy diệt, thức lưu
chú vẫn tiềm phục. Tướng mê của lưu chú từ vô thủy có thể đoạn nhưng tự
chơn tướng không đoạn.Lưu chú vốn có bản tánh chơn bởi mê mờ mới có nhãn
thức, sắc trần, ánh sáng, cùng nhau sanh trụ. Ngoại đạo lầm cho là
“thắng diệu” thành ra có nhơn khác.
Ngoại đạo thường nói về
thần ngã đó chính là “thức thứ tám”. Họ không biết thức thứ tám làm thần
ngã, hay sanh các pháp thường trụ chẳng hoại, thần ngã nầy tức là
“thắng diệu” nói trên.
Minh luận sư cho rằng
Đại Phạm, thời, phương, bản tế, tự nhiên, hư không, ngã, bảy pháp nầy là
thường trụ, hay sanh các pháp. Đại Phạm tức là “sĩ phu” nói trên.
Ngoại đạo Đồ Khôi cho
rằng trời Đại “Tự Tại” thể là thật, biến, thường hay sanh các pháp.
Thời Tán ngoại đạo thì
cho rằng tất cả pháp đều từ “thời” sanh. Họ thấy cỏ cây do thời gian nở
rụng, tươi khô, chấp “thời gian” là thường là một, là chơn của vạn vật,
là nhơn của Niết Bàn.
Thuận Thế Sư thì cho
rằng tất cả sắc tâm v.v.. các pháp đều dùng cái cực vi của tứ đại làm
nhơn. Nhưng trong tứ đại có cái rất tinh linh hay có duyên lự tức là tâm
pháp.
Cực vi nầy tức là “vi
trần”.
Trong kinh còn nói về
bảy chủng tánh tự tánh như sau:
“Lại nữa, Đại Huệ! Có
bảy chủng tánh tự tánh. Nghĩa là tập tánh tự tánh, tánh tự tánh, tướng
tự tánh, đại chủng tánh tự tánh, nhơn tánh tự tánh, duyên tánh tự tánh,
thành tánh tự tánh.”
Phần trên đã nói về các
nhơn khác của ngoại đạo nói, đây trình bày rõ trong dị nhơn có bảy thứ
lập giáo cũng không ngoài tứ cú. Đó là tự sanh, tha sanh, cộng sanh, và
vô nhơn sanh.
Tự sanh đó là nhơn tánh
tự tánh. Tha sanh là đại chủng tánh tự tánh, duyên tánh tự tánh. Cộng
sanh là tập tánh tự tánh, tướng tánh tự tánh. Vô nhơn sanh là tánh tự
tánh.
(6) Như Lai Tàng
chuyễn thành Tạng Thức (Thức Thứ Tám)
“Lại nữa, Đại Huệ! Có
bảy thứ đệ nhất nghĩa. Tức là tâm cảnh giới, huệ cảnh giới, trí cảnh
giới, kiến cảnh giới, siêu nhị kiến cảnh giới, siêu tử địa cảnh giới,
Như Lai tự đáo cảnh giới.
“Đại Huệ! Đây là tánh
tự tánh đệ nhất nghĩa tâm của chư Như Lai ứng cúng đẵng chánh giác ở quá
khứ, vị lai, hiện tại. Do tánh tự tánh đệ nhất nghĩa tâm mà thành tựu
được pháp thế gian, xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng của
Như Lai.
“Bởi Thánh Huệ Nhãn vào
tự tướng cộng tướng dựng lập như. Chỗ dựng lập không đồng với luận ác
kiến của ngoại đạo.”
“Tâm cảnh giới” tức là
Như Lai Tàng chuyễn thành Tàng Thức, cùng với bảy các căn thức trước tất
cả tâm vương tâm sở đều là cảnh giới của tâm sở hành.
“Huệ cảnh giới” chỉ cho
văn, tư, tu và các thiền định tam muội.
“Trí cảnh giới” tức là
căn bản trí. Khi căn bản trí phát sinh mới thông đạt được lý không Như
Lai Tàng và bất không Như Lai Tàng.
“Kiến cảnh giới” là tri
kiến như thật, nói về nhị kiến cảnh giới.
“Siêu nhị kiến cảnh
giới” tức là siêu nhị kiến nầy.
“Siêu tử địa cảnh giới”
, Bồ Tát đến thập nhất địa (đẵng giác) còn lại hai cái ngu, qua được
nhơn vị nầy mới hết.
“Như Lai tự đáo cảnh
giới” tức là vô thượng chánh đẳng chánh giác, mới nói là duy tâm, quên
nhơn tột quả.
Như Lai vì thương xót
chúng sinh mà chỉ bày lý lẽ đó là đến nơi phàm thánh duy thức sai biệt,
chỉ ra tự tánh đệ nhất nghĩa tâm của Như Lai. Đối với phàm phu thì Ngài
dùng pháp quyền là tột bảy trở về một, chỉ cho kẻ đại trí thì dùng pháp
thật tức bảy tức một.
Tuy có tự tướng cộng
tướng trọn chẵng ngoài chơn nghĩa như thật. Do đó không đồng với luận ác
kiến của ngoại đạo.
“Đại Huệ! Thế nào đồng
với ác kiến luận của ngoại đạo? Nghĩa là chẳng thông tự cảnh giới, vọng
tưởng kiến chấp, chẳng hiểu biết chừng ngằn tự tâm hiện ra.
Đại Huệ! Phàm phu ngu
si đối với tánh, vô tánh, tự tánh, đệ nhất nghĩa mà khởi bàn luận nhị
kiến.”
Ác kiến ngoại đạo do
vọng tưởng chẳng biết tự tâm hiện. Trong đệ nhất nghĩa luống tạo nhị
kiến có, không, đây là chổ không đồng với chánh pháp.
Tánh của Như Lai Tàng
thuần chơn chẳng tạp không có người và pháp nên gọi là vô tánh. Tánh của
vô tánh thì gọi là tâm đệ nhất nghĩa.
Kinh Hoa Nghiêm nói:
“Không biết đệ nhất nghĩa đế nên gọi là vô minh”.
(7) Cảnh giới
Thức
“Đại Huệ! Nếu các sa
môn và Bà La Môn thấy (các pháp) lìa chấp tự tánh, như mây nỗi, vòng lửa
thành càng thác bà, không sanh, huyễn, sóng nắng, trăng đáy nước và
mộng, trong ngoài đều do tâm hiện.
“Vọng tưởng hư ngụy từ
vô thủy chẳng lìa tự tâm. Nhơn duyên vọng tưởng diệt hết thì lìa vọng
tưởng năng thuyết sở thuyết, năng quán sở quán, thọ dụng, kiến lập
thân đều là Tàng Thức (Thức Thứ Tám).
Nơi cảnh giới thức thì
năng nhiếp thọ và sở nhiếp thọ đều chẳng tương ưng. Cảnh giới không thật
có, lìa sanh, trụ, diệt, tự tâm sinh khởi theo vào chỗ phân biệt.”
“Đại Huệ! Bồ Tát kia
chẳng bao lâu sẽ được xem thấy sanh tử và niết bàn là bình đẳng, được
Đại Bi xảo phương tiện và vô khai phát phương tiện. Đại Huệ! Kia đối với
tất cả chúng sanh giới thảy đều xem như mộng chẳng cần nhơn duyên, xa
lìa cảnh giới trong ngoài, ngoài tâm không còn thấy gì khác, thứ lớp tùy
vào chỗ vô tướng, thứ lớp tùy vào từ địa nầy đến địa kia, cảnh giới tam
muội.”
Khi quán căn thân khí
giới hiện tiền đều là do Thức Thứ Tám biến hiện. Liền đó cùng với năng
thủ và sở thủ cả hai đều không tương ưng, không còn tất cả cảnh giới
sinh diệt.
Khi quán chúng sanh
giới duyên khởi là vô sanh, xa lìa tâm cảnh trong ngoài, không thấy pháp
gì ngoài tâm, thì vào được sơ địa vô phân biệt trí. Do đó từ một địa đến
một địa, thiền tam muội thứ lớp được chứng đắc.
“Hiểu tam giới như
huyễn, phân biệt quán sát sẽ được như huyễn tam muội. Qua tự tâm hiện
không chỗ có, được trụ bát nhã ba la mật. Xả bỏ sanh kia tạo ra phương
tiện vào Kim cang dụ tam ma đề (chánh định), tùy vào thân Như Lai, tùy
vào như như có biến hóa, thần thông tự tại, từ bi phương tiện đầy đủ
trang nghiêm.
Bình đẳng vào tất cả
cõi Phật, vào chỗ ngoại đạo, lìa Tâm, Ý và Thức. Bồ Tát nầy thứ lớp
chuyển thân liền được thân Như Lai.”
Dùng như huyễn quán mà
quán tam giới như huyễn, được như huyễn tam muội, được tự tâm hiện không
chỗ có tức là vô công dụng đạo, là hành tướng của bát địa đến đây mới
được vượt qua.
“Sanh kia” là chỉ cho
sanh tướng vô minh. Từ Thập Địa về sau dùng trí lực phương tiện của Kim
cang dụ định mà đoạn sanh tướng vô minh.
“Đại Huệ! Thế nên muốn
được thân tùy nhập của Như Lai phải xa lìa ấm, giới, nhập, tâm nhơn
duyên, tạo ra phương tiện, sanh trụ diệt vọng tưởng hư dối. Chỉ có tâm
thẳng tiến, quán sát lỗi hư ngụy tư vô thủy, nhơn tập khí vọng tưởng.
Suy nghĩ ba cõi không thật có, được Phật địa vô sanh, đến tự giác thánh
thú, tự tâm tự tại, đến vô khai phát hạnh, như hạt châu ma ni tùy theo
các sắc.
Tùy nhập tâm vi tế của
chúng sanh dùng hóa thân tùy tâm lượng mà độ. Các địa thứ lớp tiếp nối
dựng lập. Thế nên, Đại Huệ! Tự tất đàn là thiện phải nên tu học.”
“Tất đàn’ đây là pháp
thí.
(8) Biển Sóng
Tàng Thức
“Khi ấy, Bồ Tát Đại Huệ
lại bạch Phật: Thế Tôn nói tướng tâm, ý, ý thức, năm pháp, ba tự tánh,
việc sở hành của tất cả chư Phật, Bồ tát cảnh giới sở duyên chẳng hòa
hợp do tự tâm hiện v.v…
Hiện bày tất cả (Phật)
thuyết thành tướng chơn thật, tất cả Phật nói tâm. Vì các đại Bồ Tát ở
trên núi Ma La Da nằm trong biển thuộc nước Lăng Già nói “Như Lai khen
ngợi biển sóng Tàng Thức cảnh giới pháp thân”.
Tâm, ý, ý thức, năm
pháp, tự tánh ở đây muốn nói rộng về sanh nhơn của tám thức, để hiển bày
một tâm chuyễn biến thành tướng khác và chẳng khác, thành tựu biển sóng
tàng thức cảnh giới pháp thân.
“Tất cả chư Phật nói
v.v.” ý nói sở hành thánh trí của chư Phật, Bồ Tát lìa tất cả tâm cảnh
hiển bày chơn thật, đây là chư Phật dạy về Tâm. Biển sóng Tàng Thức cảnh
giới pháp thân là hiện lượng của tự tâm toàn vọng, toàn chơn, chẳng
phải chỗ nghĩ bàn được.
Năm pháp (danh, tướng,
vọng tưởng, chánh trí, như như), ba tự tánh (biến kế sở chấp, y tha
khởi, viên thành thật) trong tâm, ý, thức y theo mê ngộ mà chuyễn biến.
Lúc mê thì “như như”
chuyễn thành danh, tướng …”Viên thành” chuyễn thành biến kế và y tha.
Khi ngộ thì danh tướng tức là như như, vọng tưởng thành chánh trí…Đó gọi
là chơn vọng lẫn hiển, danh khác nhưng thể đồng.
(9) Nhân duyên
bất giác của Tám Thức
“Khi ấy, đức Thế Tôn
bảo Bồ Tát Đại Huệ: Vì có bốn nhơn duyên nên nhãn thức chuyển.
Thế nào là bốn?
Nghĩa là:
(a)
Tự tâm hiện nhiếp thọ bất giác
(b)
Lỗi hư ngụy từ vô thủy do tập khí chấp trước sắc
(c)
Thức tánh tự tánh
(d)
Muốn thấy các thứ sắc tướng.
Nầy Đại Huệ! Đó gọi là
bốn thứ nhơn duyên dòng nước tàng thức và sóng chuyễn thức sanh”.
Đoạn trên nói về nguyên nhân sanh khởi của tám
thức. (a) Nhơn thứ nhất nầy chỉ trạng thái bất giác làm nghĩa nhơn duyên
của tàng thức, chỉ ra rằng thức chẳng rời tâm. Vì bất giác mà tâm biến
hiện ra thức tướng. Do đó nên nói dòng nước tàng thức và sóng chuyễn
thức sanh. Nước là chỉ cho tâm. Dòng nước nỗi sóng chỉ cho tàng thức,
chuyễn thức.
Nhiếp thọ đây chỉ cho kiến phần và tướng phần của
tàng thức. Kiến phần là năng nhiếp và tướng phần là sở nhiếp.
Trong phần (b) nói “hư ngụy từ vô thủy” tức là chỉ
cái sở hiện của bất giác. Do sở hiện biến ra trần cảnh thành tập khí sắc
v.v.
Vì thức có công năng biểu biệt sự vật nên gọi là
thức tánh. Do đó gọi là thức tánh tự tánh trong mục (c/). Trong mục (d)
có nói về “muốn thấy” đó là tác ý nên nói “Phù căn tiếp trần giong ruổi
theo sắc”.
“Nầy Đại Huệ! Như nhãn thức sanh tất cả các căn, vi
trần, lỗ chân lông đồng sanh. Theo thứ lớp cảnh giới sanh, cũng lại như
thế. Thí như gương sáng hiện hình các sắc.
Đại Huệ! Ví như gío lớn thổi nước biển cả.”
Các căn, lỗ chân lông thuộc về “căn”. Vi trần thuộc
về “trần”. Mỗi thức phát sanh là do căn tiếp xúc với trần cảnh và theo
thứ lớp mà sinh ra thức. Cũng lại như thế có nghĩa là sự phát sinh ra
thức đều phải có những giai đoạn và thứ lớp riêng của từng thức. Mặc dù
đối tượng và điều kiện của các căn có khác nhau nhưng vẫn có những giai
đoạn giống nhau đó là căn, trần (đối tượng) và những điều kiện. Thức
nào cũng phải như thế mới phát sinh ra biểu biệt với các pháp .
Thức thể là chơn tướng của tàng thức, do đó dùng
gương và biển để thí dụ cho thức thể. Sắc và gío dụ cho sắc trần.
“Gió cảnh giới bên ngoài trôi dạt biển tâm, sóng
thức không dừng. Nhơn và tướng sở tác có khác cùng chẳng khác. Hiệp với
nghiệp sanh tướng vào sâu trong chấp trước, không thể rỏ biết tự tánh
sắc v.v… nên năm thức thân theo đó mà chuyển.
Nầy Đại Huệ! Liền đó ý thức cùng năm thức thân
chung khởi. Do biết tướng phần đoạn sai biệt, chính là nhơn của ý thức.”
Biển tâm tức là tàng thức. Gió cảnh giới bên ngoài
là chỉ cho sáu trần. Sóng thức là bảy thức. Vì gió cảnh sáu trần trôi
dạt biển tâm, khiến sóng bảy thức chuyễn động không ngừng mà nhơn và
tướng sở tác chẳng phải khác chẳng phải chẳng khác.
Tướng sở tác là tàng thức và chuyễn thức đồng một
chơn tánh nên chẳng phải khác. Mỗi thức có cảnh giới riêng biệt nên
chẳng phải chẳng khác.
Các thức hiệp với phát nghiệp sanh tướng nầy và sâu
trong chấp trước, không thể rỏ biết tự tánh sắc v.v…
Tự tánh sắc …là do nội thức biến hiện làm tánh sắc…
dường như có hiện tiền nhưng thật ra là không có.
Do bất giác Như Lai Tàng nên vọng động thành nghiệp
mà khởi ra kiến phần và tướng phần. Hai phần nầy là sanh tướng của
nghiệp.
Vì nhơn phần đoạn sai biệt nên sanh phân biệt, ý
thức nầy lại lấy năm thức làm nhơn.
“Thân kia chuyễn, kia chẵng khởi nghĩ là ta lần
lượt làm nhơn nhau. Tự tâm hiện vọng tưởng chấp trước chuyễn, mà mỗi mỗi
hoại tướng kia đều chuyễn. Phân biệt cảnh giới phân đoạn sai biệt, gọi
là kia chuyễn”.
“Thân kia” là chỉ cho tám thứ thức. Tám thức lần
lược làm nhơn cho nhau mà chẳng khởi nghĩ tức là nói tám thứ thức vốn
không có tự tánh. Tuy vọng khởi chấp trước mỗi thức liễu biệt cảnh của
nó mà tâm chẵng biết nghiệp, nghiệp chẵng biết tâm, thể hiện thời lặng
lẽ, tướng sai biệt liền dứt nên kinh nói : “Tự tâm hiện vọng tưởng chấp
trước chuyễn, mà mỗi mỗi hoại tướng kia đều chuyễn”. Hoại tướng tức vô
sai biệt tướng. Từ nơi sai biệt tướng nầy các thức phát sinh rồi cũng
theo đó mà tự diệt. Do đó vô sai biệt tướng cũng luôn luôn hiện tiền. Vì
bất giác mê nên đối với phần đoạn sai biệt mỗi thức vẫn có liễu biệt
cảnh của nó. Do đó trong kinh có câu: “Phân biệt cảnh giới phân đoạn sai
biệt, gọi là kia chuyễn”.
(10) Tàng Thức vi tế đến bờ mé cứu cánh
“Như người tu hành nhập thiền tam muội, tập khí vi
tế chuyễn mà không hiểu biết, lại khởi nghĩ rằng: Thức diệt nhiên hậu
nhập thiền chánh định. Song thật thức chẵng phải diệt mà nhập chánh định
vì chủng tử tập khí chẳng diệt nên chẵng diệt. Bởi cảnh giới chuyễn
nhiếp thọ chẳng đủ nên diệt.
Đại Huệ! Như thế là tàng thức vi tế đến bờ mé cứu
cánh. Trừ chư Phật và hàng Bồ Tát trụ địa, các bậc Thanh Văn, Duyên Giác
và ngoại đạo tu hành được sức trí tuệ tam muội, tất cả không thể tính
lường rành rõ.”
Khi diệt được những chủng tử hửu lậu trong tàng
thức, lúc ấy tàng thức trờ thành đại viên cảnh trí , đó là cảnh giới
không thể nghĩ bàn, chỉ có bậc giác ngộ toàn triệt mới thấu hiểu được.
Muốn cùng tột bờ mé của tàng thức thì phải đạt được
tự tâm. Lìa vọng tưởng hư ngụy mới biết lưu chú của tự tâm đều do bất
giác mà phát hiện. Khi thấu rỏ được bất giác thì giác được tự tâm.
(11) Kệ phân biệt tám thức, lặp lại ý nghĩa
đã nói
Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa nói trên
nên nói kệ như sau:
“Ví như sóng biển cả Đây do gió mạnh
thổi
Sóng to vỗ biển rộng Không có khi đoạn
dứt
Biển tàng thức thường trụ Gió cảnh giới nổi dậy
Lớp lớp các sóng thức Ào ạt mà chuyễn
sanh”
Đoạn nầy đưa ví dụ “biển cả” chỉ cho tàng thức,
“gió mạnh” chỉ cho cảnh giới lục trần, “sóng” chỉ cho chuyễn thức. Tàng
thức là nhơn, trần cảnh làm duyên sinh ra bảy thức.
“Các thứ sắc xanh đỏ Kha, sửa và
đường phèn
Vị lạt các hoa quả Nhật,
nguyệt cùng ánh sáng
Chẳng khác không chẳng khác Nước biển nổi sóng
mòi
Bảy thức cũng như vậy Tâm cùng hòa
hợp sanh”
Đoạn nầy nói đến sắc, thinh, hương, vị, xúc , năm
trần nầy đều do nội thức biến hiện. Mặt trời, mặt trăng cùng ánh sáng
chẳng phải khác cũng không chẳng phải khác. Nước và sóng cũng chẳng
phải một mà cũng chẳng phải khác. Tất cả đó là để chỉ cho chuyễn thức và
tàng thức.
“Ví như nước biển đổi Lớp lớp sóng
mòi chuyễn
Bảy thức cũng như vậy Tâm cùng hòa
hợp sanh
Là chỗ tàng thức kia Bao nhiêu
các thức chuyễn
Là do ý thức kia Suy
nghĩ nghĩa các tướng
Tướng chẳng hoại có tám Vô tướng cũng
vô tướng
Ví như biển sóng mòi Thế là
không sai biệt
Các thức tâm như thế Khác cũng không
thể được”
Đây nói tàng thức, chuyển thức đều có hai tướng
hoại và chẳng hoại. Đó là chỉ nghiệp tướng hoại, tự chơn tướng chẳng
hoại.
Bài tụng nói “tướng chẳng hoại có tám” là chỉ chung
các thức khi mê chơn mà chuyễn, cả thể toàn chơn. Toàn thể không có sai
biệt nên nói “chẳng hoại”, mê chơn sai biệt khởi nên nói “hoại”.
Câu “Không tướng cũng không tướng” có nghĩa rằng
khi mê thì khời lên sai biệt, ví như mắt bệnh thấy hoa đốm giữa hư
không, trong đó không tướng năng và tướng sở.
Các câu sau là nói về thể của tàng thức, giống như
đoạn trên đã phân tích.
“Tâm tên gom góp nghiệp Ý tên rộng gom góp
Các thức, thức sở thức Cảnh hiện
thấy nói năm”
Thức Thứ Tám còn có tên là Tâm. Vì nó hay gom chứa
các chủng tử, chứa nhóm các nghiệp nên gọi là “gom góp nghiệp”. Thức thứ
bảy hay suy xét tầm tư nhơn pháp bên trong của nó nên còn có tên là Ý.
Nó hay tạo ra nghiệp nhơn, chấp trước bản ngã, không được thanh tịnh nên
nói “rộng gom góp”.
Sáu thức sau đều gọi là thức.
Do tiếp xúc, phân biệt năm trần, quá khứ, hiện
tại, thông cả ba lượng nên gọi là Ý Thức. Năm căn tiếp xúc với năm trần
sinh khởi biểu biệt nên sinh ra năm thức.
“Bồ Tát Đại Huệ dùng kệ hỏi Phật:
Xanh đỏ các sắc tưóng Chúng sanh phát các
thức
Các thứ pháp như sóng Thế nào cúi xin nói?”
“Đức Thế Tôn dùng kệ đáp rằng:
Xanh đỏ các tạp sắc Sóng mòi đều không
có
Gom góp nghiệp nói Tâm Khai ngộ các phàm phu
Nghiệp kia thảy không có Tự tâm sở nhiếp ly
Sở nhiếp không sở nhiếp Cùng sóng mòi kia đồng
Thọ dụng kiến lập thân Là hiện thức chúng
sanh
Nơi kia hiện các nghiệp Thí như nước sóng
mòi”
Trong bài tụng trên nói năng, sở, tâm, cảnh đều do
thức biến hiện. Tụng nói “gom góp nghiệp nói Tâm” đó là tất cả nghiệp
đều do tâm tạo. “Nghiệp kia thảy không có” đó là do bất giác mê tâm tạo
nghiệp nhưng lúc ngộ, giải thoát thì tất cả đều không . “Sở nhiếp không
sở nhiếp, cùng sóng mòi kia đồng” đó là hiện tiền thân căn và khí giới
vẫn như sóng với nước vốn có hai nhưng đồng một thể.
“Bồ Tát Đại Huệ lại nói kệ hỏi:
Tánh biển cả sóng mòi Nỗi dậy khá phân
biệt
Tàng cùng nghiệp như thế Cớ sao chẳng hiểu
biết?”
Đoạn nầy ý nói nước biển và sóng phân biệt rỏ ràng,
có thể thấy được nhưng thí dụ về tàng thức và nghiệp khó có thể hiểu
biết được. Nghiệp ở đây là chuyễn thức.
“Đức Thế Tôn dùng kệ đáp:
Phàm phu không trí tuệ Tàng thức như biển
cả
Nghiệp tướng ví sóng mòi Y thí kia so hiểu”
Đối với phàm phu kém trí tuệ không thể nói thẳng do
đó phải dùng thí dụ tang và chuyễn như trên để họ tự tìm hiểu, tự ngộ.
Do đó đây không thể chỉ ra chơn thức.
“Mặt trời sáng đồng chiếu Chúng sanh hạ trung
thượng
Như Lai chiếu thế gian Vì ngu nói chơn
thật
Đã phân bộ các pháp Cớ sao chẳng nói
thật?”
“Phân bộ các pháp” , Như Lai vì mục đích kai ngộ
chúng sinh nhập Phật tri kiến nên chia ra nhiều thừa, năm thừa, ba thừa
nhưng rốt cùng cũng chỉ hướng về Phật thừa .
“Đức Thế Tôn dùng kệ đáp:
Nếu nói chơn thật đó Tâm kia không chơn
thật
Thí như biển sóng mòi Bóng trong gương và
mộng
Tất cả đồng thời hiện Tâm cảnh giới cũng
thế
Vì cảnh giới chẳng đủ Thứ lớp nghiệp
chuyễn sanh
Thức ấy thức, sở thức Ý ấy ý vị nhiên
Năm thức do hiển hiện Không có định thứ
lớp
Thí như ông thợ vẽ Và học trò thợ
vẽ
Vãi, màu vẽ các hình Ta nói cũng như
thế
Màu sắc vốn không nét Chẳng viết cũng
chẳng lụa
Vì vui chúng sanh nên Hòa lẫn vẽ các
hình.”
Sở dĩ Đức Phật không nói thẳng về chơn tánh vì tâm
chúng sinh chẵng chơn thật nên không thể lĩnh ngộ được. Nghĩa là có mà
không thể thấy tức đồng với không. Nếu chỉ điểm hiện lượng trước mắt thì
chẳng phải tâm, chẳng phải thức ví dụ như đêm năm màu chỉ cho những
người mù họ làm sao thấy được. Do đó nên Như Lai dùng cái phi tâm mà chỉ
tâm như biển, gương; dùng phi thức mà chỉ ra thức như sóng biển, bóng
trong gương, cảnh trong mộng.
Thức Thứ Tám chuyễn sanh các thức đồng thời chóng
hiện. Bảy chuyễn thức nương cảnh mà biến hiện, thức thứ sáu năng phân
biệt, thức thứ bảy tác ý, năm thức trước đối trần thứ lớp biến hiện.
Đức Phật còn dùng những ẩn dụ như người vẽ dùng
màu sắc mà vẽ hình. Hoặc cho là tâm mà đợi giác, hoặc cho là thức mà đợi
không. Đây là nói những ẩn dụ dĩ tâm ấn tâm không thể dùng ngôn ngử mà
diễn tả được, có mê có ngộ là bản tính của phàm phu nên trong tụng có
câu “màu sắc vốn không nét, chẳng phải bút chẳng phải lụa, vì vui chúng
sanh nên hòa lẫn vẽ các hình”.
“Nói năng riêng lập bày Chơn thật lìa danh
tự
Phân biệt hợp nghiệp đầu Tu hành bày chơn thật
Chơn thật chổ tự ngộ Giác tưởng sở giác
lìa
Đây vì Phật Tử nói.”
Ví dụ như người uống nước lạnh, nóng tự biết, không
phải danh tướng mà luận bàn ra được. Nhơn giác và sở giác đều chẳng phải
cảnh giới đó là vì Bồ Tát mà nói không phải hàng phàm phu hiểu được.
“Người ngu rộng phân biệt Các thứ đều như
huyễn
Tuy nhiên không chơn thật Như thế nói các
thứ
Tùy sự riêng lập bày Nói ra
không phải họp
Nơi kia là chẳng nói Cả thảy
người bệnh kia
Thầy thuốc tùy dùng thuốc Như Lai vì chúng
sanh
Tùy tâm hợp lượng nói Phi cảnh giới
vọng tưởng
Thanh Văn chẳng có phần Người ai mẫn nói
ra
Cảnh giới của tự giác.”
Như Lai nói pháp tùy căn cơ mà giải bày, nói pháp
có thứ bậc cao thấp, có mật ngôn ẩn dụ, giống như thầy thuốc tùy bệnh
trạng của từng người mà cho thuốc khác nhau.
(12) Ba tướng tự giác Thánh Trí
“Lại nữa, Đại Huệ! Đại Bồ Tát dựng lập tướng trí
huệ, trụ rồi ở trên ba tướng thánh trí phải siêng tu học.”
Những gì là ba tướng thánh trí phải siêng tu học?
Nghĩa là tướng vô sở hữu, tướng chỗ tất cả chư Phật
tự nguyện, tướng tự giác thánh trí cứu cánh. Tu hành được đây rồi hay xả
tướng tâm trí huệ lừa què, được địa thứ tám của bậc tối thắng tử, ở trên
ba tướng kia do tu hành mà sanh.”
“Đại Huệ! Tướng vô sở hửu ấy, là tướng của Thanh
Văn, Duyên Giác và ngoại đạo, kia do tu tập mà sanh. Đại Huệ! Tướng chỗ
tự nguyện ấy, là chỗ chư Phật trước tự nguyện tu sanh.
Đại Huệ! Tướng tự giác thánh trí cứu cánh ấy, là
tất cả pháp tướng không có chỗ chấp trước được thân như huyễn tam muội,
chỗ chư Phật địa tiến thú tu hành mà sanh. Đại Huệ! Đây gọi là ba tướng
thánh trí. Nếu người thành tựu ba tướng thánh trí này hay đến cảnh giới
tự giác thánh trí cứu cánh.
Thế nên, Đại Huệ! Ba tướng thánh trí phải siêng tu
học.”
Trí lừa què khi chứng thất địa ngã
chấp đã dứt, tất cả tâm dứt không còn khởi lại tương tợ với nhị thừa,
nên nói trí lừa què vào bát địa rồi mới xả.
“Tướng vô sở hửu” là quán không của nhị
thừa.
“Tướng Phật trước tự nguyện” , Kinh
An Lạc nói: “Chưa qua khổ đế khiến qua khổ đế, chưa hiểu tập đế khiến
hiểu tập đế, chưa an đạo đế khiến an đạo đế, chưa được diệt đế khiến
được diệt đế”.
Đoạn kinh nầy là tứ hoằng thệ, y nơi giáo biệt,
viên đều duyên hai thứ tứ thánh đế hửu tác vô tác. Đây là “tướng Phật
trước tự nguyện”.
“Tướng tự giác thánh trí cứu cánh” là
ở tất cả chỗ chứng được cảnh giới tự tâm hiện tượng, đạt tất cả pháp
không ngăn ngại, được thân như huyễn viên mãn Phật địa. Đây gọi là sai
biệt trí, nhưng không nói sai biệt mà nói Thánh trí cứu cánh.
Trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài Đồng Tử trãi qua
110 thành học đạo Bồ Tát, khi đến chỗ Đức Di Lặc lại khiến trở lại yết
kiến Đức Văn Thù Bồ Tát. Ngài nói: “Ông trước được gặp các thiện trí
thức, nghe hạnh Bồ Tát, vào môn giải thoát, đầy đủ đại nguyện, đều là
sức oai thần của Bồ Tát Văn Thù. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ở tất cả chỗ đều
được giải thoát”.
(còn tiếp)
Lâm Như Tạng
| Mục lục |
---o0o---
-
Trình bày: Nhị Tường
-
Cập nhật: 01-06-2005