Phần 05
Ghi Chú
---o0o---
(Tiếp theo)
3.
Nói Lý Do Sự Quán
Chính Văn.-
Nhưng nếu chỉ tu sự chỉ thì tâm trí chìm xuống, biếng
nhác, không thích thiện pháp (193) , xa rời đại bi, vì vậy mà phải
tu sự quán.
Lược Giải.-
Những nhược điểm của sự chỉ mà chính văn nói,
thật trái ngược với chư Phật Bồ tát --trái ngược với đại
thừa, là vì chỉ có một chiều, nên phải sửa chữa bằng sự
quán.
Nói 4 Sự Quán
Lược Giải.-
Chữ quán, bất cứ quán gì, nhất là quán 4 sự ở
đây, thì có nghĩa xét bằng việc làm, chứ hoàn toàn không phải
chỉ có nghĩa là tư duy, suy ngẫm.
Quán Pháp Tướng
Chính Văn.-
Tu sự quán là xét các pháp hữu vi không thể
ngừng lại, phút chốc đã biến đổi, mọi hiện tượng tâm lý
luôn luôn sinh diệt, và chính sự biến đổi sinh diệt này là lý do
của sự đau khổ. Cũng xét những gì nhớ về quá khứ thì thấp
thoáng như chiêm bao, những gì biết trong hiện tại thì chớp nháng
như điện chớp, những gì nghĩ đến vị lai thì nổi lên như mây nổi.
Lại xét thế gian này cái thân nào cũng chẳng sạch sẽ gì, dơ bẩn
đủ loại, không một chút chi đáng được ưa thích.
Quán Đại Bi
Chính Văn.-
Xét như vậy rồi, lại nghĩ chúng sinh vô thỉ đến
giờ toàn do sự huân tập của bất giác mà tâm thức sinh diệt,
đã chịu đau khổ lớn lao, nơi thân cũng như nơi tâm; hiện tại cũng
chính là đang có vô số lượng những sự áp bức; còn vị lai thì
đau khổ chưa biết đến ngần nào. Mọi sự đau khổ ấy khó trút
bỏ, khó tách rời, thế mà không hề tỉnh ngộ. Chúng sinh như vậy
thật đáng thương cảm.
Quán Đại Nguyện
Chính Văn.-
Suy nghĩ như vậy, người tu hành tức thì dũng mãnh
mà lập thệ nguyện rộng lớn, nguyện cho lòng mình đừng có mọi
sự phân biệt, khắp cả không gian làm các phước đức, suốt cả
thì gian vận dụng vô số phương cách thích hợp mà cứu vớt chúng
sinh đau khổ và làm cho họ được cái vui đệ nhất nghĩa của niết
bàn.
Quán Tinh Tiến
Chính Văn.-
Vì lập thệ nguyện đến như vậy nên bất cứ lúc
nào, bất cứ chỗ nào, hễ gặp điều thiện là tùy khả năng mà
học mà làm, lòng không biếng nhác.
Song Tu Chỉ Quán
Chính Văn.-
Thêm nữa, nếu chỉ tu tập sự quán thì không xuất
sinh tuệ giác vô phân biệt (194) . Nên lúc nào ngồi thì chuyên tâm
tu tập sự chỉ, còn những lúc khác thì phải quán sát việc gì
đáng làm, việc gì không đáng làm. Đi đứng, nằm dậy, lúc nào
cũng phải song tu chỉ quán, bằng cách nghĩ nhớ rằng các pháp bản
thể bất sinh, lại nghĩ nhớ liền rằng dữ kiện hội đủ thì hành vi
lành dữ và hậu quả vui khổ không sai không mất; tuy nghĩ nhớ dữ
kiện, hành vi và hậu quả là như vậy, nhưng cũng nghĩ nhớ liền
rằng thực chất các pháp này không thể tìm thấy.
Chỉ Quán Đối Trị
Chính Văn.-
Tu sự chỉ thì sửa chữa nhược điểm của người
thường là bám víu cuộc đời, lại sửa chữa nhược điểm của
nhị thừa là khiếp sợ cuộc đời ấy. Tu sự quán thì sửa chữa
cái lỗi của nhị thừa là không có đại bi, lại sửa chữa cái
lỗi của người thường là không làm việc thiện. Vì ý nghĩa này
nên chỉ với quán không thể tách rời với nhau, mà phải giúp nhau
cho cùng thành tựu. Không thành tựu cả chỉ quán thì không thể
hội nhập tuệ giác bồ đề.
Lược Giải.-
Coi đây thì biết nói sự chỉ đối trị lầm lỗi của
phàm phu, còn sự quán đối trị lầm lỗi của nhị thừa, là không
đúng lắm.
Chỉ Cách Đề Phòng Thoái Chuyển
Chính Văn.-
Lại nữa, người mới học tập những pháp hạnh
trên đây, mong ước đạt được sự tin hoàn hảo, nhưng trong lòng
lo sợ. Họ đang ở trong quốc độ Kham nhẫn này nên sợ rằng không
thường gặp được Phật đà để phụng sự hiến cúng thì sự tin
hoàn hảo khó mà thành đạt. Sợ như vậy nên muốn thoái lui. Thì
nên biết đức Như lai có một phương cách đặc thù để giữ gìn
cho sự tin hoàn hảo. Ấy là vận dụng yếu tố nhất tâm niệm Phật
để tùy nguyện sinh đến những cõi Phật khác, thường được thấy
Phật, vĩnh viễn không còn sa vào các nẻo đường dữ. Như trong kinh
dạy rằng ai chuyên tâm chánh niệm đức A di đà phật ở quốc độ
Cực lạc tọa lạc hướng tây quốc độ này, bao nhiêu thiện pháp
làm được đều hồi hướng để nguyện sinh quốc độ ấy, thì
người ấy quyết định được sinh. Và ở đó thì luôn luôn thấy
Phật nên không bao giờ còn có sự thoái chuyển. Nếu người ấy
biết quán đến chân như pháp thân của đức A di đà phật (195) ,
thường xuyên siêng năng tu tập sự quán ấy, thì tuyệt đối
được sinh quốc độ của ngài, vì tu tập như vậy là đứng vào
chánh định Chân như.
Lược Giải.-
Sự sinh quốc độ Cực lạc có 2. Một là sinh đến
quốc độ ấy. Hai là thể hiện quốc độ ấy ngay nơi quốc độ này,
"đức A di đà phật dùng thần lực làm cho sống trong ngũ
trược ác thế mà không khác gì sống trong thế giới Cực lạc"
(Chính 12/337).
Phần Khuyên Tu
Chính Văn.-
Tư tưởng đại thừa như thế này là kho tàng bí mật
của Phật mà tôi đã trình bày tổng quát. Đối với kho tàng bí
mật ấy (196) , người nào muốn tin chính xác, hết phỉ báng, đi vào
đường đi đại thừa, thì nên nắm giữ luận này trong trí, cứu
xét và thực tập, để cuối cùng đạt đến tuệ giác vô thượng.
Ai nghe tư tưởng đại thừa này mà không khiếp sợ,
thì biết người ấy chắc chắn thừa kế dòng giống của Phật,
được Phật phán quyết làm Phật (197) . Giả sử có người giáo
hóa chúng sinh đầy cả đại thiên thế giới đều biết làm mười
thiện nghiệp, và người khác, chỉ trong thì gian một bữa ăn suy nghĩ
chính xác tư tưởng đại thừa này, thì công đức người này hơn
công đức người trước đến nỗi không thể ví dụ để mô tả.
Người nào học hỏi và ghi nhớ luận văn này, quán sát và tu tập
trong một ngày đêm đi nữa, công đức đạt được cũng siêu việt
số lượng và giới hạn, không thể nói hết. Dầu chư Phật mười
phương ngài nào cũng ca tụng công đức người ấy đến vô số
thời kỳ vô số, cũng không cùng tận. Tại sao như vậy? Vì công
đức chân như không cùng tận nên công đức người ấy cũng
không cùng tận. Ngược lại, đối với tư tưởng đại thừa trong
luận văn này, ai mạt sát, phủ nhận, thì tội báo họ phải chịu là
trải qua vô lượng thời kỳ lãnh chịu khổ sở lớn lao. Do vậy,
hãy tín ngưỡng, đừng phỉ báng -- Đừng làm cái việc rất hại
mình lại hại người khác, hủy diệt dòng giống của Phật pháp
tăng. Bởi lẽ do tư tưởng đại thừa này mà các đức Như lai
đã thực hiện niết bàn tối thượng, do tư tưởng đại thừa này
mà các vị Bồ tát sẽ hội nhập tuệ giác Phật đà.
Phải biết các vị Bồ tát trong quá khứ đã nhờ tư
tưởng đại thừa này mà đạt được đức tin trong sáng, các vị
Bồ tát trong hiện tại đang nhờ tư tưởng đại thừa này mà đạt
được đức tin trong sáng, các vị Bồ tát trong vị lai sẽ nhờ tư
tưởng đại thừa này mà đạt được đức tin trong sáng. Vì lý do
ấy, mọi người nên siêng năng tu học tư tưởng đại thừa này.
Lược Giải.-
Ngữ khí phần này có phần là ngữ khí đề cao. Thế
nhưng không phải đề cao vô lý.
Hồi Hướng
Chính Văn.-
- Nghĩa lý căn bản (198)
- của đức Như lai,
- con đã tùy thuận (199)
- trình bày tổng quát.
- Con nguyện hồi hướng (200)
- đúng như chân như,
- đem lại ích lợi
- cho bao chúng sinh.
-
- Mở Đầu
- Kính lạy Tam bảo
- khắp cả mười phương:
- Phật là các đấng
- làm thì hơn hết
- biết thì khắp cả
- thân thì vô hạn,
- từ bi cứu hộ
- tất cả thế gian.
- Pháp là thể tướng
- của chính thân Phật,
- tức biển pháp tánh
- chân như phi ngã.
- Tăng là các vị
- tu tập chính xác
- kho tàng công đức
- của Pháp nói trên.
- Con viết luận này
- để cho chúng sinh
- diệt trừ hoài nghi
- loại bỏ chấp lầm,
- có thể phát sinh
- đức tin đại thừa
- làm cho giống Phật
- không bị mất đi.
Thuyết Trình
Có một tư tưởng hệ có thể phát sinh đức tin đại
thừa nên phải nói. Nói bằng năm phần: phần một là lý do, phần
hai là chủ thuyết, phần ba là giải thích, phần bốn là cách tu, phần
năm là khuyên tu.
Phần Lý Do
Trước hết nói phần lý do.
Hỏi, vì lý do gì mà trước thuật Khởi tín luận?
Đáp, lý do ấy có tám. Một là lý do tổng quát, là muốn làm cho
mọi người thoát ly khổ não đủ thứ, đạt được yên vui toàn
hảo, chứ không phải mong cầu danh lợi và tôn kính của thế nhân.
Hai là muốn giải thích nghĩa lý căn bản của đức Như lai để làm
cho mọi người lý giải chính xác, không lầm lẫn. Ba là muốn làm
cho những người thiện căn thuần thục đủ sức tiếp nhận đại
thừa, không thoái chuyển đức tin. Bốn là muốn làm cho những
người thiện căn kém cỏi tu tập đức tin. Năm là muốn chỉ phương
cách thích hợp để loại trừ những chướng ngại do nghiệp dữ
gây ra, khéo giữ tâm trí, tách rời ngu si, ngạo mạn, thoát khỏi
mạng lưới của bao sự tác hại. Sáu là muốn chỉ cách tu tập về
chỉ và quán để sửa chữa lầm lỗi của tâm trí người thường
và nhị thừa. Bảy là muốn chỉ cách chuyên nhất tâm niệm để sinh
trước Phật đà thì quyết định không còn thoái chuyển đức tin.
Tám là muốn chỉ lợi ích để khuyến khích tu hành. Vì những lý do
như vậy nên phải trước thuật Khởi tín luận.
Hỏi, trong kinh văn đã có đầy đủ những điều mà
những lý do trên nêu lên, cần gì phải lặp lại bằng luận văn
này? Đáp, trong kinh văn tuy có đầy đủ những điều ấy, nhưng phải
lặp lại bằng luận văn này là vì mọi người thì khả năng không
đồng đẳng, yếu tố để tiếp nhận và lý giải cũng khác nhau. Như
khi đức Như lai còn ở đời, người nghe thì khả năng lanh lợi,
người nói là đức Như lai thì thân và tâm đều siêu việt, nên
âm thanh toàn hảo một khi phát ra là khả năng khác nhau mà lý giải
đồng đẳng, như thế thì không cần đến luận văn. Nhưng sau khi đức
Như lai nhập diệt, có người đem trí lực của mình nghe kinh văn
nhiều mới được lý giải; có người cũng đem trí lực của mình
nhưng nghe kinh văn ít mà được lý giải phong phú; có người tự
mình không có trí lực để hiểu kinh văn, phải nhờ luận văn phong
phú mới được lý giải; có người cũng tự mình không có trí
lực để hiểu kinh văn, nhưng cho luận văn phong phú là phiền phức,
chỉ thích nắm lấy một cách tổng quát luận văn nào văn tự ít mà
nghĩa lý đủ mới lý giải được. Chính vì những người sau hết
ấy mà có luận văn này. Luận văn này muốn bao gồm tổng quát
nghĩa lý vô biên của chánh pháp phong phú, vĩ đại và sâu xa của
đức Như lai, nên phải viết ra.
Phần Chủ Thuyết
Nói phần lý do rồi, bây giờ nói phần chủ thuyết.
Đại thừa mà nói tổng quát thì có hai: một là bản
thân của đại thừa, hai là ý nghĩa của bản thân ấy. Bản thân
của đại thừa thì chính là Tâm chúng sinh. Tâm ấy bao gồm toàn
thể pháp thế gian và pháp xuất thế, nên căn cứ Tâm ấy mà biểu
thị đại thừa: mặt chân như của Tâm ấy biểu thị về thể của
đại thừa, mặt sinh diệt của Tâm ấy biểu thị về thể tướng dụng
của đại thừa. Ý nghĩa của bản thân đại thừa thì chính là ba ý
nghĩa trên: một là thể vĩ đại, là chân như nhất quán bất biến;
hai là tướng vĩ đại, là Như lai tạng đủ mọi tánh đức; ba là
dụng vĩ đại, là xuất sinh toàn bộ nhân và quả về thiện của thế
gian và xuất thế. Hết thảy Phật đà đã vận dụng và hết thảy
Bồ tát đang vận dụng cái Tâm như vậy mà đạt đến địa vị Như
lai.
Phần Giải Thích
Nói phần chủ thuyết rồi, bây giờ nói phần giải
thích.
Giải thích chủ thuyết nói trên bằng ba tiết mục:
tiết mục một là chỉ thị nghĩa lý chính xác về Tâm, tiết mục hai
là sửa chữa kiến thức sai lầm về Tâm, tiết mục ba là phân tích
sắc thái phát huy về Tâm.
Chỉ thị nghĩa lý chính xác về Tâm là Tâm có hai
mặt: mặt chân như và mặt sinh diệt. Mặt nào cũng bao quát toàn
thể các pháp, tại sao, vì hai mặt như vậy không phải tách rời lẫn
nhau.
Chân như của Tâm là pháp tánh đồng nhất, cơ sở
của tiết mục giáo pháp Phật dạy về khái niệm vĩ đại và tổng
quát. Pháp tánh ấy là tâm thể phi sinh diệt. Hết thảy các pháp
chỉ do phân biệt mà có sai biệt, tách rời phân biệt thì đối
tượng cũng không có. Do vậy mà biết các pháp xưa nay phi ngôn
ngữ, phi văn tự, phi nhận thức, tuyệt đối nhất quán, không hề
chuyển biến, không thể phá hủy, toàn là tâm thể đồng nhất nên
mệnh danh chân như. Mọi ngôn ngữ đều không thực chất, chỉ tùy
phân biệt chứ không có gì có thể thủ đắc. Gọi là chân như thì
cũng không phải là một đối tượng, mà là ngôn ngữ tột đỉnh,
do ngôn ngữ ấy mà hủy bỏ ngôn ngữ. Nhưng chân như thì phi hủy
bỏ, vì các pháp toàn là chân, lại phi xây dựng, vì các pháp
toàn là như. Phải hiểu các pháp phi diễn tả, phi phân biệt, đó
là chân như.
Hỏi, chân như như vậy thì chúng sinh làm sao thích ứng
mà hội nhập? Đáp, nếu biết các pháp tuy diễn tả mà siêu việt
diễn tả và đối tượng diễn tả, tuy phân biệt mà siêu việt phân
biệt và đối tượng phân biệt, thì thế là thích ứng; tách rời
phân biệt thì thế là hội nhập.
Thêm nữa, chân như mà phân tách theo ngôn ngữ thì
có hai mặt: một là Không một cách đúng như sự thật, vì biểu thị
thật thể một cách trọn vẹn; hai là Có một cách đúng như sự
thật, vì thật thể sung mãn mọi phẩm chất sẵn có mà thuần túy.
Không một cách đúng như sự thật là chân như xưa
nay không thích hợp với mọi sự ô nhiễm, vì chân như thì phi phạm
trù đối kháng nhau, siêu phân biệt không chính xác. Hãy nhận thức
chân như phi khẳng định, phi phủ định, phi cả khẳng định phủ định,
phi không khẳng định phủ định ; phi đồng nhất, phi biệt lập, phi cả
đồng nhất biệt lập, phi không đồng nhất biệt lập. Nói tổng quát,
chúng sinh thì hay phân biệt, phân biệt liền liền và đủ cách, nhưng
mọi sự phân biệt ấy toàn không thích hợp với chân như, nên
nói là Không. Như vậy tách rời phân biệt thì thật không có gì
phải làm cho không đi.
Có một cách đúng như sự thật là thật thể đã
không vì không phân biệt, thật thể ấy chính là tâm thể chân như,
bất biến, sung mãn mọi sự trong sáng, nên gọi là Có. Có như vậy
cũng không phải là cái có có thể thủ đắc, vì đó là lĩnh vực
siêu việt phân biệt mà thực chứng mới thích ứng.
Sinh diệt của Tâm là do Như lai tạng mà có tâm sinh
diệt. Tâm sinh diệt ấy hóa hợp bất diệt và sinh diệt một cách
không phải đồng nhất cũng không phải biệt lập, và gọi là a lại
da thức. A lại da thức có hai mặt, bao gồm và phát sinh tất cả các
pháp; hai mặt ấy là tuệ giác và bất giác.
Tuệ giác là tâm thể tách rời phân biệt. Tâm thể
tách rời phân biệt ấy chính là pháp tánh đồng nhất, đồng đẳng
không gian, phổ biến toàn thể --là pháp thân bình đẳng mà các
đức Như lai đã chứng ngộ. Chính pháp thân này được gọi là
tuệ giác vốn có. Nhưng gọi như vậy chỉ vì đối với tuệ giác
mới có, mà tuệ giác mới có thì đồng nhất với tuệ giác vốn
có.
Tuệ giác mới có là do tuệ giác mà có bất giác,
giác ngộ cái bất giác ấy thì gọi là tuệ giác mới có. Tuệ
giác mới có này thấu triệt tâm thể thì gọi là tuệ giác đã
triệt để, chưa thấu triệt tâm thể thì gọi là tuệ giác chưa triệt
để. Việc này thế nào? Trước tiên là người thường, giác ngộ
phân biệt trước là ác nên chế ngự phân biệt sau không cho nổi
lên, như vậy tuy cũng gọi là tuêể giác mà vẫn bất giác. Thứ
hai là các vị nhị thừa và Bồ tát mới phát tâm, giác ngộ cái
phân biệt mâu thuẫn với tâm thể, nên chỉ theo cái phân biệt
không mâu thuẫn, như vậy là xả bỏ sự cố chấp của phân biệt
thô nhất, nên gọi là tuệ giác tương tự. Thứ ba là các vị Bồ
tát hội nhập pháp thân, giác ngộ cái phân biêểt bám trụ tâm
thể, nên chỉ theo cái phân biệt không bám trụ, như vậy là xả bỏ
cái phân biệt thô nhâắt, nên gọi là tuệ giác tùy phần. Sau hết
là các vị Bồ tát tận cùng địa vị, hoàn bị cách tu, thích ứng
tối hậu nên giác ngộ khởi điểm nơi tâm thể -- nhưng tâm thể
đâu có cái khởi điểm ấy, chỉ vì tách rời phân biệt nhỏ nhất
thì thấy được tâm thể, tâm thể vĩnh viễn trong sáng, nên gọi là
tuệ giác triệt để. Do bốn trạng thái trên đây mà khế kinh đã
dạy, rằng ai biết chiêm nghiệm sự siêu việt phân biệt thì thế là
hướng về tuệ giác Phật đà.
Nói tâm thể phát khởi, nhưng thật ra không có khởi
điểm. Nói khởi điểm thì chính là sự không còn phân biệt. Do
vậy mà chúng sinh không được gọi là tuệ giác, vì lẽ xưa nay
chúng sinh phân biệt liên tục, chưa hề tách rời phân biệt, và
được gọi đó là sự bất giác có từ vô thỉ. Nếu thực hiện
được sự tách rời phân biệt thì giác ngộ trạng thái phát sinh,
tồn tại, dị biệt và hủy diệt của tâm tướng, vì sự tách rời
phân biệt thì đồng đẳng. Nên thật ra không có cái tuệ giác mới
có nào khác, vì nó có cùng lúc và không độc lập với bốn
trạng thái, trước sau đều là tuệ giác đồng nhất.
Thêm nữa, do loại trừ sự bất giác ô nhiễm mà
tuệ giác vốn có có hai sự trạng không tách rời với Nó. Hai
sự trạng ấy là tuệ giác trong sáng và hoạt dụng siêu việt.
Tuệ giác trong sáng là nhờ sức mạnh của Pháp huân
tập mà tu hành một cách chính xác, hoàn thiện phương cách tu hành
nên phá thức hóa hợp, diệt tâm liên tục, pháp thân hiển lộ,
tuệ giác thuần khiết. Ý nghĩa này thế nào? Mọi hiện trạng tâm
thức toàn là bất giác, mà bất giác thì không tách rời tâm thể
tuệ giác, nên không phải có thể hủy diệt hay không thể hủy diệt.
Nhưng, ví như nước đại dương vì gió mà nổi sóng, sóng với gió
động lên với nhau mà tính ướt không đồng, nên gió ngừng thì
sóng lặng mà tính ướt y nguyên. Tâm thể trong sáng của chúng sinh
cũng vậy, vì bất giác mà động tâm dụng (tâm dụng với bất giác
cùng không định thức, không biệt lập), nhưng tâm thể không biến
động. Nên hủy diệt là bất giác hủy diệt thì tâm dụng hủy diệt
mà tâm thể bất diệt.
Hoạt dụng siêu việt là chính tâm thể trong sáng hoạt
hiện mọi sự siêu việt và tinh tế: vô biên công đức thường
không gián đoạn hay tiêu ma, tùy khả năng của chúng sinh mà tự
nhiên thích ứng, biểu hiện đủ mọi dạng thức, làm cho ai cũng thu
đạt ích lợi.
Nói thêm về thể tính của tuệ giác thì có bốn sự
vĩ đại, đồng đẳng không gian và in như đài gương trong sáng. Một
là đài gương Không một cách đúng như sự thật, là tách rời
hoàn toàn lĩnh vực phân biệt, vì là phi đối tượng, phi nhận
thức. Hai là đài gương Nhân tố huân tập cho chúng sinh, tức là
Có một cách đúng như sự thật: toàn thể vũ trụ biểu hiện ở
đó, không xuất ra hay nhập vào, không biến thể hay hủy diệt, toàn
là tâm thể đồng nhất và bất biến -- các pháp toàn là tâm thể
mà tâm thể lại không nhiễm mọi sự nhiễm ô, tuệ giác bất
động, nên sung mãn phẩm chất thuần khiết, làm nhân tố tác động
cho chúng sinh tu hành. Ba là đài gương Tâm thể siêu thoát mọi
chướng ngại, là chính sự Có một cách đúng như sự thật nói
trên siêu thoát phiền não chướng và sở tri chướng, tách rời
trạng huống hóa hợp với nhiễm pháp nên tuệ giác thuần khiết,
trong suốt. Bốn là đài gương Duyên tố huân tập cho chúng sinh, là
Tâm thể siêu thoát nói trên, bằng sự biểu hiện tùy tâm mà soi
sáng một cách cùng khắp cho tâm thức chúng sinh, làm duyên tố hỗ
trợ cho chúng sinh tu hành.
Bất giác là không biết một cách đúng như sự thật
về chân như đồng nhất. Do sự bất giác này mà có phân biệt. Như
vậy phân biệt không phải biệt lập, không tách rời tuệ giác vốn
có. Tựa như kẻ lạc đường, vì có phương hướng mới có sự
lạc đường, không có phương hướng thì sự lạc đường cũng
không; chúng sinh cũng vậy, do tuệ giác mà có bất giác, không tuệ
giác thì cũng không bất giác. Do sự phân biệt của bất giác có
cái khả năng biết danh từ và ý nghĩa, nên được nói cho về tuệ
giác; nếu không có sự phân biệt của bất giác thì cũng không có
cái tuệ giác để có thể nói đến.
Thêm nữa, do bất giác mà phát sinh ba trạng thái
không tách rời với nó. Một là năng động, là bất giác thì
vọng động, và gọi là nghiệp; giác thì không vọng động, vọng
động thì khổ não, vì hậu quả không tách rời nguyên nhân. Hai là
năng kiến, là vọng động chuyển thành nhận thức, không vọng động
thì nhận thức cũng không. Ba là năng hiện, là nhận thức hình
thành đối cảnh, tách rời nhận thức thì đối cảnh cũng không.
Rồi do đối cảnh hỗ trợ mà phát sinh sáu trạng
thái nữa. Một là phân biệt, là phân biệt đối cảnh cái dễ ưa
cái dễ ghét. Hai là liên tục, là do phân biệt mà phát sinh khổ
vui, làm cho cảm giác liên tục. Ba là cố thủ, là do sự liên tục
mà bám víu đối cảnh, khổ vui giữ mãi trong lòng. Bốn là từ
ngữ, là sự cố thủ hình thành ngữ văn. Năm là động tác, là
từ ngữ tạo ra đủ loại hành vi. Sáu là khỗ não, là hành vi
buộc phải nhận lấy hậu quả, không còn tự do.
Hãy nhận thức rằng bất giác phát sinh mọi sự ô
nhiễm, bởi vì mọi sự ô nhiễm toàn là biểu hiện của bất giác.
Giữa tuệ giác với bất giác có hai trạng huống là
đồng nhất và dị biệt.
Đồng nhất là như mọi thứ đồ gốm toàn là đất
mịn, mọi sự huyễn dụng, tuệ giác cũng như bất giác, toàn là
chân như. Nên trong kinh căn cứ ý nghĩa này mà nói hết thảy chúng
sinh xưa nay thường nhập niết bàn bồ đề ; niết bàn bồ đề không
phải là cái sửa lại, không phải là cái làm ra, tuyệt đối không
phải thủ đắc. Bồ đề niết bàn cũng không phải sắc tướng; thấy
có sắc tướng thì đó là huyễn dụng của Phật đà biểu hiện theo
huyễn nghiệp của chúng sinh, chứ không phải là sắc tướng có một
cách đúng như sự thật của tuệ giác, bởi vì sắc tướng này
của tuệ giác thì không thể thấy được.
Dị biệt là như mọi thứ đồ gốm không có cái nào
đồng nhất với cái nào, tuệ giác với bất giác là huyễn dụng
khác nhau, vì khác nhau là đặc tính của huyễn dụng.
Yếu tố sinh diệt là, ở chúng sinh, do tâm mà chuyển
ra ý và ý thức. Ý nghĩa này thế nào? Do a lại da mà có bất
giác năng kiến, năng hiện, cố thủ đối cảnh, phân biệt liên tục,
như vậy gọi là ý.
Ý như vậy có năm tên. Một, tên là động thức,
là sự năng động do bất giác. Hai, tên là chuyển thức, là sự
năng kiến do năng động. Ba, tên là hiện thức, là đối cảnh do
năng kiến hình thành -- Như gương sáng hiện ra hình ảnh, hiện thức
cũng vậy, năm đối cảnh đối diện là biểu hiện, không có trước
sau, vì hiện thức lúc nào cũng tự chuyển động liên tục. Bốn,
tên là phân biệt thức, là phân biệt cái đáng ghét, cái đáng
ưa. Năm, tên là tương tục thức, là phân biệt liên tục -- Chính
sự liên tục này duy trì, làm cho không mất những hành vi thiện ác
có từ bao đời quá khứ, lại thành thục, làm cho không sai những
hậu quả vui khổ trong hiện tại vị lai; và ngay trong hiêển tại, chính
tương tục thức làm cho những gì đã qua thốt nhiên nhớ đến,
những gì chưa đến đột nhiên nghĩ ra.
Do vậy mà ba cõi hư ảo, duy tâm chuyển biến, rời
tâm thì không cả sáu cảnh. Ý nghĩa này thế nào? Các pháp toàn do
tâm thức chuyển biến, do phân biệt mà hình thành. Như vậy mọi sự
phân biệt chỉ là tự phân biệt lấy tâm mình. Nhưng Tâm không phải
là sự phân biệt như vậy, không phải là đối tượng để thủ
đắc. Hãy nhận thức rằng các pháp thuộc lĩnh vực chúng sinh toàn
do bất giác của chúng sinh mà có và còn. Các pháp ấy như bóng
trong gương, không có thực thể, duy tâm vọng hiện: tâm sinh thì pháp
sinh, tâm ngừng thì pháp ngừng.
Bây giờ nói đến ý thức. Thì chính tương tục
thức nói trên mà người thường cố chấp càng sâu, chấp tự
ngã, chấp ngã sở, chấp lấy đủ cách, vin níu mọi sự, bủa rộng
khắp cả sáu thứ đối cảnh, nên tên là ý thức, cũng tên phân
ly thức, lại tên phân biệt sự thức. Thức này được lớn thêm
là do kiến và ái.
Nhưng do bất giác huân tập mà phát khởi nhiễm tâm,
điều ấy không phải người thường biết được, tuệ giác nhị
thừa cũng không thấu suốt. Phải do các vị Bồ tát từ khi sự tin
hoàn hảo thì học tập quán sát, đến khi hội nhập pháp thân thì
biết được ít phần; nhưng cho đến Bồ tát tận cùng địa vị cũng
vẫn chưa biết được triệt để. Biết được triệt để thì chỉ có
địa vị Phật đà. Tại sao như vậy? Vì tâm thể trong sáng mà có bất
giác, vì bất giác mà có nhiễm tâm, có nhiễm tâm mà tâm thể
vẫn bất biến, sự thể như vậy chỉ Phật thấu triệt, rằng tâm thể
siêu việt phân biệt nên gọi là bất biến, không thấu triệt tâm
thể ấy mà nổi lên phân biệt thì gọi là bất giác.
Nhiễm tâm có sáu thứ. Một là sự cố chấp, là
cái được hủy diệt ở địa vị nhị thừa và địa vị Bồ tát sự
tin hoàn hảo. Hai là sự liên tục, là cái được hủy diệt dần
dần từ địa vị Bồ tát sự tin hoàn hảo, cho đến được hủy diệt
trọn vẹn ở địa vị Bồ tát tuệ giác trong suốt. Ba là sự phân
biệt, là cái được hủy diệt dần dần từ địa vị Bồ tát giới
pháp hoàn hảo, cho đến được hủy diệt trọn vẹn ở địa vị Bồ
tát phương tiện vô tướng. Bốn là sự năng hiện, là cái được
hủy diệt ở địa vị Bồ tát tự tại với cảnh. Năm là sự năng
kiến, là cái được hủy diệt ở địa vị Bồ tát tự tại với
tâm. Sáu là sự năng động, là cái được hủy diệt ở địa vị
Bồ tát tận cùng địa vị, nhập vào địa vị Như lai. Nói tóm, sự
bất giác tâm thể từ địa vị sự tin hoàn hảo thì học tập hủy
diệt, đến địa vị tuệ giác trong suốt thì hủy diệt từng phần, cho
đến địa vị Như lai thì hủy diệt trọn vẹn.
Trong sáu nhiễm tâm trên đây, ba thứ trước là
loại nhiễm tâm có thích ứng, ba thứ sau là loại nhiễm tâm không
thích ứng. Có thích ứng là phân biệt của tâm, khi dơ bẩn khi trong
sáng khác nhau, khi nào nhận thức với đối tượng cũng tương
đồng. Không thích ứng là bất giác của tâm, liên tục chứ không
khác nhau, khi nào nhận thức với đối tượng cũng bất đồng.
Thêm nữa, nhiễm tâm thì gọi là phiền não chướng,
chướng ngại cho cái trí căn bản là trí hội nhập chân như; còn
bất giác thì gọi là sở tri chướng, chướng ngại cho cái trí sự
dụng là trí toàn giác vạn hữu. Lý do là vì nhiễm tâm thì năng
kiến, năng hiện, cố thủ đối cảnh, trái với tâm thể đồng
đẳng; và vì các pháp bản lai bình lặng, bất giác trái với đặc
tính ấy nên không thể thích ứng mà hiểu biết các loại sự thể
trong lĩnh vực thế gian.
Sắc thái sinh diệt thì có hai loại, một là dễ thấy,
là loại có thích ứng; hai là khó thấy, là loại không thích ứng.
Có những sắc thái dễ thấy nhất trong loại dễ thấy thì thuộc lĩnh
vực của người thường; có những sắc thái khó thấy hơn trong
loại dễ thấy, và có những sắc thái dễ thấy hơn trong loại khó
thấy, thì toàn là lĩnh vực của Bồ tát; còn những sắc thái khó
thấy nhất trong loại khó thấy thì đó là lĩnh vực của Phật đà.
Tất cả hai loại sinh diệt này toàn là có vì bất
giác huân tập: vì nhân tố và vì duyên tố - nhân tố là bất
giác, duyên tố là đối cảnh do bất giác hình thành. Nhân tố diệt
thì duyên tố diệt: nhân tố diệt là loại không thích ứng diệt,
duyên tố diệt là loại có thích ứng diệt. Hỏi, tâm diệt thì làm
sao không mất hẳn? không mất hẳn thì làm sao nói diệt hoàn toàn?
Đáp, diệt là tâm tướng diệt, không phải tâm thể diệt. Như
nước do gió mà nổi sóng, gió lặng thì sóng ngừng mà nước
không mất: nước không mất nên không có sự mất hẳn. Chúng sinh
cũng vậy, vì bất giác mà vọng động, bất giác hết thì vọng động
không còn, chứ không phải tâm thể không còn. Không phải tâm thể
không còn nên không có sự mất hẳn. Nên diệt là bất giác diệt
thì tâm tướng diệt mà tâm thể bất diệt.
Thêm nữa, có bốn pháp liên quan đến sự huân tập
làm cho nhiễm pháp và tịnh pháp liên tục. Một là tịnh thể, tức
là chân như. Hai là nhiễm nhân, tức là bất giác. Ba là vọng tâm,
tức là động thức. Bốn là vọng cảnh, tức là sáu cảnh.
Huân tập nghĩa là ví như y phục không có hơi gì,
nhưng huân tập bằng thứ có hơi gì thì y phục có hơi của thứ ấy.
Ở đây cũng vậy, chân như không có sắc thái ô nhiễm, nhưng bất
giác huân tập thì có sắc thái ô nhiễm ; bất giác không có hoạt
dụng trong sáng, nhưng chân như huân tập thì có hoạt dụng trong sáng.
Nhiễm pháp được huân tập liên tục như thế nào?
Vì có chân như nên có bất gíac, vì có bất giác (nhân tố của
nhiễm pháp) nên huân tập lại chân như, vì có sự huân tập này
nên có vọng tâm; vì có vọng tâm nên huân tập lại bất giác,
làm cho bất giác càng bất giác chân như nên hình thành vọng cảnh ;
vì có vọng cảnh (duyên tố của nhiễm pháp) nên huân tập lại vọng
tâm, làm cho vọng tâm phân biệt, cố thủ, tạo nghiệp, chịu khổ.
Trong đây, vọng cảnh huân tập làm cho một, lớn thêm
phân biệt, và hai, lớn thêm cố thủ; vọng tâm huân tập làm cho
một, củng cố động thức (làm cho La hán, Duyên giác và Bồ tát
chịu cái khổ sinh diệt), và hai, da tăng phân biệt sự thức (làm cho
người thường chịu cái khổ nghiệp buộc) ; bất giác huân tập làm
cho một, lớn thêm bản thân (hoàn thành động thức) và hai, xuất ra
kiến ái (hoàn thành phân biệt sự thức).
Tịnh pháp được huân tập liên tục như thế nào? Vì
có chân như nên huân tập bất giác, do sức mạnh của sự huân
tập này mà làm cho vọng tâm chán cái khổ sinh tử và cầu cái vui
niết bàn. Vì vọng tâm có sự chán và cầu này mà huân tập lại
chân như, làm cho chúng sinh tự tín chân như, nhận thức vọng tâm,
không theo vọng cảnh, tu pháp viễn ly. Nghĩa là vì biết một cách
đúng như sự thật rằng vọng cảnh không thật, nên vận dụng mọi
phương cách mà tu tập thích hợp chân như, chứ không cố thủ và
không phân biệt vọng cảnh nữa; cho đến nhờ sức mạnh của sự
huân tập này lâu ngày mà bất giác hủy diệt, bất giác hủy diệt
nên tâm không vọng động, tâm không vọng động nên vọng cảnh
diệt theo: nhân tố và duyên tố diệt hết như vậy nên tâm tướng
diệt cả, và gọi là thực hiện niết bàn, thành tựu diệu dụng.
Ở đây, vọng tâm huân tập là một, ý thức huân
tập, làm cho người thường và nhị thừa chán cái khổ sinh tử,
tùy năng lực mà tiệm tiến về tuệ giác vô thượng; và hai, ý
huân tập, làm cho các vị Bồ tát nổi lên tâm chí dũng mãnh, mãnh
tiến đến niết bàn vô thượng. Còn chân như huân tập là một,
thể và tướng huân tập, và hai, dụng huân tập.
Thể và tướng của chân như huân tập là vô thỉ
đến giờ, chân như sung mãn tánh đức thuần túy và sung mãn hoạt
dụng siêu việt (là khả năng hoạt hiện mọi sự đặc thù), chính
vì có hai sự sung mãn này mà chân như thường xuyên huân tập, và
sự huân tập ấy có sức mạnh nên làm cho chúng sinh chán cái khổ
sinh tử và cầu cái vui niết bàn, với sự tự tin rằng mình có
tâm thể chân như nên phát huy tâm thể ấy và tu hành tâm thể ấy.
Hỏi, nếu nói như vậy thì ai cũng có chân như và
sự huân tập của chân như, tại sao có người tin như thế, có
người không tin như thế, lại còn trước sau khác nhau nữa? Lẽ ra ai
cũng cùng lúc tự biết mình có chân như mà tinh tiến tu tập phương
pháp thích nghi và đồng đẳng hội nhập niết bàn vô thượng mới
phải. Đáp, chân như đồng nhất nhưng bất giác quá nhiều. Từ gốc
đến ngọn, đặc tính bất giác là khác nhau vì nặng nhẹ bất đồng;
với số lượng nhiều hơn cát sông Hằng, những phiền não thượng
hạng đều do bất giác mà phát sinh khác nhau, những phiền não thuộc
hai loại ngã kiến và ngã ái cũng do bất giác mà xuất phát bất
đồng. Bao nhiêu phiền não trên đây cùng do bất giác phát sinh,
trước sau khác nhau, và số lượng vô lượng đến nỗi chỉ đức
Như lai mới biết hết. Do vậy mà làm cho người có tin người không
tin, và trước sau khác nhau.
Thêm nữa, theo Phật pháp thì cái gì cũng phải có
nhân tố và duyên tố, nhân duyên hội đủ mới được hoàn thành.
Như tính lửa trong cây củi là nhân của lửa, nhưng nếu không biết,
cũng không dùng cách mà lấy, thì cây củi không thể tự cháy
lên. Chúng sinh cũng vậy, dẫu có nhân tố chính yếu là sức mạnh
huân tập của chân như, nhưng nếu không gặp Phật đà, Bồ tát và
Thiện hữu làm duyên tố cần yếu, thì không thể tự diệt phiền
não mà nhập niết bàn; trường hợp khác, dầu có duyên tố cần
yếu làm sức mạnh ở ngoài, nhưng nếu chưa có sức mạnh ở trong
là sự huân tập của chân như, thì cũng không thể hoàn toàn chán
khổ sinh tử, cầu vui niết bàn. Thế nên nhân duyên phải đủ cả --
phải tự có nội lực của chân như huân tập, lại được nguyện
lực của Phật đà Bồ tát từ bi hộ trì, mới biết chán cái khổ
của sinh tử, mới biết tin cái vui của niết bàn, mới biết tu
những điều lành căn bản; rồi nhờ những điều lành này thuần
phục nên gặp được chư vị Phật đà Bồ tát chỉ dạy, thuyết phục,
khuyến khích và tán thưởng, mới đi thẳng một cách mau lẹ đến
tuệ giác niết bàn.
Dụng của chân như huân tập là duyên tố ngoại lực
vừa nói ở trên. Duyên tố này nhiều lắm, đại khái có hai, một
là duyên tố bị diệt, hai là duyên tố đồng đẳng. Duyên tố dị
biệt là đối với những người đã có nhân tố nội lực thì
từ khi họ mới phát tâm cầu được toàn giác cho đến lúc họ
được thành bậc toàn giác, trong thì gian ấy chư vị Phật đà Bồ
tát hoặc hiện làm thân nhân như cha mẹ bà con, hoặc hiện làm
người cung cấp hay kẻ phục dịch, hoặc hiện làm bạn tốt, hoặc hiện
làm kẻ thù, hoặc hiện làm bốn sự nhiếp hóa; nói tổng quát,
các ngài làm vô số duyên tố, xuất từ tâm nguyện đại bi của
các ngài và thành sức mạnh huân tập cho những người ấy, làm
cho họ lớn thêm điều lành, thấy nghe hay hoài niệm đều được
lợi ích. Duyên tố dị biệt như vâểy có hai loại là một, loại mau
chóng, làm cho mau chóng được giải thoát, và hai, loại lâu ngày,
làm cho lâu ngày cũng giải thoát; phân tích nữa thì hai loại trên
lại có hai loại là một, làm cho tăng thêm pháp hạnh, và hai, làm
cho tiếp nhận chánh pháp. Duyên tố đồng đẳng là chư vị Phật đà
Bồ tát đều nguyện cứu độ chúng sinh, nên huân tập cho chúng sinh
một cách tự nhiên, thường xuyên và không rời. Nghĩa là do sức
mạnh của tuệ giác đồng thể, các ngài tùy chúng sinh nên thấy nghe
và nên hoài niệm như thế nào thì hiện làm những việc thích hợp,
do vậy mà trong kinh đã nói, rằng hễ có định lực thì ai cũng thấy
Phật cả.
Thể tướng dụng của chân như huân tập cho chúng sinh
như trên đây chia ra hai loại. Một là chưa thích ứng, là loại làm
cho người thường, các vị nhị thừa, các vị Bồ tát mới phát
tâm, được ý và ý thức huân tập nên dựa vào tín lực mà tu
hành, chứ chưa được cái trí vô phân biệt thích ứng với thể
của chân như, chưa được cái tu vô công dụng thích ứng với dụng
của chân như. Hai là đã thích ứng, là loại làm cho các vị Bồ
tát hội nhập pháp thân được cái trí vô phân biệt thích ứng
với trí của Phật đà, dựa vào pháp lực mà nhiệm vận tu hành,
huân tập chân như, hủy diệt bất giác.
Nhiễm pháp từ vô thỉ cho đến ngày nay, được huân
tập nên liên tục, nhưng đến khi thành Phật đà thì nhiễm pháp ấy
phải đoạn diệt. Còn tịnh pháp được huân tập mà liên tục thì
vị lai vô tận, không bị đoạn diệt. Ý nghĩa này thế nào ? Vì chân
như thường xuyên huân tập nên vọng tâm đoạn diệt, pháp thân
hiển lộ mà phát khởi cái dụng huân tập của Nó, chứ không có
đoạn diệt.
Thể và tướng của chân như thì nơi người thường,
nơi Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, nơi Phật đà, chân như không hề
thêm lên hay bớt đi, không phải tối sơ phát sinh, không phải tối
hậu hủy diệt, mà là tuyệt đối thường trú, bản lai tự sung mãn
mọi tánh đức như ánh sáng tuệ giác vĩ đại, như chiếu khắp vũ
trụ vạn hữu, như thấu triệt đúng như sự thật, như cái tâm bản
thể trong suốt, như thường lạc ngã tịnh, như trong mát, không bị
biến thể, không bị chi phối, đại loại như vậy, sung mãn những phẩm
chất Phật đà, những phẩm chất nhiều hơn hằng sa, không độc lập
hay đối lập với chân như, không bao giờ mất hẳn, siêu việt tư duy
và lý luận ; và vì sung mãn mà không thiếu gì như vâểy nên chân
như được gọi là Như lai tạng, là Như lai pháp thân.
Hỏi, trước đây đã nói bản thể chân như là nhất
quán, siêu việt hết thảy sắc thái, tại sao ở đây lại nói bản
thể chân như sung mãn những tánh đức như vậy? Đáp, sung mãn
những tánh đức như vậy nhưng không phải dị biệt, mà là đồng
đẳng nhất vị, duy nhất chân như. Ý nghĩa này thế nào? Là vì siêu
việt phân biệt và đối tượng phân biệt nên không phải dị biệt.
Như vậy tại sao còn nói những tánh đức như trên? Nói những
tánh đức như trên chỉ là đối chiếu với sự sinh diệt của động
thức mà biểu thị - Đối chiếu biểu thị như thế nào? Các pháp là
Tâm, siêu việt phân biệt, nhưng do vọng tâm phân biệt mà vọng
cảnh hình thành, đó là bất giác; tâm thể không có phân biệt ấy
nên Nó là ánh sáng tuệ giác vĩ đại. Vọng tâm có nhận thức
nên có cái không nhận thức, tâm thể không có nhận thức ấy
nên Nó là chiếu khắp vũ trụ vạn hữu. Vọng tâm vọng động nên
không phải là nhận thức chính xác, là bản thể trong suốt, là
thường lạc ngã tịnh, mà là nóng bức, là biến động, và chính
thế là thụ động, cho đến có nhiều hơn hằng sa những sự ô
nhiễm; tâm thể thì phi vọng động, nên đối lại có nhiều hơn hằng
sa những sự trong sáng. Tâm thể nếu vọng khởi phân biệt thì thấy
có đối tượng phân biệt, như thế thì phải thiếu sót; còn vô
lượng tánh đức trong sáng thì toàn là tâm thể đồng nhất, siêu
việt phân biệt, nên tâm thể thật là sung mãn, và được gọi là
pháp thân, là Như lai tạng.
Dụng của chân như là các đức Như lai khi còn ở
trong địa vị tu nhân, nổi đại từ bi, làm ba la mật, giáo hóa chúng
sinh với đại thệ nguyện đã lập ra là muốn cứu độ tất cả
chúng sinh, cùng tận vị lai, không hạn thời kỳ. Các ngài làm như
vậy là vì nhận chúng sinh làm thân mình, lại vượt trên khái niệm
chúng sinh. Tại sao, vì các ngài đúng như sự thật mà nhận thức
chúng sinh cùng với thân mình đồng nhất chân như. Với sự nhận
thức này làm một phương tiện lớn lao, các ngài hủy diệt bất
giác, phát kiến pháp thân. Pháp thân ấy tự nổi lên những hoạt
dụng siêu việt nghĩ bàn, đồng đẳng chân như mà phổ biến khắp
cả - dầu rằng cũng không thể cho đó là những hoạt dụng, tại sao,
vì thân chư vị Như lai là pháp thân, là trí thân, thuộc về chân
lý tuyệt đối chứ không phải lĩnh vực chân lý phổ thông, siêu
việt động tác, chỉ vì chúng sinh thấy nghe đến Phật thì được
lợi ích cả, nên gọi là dụng mà thôi.
Dụng của chân như, như vậy, có hai loại. Loại thứ
nhất là do phân biệt sự thức, là cái mà tâm trí người
thường và nhị thừa được thấy, thì cái thấy được đó gọi
là ứng thân của Phật. Họ không biết cái họ thấy được đó
là do chính chuyển thức của họ hình thành; họ thấy cái ấy đến
từ ngoài tâm, và họ thấy theo cục bộ của hình sắc, do vậy, họ
không thấy được hết thân Phật.
Loại thứ hai là do động thức, là cái mà tâm trí
các vị Bồ tát mới phát huy tâm cho đến các vị Bồ tát cùng tận
địa vị được thấy, thì cái thấy được đó gọi là báo thân
của Phật: thấy thân ấy có vô lượng hình sắc, mỗi hình sắc có
vô lượng tướng tốt, mỗi tướng tốt có vô lượng vẻ đẹp;
thấy thế giới của thân ấy cũng vô lượng trang nghiêm; thấy biểu
hiện trên đây của Phật là vô giới hạn, vô cùng tận, siêu
việt cục bộ - sự thấy phù hợp như vậy nên thấy thân Phật
thường trú bất diệt. Và thân Phật hoàn hảo như vậy là do sự
huân tập không có sơ hở và siêu việt nghĩ bàn của các pháp ba
la mật mà thành tựu, nên sung mãn vô lượng sắc thái an lạc và
được gọi là báo thân.
Thêm nữa, thân Phật mà chúng sinh được thấy là
sắc tướng thô xấu, sáu loại chúng sinh lại thấy không giống nhau,
và toàn là sắc thái khổ não, nên gọi là ứng thân. Còn thân
Phật mà Bồ tát mới phát huy tâm sắp lên được thấy, thì vì
thâm tín chân như nên thấy được ít phần, biết sắc tướng trang
nghiêm mà mình thấy là phi đến đi, siêu cục bộ, duy tâm ảnh hiện,
không rời chân như - nhưng các vị Bồ tát này vẫn còn phân biệt
mình với Phật khác nhau, chưa đạt đến địa vị hội nhập pháp thân;
đến khi đạt được tuẹẤ giác trong suốt thì thân Phật được
thấy mới tinh tế, diệu dụng của thân ấy càng thấy đặc thù hơn
lên; cho đến các vị Bồ tát cùng tận địa vị mới thấy thân Phật
một cách trọn vẹn. Do vậy, nếu tách rời động thức thì không có
sự thấy thân Phật và thân Phật được thấy, vì thân Phật là
pháp thân, siêu việt sắc tướng mình với Phật khác nhau và thấy
nhau.
Hỏi, pháp thân Như lai siêu việt sắc tướng, sao lại
hiện được sắc tướng ? Đáp, vì chính pháp thân là bản thể của
sắc tướng, nên biểu hiện được sắc tướng ấy. Nghĩa là bản lai
sắc với tâm không phải là hai phạm trù đối lập, mà sắc là
tâm thể nên gọi là trí thân, tâm thể là sắc thể nên gọi là
pháp thân. Do pháp thân này phổ biến khắp cả, nên sắc thân của
các đức Như lai biểu hiện không có cục bộ, không hề gián đoạn;
vô lượng Bồ tát trong vô lượng thế giới tùy năng lực và ý
nguyện mà thấy được vô lượng thọ dụng thân với vô lượng
trang nghiêm độ, khác nhau mà cùng siêu việt cục bộ, không chướng
ngại lẫn nhau. Nên sắc thân mà các đức Như lai biểu hiện không
phải là cái mà tâm thức chúng sinh có thể nghĩ và biết được,
vì đó là cái dụng tự tại của chân như.
Bây giờ chỉ cái cách từ mặt sinh diệt mà hội
nhập ngay vào mặt chân như. Cách ấy là cứu xét vật với tâm nơi
cái thân năm hợp thể này, cùng với sáu đối cảnh trong vật
với tâm ấy, tất cả đều siêu việt phân biệt. Phân biệt mà
cứu xét đến cùng thì cũng không có gì có thể thủ đắc. Kẻ
lầm đường thì lầm đông là tây, trong khi đông và tây không
đổi theo cái lầm ấy; chúng sinh cũng vậy, vì bất giác mà cho tâm
thể là phân biệt, nhưng sự thật tâm thể không thác loạn theo
phân biệt ấy. Do vậy, nếu biết chiêm nghiệm tâm thể siêu việt
phân biệt thì thế là thích ứng mà hội nhập chân như.
Sửa chữa nhận thức sai lầm về Tâm là phải biết
mọi nhận thức sai lầm đều do khái niệm về ngã. Tách rời khái
niệm về ngã thì không còn nhận thức nào bị sai lầm nữa. Khái
niệm về ngã có hai, một là nhân ngã, hai là pháp ngã.
Nhân ngã là của người thường, có năm sự.
Một là nghe khế kinh nói pháp thân Như lai tuyệt đối
vắng bặt, tựa như hư không. Không biết lời này chỉ để đả phá
cố chấp, nên ngộ nhận sự trống không là thực chất của đức
Như lai. Sửa chữa cách nào? Hãy nói rõ sự trống không là giả,
không thật. Không là đối với vật mà có, mà thấy, và nhận
thức phân biệt rằng đó là không. Như vậy thì vật cũng do nhận
thức phân biệt, không phải độc lập ngoài nhận thức. Vật đã
không thì không cũng không. Thế nên mọi đối tượng của nhận
thức chỉ do nhận thức hình thành, rời nhận thức thì mọi đối
tượng đều không, chỉ còn tâm thể chân như phổ biến tất cả:
đó là cái nghĩa tuyệt đối của tuệ giác Như lai, chứ không phải
trống không như hư không.
Hai là nghe khế kinh nói vũ trụ vạn hữu hoàn toàn
là không, đến nỗi niết bàn với chân như cũng hoàn toàn là
không, thực chất tự không, không có dưới mọi dạng thức. Không
biết lời này chỉ để đả phá cố chấp, nên ngộ nhận niết bàn
chân như thực chất cũng không. Sửa chữa cách nào? Hãy nói rõ
cái nghĩa Có một cách đúng như sự thật của chân như, rằng chân
như sung mãn vô lượng tánh đức.
Ba là nghe khế kinh nói Như lai tạng sung mãn hết thảy
tánh đức, không hề thêm bớt. Không lý giải lời này nên ngộ
nhận Như lai tạng có những đặc tính dị biệt của vật với tâm.
Sửa chữa cách nào? Hãy nói rõ khế kinh nói như vậy là căn cứ
mặt chân như, còn những đặc tính dị biệt chỉ là nói theo mặt sinh
diệt.
Bốn là nghe khế kinh nói toàn bộ nhiễm pháp đều do
Như lai tạng mà có, hết thảy nhiễm pháp tịnh pháp không ngoài chân
như. Không lý giải lời này nên ngộ nhận Như lai tạng bản thân
sung mãn toàn bộ nhiễm pháp. Sửa chữa cách nào? Hãy nói rõ Như
lai tạng vô thỉ đến giờ chỉ có nhiều hơn hằng sa những tánh
đức trong sáng, những tánh đức không độc lập và đối lập
với chân như, và do vậy mà không bao giờ mất hẳn; còn những
phiền não ô nhiễm nhiều hơn hằng sa thì chỉ có một cách thác
loạn, thực chất tự không, vô thỉ đến giờ không hề thích hợp
với Như lai tạng. Như lai tạng nếu bản thân có nhiễm pháp mà làm
cho nhiễm pháp hủy diệt để hội nhập với Nó thì vô lý.
Năm là nghe khế kinh nói do Như lai tạng mà có sinh
tử, do Như lai tạng mà được niết bàn. Không lý giải lời này
nên ngộ nhận rằng thế là chúng sinh hữu thỉ, chúng sinh hữu thỉ
thì Như lai niết bàn, niết bàn ấy cũng hữu chung, và Như lai sẽ
trở lại làm chúng sinh. Sửa chữa cách nào? Hãy nói rõ Như lai
tạng là vô thỉ, bất giác do đó cũng vô thỉ (nói ngoài chúng sinh
có một kẻ cũng mới có và có trước, thì đó là kinh sách
ngoại đạo nói); Như lai tạng cũng vô chung, niết bàn của Như lai
thích ứng với Như lai tạng nên cũng vô chung.
Pháp ngã là của nhị thừa. Vì trình độ kém cỏi
của họ mà đức Như lai chỉ nói cho họ đạo lý nhân vô ngã. Ngài
dạy chưa trọn vẹn, nên nhị thừa thấy có năm hợp thể, thấy có
sự phát sinh và có sự hủy diệt của năm hợp thể ấy. Thấy có
như vậy nên nhị thừa sợ sự sống chết mà thích sự niết bàn.
Sửa chữa cách nào? Hãy nói rõ năm hợp thể đương sinh bất sinh,
đương diệt bất diệt, bản lai niết bàn.
Sửa chữa triệt để mọi sự nhận thức sai lầm về
Tâm là hãy nhận thức nhiễm pháp với tịnh pháp toàn là đối
chiếu với nhau mà hình thành, không có đặc tính biệt lập gì có
thể chỉ ra. Thế nên các pháp bản lai phi vật lý, phi tâm lý, phi
tuệ giác, phi nhận thức, phi khẳng định, phi phủ định, chung cục
không thể diễn tả. Diễn tả là do sự khéo léo của đức Như lai
mượn ngôn ngữ để hướng dẫn chúng sinh. Ý hướng của ngài là
làm cho chúng sinh vượt khỏi phân biệt, qui về chân như. Bởi vì
chính phân biệt làm cho phân biệt mà không hội nhập tuệ giác chính
xác.
Phân tích sắc thái phát huy về Tâm thì Tâm là cái
mà tuệ giác của các đức Phật đà đã chứng ngộ, và tuệ giác
ấy hết thảy các vị Bồ tát phát tâm mà đi mau đến. Nói đại
khái thì phát tâm có ba: một là phát tâm bằng sự tin, hai là
phát tâm bằng sự biết và sự làm, ba là sự phát tâm bằng sự
chứng.
Phát tâm bằng sự tin là do người nào, tu việc gì,
để được sự tin hoàn hảo và phát tâm được? Là do những
người thuộc bất định tụ. Những người này nhờ sức mạnh của
sự huân tập thiện căn mà tin nghiệp và hậu quả của nghiệp, tu
mười điều thiện, chán thống khổ sinh tử, cầu tuệ giác vô
thượng. Do vậy mà được gặp các đức Phật đà, đích thân
phụng sự hiến cúng, và tu hành sự tin. Qua mười ngàn thời kỳ
thì sự tin hoàn hảo, nên các đức Phật đà hay các vị Bồ tát
dạy cho phát tâm, hoặc vì lòng đại bi thương xót chúng sinh mà tự
phát tâm, hoặc vì duy trì Phật pháp sắp mất mà tự phát tâm.
Những người do sự tin hoàn hảo mà phát tâm như vậy thì được
đứng vào chánh định tụ, tuyệt đối không còn thoái lui, và
được gọi là người ở trong dòng giống Như lai, thích ứng với
nhân tố chính yếu.
Có những người thiện căn kém cỏi, phiền não lâu
ngày sâu dày, thì dẫu được gặp Phật và được hiến cúng, nhưng
gây hạt giống nhân thiên, hay gây hạt giống nhị thừa, có cầu
đại thừa đi nữa thì trình độ cũng không cố định, hoặc tiến
tới hoặc thoái lui. Hoặc có những người cũng được gặp Phật
và được hiến cúng, nhưng chưa qua mười ngàn thời kỳ, trong thì
gian ấy gặp duyên tố thì cũng phát tâm, như thấy sắc tướng của
Phật mà phát tâm, như hiến cúng Tăng mà phát tâm, như các vị nhị
thừa dạy cho mà phát tâm, như học tập người khác mà phát tâm,
đại loại như vậy, những sự phát tâm này đều không cố định,
gặp phải nhân tố hay duyên tố bất thiện thì có người thoái
chuyển, sa vào địa hạt nhị thừa.
Phát tâm bằng sự tin hoàn hảo là phát những tâm
gì? Ước lược mà nói thì có ba. Một là tâm ngay thẳng, là chính
xác nhớ thẳng tâm thể chân như. Hai là tâm sâu xa, là thích thú
tập hợp mọi thiện hạnh. Ba là tâm đại bi, là muốn cứu vớt
thống khổ cho chúng sinh.
Hỏi, trên kia đã nói, chân như là pháp tánh đồng
nhất, là thật thể bất nhị, như vậy tại sao không chỉ nghĩ nhớ
chân như mà còn cần phải tu học thiện hạnh? Đáp, khối ngọc đại
ma ni thể chất trong suốt mà có quặng làm bẩn, chỉ nghĩ đến thể
chất của ngọc ấy mà không tìm cách mài dũa thì không bao giờ
trong suốt. Chân như cũng vậy, thực thể trong sáng nhưng có vô số
phiền não làm bẩn, nếu chỉ nhớ chân như mà không tu phương tiện
thì chân như ấy không thể trong sáng. Phiền não làm bẩn tất cả
các pháp thì phải tu tất cả thiện hạnh mà đối trị. Tu thiện hạnh
là quay lại thuận theo chân như.
Phương tiện nói trên ước lược có bốn. Một là
phương tiện căn bản, là quán sát các pháp đương sinh bất sinh,
nên siêu thoát nhận thức thác loạn chứ không trú ở sinh tử;
quán sát các pháp hội đủ yếu tố thì nghiệp và hậu quả của
nghiệp không mất, nên sinh tâm đại bi mà làm mọi phước đức
để hóa độ chúng sinh chứ không trú ở niết bàn. Tu phương tiện
này là vì thuận theo sự không trú ở đâu cả của chân như. Hai
là phương tiện đình chỉ, là hổ thẹn mà sám hối tội lỗi, đình
chỉ việc ác không cho lớn thêm. Tu phương tiện này là vì thuận theo
sự tách rời tội ác của chân như. Ba là phương tiện phát sinh và
nuôi lớn thiện căn, là tinh tiến hiến cúng và lễ bái Phật pháp
tăng, tán dương, tùy hỷ và khuyến thỉnh Phật đà. Do cái tâm kính
mến Tam bảo thuần hậu như vậy mà sự tin lớn thêm, chí cầu tuệ
giác vô thượng, lại nhờ Phật pháp tăng lực hộ trì cho mà
nghiệp chướng tiêu diệt, thiện căn phát triển. Tu phương tiện này
là vì thuận theo sự thoát ly si mê chướng ngại của chân như. Năm
là phương tiện đại nguyện bình đẳng, là nguyện cùng tận vị lai
hóa độ chúng sinh, không để thiếu sót, làm cho ai cũng rốt cuộc
thực hiện niết bàn hoàn toàn. Tu phương tiện này là vì thuận theo
sự không gián đoạn của chân như, sự phổ biến chúng sinh, sự
bất phân bỉ thử và sự vắng lặng tuyệt đối của chân như.
Các vị Bồ tát phát tâm bằng sự tin hoàn hảo như
vậy thì thấy được ít phần của pháp thân; vì thấy được pháp
thân nên các vị ấy đã có thể tùy sức mạnh của đại nguyện
mà biểu hiện trong thế giới loài người bằng tám hình thức để
lợi ích chúng sinh, đó là giáng thần, vào thai, ở thai, ra thai,
xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luân, nhập niết bàn. Nhưng các vị
Bồ tát này vẫn chưa được gọi là hội nhập pháp thân, vì các
vị ấy chưa loại hết những hành vi sai sót có trong nhiều đời đã
qua, nên sinh ra ở đâu cũng còn có cái khổ nhỏ nhiệm - dầu vậy,
các vị ấy có sức mạnh tự tại của đại nguyện nên không phải
là kẻ bị nghiệp ràng buộc. Trong kinh có chỗ nói các vị ấy còn bị
thoái lui và sa vào các nẻo đường dữ, nhưng thật ra các vị ấy
không còn thoái lui; trong kinh nói như vậy là để cảnh cáo những
vị Bồ tát mới tu học, chưa vào chánh định tụ mà lại biếng nhác,
cho họ dũng mãnh hơn lên. Thêm nữa, các vị ấy một khi phát tâm
rồi thì hết hẳn khiếp nhược, hoàn toàn không còn e sợ sa vào
địa hạt nhị thừa, huống chi còn e sợ sa vào các nẻo đường dữ
; các vị ấy cũng không còn e sợ gì khi nghe nói phải trải qua vô
số thời kỳ vô số, siêng khó làm những việc khó làm mới
được niết bàn, vì các vị ấy tin tưởng và xác quyết rằng các
pháp bản lai vốn tự niết bàn.
Phát tâm bằng sự biết và sự làm thì phải biết
là hơn nữa. Bởi vì từ khi đạt được sự tin hoàn hảo sắp đi,
cho đến lúc thời kỳ vô số thứ nhất sắp đầy đủ, các vị Bồ
tát này đối với chân như đã có sự hiểu sâu xa và sự làm ly
tướng: các vị biết chân như là không tham lẫn nên thuận theo mà
làm thí độ, biết chân như là không ô nhiễm nên thuận theo mà
làm giới độ, biết chân như là không tức giận nên thuận theo mà
làm nhẫn độ, biết chân như là không biếng nhác nên thuận theo mà
làm tiến độ, biết chân như là không rối loạn nên thuận theo mà
làm định độ, biết chân như là không bất giác nên thuận theo mà
làm trí độ.
Phát tâm bằng sự chứng là các vị Bồ tát từ
địa vị tuệ giác trong sáng đến địa vị cùng tận địa vị. Các vị
này chứng đối cảnh gì? Chứng chân như. Nhưng nói đối cảnh là
nói như chuyển thức cho dễ hiểu, chứ sự chứng ở đây không
có cái gọi là đối cảnh. Ở đây là tuệ giác chân như, gọi là
pháp thân.
Các vị Bồ tát này có thể trong một khoảnh khắc mau
như một ý nghĩ thoạt hiẹẤn hay thoạt biến, đến các quốc độ,
hiến cúng các đức Phật đà, thỉnh cầu các ngài chuyển đẩy bánh
xe Phật pháp - thỉnh cầu như vậy là để mở mắt dẫn đường cho
chúng sinh, chứ không phải cần đến ngôn ngữ văn tự. Các vị Bồ
tát này có khi vì những kẻ khiếp sợ hèn nhát nên biểu hiện
vượt mọi địa vị mà thành liền một đấng Chánh giác, có khi vì
những kẻ biếng nhác khinh thường nên biểu hiện trải qua vô số
thời kỳ vô số mới thành một bậc Toàn giác. Các vị biểu hiện
vô số phương cách như vậy, ngoài tầm nghĩ bàn. Nhưng thật ra các
vị Bồ tát thì chủng tánh và thiện căn đồng đẳng nên phát tâm
cũng đồng đẳng, chứng ngộ cũng đồng đẳng, không có cái sự
vượt mọi địa vị, chỉ có cái sự vị nào cũng trải qua ba thời
kỳ vô số. Chỉ vì tùy theo thế giới bất đồng của chúng sinh, tùy
theo chúng sinh trong các thế giới ấy quan năng, trình độ, khuynh
hướng và cá tính khác nhau, nên các vị Bồ tát này biểu hiện
việc làm cũng khác nhau.
Sắc thái phát tâm bằng sự chứng của các vị Bồ
tát này có ba thứ rất tinh tế. Một là tâm chân thật, là siêu
việt sự phân biệt. Hai là tâm phương tiện, là nhiệm vận khắp
làm lợi ích cho chúng sinh. Ba là tâm động thức, là còn sự sinh
diệt nhỏ nhiệm.
Các vị Bồ tát này khi công đức viên thành thì,
tại Sắc cứu cánh thiên, biểu hiêển cái thân cao cả nhất thế
gian, với tuệ giác thích ứng tối hậu với chân như nên hết sạch
bất giác, thực hiện tuệ giác Biết tất cả, nhiệm vận có đủ
hoạt dụng siêu việt, biểu hiện khắp cả mà lợi ích chúng sinh.
Hỏi, không gian vô biên nên thế giới vô biên, thế
giới vô biên nên chúng sinh vô biên, chúng sinh vô biên nên tâm
thức vô biên. Đối cảnh như vậy không có giới hạn, khó mà
hiểu biết. Nếu bất giác bị hủy diệt thì không còn tâm thức, làm
sao hiểu biết được mà gọi là tuệ giác Biết tất cả ? Đáp, tất
cả đối cảnh vốn là tâm thể phổ biến, siêu việt phân biệt.
Chúng sinh vì nhận thức không chính xác mà hình thành đối cảnh,
nên nhận thức của chúng sinh là phân biệt, cục bộ, với những
phân biệt nổi l&