Lịch
Sử Tư Tưởng
Và
Triết Học Tánh Không
Thích Tâm Thiện
Sàigòn, 1999
---o0o---
Chương I
Tổng Luận
Nói đến triết học Phật giáo là nói đến một
hệ thống tư tưởng vô cùng uyên áo và đa diện. Bởi lẽ, trong quá trình
truyền bá chánh pháp, từ thời Phật giáo Nguyên thủy (1) đến Phật giáo Bộ
phái và Phật giáo Phát triển (Mahayana), đã xuất hiện nhiều học thuyết
hoặc về Phật giáo, hoặc có liên quan đến Phật giáo, mà những học thuyết
hay hệ tư tưởng đó thường có những điểm bất đổng. Tất nhiên, lý do của
những điểm bất đổng phần lớn là tùy thuộc vào mức độ tâm chứng khác nhau.
Ðiều này được nhìn thấy rõ qua các lần kết tập kinh điển (2). Tỉ dụ, lần
thứ nhất, đại biểu kết tập gổm 500 vị A La Hán ; lần thứ hai, 700 vị A La
Hán ; lần thứ ba, 1.000 vị Tăng sĩ được tuyển chọn ; và, lần thứ tư, 500
vị học giả. Từ đó, cho thấy rằng, càng về sau, các bậc Thánh trí (A La Hán)
càng giảm dần, thế có nghĩa là năng lực trí tuệ - tâm chứng, một yếu tố vô
cùng quan trọng trong việc giải minh giáo lý của Phật (3) của các nhà Phật
học đang trên đà suy giảm. Từ đó, chánh pháp, thay vì "phải trực nhận", "phải
tự mình thể nghiệm", lại được đưa ra để thảo luận, nghĩa là phải viện vào
ngôn ngữ. Và, khi ngôn ngữ trở nên quan trọng, đóng vai trò trung tâm, thì
các nhà luận giải thường bị quá đà. Và, càng đi xa trong việc diễn dịch,
thì càng xa rời những giáo huấn vốn bình dị, chân phương và thực tiễn đi
vào dòng tâm thức thế gian mà Phật đã dạy. Do đó, có thể nói rằng chính
những quan điểm bất đổng trong việc giải minh và cắt nghĩa giáo huấn của
Phật mà phát sinh các học thuyết, quan niệm khác nhau về Phật giáo. Ðiều
này, một mặt làm cho giáo nghĩa trở nên phong phú, đa diện ; nhưng mặt
khác, nó làm nhân cho sự phân hóa giáo đoàn Phật giáo ; và có khi xa rời
hẳn bản ý của Phật (4). Vì thế, trong việc nghiên cứu triết học Phật giáo
ngày nay, không thể chỉ thuần túy dựa vào lịch sử phát triển của Phật giáo,
mà phải đi theo tiến trình tư tưởng. Thông qua tiến trình tư tưởng này,
chúng ta có thể tìm hiểu triết học Phật giáo một cách chính xác và dễ dàng
(5). Ðây là lý do tại sao các nhà Phật học chuyên môn khi đánh giá, nhận
định về tư tưởng triết học Phật giáo thường dùng đến "nguyên tắc" phân kỳ
(6), như là một phương pháp phân tích và bình phẩm về triết học sử Phật
giáo. Ðặc biệt là đối với Phật giáo Trung Hoa, bên cạnh "nguyên tắc" Phân
kỳ, lịch sử còn có một hệ thống phân kỳ giáo nghĩa được gọi bằng danh từ "Phán
giáo". Và hệ thống Phán giáo của Phật tử Trung Hoa có thể được xem là một
sáng tạo lớn trong việc giải minh các hệ thống triết học Phật giáo. Nó
được bắt đầu từ thời Tống (thời đại Nam Bắc triều, 317-589) ; thông qua
việc nghiên cứu kinh Niết Bàn mà ngài Ðạo Sinh đề xuất học thuyết "Ðốn ngộ
thành Phật", ngài Tuệ Quán đề xuất học thuyết "Ðốn tiệm bất định". Và học
thuyết của Tuệ Quán (7) được xem là một trong những học thuyết đầu tiên
trong việc khai sáng hệ thống phán giáo, và ông trở thành người tiên phong
trong các hệ thống phán giáo của Phật học Trung Hoa. Sự kiện này đã ảnh
hưởng lớn lao đến các tông - phán giáo sau này (8).
Ở đây, khi nghiên cứu về lịch sử tư tưởng -
triết học Tánh Không, hẳn nhiên chúng ta phải dựa vào các học thuyết phân
kỳ để minh định tiến trình của nó. Song, trong tự thân của các học thuyết
phân kỳ lại có những điểm tương đổng, dị biệt. Vì thế, trên nguyên tắc,
một phần nào đó phải dựa vào tiến trình lịch sử, mà ở đây, khởi nguổn từ
Ấn Ðộ, hay nói đúng hơn là từ Phật giáo thời Nguyên thủy. Ðây là điểm nhất
quán và luôn luôn được đánh giá cao bởi các nhà Phật học chuyên môn. Vì lẽ,
kinh tạng Phật giáo Nguyên thủy thường được xem là cội nguổn của tư tưởng
triết học Phật giáo, dù bất kỳ lúc nào và ở đâu. Ðó chính là những bộ kinh
được kiết tập từ ký ức của các vị thánh A La Hán. Và, những gì được ghi
lại ở đây là những lời dạy rõ ràng, chân xác, minh bạch từ lời dạy của
Phật cho từng đối tượng khác nhau và trong từng thời điểm khác nhau. Những
giáo lý như Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Tam pháp ấn, Duyên khởi - Vô ngã
v.v..., nó vừa là nền tảng lại vừa là đỉnh cao của tư tưởng triết học Phật
giáo. Và cũng chính những giáo lý này được xem là khuôn vàng thước ngọc
cho việc giải kiến tất cả quan điểm Phật học trong mối quan hệ mật thiết
với các lĩnh vực văn hóa và văn minh Phật giáo. Từ đó, có thể kết luận
rằng, tạng thư Nikàya chính là cội nguổn của lịch sử tư tưởng triết học
Phật giáo. Cho đến tất cả kiến giải triết học về sau đều có ảnh hưởng sâu
đậm đến cội nguổn này.
Cũng vậy, tư tưởng triết họcTánh Không, theo
quan điểm của các nhà Ðại thừa (Mahayanists) như trong truyền thống, cho
rằng nó được khai sinh từ văn hệ Bát Nhã, một hệ thống kinh tạng Ðại thừa
phát sinh từ Ðại chúng bộ (Mahàsamghikà), lần đầu tiên xuất hiện tại miền
Nam Ấn, trung tâm truyền bá tư tưởng của Phật giáo Phát triển (Mahayana
Buddhism). Nhưng thực chất, dòng triết học này vốn đã được thai nghén từ
trong kinh tạng Nikàya (9) trên nền móng cơ bản của những giáo lý Duyên
khởi, Vô ngã, Vô thường... Trong suốt thời gian, từ khởi nguyên cho đến
khi trở thành một hệ tư tưởng triết học đặc thù, mọi luận thuyết đều phải
trải qua nhiều giai đoạn, như khởi nguyên, hệ thống hóa, độc lập hóa v.v...
Ðiều này được nhìn thấy rõ ràng qua các mốc lịch sử phân kỳ ; tương tự như
thế đối với lịch sử tư tưởng triết học Tááánh Không. Nó được phát khởi từ
những lời dạy mộc mạc, cụ thể của Phật. Ðến sau khi Phật diệt độ, nó tiếp
tục được vừa sàng lọc, vừa phát triển qua các giai đoạn của Phật giáo
Nguyên thủy, Phật giáo Bộ phái và đỉnh cao là Phật giáo Mahayana. Và tạng
thư đầu tiên được hình thành của Phật giáo Mahayana chính là hệ thống kinh
tạng Bát Nhã ; và tư tưởng trung tâm của nó là Tánh Không (Sunyàta).
Nhưng tại sao Tánh Không lại xuất hiện như
một trào lưu tư tưởng mới mẻ và táo bạo, để phủ nhận mọi quan điểm triết
học đa nguyên-thực tại-luận, vốn được xem là đối đầu với nó ? Ðiều này,
một cách nào đó, được giải thích rõ qua nội dung của lịch sử phân kỳ mà
phần sau chúng ta sẽ bàn đến.
Nếu căn cứ trên bình diện lịch sử, tư tưởng
Phật giáo Mahayana được xuất hiện một cách tiệm tiến từ Phật giáo Bộ phái,
cho đến thời đại của vua Asoka (10) và kế đó là vua Kaniska, thì tư tưởng
Ðại thừa - Bát Nhã đã bước đầu hình thành (11). Và từ đó, hàng loạt kinh
điển thuộc Ðại thừa giáo xuất hiện, như kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka), kinh
Duy Ma, kinh Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội, kinh Pháp Hoa, và các kinh thuộc
phần giáo Tịnh độ. Và, trong mỗi bộ kinh đều hàm chứa một nội dung độc lập
; tuy nhiên, về mặt giáo nghĩa, các bộ kinh đó chỉ bỗ sung cho nhau và
hoàn toàn không hề chống trái, mặc dầu có khá nhiều học thuyết khác biệt.
Song, như đã nói ngay từ đầu, sự khác biệt và bao dung đó chỉ là tính cách
đa diện của pháp (xuất hiện như "pháp nhĩ như thị") (12) mà thôi. Chẳng
hạn, học thuyết trung tâm của Bát Nhã là "vọng tâm duyên khởi" ; của Hoa
Nghiêm là "chân tâm duyên khởi" ; ở Duy Ma là "bất nhị" ; ở Pháp Hoa là "khai
thị ngộ nhập" và "Tam thừa đổng nhất" v.v...
Tuy nhiên, đối với Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Duy
Ma, Lăng Nghiêm v.v..., thì sự truyền bá của nó được thích ứng hóa vào đời
sống triết lý thời đại một cách ôn hòa ; ở đây, tuyệt nhiên không có bất
kỳ một sự phản ứng nào. Trái lại, đối với Bát Nhã, sự xuất hiện của nó như
là một hệ tư tưởng mới lạ, phủ dẫm mọi định kiến, học thuyết cỗ điển, mọi
luận thuyết thời danh trong truyền thống ; tựa hổ như ngọn sóng thần từ
đại dương mênh mông, bôỵng phút chốc hiện hữu, đã xóa nhòa mọi cơ đổ gập
ghềnh được xây dựng từ nghìn năm trên bãi cát trắng bao la. Tánh Không của
Bát Nhã giáng xuống thời đại như một thứ sấm sét trong đêm tối cô liêu,
làm cho tất cả hiện hữu của muôn ngàn dị biệt đa thù trong thinh không
chợt hóa hiện rổi lại chìm vào tăm tối. Mọi vật như đến rổi đi, như sinh
rổi diệt, như có rổi không. Chỉ trong một tích tắc, mọi sự thể của trần
gian đều hóa thành mộng mị, hư ảo, và mọi nguyên lý bôỵng trở thành phi lý.
Ðó là một thứ phi lý được bắt nguổn từ dòng sống thực tại, một thứ thực
tại mà Tam đoạn luận (Syllogism) của Aristotle (13) bị bẻ gãy ngay trong
thành ngữ "Không ai có thể đặt chân hai lần trên cùng một dòng nước " (14)
của Héraclite. Ðó là thực tại toàn chân, một thực tại bất khả thuyết bởi
ngôn ngữ, vượt lên trên mọi định kiến hoặc thường hằng, hoặc là đoạn diệt.
Bởi lẽ, đối diện với Tánh Không có nghĩa là đối diện trước một sự thách
thức vĩ đại, mà con người chỉ có thể hoặc là buông bỏ mọi cơ đổ của tự ngã
để thể nhập thực tại Tánh Không, hoặc là nghìn năm phiêu bổng trong thế
giới của hư vô không tận. Tánh Không là như thế ! Bao lâu con người còn cố
gượng bám víu lấy một sự thể nào, một ý niệm về một sự thể nào, cho đến
ngay cả cái ý niệm về thế giới ý niệm, thì khi đó y vẫn chìm đắm trong
tuyệt vọng khỗ đau.
Do đó, có thể nói rằng, lịch sử của tư tưởng
triết học Táánh Không ra đời là một sự chuyển y (Àsrayaparàvrtti) kỳ vĩ
nhất trong lịch sử - tư tưởng triết học Phật giáo. Tiếng nói đầu tiên của
nó là "Nhất thiết pháp không" (15), nhằm phủ nhận một cách trọn vẹn thế
giới quan đa nguyên-thực tại ; mà trước đó, đã một thời ngự trị trên dòng
sông triết học cỗ đại Ấn Ðộ thời bấy giờ. Rổi sau đó, chính nó là chất xúc
tác để hàng loạt hệ thống tư tưởng hậu Ðại thừa xuất hiện. Vì thế, khi
nghiên cứu về lịch sử tư tưởng triết học Tánh Không, hẳn phải bắt đầu từ
thế giới quan Phật giáo thời Nguyên thủy.
-- o0o --
Mục lục | 01
| 02 | 03
| 04 | 05
| 06 | 07
| 08 |
-- o0o --
|
Thư
Mục Tác Giả |
---o0o---
Cập nhật : 01-05-2002