LỜI NÓI ĐẦU
I
Thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên là thế kỷ của những xao động về tâm linh vào
sôi sục về tri thức tại nhiều quốc gia. Ở Trung Hoa, có Khổng tử, Lão tử, ở Hy
Lạp có Parmennidex và Empedoches, ở Iran có Zarathustra, ở Ấn Độ có Mahavira và
đức Phật. Vào thời kỳ này, đã có nhiều luận sư danh tiếng tạo được dấu ấn trên
các di sản thừa kế và đề ra những quan điểm mới.
Ngày lễ Purnima hay ngày trăng tròn của tháng Vaisakha
có liên quan với ba sự kiện quan trọng trong cuộc đời đức Phật - Đản sinh, đắc
đạo và nhập niết bàn. Đây là ngày thiêng liêng nhất của Phật lịch. Theo Phật
lịch Nguyên thủy thì đức Phật nhập diệt vào năm 544 trước Công nguyên.
Mặc dù các tông phái Phật giáo khác nhau có những hệ thống niên đại khác nhau,
nhưng tất cả đều đã nhất trí lấy ngày trăng tròn tháng 5 năm 1956 làm dịp kỷ
niệm thứ 2.500 ngày Đại bát niết bàn của đức Phật Cồ-đàm. Cuốn sách này
trình bày vắn tắt về lịch sử Phật giáo 2.500 năm qua.
Các sự kiện chính trong cuộc đời đức Phật đã được nhiều người biết. Ngài là con
của một tiểu vương ở Ca-tì-la-vệ, lớn lên trong sự xa hoa, kết hôn cùng công
chúa Da-du-đà-la có một người con là La-hầu-la và sống trong trướng rũ màn che,
không hề biết đến những điều khổ đau của thế giới bên ngoài. Theo truyền thuyết
kể lại thì trong bốn lần đi ra khỏi cung điện, Ngài đã gặp một ông lão hom hem
yếu đuối và thấy rằng mình cũng có ngày phải chịu cảnh tàn tạ của tuổi già, Ngài
gặp một người bệnh và thấy mình cũng sẽ không tránh khỏi cảnh ốm đau, chết chóc,
và rồi sau đó Ngài gặp một tu sĩ với một phong thái ung dung điềm tĩnh đang trên
đường đi tìm chân lý. Đức Phật bèn quyết định theo gương vị tu sĩ nọ để được
thoát khỏi tuổi già, bệnh hoạn và chết chóc. Vị tu sĩ bảo với đức Phật:
Narapungava janmamrtyu bhitah sramanah pravrajitosmi moksahetoh
(Ta là một sramanah, một tu sĩ khổ hạnh, vì muốn tránh cảnh sinh diệt nên
mới xuất gia đi tìm sự giải thoát.)
Việc nhìn thấy một đạo sĩ hình dong quắc thước, tính cách tươi vui, chẳng màng
đến một chút tiện nghi cuộc sống đã khiến cho đức Phật cảm kích mạnh mẽ và thấy
rằng tu hành là mục đích duy nhất xứng đáng của đời người. Tôn giáo làm cho con
người không bị lệ thuộc vào những sự sướng khổ phù du của thế gian. Đức Phật
quyết định từ bỏ thế tục và dành cả đời mình cho cuộc sống đạo hạnh. Ngài rời
khỏi cung điện, xa lìa vợ con, khoác bộ quần áo của một khất sĩ và đi nhanh vào
rừng để suy ngẫm về cái khổ của con người, nguyên nhân của cái khổ ấy và những
cách để khắc phục cái khổ. Ngài bỏ ra sáu năm trời để nghiên cứu các chủ thuyết
tôn giáo bí hiểm nhất, trải qua những sự hành xác khắc nghiệt nhất, đến mình gần
như chết đói với hy vọng rừng càng hành hạ thân xác nhiều thì càng mau dạt đến
sự tri kiến chân lý. Nhưng đã đến bên bờ cực cái chết mà Ngài chẳng đạt được trí
huệ mong muốn. Ngài bèn từ bỏ kiểu tu hành xác, tiếp tục sự sống bình thưòng,
tắm mát dưới dòng sông Ni-liên-thiền, chấp nhận món bánh sữa do Tu-gia-da mang
cho: nayam atma balahinena labhyah. Sau khi thể xác đã khỏe mạnh và tinh
thần đã tỉnh táo, Ngài đến ngồi suốt bảy tuần lễ dưới bóng cây Bồ đề trong một
trạng thái thiền định sâu xa. Một đêm kia, vào lúc gần sáng, tri kiến của gnài
được khai mở và Ngài đạt dến giác ngộ. Sau khi đắc đạo,
Đức Phật tự gọi mình bằng ngôi thứ ba, Như lai, có nghĩa là người đã đến
được Chân lý. Ngài mong muốn được thuyết giảng tri kiến mà mình đã đạt được nên
Ngài nói: “Ta sẽ đến Ba-la-nại để đốt ngọn lửa soi sáng thế gian. Ta sẽ đến
Ba-la-nại để gióng tiếng trống thức tỉnh loài người. Ta sẽ đến Ba-la-nại để
thuyết giảng Chánh Pháp”. “Này các Tỳ kheo, hãy lắng nghe đây! Ta đã tìm thấy
Cõi Bất tử (amrita). Giờ đây, ta sẽ truyền lại cho các người. Ta sẽ thuyết giảng
Chánh Pháp”. Ngài đi hết nơi này đến nơi khác, tiếp xúc với đủ hạng người, từ
sang đến hèn, từ vua chúa đến nông dân. Tất cả họ đều bị thu hút bởi nhân cách
lớn của Ngài. Ngài đã đi thuyết giảng trong bốn mươi lăm năm về cái đẹp của lòng
nhân ái và niềm vui của sự xuất gia, về sự cần thiết của cuộc sống giản dị và
bình đẳng.
Đến tuổi tám mươi, Ngài lên đường đi Câu-thi-la và nhập diệt tại thành phố này.
Khi cùng với đệ tử thân thiết là A-nan-đà rời khỏi thị trấn Tỳ-xá-lị êm đềm,
Ngài dừng chân trên một ngọn đồi gần đấy và nhìn xuống cảnh trí vui mắt vưói
những thánh điện và đền đài. Ngài bảo với A-nan-đà: citram jambudvipam,
manoramam jivitam manusyanam. “Rực rỡ và phồn vinh thay nước Ấn Độ, đẹp đẽ
và đáng yêu thay đời sống con người”. Trên bờ sông Hiranyavati trong một rừng
cây sa la, Ngài bảo soạn cho Ngài một chỗ nằm giữa hai cây sa la. Ngài dịu dàng
khuyên bảo A-nan-đà lúc ấy đang khóc than thống thiết: “A-nan-đà, chớ có khóc
than, chớ có tuyệt vọng. Con người rồi sẽ phải xa lìa những gì mình yêu quý
nhất. Cái gì đã có sinh, có hoại thì làm sao không mất? Có thể các ngươi nghĩ
rằng, “Ta không còn đạo sư nữa. Này A-nan-đà không phải thế đâu. Giáo lý ta đã
giảng cho các ngươi chính là đạo sư của các ngươi đó”. Rồi Ngài nhắc lại nhiều
lần:
Handa dani bhikkhave amantayami vo:
Vayadhamma sankhara, appamadena sampadetha ti.
(Hởi các Tỳ kheo, ta khuyên các ngươi:
Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy tinh tiến lên để giải thoát.)
Đó là những lời cuối cùng của Ngài. Sau đó, Ngài nhập định và cho đến khi tất cả
mọi ý tưởng, mọi khái niệm đã không còn nữa, ý thức về tự tính dừng lại thì Ngài
nhập niết bàn.
II
Có hai khía cạnh trong cuộc đời Đức Phật, cá nhân và xã hội. Hình ảnh quen thuộc
về Đức Phật là hình ảnh của một triết nhân đang trầm tư mặc tưởng, một đạo sư du
già đăm chiêu và biệt lập, đắm chìm trong cái vui của sự suy tưởng nội tâm. Đây
là hình ảnh gắn liền với Phật giáo Nguyên thủy và các đoàn truyền giáo của A-dục
vương. Đối với họ, Đức Phật là một con người, không phải là một vị thần, một
người thầy chứ không phải là một đấng cứu thế. Nhưng còn có một khía cạnh khác
của cuộc đời Đức Phật, ở đấy, Ngài là người quan tâm đến cái khổ của con người,
tha thiết muốn đi vào cuộc sống của họ, giải trừ các phiền muộn và truyền đi
khắp nơi thông điệp của Ngài để đem lại diều tốt đẹp cho mọn người:
bahu-jana-hitaya. Đặt nền tảng trên lòng từ bị đối với nhân loại, một truyền
thống thứ hai đã hình thành tại miền Bắc Ấn dưới các triều đại Kusana (70-480
sau Công nguyên) và Gupta (320-650 sau Công nguyên). Truyền thống này chú trọng
vào lý tưởng cứu độ cho tất cả mọi người, vào giới luật tu trì và con đường phục
vụ trên toàn thế gian. Truyền thống thứ nhất thình hành ở Tích Lan, Miến Điện,
Thái Lan, còn truyền thống thứ hai thì được thấy ở Nepal, Tây Tạng, Triều Tiên,
Trung Hoa và Nhật Bản.
Tuy nhiên, tất cả các dạng thức Phật giáo đều nhất trí rằng Đức Phật là người
sáng lập, là người đã gắng công đạt đến tuệ giác siêu đẳng trong khi ngồi dưới
gốc cây Bồ đề, người dã vạch ra con đường để từ thế giới khổ đau đến cõi bất tử
bên kia và những ai đi theo con đường giải thoát cũng có thể đạt đến tuệ giác
cao siêu. Đây là cội rễ của vấn đề, là sự thống nhất quan trọng bên dưới các dị
biệt về quan điểm và về cách biểu lộ, vốn là nét đặc trưng của Phật giáo trong
khi đạo này lan rộng từ Ấn Độ đến các nơi khác trên thế giới.
Cốt lõi của mọi tôn giáo là sự thay đổi bản chất con người. Khái niệm tái
sanh (dvitiyam janma) là giáo lý trọng tâm của Ấn Độ giáo và Phật giáo. Con
người không phải là chỉ có một mà là số nhiều. Con người mê ngủ, con người giống
như cái máy tự động. Con người có sự lủng củng từ bên trong. Con người phải thức
dậy, phải trở nên hợp nhất, hài hòa bên trong mình và không còn bị ràng buộc
nữa. Những truyện thần bí Hy lạp ám chỉ sự thay đổi này trong bản chất chúng ta.
Con người được xem như một hạt giống, hạt này có thể chết đi không còn là hạt
nhưng có thể tái sinh thành một cây khác từ hạt giống này. Một thùng hạt giống
có thể có hai số phận: bị nghiền ra thành bột để làm bánh hoặc được gieo xuống
đất, nẩy mầm và mọc thành cây rồi sinh ra hàng trăm hạt cho người gieo trồng.
Thánh Phao lồ đã mượn ý này để mô tả sự Phục sinh khi ông nói: “Đồ ngốc! Ngươi
gieo cái gì, cái ấy phải chết mới được sống” (Cr 15, 36). “Gieo xuống là thân
thể có sinh khí mà trỗi dậy là thân thể có thần khí” (Cr 15, 44) Sự thay đổi này
chính là sự thay đổi của chính thực thể. Con người không phải là một thực thể
cuối cùng hoàn chỉnh. Con người là một thực thể có thể tự biến đổi mình, có thể
được sinh ra trở lại. Tạo được sự thay đổi này, được tái sinh, được thức tỉnh,
đó là mục tiêu của mọi tôn giáo cũng như của đạo Phật.
Chúng ta phải chịu sự chi phối của thời gian, của sự luân hồi (samsara)
là do vô minh (avidya), dẫn đến mê đắm, suy đồi (asava). Vô minh
và tham ái là nền tảng của cuộc sống thường nghiệm. Từ vô minh ta phải
vươn đến giác ngộ (bodhi, vidya). Khi đã có được vipassana, hay
tri kiến, sự nhận thức sáng suốt, thì ta sẽ có samata hay sự tĩnh tịch
không thể lay chuyển. Trong tất cả những điều trên, Đức Phật đã dựa trên tiêu
chuẩn Vệ Đà về sự chắc chắn được xây dựng trên sự hiểu biết thực sự, sưu hiểu
biết có được nhờ kinh nghiệm trực tiếp, qua sự trực nhận thực tại bằng trí tuệ:
yatha-bhuta-nana-dassana (Như thật tri kiến).
III
Đức Phật đã không cảm thấy là mình đang công bố một tôn giáo mới. Ngài đã được
sinh ra, lớn lên và chết đi như một người Ấn Độ bình thường. Ngài chỉ nói lại
cho rõ với sự nhấn mạnh khác hơn về các ý tưởng từ xưa của nền văn minh Ấn Độ -
Aryan.
Nước Ấn Độ đạo giáo ngày xưa muốn tìm kiếm sự an lành chắc chắn nhất, sự vô úy,
abhaya, moksa, cõi niết bàn. Thực là điều tự nhiên đối với con người khi
họ muốn tìm cách nâng lên cao hơn những cái phàm tục, muốn vượt ngoài dục giới
để giải thoát linh hồn mình khỏi những ràng buộc của cuộc đời vật chất thô lậu,
muốn chọc thủng sự tăm tối bên ngoài để vào thế giới của ánh sáng và tâm linh.
Đức Phật muốn nhắm đến một cuộc sống tâm linh mà người ta đạt được bằng thức
(jnana) hay giác (bodhi) tức là cái ngộ tuyệt đối. “Nhưng ta cho rằng
mục tiêu cao cả nhất của con người là một trạng thái trong đó không có tuổi già
hay sợ sệt, không có bệnh tật, sinh, tử, không có âu lo và không có sự liên tục
tái tạo các tác nghiệp”.
pade tu yasminn na jara na bhir na run na janma naivoparamo na cadhayah tam
eva manye purusartham uttamam na vidyate yatra punah punah kriva
Đức Phật nhằm đến một cuộc sống tinh thần, trong đó tất cả những vị kỷ, tham dục
đều lịm tắt và mọi điều lo sợ, đam mê rồi cũng tắt theo. Đây là một trọng thái
an tịnh nội tâm toàn hảo, đi kèm với nhận thức là đã đạt tới sự tự do về tinh
thần, một trạng thái không thể diễn tả bằng lời. Chỉ có người đã trải qua mới
biết nó là thế nào. Trạng thái này không phải là một cuộc sống trên thiên đường
nơi mà chư Thiên đang sống. “Các ngươi phải thấy nhục nhã và căm phẫn nếu các tu
sĩ khổ hạnh của các tông phái khác hỏi các ngươi phải chăng vì muốn vươn lên một
thế giới siêu phàm mà phải tu phép khổ hạnh theo Phật Cồ-đàm”. Cả khi Áo
nghĩa thư phân biệt moksa (sự giải thoát) với cuộc sống trong
brahmaloka (Phạm thế) thì Đức Phật đã chỉ rõ rằng chư Thiên thuộc về thế
giới hiển lộ, do đó không thể được gọi là tuyệt đối vô vi. Cái hiện hữu có sự
tương liên với cái không hiện hữu. Cái thực sự vô vi nằm cao hơn cả cái hiện hữu
và không hiện hữu. Trạng thái ấy vô hình, chói lọi và vĩnh cửu. Một cái gì cao
hơn chư Thiên, một sự Tuyệt đối tiên nghiệm mà kinh Udana mô tả là ajata
(bất sinh), akata (bất tạo), abhuta (vô hữu) và asankhata
(vô vi). Đó là Bà la môn trong Áo nghĩa thư với các đặc điểm na iti,
na iti.
Đức Phật tự gọi mình là brahma-bhuta, người đã trở thành một Bà la môn.
Đức Phật chấp nhận một quan điểm tuyệt đối về Thực tại Tối thượng, nhưng không
chấp nhận quan điểm thần học. Ngài cảm thấy nhiều người không chịu hành động vì
tin rằng Thượng đế sẽ làm hết mọi việc cho họ. Họ dường như quên rằng nhận thức
tâm linh là một sự phát triển từ bên trong. Khi bậc hữu học say sưa với những
suy đoán vô ích về Điều Không Thể Diễn Tả thì người ít học sẽ xem Thượng đế là
thứ có thể điều khiển bằng các nghi thức thần thông hay ma thuật. Nếu Thượng đế
có tha thứ cho chúng ta thì điều đó sẽ chẳng làm thay đổi mấy cách sống của
chúng ta. Đức Phật chống lại vô minh và mê tín, chống lại sự kinh khiếp và run
sợ vốn thường đi đôi với tôn giáo trong dân gian. Ngoài ra, các quan điểm thần
học thường khiến cho đầu óc con người đầy những tín điều còn lòng họ thì chẳng
có sự khoan dung. Sự chính thống của các chủ thuyết khiến cho thế giới đầy những
bất hạnh, bất công, xung đột, tội ác và hận thù.
Quan niệm thế giới là một cõi luân hồi, là dòng sông bất tận, là nơi chịu sự chi
phối của luật nghiệp báo, là quan niệm phổ biến trong các hệ thống tôn giáo ở Ấn
Độ, gồm cả Ấn Độ giáo, Kỳ Na giáo, đạo Phật và đạo Sikh. Không có cái gì là
trường cửu, kể cả chư Thiên. Thậm chí cái chết cũng không phải là trường cửu vì
nó phải chuyển thành kiếp sống mới. Cách xử sự của một người trong một kiếp
không thể quyết định nên số mệnh mãi mãi của họ. Đức Phật không chấp nhận quan
điểm định mệnh. Ngài không nói là con người không điều khiển được tương lai của
mình. Con người có thể tạo ra tương lai của mình trở thành một A-la-hán, đạt đến
niết bàn. Đức Phật là người vận động hăng say cho một cuộc sống tích cực. Mục
đích của chúng ta là phải chinh phục thời gian, chiến thắng luân hồi, và con
đường để đi đến đó là con đường phẩm hạnh mà kết quả là sự giác ngộ.
Đức Phật không nhìn nhận thực tế về một “tự ngã: bất biến, vì “ngã” là cái có
thể được vun đắp dần dần bằng những ý tưởng tốt, hành động tốt, thế nhưng, Ngài
phải chấp nhận nó. Trong khi “nghiệp” có liên quan đến thế giới khách thể, đến
sự hiện hữu trong thời gian, thì niết bàn bao hàm sự tự do của chủ thể, của nội
tâm. Chúng ta có thể đứng ngoài giới hạn của cuộc sống chúng ta. Chúng ta cảm
nhận sự hư không, sự trống rỗng của thế giới khách thể, đến sự hiện hữu trong
thời gian, thì niết bàn bao hàm sự tự do của chủ thể, của nội tâm. Chúng ta có
thể đứng ngoài giới hạn của cuộc sống chúng ta. Chúng ta cảm nhận sự hư không,
sự trống rỗng của thế giới để đứng lên trên nó. Để có thể đứng ngoài sự hiện hữu
khách quan, con người phải có một nhận thức về sự hành hạ thân xác, sự hủy diệt
đau đớn, về cái hư không cay đắng của tất cả mọi hiện hữu thường nghiệm đang
chịu chi phối của quy luật thường biến, hoại diệt: maranantam hi jivitam.
Từ đáy sâu của cõi tuyệt vọng, chúng ta gào lên: mrtyor ma amrtam gamaya.
Ai cứu chúng tôi khỏi cái chết đây? nếu cái chết không phải là tất cả, hư không
không phải là tất cả, thì vẫn còn lại một cái gì đó sau khi chết, dù rằng không
thể mô tả. Cái “ta” là cái vô vi, là một cái gì không liên quan với thân, thọ,
tưởng, ý,… tất cả những cái này đều vô thường, biến đổi, không có thật. Khi biết
rằng mọi thứ vô thường đều là đau đớn thì con người sẽ buông bỏ chúng để được tự
do. Để được như thế, điều kiện tiên quyết là một ý thức cao hơn về cái “ta” hoặc
là một cái gì tương tự: attena va attaniyena.
Cái “ta” này thực chất là cái “ngã” không phải là thân, thọ, thức v.v… nhưng
không thể từ đó mà suy ra là không hề có “ngã”. Cái “tôi” không phải là cái duy
nhất chứa đựng trong “ngã”, dù rằng đây là cái duy nhất bên trong cái “ngã” mà
ta có thể biết được về mặt khách thể. Còn có một khía cạnh khác của cái “ngã” để
giúp ta đạt đến niết bàn. Khi Đức Phật khuyên chúng ta hãy tinh tiến, nỗ lực để
được cứu độ thì Ngài đang nói đến cái yếu tố bên trong đã không bị dòng thác sự
kiện cuốn trôi, không chịu sự chi phối của hoàn cảnh bên ngoài, yếu tố ấy đã tự
bảo vệ trước những xâm đoạt của xã hội, không chịu phục tùng ý kiến của con
người mà khăng khăng bảo vệ lẽ phải của mình. Bậc giác ngộ là người được tự do,
đã phá vỡ hết mọi ràng buộc. Nhà tu khổ hạnh là người đã làm chủ được mình, là
“người điều khiển được tâm mình chứ không phải để cho tâm điều khiển”.
Đức Phật khi Ngài đạt đến niết bàn không phải đã bị tan biến vào cái phi hữu.
Không phải Ngài mất đi mà những đam mê, nhiễm ái mất đi. Ngài không còn chịu sự
chi phối của những ý niệm sai lầm, những ham muốn ích kỷ vốn thường uốn nặn nên
những con người. Đức Phật thấy ra rằng mình không còn mang những đặc điểm làm
nên một cá thể riêng. Ngài đã thoát ra ngoài lĩnh vực của những nhị nguyên. “Ý
tưởng nào Ngài thích thì Ngài nghĩ đến ý tưởng đó, Ngài không thích ý tường nào
thì không nghĩ đến ý tưởng đó”.
Đức Phật dạy ta đi tìm trí huệ (prajna) và hãy có lòng từ bi (karuna).
Chúng ta được xét đoán không phải bằng tín ngưỡng ta đang theo, hay nhãn hiệu ta
đang mang, hay những lời lẽ ta đang hô hào, mà bằng việc làm chúng ta đã cống
hiến, và cái nhìn yêu thương của chúng ta. Con người, một sinh vật yếu đuối, dễ
lâm vào trong lão, bệnh, tử, nhưng vì vô minh và tự dắc nên đã rẻ rúng người
bệnh, người già và người chết. Nếu một người nhìn vào đồng bào mình bệnh hoạn,
già nua hay từ trần với sự ghê tởm thì người đó đang xử sự bất công với chính
mình. Chúng ta không được chê cười một người bước đi khập khiểng hay trượt ngã
trên đường vì chúng ta đâu có biết người đó đang phải mang, vác những gì.
Nếu chúng ta biết được thế nào là sự đau đớn thì chúng ta sẽ thành thân thiện
với những người đang đau khổ.
IV
Phật giáo đã bắt đầu không phải như là một tôn giáo mới mẻ và độc lập. Phật giáo
là chi nhánh của một tín ngưỡng xưa của người Ấn Độ, có lẽ là một sự ly giáo hay
một dị giáo, dù rằng trên nền tảng siêu hình và đạo đức thì Đức Phật đồng tình
với tín ngưỡng mình đang thừa hưởng, nhưng Ngài chống lại một số kiểu hành trì
đang thịnh hành thời ấy. Ngài không chấp nhận tính chất nặng phần nghi lễ của
kinh Vệ Đà. Khi được yêu cầu thực hiện một số nghi lễ loại này, Ngài nói: “Nói
là vì Chánh Pháp thì ta sẽ cử hành những nghi lễ cúng tế thông thường trong gia
đình ta và đem lại kết quả đẹp đẽ, chứ ta không tán thành việc tế lễ; vì ta
không muốn tìm hạnh phúc của mình bằng cách bắt kẻ khác phải chịu đau khổ”.
Thật ra thì Áo Nghĩa thư cũng đã đặt sự sùng mộ tế lễ vào hạng thấp hơn
niềm tin tâm linh của họ, nhưng họ không đã kích sự tế lễ ấy như là Đức Phật đã
làm. Mục tiêu chính của Đức Phật ở đây là đem lại một sự cải cách trong việc tu
hành, trở về với các nguyên tắc cơ bản. Tất cả những người gắn bó với cơ cấu chủ
yếu của Ấn Độ giáo và cố gắng làm cho nó phù hợp với tiếng nói của lương tâm
thức tỉnh đều được gọi là avatara. Trong Ấn Độ giáo, người ta cho rằng vị
Thần Thượng đẳng Visnu có nhiều hiện thân khác nhau để thực hiện những mục tiêu
khác nhau vì lợi ích của loài người. Đức Phật được tôn làm avatara vì đã
làm cho Ấn Độ giáo rũ bỏ được những tế lễ đẫm máu cùng những kiểu hành trì sai
trái, giúp cho tôn giáo này thoát khỏi nhiều hủ tục đã thâm nhiễm vào nó. Chủ
thuyết avatara này giúp cho chúng ta vừa duy trì được tín ngưỡng ông cha
mà vừa thực hiện được những cải cách cho nó. Bản tán tụng Purana của Ấn
Độ giáo xem Đức Phật là một avatara của thần Visnu.
Trong bài astapadi của Jayadeva (tập thi tụng Govinda), có
nói đến nhiều avatara, coi Đức Phật là một avatara của thần Visnu,
và có đoạn:
Hỡi người có lòng nhân ái đã phản đối kinh Vệ Đà về chuyện giết mổ gia súc. Hỡi
Kesava, trong hiện thân Đức Phật, vinh quang thay cho người, hỡi Hari, vị chúa
tể của thế gian.
Nindasi yajnavidher ahaha srutijatam
Sadaya-hrdaya, darsita pasughatam
Kesava-dhrta buddhasarira jaya jagadisa hare
Đức Phật không lên án toàn bộ kinh Vệ Đà nhưng chỉ lên án những phần đòi hỏi sự
giết mổ mà thôi. Jayadeva tóm tắt mười avatara trong bài kệ sau:
Người ủng hộ Vệ Đà, nâng giữ vũ trụ, chống đỡ thế gian, tiêu diệt quỷ dữ, đánh
bại Bali, bẻ gãy sức mạnh Sát-đế-lợi, chinh phục Ravana, làm ra cày bừa, trải
rộng từ tâm, chiến thắng ngoại nhân. Xin kính lễ thần Krishna dưới mười tướng
mạng.
vedan uddharate, jagan nivahate, bhugolam udbibhrate,
dailyan darayate, balim chalayate, ksatrasayam kurvate
mlecchan murcchayate dasakrtikrte krisnaya tubhyam namah
Đức Phật sử dụng di sản Ấn Độ giáo với sự sửa đổi cách thể hiện. Ngài làm cho
hoàn chỉnh chứ không phá hủy. Đối với người Ấn Độ thì Đức Phật là một điển hình
nổ bật của truyền thống tôn giáo nước này. Ngài để lại dấu chân trên mặt đất Ấn
Độ và dấu ấn trong linh hồn của đất nước này với thói quen và niềm tin của nó.
Trong khi giáo lý của Đức Phật mang nhiều hình thức khác nhau ở các nước khác
cho phù hợp với truyền thống riêng của họ thì ở đây, trên quê hương của Đức
Phật, giáo lý ấy đã hòa nhập vào và trở thành một phần không thể thiếu của nền
văn hóa Ấn Độ. Đức Phật coi các Bà la môn và các Sa môn như nhau và hai dòng
truyền thống này đã dần dần hòa quyện vào nhau. Trong một ý nghĩa nào đó thì Đức
Phật là người tạo nên Ấn Độ giáo cận đại.
Có những lúc, sau vô số những dò dẫm, nhân loại đã tự mình sáng tạo, nhận thức
ra mục tiêu của cuộc sống một cách cao cả nhưng rồi lại để buông mình vào trong
quá trình chầm chậm của sự phân rã. Đức Phật nhắm đến sự phát triển một kiểu
người tự do mới, không mang những định kiến, quyết tâm xây dựng tương lai với sự
tin tưởng vào chính bản thân, attadipa. Chủ nghĩa nhân văn của Ngài đã
gặp phải những rào cản của chủng tộc và quốc gia. Thế nhưng, những bất ổn trong
tình hình thế giới phản ánh những bất ổn trong tâm hồn con người. Lịch sử ngày
càng trở nên toàn diện hơn. Vấn đề của lịch sử không phải là châu Âu hay châu Á,
phương Đông hay phương Tây, mà la nhân loại ở mọi vùng đất và mọi thời đại. Mặc
dù những chia rẽ về chính trị, thế giới vẫn là một khối, dù ta có muốn hay
không. Số phận của mỗi người đều gắn với số phận của những người khác. Nhưng
chúng ta, dù trong cá nhân hay tập thể, đang phải chịu sự kiệt quệ về tinh thần
và sự gia tăng tính vị kỷ, điều này có vẻ làm cho lý tưởng vè một sự giao lưu
thế giới thật khó hình dung. Theo chúng tôi cái mà chúng ta cần ngày nay là một
điểm tâm linh về thế giới mà Ấn Độ, mặc dù bao nhiêu vấp váp khó khăn, vẫn đang
bênh vực; một quan điểm có thể một lần nữa thổi qua cuộc sống, mở tung những
cánh cửa của đời người. Chúng ta phải khôi phục lại lý tưởng về sự tự do tinh
thần đã mất: atmalabhan na param vidyate. Nếu muốn có được hòa bình,
chúng ta phải duy trì sự hài hòa nội tâm ấy, sự thăng bằng trong tâm hồn ấy,
những yếu tố then chốt của hòa bình. Chúng ta phải làm chủ được mình, dù có mất
đi những thứ khác. Tinh thần tự do, thanh thoát không đặt ra những ranh giới cho
tình thương, nhìn thấy ở mọi con người một tia sáng thánh thiện và tự mình gánh
chịu mọi điều thua thiệt vì hạnh phúc của loài người. Tinh thần ấy gạt bỏ mọi
điều lo sợ, ngoại trừ cái sợ làm điều sai trái, vượt qua ranh giới của thời
gian, của sự hoại diệt và tìm thấy quyền năng bất tận trong cuộc sống vĩnh hằng.
S.RADHAKRISHNAN
---o0o---
Mục Lục >
Chương I
>
Chương II
> Chương III
>
Chương IV
Chương V
> Chương VI
>
Chương VII
> Chương VIII
Chương IX
> Chương X
> Chương XI
> Chương XII
Chương XIII
> Chương XIV
> Chương XV
> Chương XVI
---o0o---
Vi tính: Nguyên Trang
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-3-2007