|
NIÊN KỶ |
ẤN ĐỘ |
TRUNG QUỐC |
|
2700 TTL |
Văn minh Harappa |
Thời Tam Hoàng, Ngũ Đế: Hoàng Đế (Hiên viên thị); Thiếu
Hiệu (Kim thiên thị); Chuyên Húc (Cao dương thị) |
|
1000 TTL |
Giống Aryans tràn vào thung lũng sông Hằng |
Nhà Tây Chu.
Kinh Dịch được biên tập |
|
900 TTL |
Trận chiến Mahabharata |
Vua Hiếu vương nhà Tây Chu |
|
800 TTL |
Giống Aryans tràn đến vịnh Bengal.
Bắt đầu thời đại Sử thi: Mahabharata
được kết tập. |
Vua Tuyên vương; Vua U-vương và Bao Tự, Tây Chu |
|
550 TTL |
Kết tập kinh Upanishads |
Thời Xuân Thu (722 TTL – 481 TTL) |
|
544 TTL |
Đức Phật nhập Niết Bàn |
Vua Cảnh Vương nhà Đông Chu |
|
327 TTL |
Đại đế Alexander xâm lăng Ấn |
Thời Chiến Quốc 481 TTL - 221 TTL |
|
324 TTL |
Vua Chandragupta Maurya đánh bại vua
Seleacus Nicator |
Thời Chiến Quốc 481 TTL - 221 TTL
|
|
322 TTL |
Triều Mauryas khởi đầu. Chandragupta
thiết lập đế quốc đầu tiên của Ấn. |
Thời Chiến Quốc 481 TTL - 221 TTL |
|
298 TTL |
Bindusara lên ngôi |
Thời Chiến Quốc 481 TTL - 221 TTL |
|
272 TTL |
Vua Ashoka trị vì |
Thời Chiến Quốc 481 TTL - 221 TTL |
|
180 TTL |
Triều đại Mauryas sụp đổ của. Triều
Sungas nối tiếp |
Cuối Tần Sơ Hán - Huệ Đế, nhà Tây Hán (hay Tiền Hán) |
|
173-130 TTL |
Vua Menander (Milinda) lập đế quốc Hy- Ấn. |
Từ Triều của Vũ Hậu đến Hán Vũ Đế |
|
145 TTL |
Vua xứ Chola xâm lấn Tích Lan (Ceylon) |
Vua Cảnh Đế, nhà Tiền Hán |
|
58 TTL |
Kỷ nguyên Krita-Malava-Vikram |
Vua Tuyên Đế, Tiền Hán |
|
30 TTL |
Khởi đầu của triều Satvahana ở xứ Deccan |
Vua Thành Đế, Tiền Hán |
|
40 TL |
Người Sakas cai trị thung lũng Indus và
phía tây Ấn |
Vua Quang Vũ Đế, Đông Hán hay Hậu Hán |
|
50 TL |
Tộc Kushan hùng mạnh dần |
Vua Quang Vũ Đế, Hậu Hán |
|
78 TL |
Khởi đầu của thời kỳ Saka-Kushana |
Vua Chương Đế, Hậu Hán |
|
100 – 164 TL |
Hoàng đế Kanishka I và đế quốc Kushan |
Từ vua Hán Hòa đế đến vua Hoàn đế, Hậu Hán |
|
320 TL |
Vua Chandra Gupta I lập triều Gupta |
Vua Nguyên Đế, nhà Đông Tấn |
|
360 TL |
Vua Samudra Gupta xâm chiếm đất bắc
và hầu hết xứ Deccan |
Vua Ai Đế, nhà Đông Tấn |
|
380 TL |
Vua Chandra Gupta II lên ngôi; Thời đại
hòang kim của nền văn học phục sinh
Ấn-Gupta. |
Bắc Triều:
-Vua An Đế, nhà Tấn
-Vua Đạo Võ Đế, Bắc
Hậu Ngụy
|
|
405 TL
(Có chỗ ghi là 399) đến 414 |
Đại sư Pháp hiển (Fa-hein) chiêm bái
Phật tích khắp vương
quốc Gupta. |
Bắc Triều:
-Vua An Đế, nhà Tấn
-Vua Đạo Võ Đế, Bắc
Hậu Ngụy |
|
415 TL |
Vua Kumara Gupta I lên ngôi |
Vua Minh Nguyên Đế, Bắc hậu Ngụy |
|
427 TL |
Vua Kumara Gupta I cho khởi công xây dựng Phật Học Viện
Nalanda. |
Vua Thái Võ Đế, Bắc Hậu Ngụy |
|
440 TL |
Tổ Bodhidharma sinh ở nam Ấn, xứ của vua Pallava |
Vua Thái Võ Đế, Bắc Hậu Ngụy |
|
467 TL |
Skanda Gupta lên ngôi |
Vua Hiến Văn, Bắc Hậu Ngụy |
|
476 TL |
Năm sinh của nhà thiên văn Aryabhatta |
Vua Thuận Đế, Nam Tống |
|
530 TL |
Tổ Bodhidharma theo thuyền đến Trung quốc, cặp bến Quảng
châu. |
Vua Tiết Mân Đế, Bắc: Hậu Ngụy
Vua Võ Đế, Nam: Lương |
|
606 TL |
Harshavardhana lên ngôi |
Vua Văn Đế, nhà Tùy |
|
622 TL |
Bắt đầu triều đại Hejira |
Cung đế Hựu, bị ép nhường ngôi cho Đại thừa tướng Lý Uyên,
lập ra nhà Đường |
|
629 TL |
Đường Tăng Huyền Trang (Huan Tsang)
đi Ấn thỉnh kinh |
Vua Cao tổ Nhà Đường |
|
649 TL |
Vua Harshavardhana băng hà |
Vua Thái Tôn, nhà Đường |
|
672 TL |
Đại sư Nghĩa Tịnh (I-Tsing) đến chiêm
bái ở Ấn. |
Vua Đường Cao Tôn, Vũ Hậu Tắc Thiên |
|
711 TL |
Muhammad Bin Qasim xâm lăng xứ Sind |
Vua Duệ tôn, nhà Đường |
|
892 TL |
Khởi đầu của triều Chalukyas ở phía đông |
Vua Chiêu tôn, nhà Đường |
|
985 TL |
Triều Chola: Vua Rajaraja đăng quang |
Vua Thái tôn, nhà Tống |
|
1001 TL |
Sultan Mahummad đánh bại Jaipal |
Vua Chân tôn, Nhà Tống |
Qua bản tóm lược đối chiếu
trên, ta nhận thấy có hai triều đại huy hòang của Ấn đã được thiết lập bởi
hai vị vua cùng tên nhưng cách nhau đến gần 8 thế kỷ, là Chandragupta lập
ra triều đại Maurya ở TK thứ 4 TTL (324-180 TTL), và vua Chandragupta I
sáng lập ra thời đại Gupta (320-540) ở TK thứ 4 TL. Với tên vị vua sau
đúng ra phải viết là Chandra Gupta I.
Có vài tác giả đã gom Hoàng đế
Harsavardhana
vào với giòng họ Gupta, có nơi lại còn viết là
Harsavardhana
Gupta. Điều này không đúng với lịch sử bởi vì thời
đại Gupta huy hoàng đã chấm dứt vào cuối thế kỷ thứ 5, và triều đại của
Harsavardhana
mới xuất hiện ở đầu thế kỷ thứ 7.
III) THỜI ĐẠI GUPTA (320 – 550)
A. Sự Thịnh Suy:
Đại sư Nghĩa Tịnh đến Ấn vào khoảng năm 672,
sau HT Huyền Trang đến hơn 40 năm, và đã nghe nói đến danh hiệu vua ‘Maharaja
Sri-Gupta’ của vương quốc
Magadha
xây một tăng viện gần Mrigasikhavana khoảng ‘500 năm trước’ cho những vị
sư chiêm bái đến từ Trung quốc tạm trú. Các học giả về sau không đối chiếu
được với lịch sử Ấn, và họ cho rằng Nghĩa Tịnh chỉ phỏng đoán theo cảm
quan tôn giáo mà thôi. Nhưng ngày nay người ta đã chứng minh được đó là
thời đại Gupta dựa vào bộ Bhagwatam. Dòng Gupta khởi đầu từ xứ Bengal,
theo các ghi chú tại ngôi tháp "Varendra Mrigashihavan Stupa"
trên đồi ở
Nepal,
rồi sau đó trở thành tiểu vương từ xứ Prayaga, Đông Uttar Pradesh, bây giờ
là Allahabad từ năm 240 TL.
Vị tiểu vương đầu tiên là Sri-Gupta
khoảng từ
240-280
TL. Bản bia ký bằng đồng
ở
Poona (gần Bombay bây giờ) do công chúa
Prabhavati Gupta (con gái của Chandragupta-II về sau) ghi rằng Sri-Gupta
là Adhiraja của Gupta. Vua kế vị là
Ghatotkacha
(280-319)
mà bia ký cũng còn có truy hiệu là Đại vương (Maharaja). Đến triều thứ ba,
khoảng năm 320 vua Chandra Gupta I (320-335) dựa vào hôn nhân với
công chúa Kumaradevi dòng Licchavi xứ Magadha (Ma-Kiệt-Đà) đã làm cho lãnh
thổ bành trướng thêm; xưng là Đại đế (maharajadhiraja). Kể từ đó các triều
đại Gupta mới trở nên vẻ vang, và lịch sử Ấn ghi về thời đại Gupta chỉ kể
từ đây.

Kumardevi và Chandragupta I trên đồng tiền vàng do vua con là Samudragupta
cho đúc.
Mặt
trái là Nữ thần Ambika (Durga).
Khi vua Samudra Gupta
(335-375) kế vị thì đến năm 360 kinh đô được dời về thành Hoa thị
(Pataliputra), tức Patna bây giờ. Sử liệu về ông đã được bia ký ở
Allahabad do Harisena ghi và trong ký sự của Đại sư Huyền Trang. Dưới
triều này lãnh thổ lại còn được mở rộng thêm từ lưu vực sông Hằng đến tây,
trung và đông Ấn cùng các hải đảo sau khi thâu tóm hơn 20 tiểu quốc khác.
Nhiều tiểu vương lân bang phải triều cống để được bảo hộ, xa mãi đến tận
Tích Lan (Sinhala hay Sri Lanka). Sau khi toàn trị vua Samudragupta làm lễ
tế ngựa chiến Ashwamedha Yagna, một phong tục hiếm thấy, và cho đúc
tiền vàng lưu
hành trên đó khắc lại những chiến cụ
và nhạc cụ
đã từng xữ dụng
trong triều. Việc đúc tiền vàng, triều Samudra Gupta đã mô phỏng theo kiểu
cách của đế quốc Kushan trước đó. Thời đại Kushan đã đúc chuẩn mực tiền
vàng 8 gram gọi là dinara, bắt nguồn từ tiền vàng La-mã Denarius
Aurius.

Vua Samudragupta đang gãy huyền cầm. Mặt trái: Nữ
thần Thịnh vượng Shri-Laxmi.
Dưới triều ông, Bà-la-môn giáo
(BLM) chiếm ưu thế vì ông thờ thần Vishnu (Vaishnava). Vì vậy các thánh
tích PG, ngoại trừ Nalanda và Sanchi, theo Đại sư Pháp Hiển thì Bồ đề đạo
tràng (Bodhgaya), Ca tỳ la vệ (Kapilavastu) và Câu-thi-na (Kusinagara) còn
bị hoang phế. Vào giữa thế kỷ thứ IV, nhiều
tăng sĩ từ xa đến
chiêm bái Bồ đề đạo
tràng không có
nơi tá túc; vua xứ Tích
Lan là Sri-Meghavarman đã cho sứ thần mang phẩm vật đến dâng tặng vua
Samudra Gupta để xin được xây dựng một ngôi chùa tại Bồ-đề Đạo tràng
(‘Bodh-Gayà”) và đã được tán thành.
Vua
Rama Gupta
(375-380) tại vị chẳng được bao lâu. Truyền sử ‘Devichandraguptam’ kể rằng
trong cuộc viễn chinh đánh xứ
Malwa
nhà vua bị bại trận và bị vua
Saka
Satrap
(hậu duệ của dân Scythian) bắt sống. Để được thả về nhà vua đồng ý sẽ đem
trao hoàng hậu Dhruvadevi cho
Saka
Satrap.
Điều này làm người em trai tức giận xin giả trang làm hoàng hậu để đến khi
vào được doanh trại địch quân liền giết chết
Saka
Satrap,
sáp nhập Malwa và còn giữ được thanh danh của Gupta. Do đó ông hoàng đệ
được vinh danh là Shakari hay Sahasanka (Kẻ giết được
Shakas). Dĩ nhiên dân chúng ủng hộ và hoàng hậu cảm kích nên vua Rama
Gupta bị phế bỏ, nhường ngôi cho em.
Dựa theo các bia đá ở
Mathura và Bilsad, người ta biết được khá nhiều chi tiết về vua Chandra
Gupta II (380-414). Sau khi lên ngôi, ông đã diệt các tiểu vương
Gujarat,
Saurashtra
và vùng Bengal để mở mang thêm bờ cõi. Ông còn liên minh với xứ Naga qua
hôn nhân với công chúa Kubernaga; và với dòng xứ Vakataka (đồng bằng
Deccan)
bằng cách gã con gái là
Prabhavati Gupta
cho vua
Rudrasena
II
vào năm 390. Chính công chúa Prabhavati
Gupta
này đã cho ghi lại bia ký bằng đồng ở Poona kể ở trên về gia phả dòng họ
mình. Chiến thắng quân sự vĩ đại nhất của ông là đã chiếm được xứ
Saurashtra (nay là Maharashtra) cạnh biển Ả-rập, mở rộng thương mãi hàng
hải qua phía tây Ấn.
Ông được tôn vinh là
Thái Dương Anh Hùng (Vikramaditya: Sun of Valour), vì ông là vị vua nỗi
bậc nhất của thời đại Gupta, nhưng ông lại còn được ca tụng về những thành
tựu văn chương, học thuật hơn là quân sự, bởi dưới triều ông, mọi ngành
văn chương học thuật, nhất là đạo học cả Veda và Phât pháp, y học, thú-y
học, toán học và thiên văn học của Ấn có một bước nhảy vọt xán lạn mà sử
sách về sau tán dương là thời đại phục hưng của văn học Ấn. Triều ông còn
được rực rỡ thêm bởi có sự trợ giúp của nhóm văn hào 9 người danh tiếng
(navaratna); trong số đó có Kalidasa bất tử của nền văn học Ấn. Ngoài
vương hiệu Vikramaditya, triều đại của ông còn được gọi thêm là
Narendrachandra, Simhachandra, Narendra Simha, Vikrama Devaraja, Devagupta
and Devasri.
Dưới triều đại này có
Đại sư Pháp Hiển (Fa-Hsien) từ Trung quốc đã đến chiêm bái các Phật tích
và đã thăm viếng khắp đế quốc Gupta dưới triều vua Chandra Gupta II từ 401
(có sách ghi là 399) đến 410, và ghi lại nhiều ký sự trong bộ ‘Phật Quốc
Ký’.
Vua kế là Kumara
Gupta I (414-455) còn có nhiều vương hiệu khác là Sri Mahendra, Ajita
Mahendra, Sima Mahendra, Asvamedha Mahendra, Mahendra Karma, Mahendra
Kalpa, Sri Mahendra Simha, Mahendra Kumar, Mahendra Aditya vv. Ông kế thừa
một đế quốc rộng lớn, và có công giữ cho nó được toàn vẹn. Dưới triều ông
xã hội Ấn vẫn còn ở hồi cực thịnh phồn vinh; sự bao dung tôn giáo có phần
rộng rãi hơn. Triều ông còn lưu lại đến nay 14 loại tiền vàng đặc trưng,
và về sau có cả tiền bạc miêu tả ông vừa là mãnh tướng, vừa là nhạc sĩ
vv... Ông còn vang danh nổi bậc là vị vua cho xây dựng Viện Phật Học nổi
tiếng thế giới Nalanda một cách bề thế vĩ đại. Ông có hai người con trai
là Skandagupta (con với hoàng hậu Devaki) và Purugupta (con với hoàng hậu
Ananthadevi). Vào cuối triều ông có quân Pushyamitra nổi loạn ở thung lũng
Narmada đe dọa triều đình.


Tiền vàng triều Kumara Gupta I (414-455) với hình nhà vua
đang hạ hổ. Mặt trái hình nữ thần Nimbate,
tượng trưng cho sông Hằng.
Đến thời vua
Skanda Gupta (455-467),
theo bia ký
Bilsad và Bhitari,
được xem là vị vua cuối của thời đại
Gupta huy hoàng, vì tuy ông đánh bại được quân Pushyamitra, nhưng rợ Hung
(Hephthalites
– mà sử Ấn gọi là Huna) từ vùng tây bắc liên tục tràn xuống uy hiếp
đến cả Hoa thị thành.
Theo bia ký Kahaum thì ông đã diệt được hàng trăm tiểu vương (?) kể cả rợ
Hung bị
ông
đánh bại ở thung lũng
Aryavarta năm 467.
Ông cũng rất bao dung với đa tôn gíao. Khi ông mất thì đế quốc Gupta đã
bắt đầu suy yếu.

Skanda Gupta (455-467)
Vua
Pura Gupta
(467-472)
thay anh lên ngôi thì đã già nên trị vì chỉ có 5 năm thì mất. Con trai của
ông với hoàng hậu Shri Vinayadevi lên thay.
Đến triều vua Narasimha
Gupta (472-476)
thì thời
đại Gupta đã
bắt đầu suy yếu. Có lúc Ấn lại còn phải cống lễ vật cho vua Hung nô để cầu
hòa. Nhưng khi nghe tin vua Hung nô Mihirakula, đóng đô ở Malwa mạn tây
bắc, ra lệnh sát hại tăng sĩ PG, hũy diệt tăng viện, đốt bỏ kinh sách ở
vùng Ngũ Hà, vua Narasimha Gupta liền đóng cửa biên giới và không hiến
cống nữa. Mihirakula tức giận kéo quân tấn công kinh đô Hoa thị Thành của
Magadha và truy đuổi Narasimha đến tận vịnh Bengal. Trên đường hành quân
Mihirakula đã trút giận lên các tăng tín đồ PG, dã man tàn sát những người
không trốn thoát được và đã huỹ diệt PHV Nalanda lần đầu tiên.
[Heras, A Note on the
Excavations at Nalanda and its History, J.B.B.R.A.S., II, N. S., p.
215-216.] Nhưng sau đó quân của Narasimha Gupta đã phản công và đánh
bại được
Mihirakula và đuổi rợ
Hung nô về tận vùng
Shakala (Sialkot,
Kashmir ngày nay).
Sự
xâm lăng của Hung nô đã nhanh chóng đưa triều đại Gupta đến
chỗ
sụp đổ vì đã kéo theo
sự xâm nhập ồ ạt của dân các bộ lạc
biên cương
từ Trung Á,
cộng thêm
kinh tế Ấn bị suy
thóai trầm trọng do mất quyền kiểm sóat đường tơ lụa, con đường thương mãi
huyết mạch. Điều đáng lưu ý ở đây là hậu duệ của dân Hung nô vốn chạy
thoát được về mạn Kashmir đã dần thích ứng với xã hội và nền văn hóa mới
để sau này biến dạng thành giống Rajputs.
Vua kế vị là Kumara
Gupta-II (476-477) không lưu lại được thành tích gì. Thời gian trị
vì của ba triều sau này quá ngắn tổng cộng chỉ khoảng 10 năm nên sử
liệu hiếm hoi. Và từ đấy việc truyền thừa các ngôi vua cũng không
được ghi lại rõ ràng. Xứ Magadha cứ suy yếu dần và nội loạn cứ xảy
ra mãi. Theo bia ký Apshad ở Adityasena thì vua vua Kumara Gupta II,
rồi vua Damodara Gupta đã đánh bại được kẻ phản loạn Isanavarman –
một dũng tướng đã từng có công đánh đuổi quân Andhra, Sulika, Gauda
và rợ Hung, đã được vinh danh trên bia ký Haraha. Về sau vua
Mahasena Gupta lại còn dẹp được quân phiến loạn Susthivarman.
Người ta được biết
thêm tên 14 vị vua nối tiếp nhau trong vòng hơn nửa thế kỷ là Budha Gupta
(477-495), Tathagata Gupta, Krishna Gupta, Harsha Gupta, Jivita Gupta-I,
Kumara Gupta-III, Damodara Gupta, Mahasena Gupta, Madhava Gupta and Deva
Gupta-II, Adityasena, Deva Gupta-III, Jiva Gupta-III. Các triều này cũng
chẳng lưu lại công trạng gì vẻ vang cả cho đến vị vua cuối là
Vishnu
Gupta
thì thời đại Gupta chấm dứt khoảng 550.
Sau khi thời đại
Gupta suy sụp thì các thế lực nội bộ tranh nhau ngôi bá vương trong một
thời gian khá dài. Trong đó đáng kể là Valabhi, Gujarata, Nandipuri,
Maukhari của xứ Magadha, tiểu vương hậu Guptas ở Malwa cạnh Magadha, các
xứ Bengal, Nepal, và Kamarupa trong thung lũng Assam.
Đến đầu thế kỷ thứ 7,
các thế lực đối kháng rốt lại gom vào trong tay của hai dòng họ đáng kể là
Shashanka vua của xứ Gauda (Hạ Bengal) sau khi chiếm được xứ Orissa liền
sáp nhập phần lớn lãnh thổ trong thung lũng sông Hằng; và dòng họ
Puspabhukti ở vùng bắc Delhi đang hùng mạnh; mãi đến thời vua
Harsavardhana mới thống trị được thiên hạ.
B. Di sản của thời
đại Gupta:
Ngày nay người ta
biết nhiều về thời đại này dựa vào đồng tiền cỗ, bia ký, đền đâi, và các
tác phẩm cổ văn
Sanskrit.
Tuy lãnh thổ của Ấn dưới triều đại này không rộng lớn bằng vào thời Maurya
và dòng Gupta kéo dài được 200 năm, nhưng nói chung đã được các nhà sử học
xem là thời đại cổ điển hòang kim của nước Ấn. Các ngành văn học, nghệ
thuật, y học, thiên văn, toán học, kiến trúc, đạo học và triết học của Ấn
khởi sắc; kinh tế sung mãn nên các đô thị được phát triển và giàu có.
Tượng Đức Phật vào thời Gupta, TK thứ 5.
Tương tự nhiều thời
đại trước, các tiên vương thì theo đạo BLM
giáo
nhưng đến các triều
sau thì sùng bái và hổ trợ PG. Vua Kumara Gupta I đã cho xây dựng và bảo
hộ cho PHV Nalanda. Rồi về sau vua Narasimha Gupta đã nhường ngôi cho con
mà vào Nalanda làm tăng sĩ. BLM giáo và PG hình như có sự pha trộn dưới
thời này. Dù vậy, xã hội Ấn dưới thời Gupta ban đầu vẫn còn nặng về với nề
nếp trật tự theo đẳng cấp phân biệt của Bà-la-môn giáo.
Dưới thời Gupta văn
chương Sanskrit đạt đến cao điểm; văn học PG thường được viết bằng Pali
trước đây đều được dịch ra Sanskrit; hai mươi tám hang động của các tăng
sĩ ở
Ajanta
với những bích họa tuyệt tác đầy sáng tạo linh động cũng được tạo ra.
Ajanta nằm ở phía tây Maharashtra, một phần của vương quốc Vakataka đồng
minh với Gupta. Nghệ thuật và văn học PG cũng đạt đến tuyệt đỉnh dưới thời
này qua những lò mỹ nghệ danh tiếng Mathura và Sarnath, và từ đó lan tràn
sang các hãi đảo ĐNA và Miến-điện, Xiêm-la, Thủy chân lạp, Lào và Lâm Ấp.
Kiến trúc đền đài, điêu khắc và luyện kim đạt đến một nghệ thuật rất cao.
Trụ sắt ở Meharulli, Delhi – mà nhiều học giả cho là do vua Chandra Gupta
II cho dựng lên - dù đến nay đã hơn 16 thế kỷ vẫn còn đứng trơ trơ không
rĩ sét. Thế nhưng đến nay những đền đài xây dựng vào thời này như
Vaishnavite Tigawa ở Jabalpur vào năm 415, ngôi khác ở Deogarhnear Jhansi
xây năm 510, và Bhita ở bang Uttar Pradesh hầu hết đều hoang tàn đổ nát.
Nhiều văn hào, thi
gia, luận gia đạo sĩ trứ danh như Harishena, Vasubandhu (Thế Thân),
Asangha
(Vô Trứ),
Kalidasa,
Dandi,
Visakhadatta,
Shudraka,
và
Bharavi
cũng xuất hiện vào thời này. Những kinh sớ (shastras), truyền thuyết luận
(puranas)
tôn giáo nổi tiếng cũng đều được sáng tác, kể cả cuốn kinh về nghệ thuật
yêu đương nổi danh ‘Kama
Sutra’.
Nhà thơ Sanskrit vĩ đại Kalidasa của Ấn với hai tác phẩm Meghdoot
và Kumarsanhita cũng đã phục vụ dưới triều Chandra Gupta II.
Riêng về toán học,
Varahamihira đã đưa ra khái niệm về số lẽ, vô cực trong khảo luận ‘Bhrihatasamhita’.
Đồng thời biểu hiện của con số từ 1 đến số 9, và số ‘không’ (zero: lấy từ
dấu hiệu vòng tròn ‘0’ viên mãn tượng trưng cho pháp không của PG) đã được
phát kiến vào thời này, mà về sau người Á-rập truyền qua phương tây đã dần
thay thế hệ thống số của La-mã.
Các nhà thiên văn
Aryabhatta đã khám phá ra số pi và đã chứng minh được quả đất có
hình tròn vào năm 499. Họ cũng đã tính được lịch theo mặt trời có 365.358
ngày và sự chuyển dịch của các hành tinh một cách tương đối chính xác.
IV)
TRIỀU ĐẠI
HARSHAVARDHANA (606-647)
A. Sự Thịnh Suy:
Triều đại
Harshavardhana hay gọi tắt là Harsha – cùng khỏang thời gian giữa cuối
triều Tùy và đầu triều Đường bên Trung quốc - được xem như triều đại vững
chắc sau các triều Gupta. Thời ông đã được biết đến nhiều nhờ đại sư Huyền
Trang (Hiuen
Tsang) ghi lại
trong bộ ‘Tây vực ký’ khi ngài sang Tây trúc thỉnh kinh từ
629 –
645; nhờ từ
các công văn của Trung quốc; từ các đồng tiền cổ và bia ký; từ các bài
viết của các danh nhân đương thời và nhất là nhờ tác phẩm Harshacharita
(Những thành tích của vua Harsa) do thi hào trong triều tên là Banabhatta
đã ghi chép lại nhiều chi tiết bằng tiếng Sanskrit kể cả phần thiếu thời
của nhà vua. Harshacharita là cuốn sách đầu tiên viết về danh nhân lịch sử
Ấn. Ông còn là tác giả của cuốn Kadambini được xem như một viên ngọc quí
của nền văn học Sanskrit.
Như đã nói ở trên,
sau thời kỳ nhiểu nhương hậu Gupta đến đầu thế kỷ thứ 7, dòng họ
Pushabhukti trở nên một thế lực lớn mạnh ở Ấn với vua Prabhakaravardhana
cai trị xứ Thaneshwar. Con gái của Prabhakaravardhana tên là Rajyasri và
cũng là chị của Harshavardhana được gã cho vua Grahavarman của xứ Maukhari
có kinh đô ở Kannauj. Lúc bấy giờ PG vẫn còn thịnh hành trong vùng, và tín
đồ BLM giáo và Kỳ na giáo thường vẫn chung sống hòa hợp. Tuy vậy trong
chương 7 của cuốn Harshacharita của Banabhatta đã cho thấy luôn có sự
tranh chấp âm ĩ giữa các giới tăng lữ của BLM và PG. Banabhatta viết
“không có một Parasari (nhà sư áo vàng) nào ưa thích tăng sĩ Bà-la-môn,
nhưng các tăng của 17 phái khác nhau đều sống dung hòa.” [Agrawala
1969: 225].
Sau khi vua
Prabhakaravardhana mất năm 605; vua Deva Gupta xứ Malwa (có lẽ là hậu duệ
xa của thời Gupta cũ) tấn công và giết chết vua Grahavarman và hạ ngục
hòang hậu Rajyasri. Vua Rajyavardhan, là anh cả của Rajyasri và
Harshavardhana liền kéo quân tấn công Malwa để trả thù và đánh bại được
Deva Gupta. Bấy giờ vua Shashanka của xứ Gauda, vốn đã âm mưu liên minh
cùng Deva Gupta, đến gặp Rajyavardhan giả làm trung gian giảng hoà và thừa
cơ hạ sát Rajyavardhan rồi chiếm đóng Kannauj.
Shashanka là tín đồ
BLM giáo – Śaivites - rất thịnh hành ở phía nam Ấn. Khi Shashanka chiếm
thành Kannauj thì dân chúng Phật tử không ủng hộ và còn chống đối nên
Shashanka đã ra tay đàn áp và tàn sát rất nhiều tín đồ PG [Sharma 1970:
245]. Vì thế khi Harshavardhana cất quân tái chiếm, quần chúng Phật tử
trong kinh đô đã đồng nổi dậy tiếp tay ủng hộ nên chiến dịch chóng thành
công, và Harshavardhana đã dánh đuổi Shashanka về cố thủ một vùng nhỏ ở
Orissa dọc bờ biển vịnh Bengal. Trên đường tháo chạy quân của Shashanka
còn đốt phá PHV Nalanda.
Điều này đã được
Huyền Trang ghi lại trong cuốn ‘Tây Vực Ký’; và cuốn biên niên sử PG, The
Arya Manju Sri Mulakalpa, cũng mô tả Shashanka là một ông vua tàn ác. Theo
truyền thuyết thì vua Shashanka đã cưỡng đoạt một điện thờ Phật ở Bồ Đề
Đạo Tràng Bodhgaya) rồi cho dựng một Shivalinga thay thế. Thực tế về sau
cho thấy chuyện ấy không hề xảy ra; vì vào năm 1234 có vị sư Tây tạng tên
là Dharmaswamin đến viếng thánh địa đã khám phá ra rằng tượng Phật đã được
xây tường che kín để khỏi bị quân đạo Hồi xâm lăng phá hũy. Tuy vậy người
Hồi tiếp tục đàn áp PG và nương tay với BLM giáo nên PG bị tàn lụi và ngôi
đền bị hoang phế cho mãi đến năm 1590, quan cai trị địa phương lại giao
quyền quản trị ngôi đền cho người Shaivite Mahant. Nhưng gần đây ngôi đền
đã được chuyển lại cho PG và đã được trông coi bởi một ủy ban BLM và PG.
Cũng theo truyền
thuyết thì Shashanka đã hũy diệt các thánh tích, quẳng cả tảng đá có in
dấu chân Đức Phật xuống sông, hoặc đốn ngã cây Bồ đề cổ thụ ở Bồ đề Đạo
tràng. Nhưng rồi nhờ có phép lạ nên tảng đá trở về chỗ cũ và một cây bồ đề
to lớn khác được mọc ra từ nhựa cây cũ đã bị đốn. [Theo
‘Tây
Vực Ký’
- Elst 1992]. Nhưng có lẽ các chuyện ấy chẳng hề xảy ra. Tảng đá có
dấu chân Phật này vốn đã được Đại sư Pháp Hiển nhắc đến khi ngài ghé qua
Ô trường (Udỳnana), bắc bộ Thiên trúc. Ngài viết
trong ‘Phật Quốc Ký’: “Phật để dấu chân lại ở đây, và dấu chân ấy thấy
dài hay ngắn là tùy tâm niệm của người nhìn. Dấu chân ấy hiện nay vẫn còn
như vậy. Lại có viên đá Phật phơi y, có chỗ Phật hóa độ rồng dữ, tất cả
hiện nay vẫn còn. Viên đá Phật phơi y thì cao 1 trượng 4 thước, rộng chừng
2 trượng, một bên bằng phẳng.”

Tiền có hình HĐ Harshavardhana
Sau khi thắng trận,
Harshavardhana liền
thay anh lên làm vua vừa lúc 16 tuổi, rồi dời kinh đô từ Thaneshwar đến
Kannauj
và từ đó đã bành trướng đất đai tòan vùng bắc Ấn. Năm 612, ông đã cai trị
một vùng rộng lớn bao gồm Punjab, miền đông xứ Rajasthan, thung lũng Hằng
Hà, một phần Bihar và Bengal cho đến xứ Assam; ngoại trừ vùng tây và nam
Ấn.
Năm 620
Harshavardhana đem quân xâm lấn các xứ ở phía nam Ấn nhưng bị vua
Pulakesin II của xứ Chalukya phía bắc Mysore ngăn chận; và ông cũng không
thâu tóm được các xứ Valabhl, Nandipurl, Kashmir, Gujarat và Sind ở phía
tây, như dưới thời Gupta. Riêng ở phía đông thì từ khi đối thủ là vua
Shashanka mất vào năm 636 thì không còn một sự chống cự nào đáng kể.
Hoàng đế
Harshavardhana là một nhà lãnh đạo có tài ngọai giao giỏi nổi danh khắp
vùng. Vua Bhaskravarman của xứ Kamarupa (Assam) tuy theo đạo Bà-la-môn
nhưng đã liên minh chặt chẻ với ông đánh đuổi được Shashanka và còn giúp
cho sự chinh phục thiên hạ thêm thuận lợi. Harshavardhana cũng đã duy trì
mối quan hệ mật thiết với nhà Đường ở Trung quốc, và vua Đường Thái Tôn
cũng đã gởi nhiều đoàn sứ giả đến thăm vua Harsa.
Vua Harshavardhana
rất cần mẫn trong việc cai trị vương quốc rộng lớn ở bắc Ấn. Ông đích thân
quán xuyến việc nước và đốc thúc các quan cai trị dưới triều. Ông đặt các
tiểu vương thuộc hòang gia cai trị các xứ nhỏ. Sử Ấn ghi nhận về ông như
một minh quân, có tài quân sự như Samudra Gupta và chính trị cùng đạo đức
như Ashoka. Ông còn là một thi sĩ và nhà uyên bác. Ông còn được nhắc đến
như là tác giả của ba bộ kịch thơ viết bằng tiếng Sanskrit là Ratnavall,
Priyadarshika, và Nagananda, mà cuốn sau chứa đựng nhiều tư tưởng PG.
Vua Harshavardhana
rất sùng kính PG, đồng thời bao dung với các tôn giáo khác. Sự thực hành
tín ngưỡng của tín đồ PG và BLM giáo vẫn tiếp tục pha trộn lẫn nhau trong
việc thờ cúng đa thần như dưới thời Gupta. Vua Harshavardhana cũng thường
mở đại thí đàn như các vua cuối của thời Gupta (mà theo bản dịch từ Hán
ngữ của HT Trí Quang theo cuốn ‘Cao tăng Pháp Hiển’ thì gọi là ‘ban giá
việt’). Nhà vua mở đại hội mỗi 5 năm ở
Prayag để ông bố thí tài vật cho dân chúng và cầu nguyện thần linh của các
tôn giáo. “Khi mở đại hội thì mời chư tăng
mọi nơi cùng đến vân tập. Vân tập rồi chỗ ngồi chư tăng được trần thiết,
treo lụa, treo cờ và cắm lọng. Lại làm hoa sen bằng vàng bằng bạc đặt sau
chỗ ngồi chư tăng, trải lên trên chỗ ngồi ấy những tấm tọa cụ sạch sẽ.
Quốc vương cúng dường đúng phép trong 1 tháng, 2 tháng hay 3 tháng, và
phần nhiều cử hành vào mùa xuân. Cúng dường rồi, quốc vương lại khuyến
khích quần thần cúng dường trong 1 ngày 2 ngày cho đến 7 ngày. Sau đó quốc
vương đem ngựa của mình cho trọng thần cưỡi, lại đem lụa trắng, mọi thứ
quí giá, và những vật dụng cần dùng của chư tăng, cùng quần thần phát
nguyện cúng dường chư tăng, rồi xin chư tăng mà chuộc lại những thứ quí
giá.”
Dưới triều
Harshavardhana, Kannauj trở nên một trung tâm đạo học quan trọng và đã
được xây dựng to lớn và phồn thịnh ngang tầm cở với Hoa thị thành
(Patilaputra) của thời
Gupta và
Ashoka.

Cảnh HĐ Harshavardhana cung nghinh Đại sư Huyền Trang
Năm 643 để đón tiếp
đại sư Huyền Trang đến hành hương thỉnh kinh Phật từ Trung quốc, vua
Harshavardhana đã tổ chức một cuộc đại hội liên tôn rất trang trọng kéo
dài khỏang hai tháng gồm các cao tăng của
BLM
giáo, PG và Kỳ na giáo và sự có mặt của các tiểu vương khác như vua
Bhaskaravarman của xứ Kamrupa (Assam) và vua Dhuvabhatti xứ Vallabhi để
nghe đại sư Huyền Trang thuyết pháp và để cùng nhau trao đổi đạo học.
Sau Kannauj, Huyền
Trang còn được đưa đến bờ sông Hằng (Ganga), Yamuna và Saraswati để tiếp
tục hoằng pháp. Sau nhiều lần tiếp xúc với Huyền Trang, vua Harshavardhana
rất tín ngưỡng đại thừa. Vào thời gian Huyền Trang được vua Harshavardhana
tiếp đón trọng vọng thì khối tăng lữ BLM giáo không mấy hài lòng, và đã âm
mưu hạ bệ Harshavardhana. Khi cơ mưu bị bại lộ, vua Harshavardhana đã đầy
500 người BLM ra biên cương.
Đầu năm 644,
Huyền Trang vượt ông Indus để trở về Trung quốc sau 10 năm lưu lạI ở Ấn. Ba năm
sau thì vua Harshavardhana bị giết và thêm một đoạn sử rực rỡ của Ấn Độ kết
thúc.
Ông mất năm 647, thọ
được 57 tuổi. Sau khi ông mất, lại không có người kế vị nên vương quốc bắc
Ấn lại rơi vào hổn lọan nhiểu nhương vì nội bộ tranh dành quyền lực. Vua
Narasinghavarman, một tiểu vương của xứ Kanchi trở nên hùng mạnh, và vua
Bhaskravarman của xứ Kamarupa (Assam) thâu tóm đất đai xưa vốn thuộc vua
Harshavardhana.
Mặt khác khối tăng lữ
BLM khi thấy đế quốc của Harshavardhana bị tan rã liền cấu kết với dân
Rajputs ở biên cương xâm lăng Ấn để “tái lập vai trò chính trị tối cao
ở Aryavrata sau khi nhà vua mất” như Havel đã viết. [E.B.Havell,
History of Aryan Rule in India, p. 217, Quoted by Swami Dharma Teertha, p.
118].
Theo truyền thuyết (Puranas)
thì dân Rajputs vốn là hậu duệ của Hung nô lại được BLM thu phục biến
chúng thành giai cấp Kshatriya, tức giai cấp vương tướng để phục vụ cho
quyền lợi của họ và cả
hai phía cùng
hưỡng lợi.
Nhưng đến năm 724 tức
khỏang đầu thế kỷ thứ 8 thì quân Hồi (Turkic
Muslim)
đã chiếm được đất Sind, vùng viễn tây đất Ấn, và trở thành mối đe dọa về
sau cho sự an nguy của Ấn. Nhiều bia ký của các tiểu vương ở phía tây đã
ghi lại những cuộc chống các làn sóng xâm lăng của “dân mleccha”, có nơi
khác ghi “dân yavana” (chỉ dân Ả rập). Từ sau triều đại của Harshavardhana
không còn có triều nào của Ấn oai hùng cả nên đến năm
1193,
quân Hồi dưới sự lãnh đạo của
Bakhtiyar
Khalji
đã xâm lăng thành công và đặt nền thống trị trên đất Ấn.
V) PHẬT HỌC VIỆN
NALANDA:
A) Lịch sử:
Nalanda
nằm khoảng 90 km hướng đông nam của Hoa thị thành (Pataliputra), 62 km về
hướng đông bắc của Bồ-đề Đạo tràng (Bodh-Gaya), có diện tích ước khoảng
166 bộ hướng bắc-nam và 800 bộ hướng đông tây; thuộc bang Bihar ngày nay
(mà xưa kia có tên là Magadha – Ma-kiệt-đà). Nguyên ngữ của Bihar là từ
Vihara (xứ chùa); và Nalanda có nghĩa là nơi trao truyền chánh pháp (nalam:
hoa sen; da: ban bố. Ở Ấn hoa sen tượng trưng cho chánh
pháp).

Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài đã nhiều lần ghé thăm Nalanda và thuyết
pháp ở Vườn Xoài Pavarika (the Mango Grove of Pavarika). Mahavira, giáo
chủ Kỳ na giáo (Jain) cũng đã từng nghỉ ngơi ở đây trong 14 mùa mưa.
Bấy giờ Nalanda là
một làng nhỏ, nơi sinh trưởng và cũng là nơi từ trần của Ngài Xá Lợi Phất
(Sariputra). Hoàng đế Ashoka cũng đã đến chiêm bái và cho xây tháp thờ xá
lợi của Ngài Xá Lợi Phất và một tăng-già-lam (sangharama) đầu tiên ở đây.
Chính ngôi đại tháp này về sau trở thành cấu trúc trung tâm biểu tượng của
Phật Học Viện (PHV) Nalanda. Nhiều đại luận sư nổi danh của PG cũng từng
xuất thân ở PHV này như Nagarjuna (Long
Thọ), tương truyền ngài ra đời vào năm 150, và
đã được làm sa-di lúc 7 tuổi ở Nalanda; Dinnaga (Trần Na – còn gọi
là Đồng Thụ hay Vực Long), tổ của phái ‘Tân Nhân Minh’, tác giả bộ ‘Nhân
Minh Chánh Lý Môn Luận’ (Nyayamukha):
ngưỡng cửa của luận lý vv…

Nhưng Nalanda đã được xây dựng
qui mô to lớn và trở thành một trung tâm cao học nổi danh trong bao nhiêu
thế kỷ lại nhờ vào tín tâm PG và sự bảo trợ dồi dào của những triều cuối
của thời
đại Gupta.
Qua cuốn ‘Tây vực ký’, đại sư Huyền
Trang viết: “Một cựu vương tên Sakraditya, tôn kính Nhất thừa và tam bảo
đã chọn mảnh đất phước lành (lucky spot) để dựng nên tăng-già-lam này”.
[xem Cf. Edgerton, Vikrama's Adventures, 1, p. LXVI.] Ngài còn kể lại
tên 3 vị vua nổi danh khác đã liên tiếp bảo trợ PHV Nalanda dưới các
truy hiệu thánh hóa là: 1) Buddhagupta-raja. 2) Tathagatagupta-raja. 3)
Baladitya-raja đã làm nhiều học giả về sau không thể đối chiếu được với
lịch sử.
Nhiều tác giả đã dựa vào chi tiết
mơ hồ này khi viết về vị vua đặt viên đá xây dựng Nalanda. Đơn cữ là khi
tra cứu “Na-lan-đà” trong cuốn Từ Điển Phật Học của Chân Nguyên và
Nguyễn Tường Bách ấn hành năm 1999 tại Huế, ta thấy ghi: “Viện Phật Học
danh tiếng của Ấn Độ, được vua Thước-ca-la Đạt-đa (s. Sascraditya) thành
lập trong thế kỷ thứ hai, một nhà vua nước Ma-kiệt-đà.” Có lẽ các tác
giả này đã tham chiếu cuốn “The Encyclopedia of Eastern Philosophy and
Religion” do nhà xuất bản uy tín Shambhala, Boston ấn hành năm 1994; bởi
cũng có một đoạn viết như thế.
Nhưng trong một tư liệu khảo cứu tĩ
mĩ của tăng học giả H. Heras với tựa đề “The Royal Patrons of the
University of Nalanda” được đăng trong Journal of the Bihar and Orissa
Research Society, PART I. Vol. XIV 1928 pp. 1-23 vào năm 1928 đã rọi
sáng nhiều phát hiện mới. Ông đã cùng với Giáo sư Samaddar phân tích các
truy hiệu của