2. THIÊN
THỨ HAI. THỜI ĐẠI BỘ PHÁI PHẬT GIÁO
(271 trước T.L - 200 T.L)
CHƯƠNG THỨ NHẤT. KẾT TẬP KINH ĐIỂN VÀ SỰ NGHIỆP CỦA A DỤC VƯƠNG ĐỐI VỚI PHẬT
GIÁO
I. KẾT TẬP KINH
ĐIỂN LẦN THỨ HAI
Đức Thích
Tôn diệt độ khoảng sau 100 năm, sau thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất
cũng khoảng 100 năm, lại có 700 vị Tỷ-khưu họp tại thành Phệ Xá Li (Vesali) để
kết tập kinh điển. Đấy là lần kết tập thứ hai, và còn gọi là “Phệ Xá Ly kết
tập”, hay “Thất bách tập pháp”.
Nguyên vì, Đức Thích Tôn diệt độ, sau khoảng
100 năm, có các vị Tỷ-khưu xuất thân từ giòng họ Tỳ Xá Ly (Viji) đề xướng ra
mười hành vi, chủ trương là thích hợp với giới luật của Tỷ-khưu, mười hành vi
đó như sau:
1.
Diêm-tịnh
(Singilonakappa). - Căn cứ vào giới luật, các Tỷ-khưu không
được để đồ ăn cách đêm. Nghĩa là các thứ đồ ăn phổ thông, không được để đến
ngày hôm sau rồi lại ăn, nhưng nếu đồ ăn đó đem ướp với muối, thì vẫn có thể
được dùng ở ngày hôm sau.
2. Chỉ tịnh
(Dvangulakappa). - Về bữa ăn của Tỷ-khưu phải là ở lúc chính ngọ, nhưng nếu
lúc đang đi giữa đường, thì bữa ăn có thể được dùng ở quá giờ ngọ một chút,
nghĩa là lúc mặt trời đã xế bóng chừng độ hai chủ (mỗi chủ: một thước năm tấc
ta).
3.
Tụ-lạc-gian tịnh
(Gamantarakappa). - Tỷ-khưu sau khi ăn rồi, nhưng nếu ở trước
giờ ngọ, tới chốn tụ lạc khác, xin được thức ăn, vẫn có thể được thọ dụng.
4. Trụ-xứ tịnh
(Avasakappa). - Một tháng hai kỳ, các Tỷ-khưu phải tận tập ở một trụ xứ nào đó
để làm lễ bố-tát, nếu trụ xứ quá hẹp, có thể được phân chia làm hai nơi để làm
lễ bố-tát.
5. Tùy-ý tịnh
(Anumatikappa). - Quyết nghị của đoàn thể xuất gia, cần phải toàn viên tận tập
để giải quyết, nhưng nếu gặp trường hợp không thể xuất tịch được, sau khi Giáo
đoàn quyết nghị, sẽ có thể đem những quyết nghị đó thông cáo sau.
6. Cửu-trụ tịnh
(Acinnakappa). - Có thể noi theo vào tiền lệ, nghĩa là noi theo vào những thể
lệ của người trước đã làm.
7. Sinh-hòa-hợp tịnh
(Amathitakappa). - Sau giờ ngọ, các Tỷ khưu không được ăn phi thời, nhưng có
thể được dùng nước hòa lẫn với sữa, không cần phải để sữa lắng xuống.
8.
Bất-ích-lũ ni-sư-đàn tịnh
(Adasakanisi Danakappa). - Tọa cụ của Tỷ-khưu, kích
thước bề dài, bề rộng phải theo đúng như quy định trong giới luật, nhưng nếu
là tọa cụ không có viền xung quanh có thể được dùng quá khuôn khổ đã định.
9. Thủy tịnh
(Jalogikappa). - Tỷ-khưu không được uống rượu, nhưng vì trường hợp bệnh hoạn,
dùng để làm thuốc, có thể pha lẫn với nước để uống.
10. Kim tiền tịnh
(Jatarapadikappa). - Tỷ-khưu vốn dĩ không được cầm tiền, nhưng nếu ở trường
hợp bất đắc dĩ, có thể được cầm tiền bạc, và súc tích tiền bạc(1).
Mười điều như trên, thực ra là vi phạm với
giới luật. Đứng về phương diện nghiêm khắc của giới luật mà giải thích là phi
pháp, nhưng đứng về mặt khoan đại mà giải thích, thì thích hợp với giới luật.
Các Tỷ-khưu ở phương Đông, đứng về phe tự do giải thích giới luật, nên dung
hứa mười điều kể trên.
Trong lúc đó, ở phương Tây, có một học giả
tinh thông giới luật, là Trưởng lão Da Xá (Yasa), du hành tới thành Phệ Xá Ly
(Vesali), gặp Ngài Bồ-tát, Ngài nhận thấy các Tỷ-khưu thuộc giòng Tỳ Xá Ly
khuyến hóa các tín đồ đem cúng dường tiền bạc, Ngài rất kinh ngạc. Vì mục đích
căn ngăn việc đó, nên Ngài đối trước tín đồ mà tuyên cáo: “Việc Tỷ-khưu cầm
tiền và nhận tiền là một cấm giới nghiêm trọng trong giới luật”, để cảnh cáo
các Tỷ-khưu. Các Tỷ-khưu cho rằng, Trưởng lão Da Xá có tính cách làm phương
ngại sự cúng dườøng của tín đồ và lăng mạ Tăng chúng. Rồi bắt Trưởng lão Da Xá
phải xin lỗi trước Đại chúng và tín đồ. Nhưng Trưởng lão Da Xá không nghe
theo, trốn vào thành, đối trước dân chúng công nhiên phát biểu mười hành vi
phi pháp như trên. Đại chúng thấy vậy liền tập Tăng tác pháp sấn xuất (đuổi ra
khỏi chúng, theo luật Phật, nếu một Tỷ-khưu nào đem lỗi xấu của Đại chúng công
bố trước tín đồ sẽ bị xuất chúng). Trưởng lão Da Xá liền trở lại phương Tây,
cảm khái về giới luật của Phật bị suy tàn, nên quyết đi vận động các bậc
Trưởng lão để giải quyết mười điều phi pháp, tránh mọi họa căn cho hậu thế.
Trưởng lão
Da Xá trước hết đi tới thành Kiều Thưởng Di (Kosambi) ở phương Tây, và phái sứ
giả đến các địa phương như Ma Thâu La (Mathùrà) và A Bàn Đề (Avanti) để cầu
thỉnh các bậc Trưởng lão, và chính tự mình đi tới núi Ahoganga, yết kiến
Trưởng lão Tam Phù Đà (Sambhùta), tới địa phương Sa Ha Xà Đế (Shaajàti) hỏi ý
kiến Trưởng lão Ly Bà Đa (Revata), đều được sự tán đồng, và đều cùng đi tới
thành Phệ Xá Ly. Sau khi tới thành Phệ Xá Ly lại cầu thỉnh bậc Trưởng lão ở
địa phương đó, là Tát Bà Ca Ma (Sabhakàmi). Tất cả Tăng chúng của hai phía
Đông, Tây gồm có 700 vị, hội họp để kết tập kinh điển và để nghị quyết về mười
hành vi kể trên là phi pháp hay không phi pháp.
Nhưng, trong lúc hội nghị, vì sinh nhiều ý
kiến bất đồng, không thể giải quyết ngay được, nên hội nghị đồng ý lựa chọn
một Ủy ban gồm tám người, của cả Đông và Tây. Bốn vị Trưởng lão ở phía Tây: Ly
Bà Đa, Tam Phù Đà, Da Xá và Tu Ma Na (Sumana). Bốn vị ở phương Đông: Tát Bà Ca
Ma, Sa Lưu (Sàtha), Khuất Xà Tu Tỳ Đa (Khujjasobhita), Bát Tát Bà Già Mi
(Vàsabhagàmi). Trưởng lão Ly Bà Đa, ủy viên của phương Tây, nêu ra từng điều
trong mười điều, để hỏi là hợp pháp hay phi pháp; Trưởng lão Tát Bà Ca Ma, ủy
viên của phương Đông, y vào giới luật để chiếu hợp từng điều và đã đáp là “Phi
pháp”. Như vậy, mười điều kể trên trở thành mười điều phi pháp. Trong cuộc hội
nghị, Đại chúng còn hợp tụng lại những Pháp tạng, trải qua một thời gian tám
tháng mới hoàn thành.
Nội dung cụ thể của kỳ kết tập thứ hai này,
tuy không thấy ghi chép tường tận trong các truyện, lục, nhưng mục đích của kỳ
kết tập này không phải là chỉ dành riêng cho việc giải quyết mười điều phi
pháp, mà còn để xác định lại giới pháp của Đức Thích Tôn đã quy định, để ngăn
ngừa mọi phi pháp pha trộn, đó là điều xác thực.
Mặt khác, phần đa số các Tỷ-khưu thuộc Đông
bộ, không phục tòng quyết nghị mười điều kể trên là phi pháp, nên cùng nhau
hội họp tại một nơi khác, và cũng để kết tập kinh điển, gọi là Đại kết tập
(Mahàsamgìti), hay là Đại chúng kết tập. Nội dung của cuộc kết tập là Kinh
tạng, Luật tạng, Đại pháp tạng và Tạp tạng thành bốn tạng, và còn gọi là Ngũ
tạng, có thêm Bồ-tát tạng.
Vì nguyên nhân trên, nên Giáo đoàn của Phật
giáo phân chia thành hai bộ phái là Thượng Tọa bộ (Thera) và Đại Chúng bộ
(Màhàsamghika). Thượng Tọa bộ thuộc phái Bảo thủ, Đại Chúng bộ thuộc phái Canh
tân.
II. SỰ NGHIỆP CỦA A DỤC VƯƠNG
ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO
1. TIỂU SỬ A DỤC
VƯƠNG.
- Đức Thích Tôn diệt độ khoảng sau 200 năm,
thì phạm vi của Phật giáo đã lan khắp các nước thuộc Trung Ấn Độ, trên lưu vực
sông Hằng Hà. Tới khi Đức Thích Tôn diệt độ chừng khoảng gần 300 năm thì phạm
vi của Phật giáo không những ảnh hưởng khắp trong nước mà còn lan tràn tới các
nước ngoài. Nghĩa là một tôn giáo đang ở trong phạm vi nội bộ, đột nhiên phát
triển thành một tôn giáo của thế giới, tạo thành một trang sử vẻ vang oai hùng
cho Phật giáo, đó là công lao hộ trì Phật giáo của quốc vương A Dục (Asoka).
Khi Đức Thích Tôn còn tại thế, quốc vương
Tần Bà Sa La và A Xà Thế của nước Ma Kiệt Đà, thuộc vương triều Sisunàga (Thi
Tu Na Già); cách vài đời sau thì vương triều Sinunàga được thay thế là vương
triều Nanda (Nan Đà); kế tiếp vương triều Nanda là vương triều Maurya (Khổng
Tước).
Nước Ma Kiệt Đà, vì có dã tâm mong nắm quyền
bá chủ Trung Ấn, nên khi Đức Thích Tôn ở thời kỳ vãn niên, vua A Xà Thế đã ra
lệnh kiến thiết thành trì ở vùng Pàtaliputtra (Ba Sất Ly Tử), để chinh phạt
giòng họ Licchavi (Ly Xa Tỳ), sát nhập nước này vào nước mình dần dần uy thế
của vua trở nên mạnh, rồi nắm quyền bá chủ Trung Ấn.
Vào khoảng cuối thế kỷ thứ IV trước kỷ
nguyên, đại đế Alexander nước Hy Lạp đem quân quấy nhiễu phía Tây Ấn Độ, lúc
đó đang là đời vua Chandragupta (Chiên Đà La Cấp Đa), thuộc vương triều Khổng
Tước. Vua nhân cơ hội đó, đem quân tiến lên phía Bắc Ấn, dẹp được loạn quân Hy
Lạp lại thừa thế đem quân đánh dẹp cả bốn phương, thống nhất được lãnh thổ Bắc
Ấn, Trung Ấn và Tây Ấn, kiến thiết một đại đế quốc. Lần thứ hai, cũng tương tự
như Alexander, vua nước Ba By Lon là Seleucos đem quân xâm nhập Bắc Ấn, vua
Chandragupta lại cùng với Seleucos chiến đấu thắng lợi; vua Seleucos phải tặng
lãnh thổ ở Tây bộ sông Ấn Độ và gả con gái để cầu hòa. Đồng thời Seleucos lại
phải khiến sứ thần Megasthene, trú tại Hoa Thị Thành, thủ phủ nước Ma Kiệt Đà
đương thời để giao hảo thân thiện giữa hai nước.
Sau, con vua Chandragupta là Tân Đầu Sa La
(Bindusàra), nối đại nghiệp của phụ vương, rất khéo trị thế, nên các đời vua
của Hy Lạp đều tiếp tục thân thiện và thay đổi sứ thần ngoại giao. Ấy cũng vì
lý do đó, mà văn minh của hai nước Ấn Độ và Hy Lạp, mỗi ngày một tiếp xúc và
ảnh hưởng lẫn nhau, tạo thành một nền văn minh phồn thịnh cho Ấn Độ đương
thời. A Dục Vương đây tức là con của vua Tân Đầu Sa La, và là vương vị thứ III
của vương triều Khổng Tước.
Về đường giao thông xưa vì chưa thuận lợi,
nên ở quãng yếu lộ giữa trung tâm của Bắc Ấn và Trung ương bộ của Ấn Độ có
nước Đức Xoa Thi La (Taksasila), cổ lai là nơi văn hóa sớm được triển khai,
học thuật tiến bộ, nhân dân phong phú, nhưng vì ở cách xa thủ phủ Hoa Thị
Thành, nên uy lịnh của trung ương không đạt tới, thường thường hay dấy ra
những cuộc phản loạn. Vì thế Tân Đầu Sa La liền chọn những người thông minh
anh tuấn trong các hàng vương tử, tuyển nhậm làm chức quan Thái thú ở các địa
phương.
Ngoài ra, thành Ô Xà Diễn Ni (Ujjayanì) của
Tây Ấn Độ cũng là một yếu lộ giao thông cho các nước phương Tây, và là nơi rất
quan trọng để tập tán nền kinh tế. Vì lẽ đó, nên Vương tử A Dục được bổ nhậm
làm quan Thái thú ở Bắc Ấn Độ, và Vương tử lại phái khiển bộ hạ nhậm chức Thái
thú ở thành Ô Xà Diễn Ni.
Cách vài năm sau, Vương tử A Dục được tin
cấp báo là Phụ vương bị bệnh nặng, liền lập tức trở về Hoa Thị Thành. Sau khi
Phụ vương mất, các hàng vương tử sinh ra tranh nhau vương vị trong khoảng bốn
năm trường. Sau cùng, Vương tử A Dục thắng lợi, lên nối ngôi vua, thống nhất
được ba miền Trung, Bắc, Tây Ấn Độ, bỗng trở thành một vương vị của một Đại đế
quốc.
Về niên đại tức vị của A Dục Vương có nhiều
thuyết khác nhau(1).
Nhưng đại khái ở vào khoảng Đức Thích Tôn diệt độ sau 218 năm, tức là 267 năm
trước kỷ nguyên.
A Dục Vương lên ngôi được chín năm, vì mục
đích thống nhất toàn Ấn Độ, nên vua đem quân chinh phạt nước Kalinga (Yết Lăng
Già) ở Nam Ấn Độ. Nhưng vì nước này là một đại cường quốc của Nam Ấn, trong
nước có rất nhiều dũng sĩ, phải đánh dẹp rất là gian nan vất vả, đôi bên đều
hao tổn rất nhiều tướng tá, binh sĩ. Kết cục, sau A Dục Vương đại thắng, thống
nhất toàn lãnh thổ Ấn Độ, uy tín của vua lừng lẫy khắp trong và ngoài nước.
Sau khi
chiến tranh kết liễu, vua rất buồn phiền và hối hận về sự thảm hại của chiến
tranh gây ra, nên đã phải giết hại biết bao lương dân vô tội, để lại biết bao
nhiêu là cô nhi quả phụ khổ cực. Vì thế, muốn để sám hối những tội lỗi đã gây
ra, nên vua quyết ý tin theo Phật giáo.
Về nhân
duyên tin theo Phật giáo của vua, một là nhờ vào nội nhân tức là chán ghét sự
chinh phạt, hai là nhờ sự giáo hóa của các vị Tỷ-khưu Ni Câu Luật (Nigrodha)
và Hải (Sémudra), nên vua biết tỉnh ngộ và phát nguyện hộ trì Phật giáo. Để tỏ
lòng chán ghét chiến tranh và hối hận việc đã làm nên vua ban bố sắc lệnh đại
lược như sau:
“Thiên Ái
Thiện Kiến Vương (Devànapìyapiyadasi, tên riêng của vua A Dục), tức vị năm thứ
9, chinh phạt nước Kalinga, bắt sống 15 vạn người, giết hại 10 vạn người, và
số người chết về tật dịch đói khát gấp bội. Kể từ ngày thôn tính nước Kalinga
tới đây, Thiên Ái rất nhiệt tâm hộ trì Đạt Ma để truyền bá khắp nơi. Nay đoái
lại những sự sát phạt, bắt bớ, và những sự giết hại ở nước Kalinga, Thiên Ái
rất lấy làm đau lòng đáng hối hận”.
Sau khi tin theo Phật giáo, lòng tín ngưỡng
của vua ngày một tăng, nên lại càng nhiệt tâm hộ trì Phật giáo. Tức vị tới năm
thứ 2, vua lại phát tâm thọ giới Ưu-bà-tắc, ngộ được chính trí, năm thứ 12,
thường thường công bố nhiều sắc lệnh chấn hưng Phật giáo. Vua tự mình bỏ nghề
chơi săn bắn, hạ lệnh cấm sát sinh, bảo hộ các loài sinh vật, giảm bớt các đồ
xa hoa, thường thường nghe các bậc Đại đức thuyết pháp, và đặt những đại trai
cúng dường.
Tức vị tới năm thứ 18, vua lại hết sức ủng
hộ việc kết tập kinh điển lần thứ III tại Hoa Thị Thành. Năm sau, vua phái
khiển các bậc Đạo sư thạc học đi các nước truyền đạo Phật; năm sau nữa, lại tự
mình đi chiêm bái các Phật tích, và dựng các bia tháp kỷ niệm.
Ngoài ra,
vua còn ra sắc lệnh kiến thiết nhiều chùa tháp, làm nhiều việc từ thiện, tận
tụy với công việc tuyên dương Chánh Pháp. Tới khi tuổi già, vua giao phó tất
cả mọi công việc chính trị cho hoàng tộc và các quan đại thần đảm nhiệm, tự
mình chuyên việc tu trì. Vua tại vị được 41 năm, thọ 70 tuổi.
2. SỰ NGHIỆP CỦA
VUA ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO.
- Các sử gia thường thường đem so sánh về sự
nghiệp của A Dục Vương đối với Phật giáo, còn hơn cả về sự nghiệp của đại đế
Constantine của La Mã bảo hộ Thiên Chúa giáo. Nay kể đại khái về sự nghiệp của
vua như sau:
Sự nghiệp
ban bố sắc lệnh.
- Vua tức vị từ năm thứ 12 cho tới năm thứ 39, trong
khoảng 27 năm, thường thường đã bố cáo nhiều sắc lệnh. Những sắc lệnh này đã
được khắc vào các hang núi, cột đá hay bia đá, mà ngày nay đã phát hiện được ở
nhiều nơi, trong toàn cõi Ấn Độ. Những sắc lệnh đó thật là những cống hiến sử
liệu quý báu cho các sử gia, các nhà học giả khảo cổ, để biết được ảnh hưởng
của Phật giáo, biết được phạm vi và thế lực của vua lúc đương thời.
Sự nghiệp
truyền đạo.
- Sau khi chinh phạt nước Kalinga, vua đã thắng lợi bằng võ
lực, nhận chân được sự thảm hại của chiến tranh.
Nhưng sự thắng lợi chân thật của vua là Đạt
Ma, tức là thắng lợi về chánh pháp. Để thực hiện về sự thắng lợi này, nên
trong khoảng năm tức vị thứ 13 và 14, vua đã phái khiển các bậc Chánh pháp Đại
quan (Dhamma Mahàmàtà) đi truyền đạo Phật ở khắp trong nước và ngoài nước, để
khuyến tưởng sự an lạc cho nhân dân, hạnh phúc cho nhân loại. Các nước mà vua
đã phái khiển các Đại quan đến truyền đạo như: Hy Lạp, Ai Cập, Syria, và hầu
hết các địa phương ở Đông bộ duyên ngạn Địa Trung Hải; các nước thuộc phương
Bắc như: Aparàntaka, Kamboja; phương Nam như: Pulinda, Bhoja, Pitinika,
Andhra, Cola, Pàndya và Tambapanni. Đặc biệt việc phái khiển Đại quan truyền
đạo tới Tambapanni (Tích Lan) là ngài Mahinda (Mahendra, tên tiếng Pàli) lại
là con của vua. Vị này có nhiều công lao xây nền đắp móng cho Thượng tọa bộ
thuộc Nam phương Phật giáo.
Sự nghiệp
từ thiện và đạo đức. - Vua đã ban bố những sắc lệnh: trồng các cây dược
thảo để chữa bệnh cho nhân dân; đào các giếng bên đường để lấy nước cho người
và động vật uống, dùng; lập các “Thí liệu viện” để chữa bệnh và nuôi người già
yếu tàn tật.
Tức vị năm thứ mười hai, vua hạ sắc lệnh cho
các địa phương, cứ mỗi năm năm một lần, quan và dân phải tề tập để mở Vô giá
Đại hội (Anusamayàna), nghĩa là trong cuộc tập hội, phải cúng dường các
Sa-môn, Bà-la-môn; tôn trọng tính mệnh các sinh vật; tránh các việc xa hoa,
bạo ác, phóng đãng; tôn kính cha mẹ, sư trưởng, bậc già cả; hòa mục với thân
thích bè bạn; lân mẫn những người tàn tật; thương yêu những kẻ nô lệ, tôi tớ,
và phải khuyến hóa lẫn nhau làm điều thiện.
Sự nghiệp
chiêm bái Phật tích.
- Sau khi quy y Phật giáo, vua thường thỉnh
các Đại đức, Trưởng lão vào trong cung để hỏi đạo, nghe pháp. Có một khi vua
được nghe pháp một vị thạc học là Ưu Ba Cấp Đa (Upagutta) ở núi Ưu Lâu Mạn Đà
(Urumanda), nhờ sự chỉ giáo của Ngài, nên vua phát nguyện đi tuần bái các nơi
Phật tích. Trước hết, vua đến chiêm bái vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Đức Phật giáng
sinh. Ở nơi đây, vua đã sai dựng một cột đá kỷ niệm, để ghi cái ý nghĩa chiêm
bái của vua. (Cột đá này, về bộ phận trên đã bị mai một, nhưng bộ phận dưới,
các nhà khảo cổ đã phát quật được ở năm 1897, có ghi chép nhiều di văn, cống
hiến nhiều tài liệu quan trong cho lịch sử). Thứ nữa, vua lần lượt đi chiêm
bái thành Ca Tỳ La Vệ, cố quốc của Đức Phật; thôn Ưu Lâu Tần La, nơi tu hành
khổ hạnh; Bồ Đề đạo tràng, nơi Phật thành đạo; vườn Lộc Dã, nơi Phật sơ chuyển
pháp luân; và rừng Sa la Song thọ, nơi Đức Phật tịch diệt. Ở các nơi kể trên,
vua đều sai xây tháp để cúng dường. Sau cùng, vua đến thăm di tích Kỳ Viên
tinh xá, nơi có các tháp của các vị đại đệ tử Phật như: Ngài Xá Lợi Phất, Mục
Kiền Liên, Đại Ca Diếp, A Nan Đà.
Ngoài ra, vua còn sai xây dựng nhiều Già lam
và Bảo tháp. Căn cứ vào Bắc truyền Phật giáo, tổng số chùa tháp có tới 8.400
ngôi.
III. SỰ KẾT TẬP KINH ĐIỂN LẦN THỨ BA
Sự nghiệp
trọng yếu của A Dục Vương đối với Phật giáo còn là việc kết tập kinh điển lần
thứ III tại Hoa Thị Thành (Pataliputra). Vì vua tín ngưỡng Phật giáo, nên
nhiều Già lam được kiến trúc, số Tăng Ni ngày một đông. Trong số Tăng chúng,
có nhiều người ngoại đạo cũng trà trộn vào làm Tăng, nên trong tâm vẫn hướng
về tư tưởng ngoại đạo, gây ra nhiều mối phân tranh, trong chúng không hòa hợp,
khó lòng mà phân biệt được chơn ngụy, phàm thánh. A Dục Vương thấy thế, rất lo
ngại cho tiền đồ Phật pháp, liền quyết ý, muốn xác định lại giáo điều của Đức
Thích Tôn, trong lúc ấy, có ngài Mục Kiền Liên Tử Đế Tu (Moggalipputa Tissa)
ẩn dật ở núi A Hô Hằng Già (Ahogànga), vua liền sai sứ đến triệu thỉnh. Ngài
Đế Tu vâng sắc lệnh của vua, tuyển bạt 1000 người trong Tăng chúng, tề tập tại
Hoa Thị Thành, để kết tập lại kinh điển. Kỳ kết tập này đúng ở năm vua tức vị
thứ 18, chỉ có trong 9 tháng thì hoàn thành.
Nội dung của kỳ kết tập này gồm đủ Tam tạng:
Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Tương truyền Luận tạng tức là “Thuyết sự”
(Kathàvatnu) do ngài Đế Tu tự trước tác, để thuyết minh sự lý luận giữa ngoại
đạo với Phật giáo. Nhưng kỳ kết tập lần thứ III này chỉ thấy lưu truyền ở Nam
phương Phật giáo; ở Bắc phương Phật giáo không thấy ghi chép rõ ràng. Căn cứ
vào ký lục của hai ngài Pháp Hiển và Huyền Trang, thấy có ghi chép nơi kết tập
kỳ I và kỳ II, nhưng không thấy ghi tràng sở kết tập kinh điển lần thứ III.
CHƯƠNG THỨ HAI. GIÁO ĐOÀN PHÂN
PHÁI
I. SỰ ĐỐI LẬP CĂN BẢN CỦA HAI BỘ
Mối phân liệt căn bản của Giáo đoàn Phật
giáo là do sự đối lập của Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ, rồi từ hai bộ này đã
chia thành nhiều mạt phái, gồm có 20 bộ, đó là sự phân phái của Tiểu thừa.
Niên đại của
sự đối lập căn bản này có nhiều thuyết khác nhau, nhưng tài liệu căn cứ rõ
ràng hơn, là ở thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ II tại Phệ Xá Ly thành,
khoảng Đức Thích Tôn diệt độ sau 100 năm.
Về nguyên
nhân đối lập là do việc nghị luận mười điều phi pháp hay hợp pháp, ở thời kết
tập lần thứ II, và năm nghĩa mới của Đại Thiên (Mahadeva, Ma Ha Đề Bà, Hán
dịch là Đại Thiên). Nguyên nhân phân phái, nếu căn cứ vào Nam truyền thì do
mười điều phi pháp; căn cứ vào Bắc truyền thì do Tân thuyết của Đại Thiên.
Vì nguyên nhân đối lập, nên Giáo đoàn Phật
giáo chia làm hai là Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ. Hai bộ phái này đều là đại
biểu quan trọng cho Tiểu thừa Phật giáo. Các bậc Trưởng lão thuộc khuynh hướng
bảo thủ lập thành Thượng Tọa bộ; Đại Chúng bộ thuộc khuynh hướng cách tân, lập
thành Đại Chúng bộ. Trong phần tử của hai luồng tư tưởng này, vì không thu
dụng lẫn nhau, phát sinh ra nhiều tư tưởng mới, nên lại phân tán thành nhiều
phái khác.
Mười điều phi pháp, đã thuật ở kỳ kết tập
lần hai, thì quan hệ về một bộ phận của giới luật; trái lại, tân thuyết của
Đại Thiên đề xướng thì quan hệ về phương diện thành quả. Tóm lại, nguyên nhân
phân phái về Giáo hội là do mười điều phi pháp; nguyên nhân phân liệt về giáo
lý là giáo nghĩa tân thuyết của Đại Thiên.
Niên đại về nguyên nhân đối lập của Giáo hội
thì ở thời kỳ Đức Thích Tôn diệt độ khoảng sau 100 năm; nhưng niên đại đối lập
về giáo lý không được rõ ràng. Vì niên đại xuất thế của ngài Đại Thiên có
nhiều thuyết khác nhau: khoảng Đức Thích Tôn diệt độ sau hơn 100 năm, sau 116
năm và sau hơn 200 năm. Căn cứ vào sử liệu, thì niên đại xuất thế của ngài
Đại Thiên cùng với niên đại xuất thế của A Dục Vương, nghĩa là vào khoảng hơn
200 năm, sau khi Đức Thích Tôn nhập diệt.
Phần lịch sử của ngài Đại Thiên cũng không
biết được rõ ràng. Nhưng căn cứ vào Luận Đại Tỳ Bà Sa, thấy chép đại khái:
“Trước kia ở nước Ma Thâu La (Mathura) thuộc Trung Ấn Độ, có người con của
thuyền chủ tên là Đại Thiên (Mahadeva), tới tuổi trưởng thành, đi xuất gia tu
đạo, bẩm tính thông minh, tinh thông Tam tạng, chứng được quả A-la-hán, trong
chúng trên dưới, hết đều tôn kính. Nhưng có một hôm, hội họp Bố-tát tại chùa
Kê Viên (Kukhutarama), Đại Thiên liền đối trước chúng, nói một bài kệ, gồm có
năm việc, và tới trước Đại chúng nói rằng: “Khi Phật còn tại thế, chư Thiên và
Tứ chúng nói ra, đều phải được Phật ấn chứng, mới gọi là Kinh, nay Phật đã
diệt độ, nếu trong Đại chúng, có người thông minh, có tài thuyết pháp, cũng có
thể trước tác được “Kinh điển”.
Vì lý do
trên, nên trong Đại chúng, hết thảy đều kinh ngạc, đem việc đó ra tranh luận
và cho lời của Đại Thiên nói là vọng thuyết. A Dục Vương thấy vậy, liền sai sứ
thần tới làm trung gian hòa hợp, nhưng đôi bên đều không nghe. Đại chúng phần
đông công nhận về tân thuyết của ngài Đại Thiên, lập thành Đại Chúng bộ, thiểu
số theo về Kỳ túc Thượng tọa lập thành Thượng Tọa bộ. Nên Giáo đoàn Phật giáo
phân liệt làm hai. Thượng Tọa bộ giữ khuynh hướng bảo thủ, lấy nước Ca Thấp Di
La (Kasmira) thuộc Bắc Ấn Độ, làm địa điểm trung tâm truyền đạo; Đại Chúng bộ
tin theo thuyết mới của Đại Thiên, có khuynh hướng tiến bộ, lấy vùng Trung Ấn
Độ làm địa điểm trung tâm truyền đạo.
Về năm tân thuyết của Đại Thiên, Nam truyền
và Bắc truyền giải thích có đôi chút khác nhau. Nay căn cứ vào bộ “Dị Bộ Tôn
Luân Luận” giải thích bài kệ của ngài Đại Thiên đã nói: “Dư sở dụ vô tri; do
dự tha linh nhập; đạo nhân thanh cố khởi, thị danh chân Phật giáo”, đại lược
như sau:
1. Dư sở
dụ.
- Tới bậc
A-la-hán thì đoạn diệt hết mọi phiền não, nhưng vì còn có nhục thân, nên vấn
đề sinh lý không phải là đã hết hẳn, trong khi thụy miên, bị ác ma dụ hoặc,
cũng vẫn có lậu thất.
2. Vô
tri.
- Dù
A-la-hán đã đoạn diệt được vô minh, nhưng không phải là đã biết hết tất cả.
A-la-hán thì thấu suốt được mọi phiền não chướng ngại và lý tưởng giải thoát,
nhưng đối với công việc thông thường của thế tục, cũng có nhiều trường hợp
không biết hết.
3. Do dự.
-
Tới bậc A-la-hán thì không sinh ra nghi hoặc (do dự) về sự tu hành giải thoát,
nhưng có sinh ra nghi hoặc với công việc thường xuyên của thế tục, là làm thế
nào là hợp lý, thế nào là không hợp lý.
4. Tha
linh nhập.
- Bậc A-la-hán cần phải có Phật hay bậc Sư trưởng chỉ bảo, rồi
mới biết là mình đã chứng ngộ.
5. Đạo
nhân thanh cố khởi.
- (Đạo nương vào âm thanh mà sinh). Do tâm cảm thấy khổ,
thốt ra tiếng khổ thay! Nên cảm thống thiết thấy cuộc đời là khổ, vô thường,
vô ngã, do thế mà đạt được Phật đạo. Đại Thiên cho năm thuyết này là hợp với
Phật giáo.
Y vào năm
thuyết kể trên, ta nhận thấy về lý tưởng của A-la-hán thuộc cảnh giới Tiểu
thừa, hãy còn khuyết điểm, nên đã nẩy nở ra tư tưởng đó, để chỉ trích về lý
tưởng của A-la-hán, và cũng là manh nha cho tư tưởng Đại thừa.
Tóm lại, sự
đối lập căn bản của hai bộ khởi nguyên cho sự phân liệt của Giáo đoàn Phật
giáo là ở hai thời kỳ: thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ hai tại Phệ Xá Ly
thành; Đức Thích Tôn diệt độ khoảng sau 100 năm là thời kỳ đối lập về Giáo
hội; thời kỳ Đức Thích Tôn diệt độ khoảng sau hơn 200 năm, do sự phân tranh
nghi luận về năm tân thuyết của Đại Thiên, là thời kỳ đối lập về giáo lý của
Phật giáo.
II. SỰ PHÂN LIỆT VỀ MẠT PHÁI
CỦA HAI BỘ
Y vào mười điều phi pháp ở thời kỳ kết tập
lần thứ hai, nên sinh ra sự đối lập về Giáo hội; nương vào năm tân thuyết của
Đại Thiên, nên sinh ra sự đối lập về giáo lý. Giáo đoàn Phật giáo vì mối phân
liệt ngày một triển khai, khuynh hướng tự do ngày một nẩy nở, tân tư tưởng bột
hưng, nên lại sinh ra nhiều dị nghĩa, dị thuyết, phân môn rẽ phái ngày một
nhiều, đều bắt nguồn từ hai phái căn bản là Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ.
Về niên đại phân liệt của mỗi bộ phái, theo
Nam truyền, thì từ khoảng Phật diệt độ sau 100 năm đến hơn 200 năm. Theo Bắc
truyền, thì ở khoảng Đức Thích Tôn diệt độ sau 100 năm tới 200 năm, có sự phân
liệt về mạt phái của Đại Chúng bộ; từ lúc Đức Thích Tôn diệt độ khoảng sau 200
năm tới 300 năm, có sự phân liệt về mạt phái của Thượng Tọa bộ. Số mục của các
bộ phái, theo Nam truyền gồm có 24 bộ, theo Bắc truyền, có hai thuyết, 18 bộ
hoặc 20 bộ. Tên gọi của các bộ, có sự sai khác nhau giữa Nam truyền và Bắc
truyền, nhưng căn cứ vào bộ “Dị Bộ Tôn Luân Luận” thì các phái gồm cả bản mạt
có 20 bộ.
Sự phân liệt của mạt phái, trước hết bắt
nguồn từ nội bộ của Đại chúng. Vì bộ này rất phong phú, tư tưởng tự do, nên
lần thứ nhất phát sinh ra ba bộ: Nhất Thuyết, Xuất Thế, Kê Dận; lần thứ hai
phát sinh ra Đa Văn bộ; lần thứ ba phát sinh ra Thuyết Giả bộ; lần thứ tư lại
phát sinh ra ba bộ: Chế Đa Sơn, Tây Sơn trụ, Bắc Sơn trụ, gồm cả bản mạt là
chín bộ, thời gian phân liệt trong vòng 100 năm, kể từ khoảng sau khi Phật
diệt độ 100 năm tới 200 năm.
Về mặt khác, Thượng Tọa bộ sau khi thoái ẩn
về nước Ca Thấp Di La, giữ khuynh hướng bảo thủ, quý trọng lối truyền thừa,
tôn trọng sự hòa hợp. Nhưng vì chịu ảnh hưởng phân liệt của Đại Chúng bộ, nên
khuynh hướng bảo thủ truyền thừa cũng bị thay đổi, nên từ khoảng Đức Thích Tôn
diệt độ sau 200 năm tới 300 năm, trong vòng 100 năm này đã chia thành 11 bộ
(mười một bộ). Tức là, hồi thứ nhất phát sinh ra Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ; hồi
thứ hai từ Hữu bộ phát sinh ra Độc Tử bộ; hồi thứ ba từ Độc Tử bộ sinh ra bốn
bộ: Pháp Thượng bộ, Hiền Trụ bộ, Chính Lượng bộ và Mật Lâm bộ; hồi thứ năm, từ
Hóa Địa bộ phát sinh ra Pháp Tạng bộ; hồi thứ sáu cũng lại từ Hữu bộ phát sinh
ra Ẩm Quang bộ; hồi thứ bảy cũng lại từ Hữu bộ phát sinh ra Kinh Lượng bộ. Căn
bản Thượng Tọa bộ, sau khi phân ra Hữu bộ, thế lực bị suy kém, phải nhường căn
cứ địa truyền đạo là nước Ca Thấp Di La cho Hữu bộ, rồi về ẩn dật ở núi Tuyết
Sơn, nên lại có tên là Tuyết sơn bộ. Về hệ thống phân phái, căn cứ vào bộ “Dị
Bộ Tôn Luân Luận” theo như biểu đồ sau:
1. Đại Chúng
bộ (Mahàsamghikàh)
2. Nhất
Thuyết bộ (Ekavyavahàrikàh)
3. Thuyết
Xuất Thế bộ (Lokottaravàdinàh)
4. Kê Dận bộ
(Kaukkutikàh)
5. Đa Văn bộ
(Bàhusrutìyàh)
6. Thuyết
Giả bộ (Prajnàptivàdinàh)
7. Chế Đa
Sơn bộ (Caityasailàh)
8. Tây Sơn
Trụ bộ (Aparasailàh)
9. Bắc Sơn Trụ bộ (Uttarasailàh)
1. Thượng Tọa bộ (Sthaviràh, sau là Tuyết Sơn bộ (Haima-vàtàh)
2. Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ (Saivàstivàdàh), còn gọi là Thuyết
Nhân bộ (Hetuvàdàh)
3. Độc Tử bộ (Vàtsìputriyàh)
4. Pháp Thượng bộ (Dharmottariyàh)
5. Hiền Trụ bộ (Dhadrayàniyàh)
6. Chính Lượng bộ (Sammitìyàh)
7. Mật Lâm Sơn bộ (Sandagirikàh)
8. Hóa Địa bộ (Mahìsàsakàh)
9. Pháp Tạng bộ (Dharmaguptakàh)
10. Ẩm Quang bộ (Kàsyapìyàh), còn gọi là Thiện Tuế bộ
(Suvarsakàh)
11. Kinh Lượng bộ (Sautràntikàh), còn gọi là
Thuyết Chuyển bộ (Samkràntivàdàh)
Các phái như trên được phân chia đều vì tư
tưởng đối lập, vì nhân duyên bất hòa, nên đã bị chia ra. Các nhân duyên đó đại
lược như sau:
1. ĐẠI CHÚNG BỘ.
- Trước hết, từ Đại Chúng bộ phát
sinh ra ba bộ: “Nhất Thuyết bộ, Thuyết Xuất Thế bộ và Kê Dận bộ”. Nguyên vì
Đại Chúng bộ, trong khi lưu trụ tại nước Ương Quật Đa La (Angottara) thuộc
phương Bắc thành Vương Xá, đề xướng ra vấn đề nghiên cứu giáo nghĩa của các
kinh điển Đại thừa như: Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Thắng Man, Duy Ma v.v... Nhưng
trong Đại chúng có phe thuận và không thuận, nên phân ra hai bộ Nhất Thuyết và
Thuyết Xuất Thế.
Kê Dận
bộ.
- Bộ này chủ
trương Kinh tạng và Luật tạng là giáo pháp phương tiện giả thiết của Đức Thích
Tôn, duy có Luận tạng là giáo lý chân thật, vì Luận tạng được giải thích nghĩa
lý tinh vi rõ ràng, vì thế nên lập thành bộ riêng.
Đa Văn
bộ.
- Khi Đức
Thích Tôn còn tại thế, có vị A-la-hán tên Từ Bi Y (Yàjnavalkya), trước khi Đức
Thích Tôn diệt độ, vào nhập định ở trong núi Tuyết Sơn, sau khi Đức Thích Tôn
diệt độ khoảng 200 năm, từ thiền định ra khỏi núi Tuyết Sơn, đi tới nước Ương
Quật Đa La, chủ trương nghĩa thiển thám của ba tạng. Nghĩa là Đại Chúng bộ,
mới chỉ hoằng truyền nghĩa nông cạn của ba tạng, chưa hoằng về nghĩa thâm thúy
của ba tạng, vì thế nên biệt lập thành một bộ để nghiên cứu nghĩa thâm thúy
của Tam tạng.
Thuyết Giả bộ.
- Do ngài
Đại Ca Chiên Diên (Mahakatyayana) thuộc nước Ma Ha Lạt Đà (Mahàrattha) sáng
lập. Bộ phái này chủ trương nghĩa chân thuyết, giả thuyết, chân đế, tục đế,
nhân và quả của Phật đã nói trong ba tạng. Bộ này còn chủ trương lối giải
thích kinh điển cần phải hợp lý, và tùy nghi lựa chọn thủ xả.
Chế Đa
Sơn bộ, Tây Sơn Trụ bộ và Bắc Sơn Trụ bộ.
- Như trên đã kể, vì tranh luận về
năm điều tân thuyết của Đại Thiên, nên Giáo đoàn Phật giáo phân liệt ra Thượng
Tọa bộ và Đại Chúng bộ. Nhưng về sau trong nội bộ của Đại Chúng bộ lại đem năm
điều tân thuyết ra tranh luận, vì ý kiến bất đồng, có phe tin theo, phe không
tin theo nên lại phân liệt thành ba bộ: Chế Đa Sơn bộ, Tây Sơn Trụ bộ và Bắc
Sơn Trụ bộ.
2. THƯỢNG TỌA BỘ.
- Trước hết là Hữu bộ, từ Thượng Tọa
bộ phát sinh ra Hữu bộ. Hữu bộ chủ trương lấy Luận tạng làm bản vị, đối lập
với Thượng Tọa bộ lấy Kinh tạng làm bản vị, không thiên trọng về Luật tạng và
Luận tạng. Vì Thượng Tọa bộ cho rằng, Luật vì y vào người, nên có sự bất định
về nghĩa khai (khoan dung), giá (nghiêm cấm), luận để giải thích về Kinh tạng,
nhưng thường thường đi xa với nghĩa căn bản của nó, nên lấy Kinh tạng làm tiêu
chuẩn. Sau khi Đức Thích Tôn diệt độ khoảng 300 năm, có ngài Ca Chiên Diên Tử
(Katyayaniputra) ra đời, tuy cũng có hoằng truyền cả về Kinh tạng và Luật
tạng, nhưng thiên trọng Luận tạng, lập ra Hữu bộ, lấy Luận tạng làm bản vị.
Độc Tử bộ còn gọi là Trụ Tử bộ.
-
Bộ này cũng lấy Luận tạng làm bản vị, nhưng sở y về Luận tạng khác với Hữu bộ.
Ngài Độc Tử (Vàtsíputra) là đệ tử ngài La Hỗ La, ngài La Hỗ La là đệ tử ngài
Xá Lợi Phất, căn cứ về nghĩa luận cũng khác với nội dung của bộ Luận A Tỳ Đàm
do ngài Xá Lợi Phất đã nói. Vì thế nên ngài Độc Tử biệt lập thành một bộ gọi
là Độc Tử bộ.
Pháp
Thượng bộ, Hiền Trụ bộ, Chính Lượng bộ, Mật Lâm Sơn bộ.
- Bốn bộ này
cũng lấy Luận tạng làm bản vị, được phân xuất từ Độc Tử bộ. Nguyên vì trong
khi giải thích về A Tỳ Đàm luận của ngài Xá Lợi Phất, tới chỗ nào không được
minh bạch, liền đem ý nghĩa của kinh thêm vào, nhưng có nhiều ý kiến bất đồng,
nên chia ra làm bốn bộ này:
Hóa Địa
bộ.
- Bộ này
cũng từ Hữu bộ mà biệt lập, sau khi Phật diệt độ 300 năm. Ngài Hóa Địa xuất
thân từ giòng họ Bà-la-môn, thông đạt mọi giáo nghĩa của kinh điển Phệ Đà. Sau
đi xuất gia, chứng được quả A-la-hán, trong khi giảng đọc kinh điển, nếu chỗ
nào còn thiếu sót, lại đem lời văn của kinh điển Phệ Đà và văn điển Phạn ngữ
để tu sức, như là lời Phật nói. Sau khi ngài Hóa Địa mất, đệ tử của ngài lập
thành một bộ riêng, lấy tên là Hóa Địa bộ.
Pháp Tạng
bộ.
- Bộ này từ
Hóa Địa bộ phát sinh. Nguyên vì Pháp Tạng (Dharmagupta), đệ tử ngài Mục Kiền
Liên, thường thường đi theo thầy và ký ức tất cả những điều gì thầy đã nói.
Sau khi thầy mất, ngài đem chia kinh điển làm năm tạng: Kinh tạng, Luật tạng,
Luận tạng, Chú tạng và Bồ tát tạng, vì thế nên biệt lập thành một bộ.
Ẩm Quang bộ.
- Ngài Ẩm
Quang (Kàsyapa) đã chứng quả A-la-hán, trong khi thuyết pháp, đem lời Phật đã
nói, chia làm hai bộ phận. Một bộ phận để đả phá thuyết ngoại đạo, một bộ phận
để đối trị phiền não cho chúng sinh, chủ trương thuyết “Phá tà hiển chánh”. Vì
nhân duyên đó, nên biệt lập thành một bộ riêng.
Kinh
Lượng bộ.
- Mục đích của bộ này là phục cổ, để tái lập cái lập trường
bản lai của Thượng Tọa bộ. Nghĩa là không y vào Luật tạng và Luận tạng, chỉ y
vào Kinh tạng làm tiêu chuẩn.
CHƯƠNG THỨ BA. GIÁO NGHĨA
CỦA CÁC BỘ PHÁI
I. GIÁO NGHĨA CỦA THƯỢNG TỌA
VÀ HỮU BỘ
1. LỜI BÀN
TỔNG QUÁT.
- Về giáo
nghĩa của các bộ phái, trừ Hữu bộ ra, còn đều y vào bộ “Dị Bộ Tôn Luân Luận”
của ngài Phiệt Tô Mật Tử La (Vasumitra) trước tác, ở khoảng thế kỷ II, do ngài
Huyền Trang dịch; và các bản dịch khác như “Thập Bát Bộ Luận”, ngài La Thập
dịch; “Bộ Chấp Dị Luận”, ngài Chân Đế dịch, mà biết được một phần nào giáo
nghĩa đại cương.
Về giáo nghĩa của Thượng Tọa bộ, là giáo
nghĩa Nguyên thủy Phật giáo, những giáo nghĩa của Hữu bộ thì nương vào sự tiến
triển của giáo lý Nguyên thủy Phật giáo và sự biến thiên của nó, vì vậy chỉ
nói về giáo nghĩa của Hữu bộ, cũng có thể suy biết được giáo lý của Thượng Tọa
bộ.
Về nguyên
nhân từ Thượng Tọa bộ phát sinh ra Hữu bộ như ở chương thứ hai đã thuật, ở
thời kỳ Đức Thích Tôn diệt độ sau 300 năm, có ngài Ca Đa Diễn Ni Tử (Ca Chiên
Diên Tử), chủ trương lấy Luận tạng làm bản vị, để đối lập với Thượng Tọa bộ
lấy Kinh tạng làm bản vị. Ngài Ca Đa Diễn Ni Tử tự sáng tác ra bộ “A Tỳ Đạt Ma
Phát Trí Luận” (Abhidharma Jnànaprasthàna Sàstra, 20 quyển), để làm nền tảng
giáo lý của Hữu bộ. Vì thế nên giáo tổ của Hữu bộ là Ca Đa Diễn Ni Tử, giáo lý
căn bản của Hữu bộ là “Phát Trí Luận”. Ngoài Phát Trí Luận ra, như “Lục Túc
Luận” cũng là các bộ luận sở y của Hữu bộ. Lục Túc Luận: (1) A Tỳ Đạt Ma Tập
Dị Môn Túc Luận (Abhidharma Sanjìtiparyàpàdá Sàstra, 20 quyển), tương truyền
do ngài Xá Lợi Phất chế tác trong khi Đức Thích Tôn còn tại thế. (2) A Tỳ Đạt
Ma Pháp Uẩn Túc Luận (Abhidharma Dharma Skandhapàda Sàstra, 12 quyển), do ngài
Mục Kiền Liên sáng tác. (3) A Tỳ Đạt Ma Thi Thiết Túc Luận (Abhidharma
Prajnàtipàda Sàstra, 18.000 bài tụng), do ngài Đại Ca Chiên Diên sáng tạo. (4)
A Tỳ Đạt Ma Thức Thân Túc Luận (Abhidharma Vijnànakàyapàda Sàstra, 16 quyển),
do ngài Đề Bà Thiết Ma (Devasarman, Thiên Tịch) sáng tác, khoảng Phật diệt độ
sau 100 năm. (5) A Tỳ Đạt Ma Phẩm Loại Túc Luận (Abhidharma Prakadanapàda
Sàstra, 18 quyển). (6) A Tỳ Đạt Ma Giới Thân Túc Luận (Abhidharma Harma
Dhàtukàyapàda Sàstra, 3 quyển), hai bộ này ngài Thế Hữu soạn thuật, ở thời kỳ
sau khi Phật diệt độ hơn 200 năm (Thế Hữu, cũng cùng tên với ngài Thế Hữu
trước tác bộ “Tôn Luân Luận”, nhưng nhân vật khác nhau). Sáu bộ luận kể trên,
về phần giáo lý chỉ là một bộ phận của Phát Trí Luận, nên gọi là Lục Túc Luận,
còn Phát Trí Luận gọi là Thân Luận, đó là theo ý nghĩa bản và mạt.
Về sau, ở vương triều Ca Nhị Sắc Ca
(Kaniska), các bậc học giả của Hữu bộ, lại giải thích giáo nghĩa của “Phát Trí
Luận”, biên tập thành một bộ, gọi là “A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận”
(Abhidharma Mahàvibhàsà Sàstra, 200 quyển), trong đó thường thường có dẫn
chứng nhiều về Lục Túc Luận.
Ngài Ca Đa Diễn Ni Tử là một bậc “thạc học
trong Phật giáo, tinh thông Tam tạng, nhưng ngài không thích về chủ trương của
Thượng Tọa bộ lấy Kinh tạng làm bản vị, nên ngài lấy Luận tạng làm bản vị.
Trong khi tu trì ở chùa Ám Lâm tự (Tamasàvanasaghàràma) nước Cinabhukti (Chi
Na Bộc Để), thuộc Bắc Ấn Độ, ngài đã chế tác ra bộ “Phát Trí Luận”, lấy Bắc Ấn
Độ làm trung tâm điểm tuyên dương Phật giáo.
Ngài chủ trương lấy Luận tạng làm bản vị, vì
hai lý do, một là để đối kháng với tân thuyết của Đại chúng, một là để đả phá
hai học phái Thắng Luậnvà Số Luận của ngoại đạo, đang phục hưng lúc đương
thời, thường thường hay bài xích Phật giáo. Vì mục đích đó, nên ngài chủ
trương môn lý luận của Phật giáo cần phải được tổ chức cho vững chắc, trong
khi biện luận, thường lấy nghĩa lý của Thắng Luận và Số Luận để dẫn chứng, nên
giáo nghĩa của Hữu bộ, có hình tích ảnh hưởng về Thắng Luận, cũng như giáo
nghĩa của Đại Chúng bộ, chịu ảnh hưởng giáo nghĩa Số Luận của ngoại đạo.
2. NGÃ
KHÔNG PHÁP HỮU LUẬN.
- Giáo nghĩa của Hữu bộ, căn cứ về phương diện triết
học, là “Đa nguyên thực tại luận”. Mọi hiện tượng của các pháp, nương vào thời
gian thì phải trải qua bốn trạng thái sinh, trụ, dị, diệt, nương vào không
gian phải có sự ly, hợp, tập, tán, biến hóa vô thường, sát na sinh diệt, nhưng
thể tính của chư pháp, không có sinh diệt biến hóa, vẫn thường tồn tại trong
ba đời, giống như làn sóng, có sinh diệt biến hóa, nhưng thể tính của nước
hằng hữu, không thay đổi. Thể tính hằng hữu trong ba đời, nghĩa là các tác
dụng đang diễn ra gọi là hiện tại, các tác dụng đã qua gọi là quá khứ. Đó là
thuyết “Tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu” của Hữu bộ.
Căn cứ về lý tưởng tôn giáo là đoạn hoặc
diệt khổ để tới Niết-bàn. Vì do hoặc tạo ra nghiệp, từ nghiệp cảm sinh ra quả
khổ, vậy nên đoạn được hoặc tức là diệt được khổ. Nhưng căn bản của hoặc là do
chấp trước, nên trước hết phải phá chấp trước, tức là phá ngã chấp. Nhưng ngã
chấp vì nương vào các pháp của “Sắc” và “Tâm” mà tồn tại, nên việc phá ngã
chấp trước hết phải tu phép quán tưởng, phân tích tất cả các pháp của Sắc và
Tâm, biết được mọi pháp đều do nhân duyên hòa hợp, sát na sinh diệt, biến hóa
vô thường, đều là vô ngã. Nói tóm lại, điều kiện cốt yếu để đoạn hoặc chứng
lý, là phải liễu Ngã là Không. Vì thế nên giáo nghĩa của Hữu bộ gọi là “Ngã
Không pháp Hữu”, nói về quán là “Chiết Sắc nhập Không”, gọi tắt là “Chiết
Không Quán”.
3. PHÂN LOẠI VẠN HỮU.
- Theo
Nguyên thủy Phật giáo, thì năm uẩn là những yếu tố để thành lập thế giới, và
phân loại thế giới ra “Tam giới”, “Nhị thập ngũ hữu” là nơi y báo của chúng
sinh. Nhưng Hữu bộ, vì ảnh hưởng sự phân loại thế giới của Thắng luận phái,
nên đem chia vạn hữu thành 5 vị và 75 pháp, lập thành một tổ chức nhất định,
đó là điểm đặc biệt về giáo lý của Hữu bộ.
Trước hết,
Hữu bộ đem vạn hữu chia ra Hữu vi pháp (Samskarta) và Vô vi pháp (Asamskarta).
Hữu vi pháp thì nương vào nhân duyên sinh diệt, biến hóa. Vô vi pháp không
nương vào nhân duyên sinh diệt, bản lai thường tồn. Hữu vi pháp, vì nương vào
vật và tâm; vật tâm cùng quan hệ, và không phải vật và tâm, nên lại chia thành
bốn pháp: Sắc pháp (Rùpa), Tâm pháp (Cita), Tâm sở hữu pháp (Aitta) và Tâm bất
tương ứng hành pháp (Cittaviprayuktasamskàra), thành năm vị:
Sắc pháp.
-
Sắc pháp có mười một thứ: 5 căn (Nhãn, Nhĩ, Tỵ, Thiệt, Thân), 5 cảnh (Sắc,
Thanh, Hương, Vị, Xúc) và Vô biểu sắc (Avijnapttirùpa). Vô biểu sắc là một lực
không hình không dáng, nó huân phát ở trong thân, để đưa nghiệp nhân của hai
nghiệp thân và khẩu, cảm sinh ra nghiệp quả ở vị lai. (Vô biểu sắc thì không
phải là vật chất, nhưng vì là nơi nương tựa của sắc pháp, nên thuộc trong ngôi
sắc pháp).
Tâm pháp.
- Tâm pháp nếu đem tế phân là lục thức:
Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, nhưng đây nói về nhất tâm pháp tức là Tâm
vương.
Tâm sở hữu pháp.
- Tâm sở hữu pháp gồm có 46 pháp là
thọ, tưởng, tư v.v... thường thường theo nhịp với Tâm vương, dấy ra mọi tác
dụng, do sự quan hệ giữa Vật và Tâm, nên sinh ra tác dụng của Tâm. Tâm sở
nghĩa là Tâm sở hữu của Tâm vương.
Tâm bất tương ưng hành pháp.
- Tâm này
gồm có 14 pháp: Đắc (tác dụng kế phược), Phi đắc (tác dụng xa lìa, sinh, trụ,
dị, diệt v.v... không ăn nhịp với sắc và tâm.
Vô vi
pháp.
- Vô vi pháp
có ba thứ: Trạch diệt, Phi trạch diệt và Hư không. “Trạch diệt” nghĩa là nhờ
vào sự tuyển trạch mà được diệt độ, tức là nương vào sức tuyển trạch của trí
tuệ, lìa được mọi kết phược phiền não, chứng đặng lý Không tịch tức là
Niết-bàn. Nương vào sự đoạn được một hoặc, tức là được một trạch diệt vô vi,
đoạn hoặc trạch diệt hai bên cân đối nhau, nên có tên trừu tượng là “Trạch
diệt vô vi”. “Phi trạch diệt vô vi” thì bản lai nhất như thanh tịnh, không cần
sức lựa chọn của trí tuệ mới hiển ngộ. “Hư không vô vi” là khoảng không gian
vô tận, không có sự chướng ngại của mọi pháp, và cũng không bị mọi pháp làm
chướng ngại, có tính chất vô ngại. Vì có vô ngại tính, nên sắc pháp được tự
do, tự tại sinh diệt ở trong đó.
Biểu tóm tắt
vạn hữu, năm vị và bảy mươi lăm pháp như sau:
(5
vị) (75 pháp)
1. Sắc pháp
11 Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, sắc, thanh, hương, vị, xúc, vô biểu sắc
2. Tâm pháp
1 Tâm vương (tiếp cả 6 thức)
Đại địa pháp
10: Thọ, tưởng, tư, xúc, dục tuệ, niệm, tác ý, thắng giải, tam ma địa
Đại thiện
pháp 10: Tín, cầu, hành xả, tàm, quý, vô tham, vô sân, bất hại, khinh an,
không phóng dật
Đại phiền
não địa pháp 6: Si, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm, điệu cử
Đại bất
thiện pháp 2: Vô tàm, vô quý
Tiểu phiền
não địa pháp 10: Phẫn, phú, xan, tật, não, hại, hận, xiểm, cuống, kiêu
Bất định địa
pháp 8: Hối, miên, tầm, tứ, tham, sân, mạn, nghi
Đắc, phi
đắc, chúng đồng phận, vô tưởng quả, vô tưởng định, diệt tận định, mệnh căn,
sinh, trụ, dị, diệt, danh thân, cú thân, văn thân
5. Vô vi
pháp 3 Trạch diệt vô vi, Phi trạch diệt vô vi, Hư không vô vi.
4. BA KHOA
UẨN, GIỚI, XỨ.
- Năm vị và bảy mươi lăm pháp là đứng ở phương diện khách quan
để phân loại vũ trụ vạn hữu; ba khoa: Ngũ uẩn, Mười hai xứ, Mười tám giới là
đứng ở phương diện chủ quan để phân loại vũ trụ vạn hữu. Phật giáo cho rằng
con người chỉ là nương vào sự kết hợp phân tán của ngũ uẩn mà sinh hay diệt,
tinh thần của con người cũng hoàn toàn nương vào sự quan hệ kết hợp đó mà sinh
ra những tác dụng. Tức là ba phần căn, cảnh, thức làm nhân duyên lẫn cho nhau
mà sinh ra mọi tác dụng của tinh thần và sinh ra các pháp.
Ngũ uẩn
(Panca skandhàh). - Ngũ uẩn là năm yếu tố: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. “Sắc
uẩn” thuộc về sắc pháp trong năm vị; “Thọ”, “Tưởng”, hai uẩn thuộc về tâm sở
pháp; “Hành uẩn” trừ thọ, tưởng thuộc về các pháp của tâm sở; còn đều thuộc cả
về tâm bất tương ưng hành pháp; “Thức uẩn” thuộc về tâm pháp. Ngũ uẩn chỉ ăn
nhịp với hữu vi pháp, không thích hợp với vô vi pháp.
Mười hai
xứ
(Dvàdasa
àyatana). - Xứ là nghĩa định xứ và y xứ, tức là sáu căn và sáu trần là nơi y
cứ để sinh khởi ra tâm vương và tâm sở, sáu căn là sáu cơ quan: Nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân, ý; sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, sáu đối tượng
của sáu căn. Trừ ý căn và pháp cảnh, còn ngũ căn và ngũ cảnh thuộc sắc pháp. Ý
căn thuộc về tâm pháp (tác dụng tư lương của tâm vương). Pháp cảnh tiếp hết
thảy mọi pháp, trừ ngũ căn, ngũ cảnh và tâm vương. Mười hai xứ thì thích hợp
với tất cả các pháp hữu vi và vô vi.
Mười tám
giới
(Assstadasa
dhàtu). - Giới là nghĩa chủng tộc, vì tự tính của mười tám loại đều riêng
biệt, trở thành những chủng loại riêng, cho nên gọi Lục căn, Lục trần và Lục
thức là mười tám giới. Vì lẽ khai hợp, nên lục thức chỉ là sự triển khai từ ý
căn của mười hai xứ. Cho nên, mười hai xứ và mười tám giới đều tiếp thông với
các pháp hữu vi và vô vi. Sở dĩ một bên gọi là xứ và một bên gọi là giới, xứ
là nơi y xứ của các pháp sinh khởi, giới là nói về nghĩa tự tính của các pháp.
Danh mục của ba khoa theo như biểu đồ sau:
12 Xứ: Nhãn
xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ, sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ,
xúc xứ, pháp xứ.
18 Giới:
Nhãn giới, nhĩ giới, tỷ giới, thiệt giới, thân giới, ý giới, sắc giới, thanh
giới, hương giới, vị giới, xúc giới, pháp giới; Nhãn thức giới, nhĩ thức giới,
tỵ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới, ý thức giới
5 Uẩn: Sắc
uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.
5. TU ĐẠO VÀ CHỨNG QUẢ.
- Phép tu
đạo của Hữu bộ chia làm ba bậc: (1) Kiến đạo (Darsana màrga), nương vào sức
tuyển trạch của trí tuệ, biết được lý của Tứ đế, đoạn hết được phần Kiến hoặc.
(2) Tu đạo (Bhavanà màrga), đem tuệ lực để tu tập lý của Tứ đế, đoạn hết được
Tư hoặc, (3) Vô học đạo (Asaiksa màrga), không còn phải đoạn phiền não, đạt
tới bậc Vô học.
Vì nương vào căn cơ của người tu hành, nên
lại chia ra thượng căn, trung căn, hạ căn, gọi là “Tam thừa”. Hạ căn là Thanh
văn thừa, nương vào lời dạy của Phật để tu hành, quán về lý của Tứ đế, chứng
được quả A-la-hán. Trung căn là Độc giác thừa (Bích chi Phật, Pratyeka
Bhuddha), tự mình quán tưởng mười hai nhân duyên mà độc ngộ, đoạn hoặc chứng
lý; còn gọi là Duyên giác thừa. Thanh văn và Duyên giác gọi là nhị thừa.
Thượng căn thuộc Bồ-tát thừa, y vào các pháp tràng kỳ tu hành trong nhiều kiếp
nhiều đời, đoạn hết được mọi tập khí (tập quán lực), đầy đủ phần nhất thiết
chủng trí, viên mãn phần tự lợi lợi tha, chứng được đạo Vô thượng Chánh giác,
trở nên bậc Đại giác tức là Phật.
6. NIẾT-BÀN
VÀ PHẬT THÂN.
- Khi Đức Thích Tôn còn tại thế, thực thân chứng được
Niết-bàn, Phật thân hiện tồn tại, nên không có sự bàn luận về Niết-bàn và Phật
thân. Nhưng sau khi Đức Thích Tôn nhập Niết-bàn, thì vấn đề đó trở thành một
vấn đề trọng đại, sinh ra nhiều kiến giải không giống nhau. Đặc biệt về vấn đề
Phật thân dần dần được lý tưởng hóa bởi tư tưởng tự do tiến bộ, nên hoặc có
hai thân, hoặc có ba thân, làm đầu đề luận tranh cho các bộ phái đương thời.
Về kiến giải
của Hữu bộ đối với vấn đề Niết-bàn và Phật thân, cũng như giáo lý Nguyên thủy
Phật giáo, nghĩa là Niết-bàn cũng chia ra “Hữu dư Niết-bàn” và “Vô dư
Niết-bàn”. Vấn đề Phật thân cũng chưa lý tưởng hóa, nghĩa là Phật là một thân
người hiện thực. Thân thể của Phật Đà vì có liên quan tới hoặc nghiệp của tiền
thế, nên thọ mệnh của xác thân có hạn định, nghiệp quả hết thì xác thân mất,
vào Vô dư Niết-bàn, trở về nơi tịch tĩnh. Và Phật cũng có tâm vô ký, không
phải thiện, không phải ác, tự thân không làm điều ác, nhưng vì còn có xác
thân, còn là nơi y xứ của điều ác. Phật cũng có sự ngủ nghỉ, không phải là
thường thường ở định; một sát-na của tâm không thể suốt hết được mọi pháp, một
tiếng không thể nói hết được mọi pháp. Về nhân hạnh của Phật ở quá khứ, vì mục
đích cứu độ chúng sinh, nên sinh ở trong Tam giới, cốt yếu không phải là đoạn
hết phiền não, chỉ là nương vào sự tu hành, để chế phục phiền não, khi nhân
hạnh viên mãn, tức là đoạn hết mọi hoặc, trở thành Phật Đà. Đó là thuyết “Phục
hoặc nhân hạnh” của Hữu bộ.
Như trên đã
lược thuật về giáo nghĩa của Hữu bộ. Nương vào giáo nghĩa đó, ta có thể suy
biết được giáo nghĩa của Thượng Tọa bộ, vì đều phảng phất giáo nghĩa của
Nguyên thủy Phật giáo. Đặc biệt, giáo nghĩa của Hữu bộ, sau trở thành những
tài liệu quan trọng cho môn Duy thức học trong Phật giáo.
II. GIÁO NGHĨA CỦA ĐẠI CHÚNG BỘ
1. VẠN HỮU LUẬN.
- Giáo nghĩa của Đại Chúng bộ, nếu
đem so sánh với giáo lý Nguyên thủy Phật giáo của Hữu bộ, thì tiến bộ hơn.
Đứng về phương diện triết học, giáo lý của Hữu bộ là “Đa nguyên thực tại
luận”, thì giáo lý của Đại chúng bộ là “Phê phán thực tại luận”,
phủ định hiện tượng, nên đề xướng ra “Pháp không luận”. Pháp không
luận, theo Hữu bộ chủ trương mọi pháp sát-na sinh diệt, thể tính của mọi pháp
thường lẫn có trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai; nhưng trái lại, Đại
chúng bộ chủ trương: Vì chư pháp thì sát-na sinh diệt, nên thể dụng của mọi
pháp ở quá khứ không tồn tại, thể dụng của mọi pháp ở vị lai thì chưa xuất
hiện, đôi bên đều không phải là thực tại, mà duy chỉ có thể dụng của mọi pháp
ở hiện tại, trong một sát-na của hiện tại mới là thực tại. Đó là thuyết
“Quá vị vô thể, hiện tại hữu thể” của Đại Chúng bộ chủ trương, gần với
thuyết “Ngã pháp câu không luận”.
Về vô vi pháp, Đại Chúng bộ lập ra chín thứ
vô vi pháp. Tức là ba thứ vô vi của Hữu bộ, thêm vào sáu thứ nữa là: Không vô
biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng, Phi phi tưởng xứ, Duyên
khởi chi tính và Thánh đạo chi tính. Nhưng, lý thể vô vi pháp của Hữu bộ đứng
ở phương diện tịch tĩnh, trái lại vô vi pháp của Đại chúng bộ chủ trương lại ở
phương diện hoạt động. Chín thứ vô vi pháp: (1) Hư không; (2) Trạch diệt; (3)
Phi trạch diệt, như trước đã giải thích; (4) Không vô biên xứ. - Tu vô biên xứ
định, đoạn được một phần hoặc, chứng được một phần diệt, nương vào phần diệt
đó sinh lên cõi trời Không vô biên xứ; (5) Thức vô biên xứ. - Quán thức vô
biên, diệt được một phần hoặc, chứng được một phần diệt, y vào diệt này sinh ở
cõi trời Thức vô biên xứ; (6) Vô sở hữu xứ. - Quán về phần vô sở hữu, đoạn
được một phần hoặc, chứng được một phần diệt, nương vào phần diệt đó, sinh lên
cõi trời Vô sở hữu xứ; (7) Phi tưởng, Phi phi tưởng xứ. - Tu định này hết thảy
lìa được trạng thái hữu tướng và vô tướng, đoạn được một phần hoặc, chứng được
một phần diệt, nương vào diệt độ sinh ở cõi trời Phi tưởng, Phi phi tưởng xứ.
Hữu bộ chi xứ là Thiện xứ, nơi chốn để sinh lên, nhưng Đại Chúng bộ cho Xứ là
“Sở y”, vì thế nên bốn xứ thuộc vô vi pháp, không ở trong phạm vi Tam giới,
chỉ nương vào phần đoạn hoặc chứng diệt, tất nhiên sinh ở Thiện xứ, đó là lý
đương nhiên không biến đổi; (8) Duyên khởi chi tính. - Về lý pháp của sinh tử
lưu chuyển, Hữu bộ chỉ nhận về phần tướng của các phần duyên khởi nên thuộc về
hữu vi pháp; Đại chúng bộ cho rằng mười hai chi duyên khởi tuy là hữu vi pháp,
nhưng vì nó có lý pháp nhất định không thay đổi, để điều hòa về sự sinh khởi
cho tiền nhân hậu quả, tương tục không ngừng, nên thuộc vô vi pháp; (9) Thánh
đạo chi tính. - Thánh đạo chi tính còn gọi là “Lý pháp của khổ giới đoạn
diệt”. Ở trường hợp Hữu bộ trừ Diệt đế ra, còn ba đế khác đều là hữu vi pháp,
nhưng ở trường hợp Đại Chúng bộ chủ trương, các chi của “Bát chánh đạo” tuy là
hữu vi, nhưng vì các chi đó đều là phần lìa khổ được giải thoát, đó là y vào
lý pháp nhất định bất biến nên thuộc vô vi pháp. Còn các chi khác đều lý luận
tương tự như vậy.
Tóm lại, về “Vô vi pháp” của Đại Chúng bộ
chủ trương, không phải là tịch tĩnh, mà là hoạt động. Về “Pháp không luận”
không phải không về bản thể của mọi pháp, mà chỉ là phủ định hiện tượng của
mọi pháp.
2. TÂM TÍNH BẢN TỊNH LUẬN.
- Ở trường
hợp Hữu bộ, cho “Tâm tính bản lai bất tịnh”, vì tâm thường có đầy dẫy mê vọng,
tập nhiễm nhưng nhờ sự tu đạo, nên tâm tính được thanh tịnh, nghĩa là tâm tính
bản lai bất tịnh, chuyển thành thanh tịnh, tới chỗ giải thoát. Trái lại, ở
trường hợp của Đại Chúng bộ chủ trương “Tâm tính bản lai thanh tịnh”, lìa mọi
mê vọng tạp nhiễm, chỉ vì khách trần phiền não bên ngoài làm ô nhiễm, nên trở
thành bất tịnh nếu nương vào sự tu đạo, để gột rửa mọi tạp nhiễm phiền não đó,
thì tâm trở nên thanh tịnh, hiển hiện được bản tính của nó. Đó là thuyết “Tâm
tính bản tịnh, khách trần ô nhiễm” của Đại Chúng bộ. Thuyết này giống như
thuyết “Quan hệ giữa tự tính và thần ngã” của Số Luận.
Vì tâm tính
thì bản tịnh, phiền não là khách trần, nên phiền não và tịnh tâm đều cùng có
từ vô thủy, thường thường cùng theo đuổi cái tâm, nên gọi là tùy phiền não. Vì
có tùy phiền não, nên tâm trở nên ô nhiễm, tạo ra nghiệp, lưu chuyển trong khổ
giới, nhưng nếu nương vào sự tu đạo, thì rửa sạch được các phiền não, chỉ còn
lại một thứ tâm thanh tịnh. Tâm là chủ mà phiền não là khách, tâm tính thì “vô
thủy vô chung”, phiền não thì “vô thủy hữu chung”, nên gọi là “Tâm tính bản
tịnh, khách trần ô nhiễm”. Tóm lại Hữu bộ chỉ nhận phần Tướng của tâm, mà
không nhìn nhận về thể tính của tâm, trái lại, Đại Chúng bộ quán về phần thể
tính của tâm. Đứng về phương diện triết học thì Hữu bộ chủ trương “Hiện tượng
luận”, Đại Chúng bộ chủ trương “Bản thể luận”.
3. NIẾT-BÀN VÀ PHẬT THÂN.
- Niết-bàn
quan của Đại chúng bộ thì không ghi chép rõ ràng, nhưng Phật thân quan của Đại
Chúng bộ chủ trương tiến bộ hơn Hữu bộ. Đại Chúng bộ cho rằng, Phật vì nương
vào nhân hạnh của nhiều kiếp nhiều đời, nên có quả báo thực thân, đối với
không gian thì “Biến mãn nhất thiết xứ”, đối với thời gian thì “Thọ mệnh vô
tận”; uy lực của Phật cũng vô biên tế, giáo hóa khắp mọi loài hữu tình, tùy
nghi giáo hóa, tùy thời nhập diệt, đều tự do tự tại. Đức Phật khi 80 tuổi nhập
diệt, đó cũng là Hóa thân tùy cơ ứng hiện của Ngài.
Đại chúng bộ quán sát Phật thân, không giống
như Hữu bộ cho là thực thân, mà là Siêu thân và tồn tại. Phật thân là vô lậu
thân, không phải hữu lậu pháp; lời Phật thì lời lời là Chuyển pháp luân, hết
thảy đều lợi ích; một âm thanh của Phật có thể nói được hết thảy pháp; một
sát-na của tâm, hiểu biết được hết thảy pháp; và thường ở định, không có thụy
miên; chúng sinh hỏi gì Phật đều đáp ngay, không cần phải suy nghĩ.
Trên đây là yếu nghĩa của Đại Chúng bộ. Đặc
biệt về thuyết “Ngã pháp câu không” rất gần với không quán của Đại thừa Bát
nhã; thuyết “Vô vi pháp” có thể là tiền khu cho thuyết “Chân như duyên khởi”
của Đại thừa; thuyết “Tâm tính bản tịnh, khách trần ô nhiễm”, về điểm phiền
não thì vô thủy hữu chung rất giống với thuyết “Chân như duyên khởi luận”, cho
vô minh là vô thủy hữu chung; thuyết “Tâm tính bản tịnh” cũng còn là nguyên
nhân để dụ dẫn đến tư tưởng “Nhất thiết chúng sinh, tất hữu Phật tính” của
giáo lý Đại thừa. Vì vậy, giáo nghĩa của Đại Chúng bộ, tuy cũng là Tiểu thừa,
mà có những tư tưởng rất gần với tư tưởng Đại thừa. Vậy có thể nói, giáo nghĩa
Đại thừa là từ chỗ phát triển dần dần ở giáo nghĩa của Đại Chúng bộ.
III. GIÁO NGHĨA CỦA MẠT PHÁI VÀ CHI PHÁI
1. LỜI BÀN
TỔNG QUÁT.
- Như trên đã kể, về bộ phái của Tiểu thừa gồm 20 bộ. Các bộ
đều do sự dị chấp, nên đã từ Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ mà phát sinh, nhưng
về phần giáo nghĩa của các bộ, không đi đôi với sự quan hệ của Giáo hội. Thí
dụ, các phân phái của Đại Chúng bộ thì bao hàm giáo nghĩa của Thượng Tọa bộ;
mạt phái của Thượng Tọa bộ lại bao hàm giáo nghĩa của Đại Chúng bộ. Sự hỗn
đồng giáo nghĩa như vậy có rất nhiều.
Như Đa Văn bộ là phân phái của Đại Chúng bộ,
nhưng về giáo nghĩa thì phần nhiều giống với Hữu bộ; Hóa Địa bộ là mạt phái
của Hữu bộ, nhưng về giáo nghĩa, phần nhiều là giáo nghĩa của Đại Chúng bộ.
Nay theo chỗ thích nghĩa phân loại thành từng hệ thống như sau:
1. Hệ thống
Đại Chúng bộ Nhất Thuyết bộ, Thuyết Xuất Thế bộ, Kê Dận bộ, Thuyết Giả bộ, Chế
Đa Sơn bộ, Tây Sơn Trụ bộ, Bắc Sơn Trụ bộ
Hệ thống
chiết trung Đa Văn bộ, Hóa Địa bộ, Pháp Tạng bộ, Ẩm Quang bộ, Tuyết Sơn bộ
2. Hệ thống
Hữu bộ Kinh Lượng bộ (Tuyết Sơn bộ)
Hệ thống
chiết trung (Kinh Lượng bộ)
3. Hệ thống
Độc Tử bộ Pháp Thượng bộ, Hiền Trụ bộ, Chính Lượng bộ, Mật Lâm Sơn bộ
Tức là,Đa Văn bộ phân phái từ nội bộ của Đại
Chúng bộ, nhưng phần nhiều lại theo giáo nghĩa của Hữu bộ: Hóa Địa bộ, Pháp
Tạng bộ, Tuyết Sơn bộ, Ẩm Quang bộ, thuộc về hệ thống Thượng Tọa bộ, nhưng
giáo nghĩa phần nhiều lại cũng giống với Đại Chúng bộ. Các bộ thuộc hệ thống
Độc Tử bộ, vì có một hệ thống đặc biệt về giáo nghĩa của Thượng Tọa bộ, nên
trở thành một hệ thống riêng. Kinh Lượng bộ thì kế thừa giáo lý của Hữu bộ,
nhưng lại có tư tưởng về Độc Tử bộ. Tuyết Sơn bộ là căn bản Thượng Tọa bộ,
giáo nghĩa cũng giống như Hữu bộ. Ngoài ra, còn các giáo nghĩa của các chi
phái, vì sợ phiền toái nên tĩnh lược.
2. HỆ THỐNG ĐẠI CHÚNG BỘ.
-
Nhất Thuyết bộ, Thuyết Xuất Thế bộ và Thuyết Giả bộ, ba bộ này có ít nhiều
giáo nghĩa đặc sắc trong hệ thống Đại Chúng bộ. Trước hết, Nhất Thuyết bộ kế
thừa thuyết các pháp ở quá khứ và vị lai đều không có thực thể, duy chỉ có các
pháp ở một sát-na của hiện tại là có thực thể, rồi nghiên cứu tiến bước hơn,
cho các pháp ở trong ba trạng thái quá khứ, hiện tại và vị lai đều không có
thực thể, chỉ là giả danh; chủ trương thuyết “Tam thế chư pháp, giả danh vô
thể”. Sau là Thuyết Xuất Thế bộ, Nhất Thuyết bộ thì kế thừa giáo lý “Pháp
không luận” của Đại Chúng bộ; Thuyết Xuất Thế bộ cũng kế thừa giáo nghĩa đó,
nhưng đứng ở lập trường phê phán thực tại luận, để bàn luận về thực tướng của
chư pháp. Trước hết đem các pháp chia ra “Chân đế” và “Tục đế”. Thế gian pháp
thuộc về Tục đế, là giả pháp, điên đảo, hư vọng không thực; xuất thế gian pháp
thuộc Chân đế, thì không điên đảo vọng kiến, mà là chân thực. Đó là chủ trương
thuyết “Tục vọng, Chân thực”. Sau nữa là Thuyết Giả bộ, giáo nghĩa cũng giống
như Nhất Thuyết bộ, nhưng không quyết đoán chư pháp là giả danh vô thể, và
cũng không nói các pháp xuất thế gian đều hoàn toàn là chân thực, chủ trương
các pháp thế gian và xuất thế gian đều có phần giả và thực. Đó là thuyết “Chân
giả tịnh hữu” của bộ này.
3. HỆ THỐNG ĐỘC TỬ BỘ.
- Từ Hữu bộ
trước hết phát sinh ra Độc Tử bộ. Đặc biệt, giáo nghĩa của Độc Tử bộ thì không
thuộc vào Đại Chúng bộ và Thượng Tọa bộ, tự nó sáng lập ra một hệ thống giáo
nghĩa riêng. Bộ này, trước hết đem mọi pháp chia làm ba tụ: “Hữu vi tụ”, “Vô
vi tụ” và “Phi nhị tụ”, hoặc đem chia thành “Ngũ tạng”: “Quá khứ”, “Hiện tại”,
“Vị lai”, “Vô vi” và “Bất khả thuyết”. Ba tạng đầu gọi là “Tam thế tạng” do sự
tế phân từ “Hữu vi tụ”; “Bất khả thuyết” là biệt danh của “Phi nhị tụ”. Nhưng
về giáo nghĩa đặc biệt của bộ này là thuyết “Bất khả thuyết tạng”. Trong Bất
khả thuyết tạng thì thành lập một thứ “Ngã” gọi là “Bổ Đặc Già La” (Pudgala).
Y vào thuyết này, con người tạo ra nghiệp, thiện, ác, rồi cảm đến kết quả của
nó, là vì có một thực thể tồn tại, nó liên tục từ hiện tại tới vị lai; nếu
không có thực thể đó duy trì, con người khi chết, đồng thời ngũ uẩn cũng tiêu
diệt, sẽ không có sự chuyển sinh ở lai thế. Cái thực thể đó thì tự do tự tại,
thường trụ không biến và luôn luôn liên tục để duy trì cái nghiệp nhân trong
ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai; và các thực thể này, từ ở địa vị phàm phu
cho tới sau khi thành Phật cũng vẫn tồn tục, gọi là “Bổ Đặc Già La”. Bổ Đặc
Già La này tức là “Ngã” thuộc “Bất khả thuyết tạng”, cái Ngã này không phải là
đương thể của ngũ uẩn, và cũng không phải là ngoài ngũ uẩn ra mà tồn tại giống
như linh hồn (Àtman), nên lại gọi là “Phi tức phi ly ngã”. Theo như nghĩa trên
thì không thể nói cái “Ngã” đó thuộc về hữu vi pháp của ngũ uẩn, và cũng không
thể nói là thuộc về vô vi pháp của Niết-bàn, nghĩa là nó không thuộc về cả Hữu
vi và Vô vi, nó là sự tồn tại của “Phi nhị tụ”.
Sau là Pháp Thượng bộ, Hiền Trụ bộ, Chính
Lượng bộ, Mật Lâm Sơn bộ, bốn bộ này đều kế thừa giáo nghĩa của Độc Tử bộ.
Nhưng giáo nghĩa của Chính Lượng bộ đã trở thành ưu thế. Cho nên Chính Lượng
bộ và Hữu bộ là hai bộ phái trọng yếu của Tiểu thừa Phật giáo.
4. HỆ THỐNG CHIẾT TRUNG.
- Đa Văn bộ
là phân phái của Đại Chúng bộ, nhưng về giáo nghĩa phần nhiều lại nương theo
giáo nghĩa của Hữu bộ. Đặc điểm về giáo nghĩa của bộ này là, đem giáo pháp của
Phật chia ra thế gian và xuất thế gian, chủ trương: “Vô thường, Khổ, Không, Vô
ngã, Tịch tĩnh, Niết-bàn” là giáo pháp vô lậu, xuất thế gian; còn các giáo
pháp khác đều là giáo pháp hữu lậu của thế gian. Về Đại Chúng bộ cho ngôn giáo
của Phật đều là vô lậu, trái lại Hữu bộ lại cho hết thảy là hữu lậu, vì lẽ đó
nên giáo nghĩa của Đa Văn bộ thuộc hệ thống chiết trung.
Hóa Địa bộ.
- Bộ này là
phân phái của Hữu bộ, nhưng chủ trương thuyết “Quá, vị vô thể” của Đại Chúng
bộ. Phần đặc điểm về giáo nghĩa của bộ này, đem vô vi pháp chia ra làm chín
thứ. Ba thứ vô vi đầu cũng giống như Hữu bộ, hai thứ cuối là “Chi đại chân
như” và “Duyên khởi chân như”, cũng giống như nghĩa “Thánh đạo chi tịnh” và
“Duyên khởi chi tịnh” của Đại chúng bộ; trung gian là bốn thứ vô vi: “Bất
động, Thiện pháp chân như, Bất thiện pháp chân như, Vô ký pháp chân như”. Bất
động vô vi là lý thể để đoạn diệt tâm thô động, nó làm chướng ngại thiền định.
Thiện pháp chân như là lẽ làm thiện tất được thiện quả. Bất thiện pháp là lẽ
làm ác tất phải chịu ác quả. Vô ký pháp chân như là cái “Lý pháp” làm việc
không phải thiện, không phải ác, sẽ đưa đến kết quả vô ký. Chân như có nghĩa
là chân thực như thường, không bị sinh diệt chi phối, nó là cái “Lý pháp bất
biến”.
Pháp Tạng
bộ.
- Bộ này là
phân phái của Hóa Địa bộ, dùng nhiều giáo nghĩa của Đại Chúng bộ. Phần đặc
điểm giáo nghĩa của bộ này là đem kinh điển chia thành năm tạng: Kinh, Luật,
Luận, Chú và Bồ-tát. Đặc biệt, Bồ-tát tạng có nói nhiều về sắc thái của giáo
lý Đại thừa, chủ trương thuyết “Tăng trung hữu Phật, Tam thừa đồng nhất giải
thoát”, rất gần với giáo lý của Đại thừa. Sau là Ẩm Quang bộ, phân phái của
Hữu bộ, giáo nghĩa cũng giống như Pháp Tạng bộ.
5. HỆ THỐNG KINH LƯỢNG BỘ.
- Đại thể
giáo nghĩa của Kinh Lượng bộ thuộc hệ thống Hữu bộ, nhưng có nhiều tư tưởng
đặc biệt, như thuyết “Chủng tử”, nên thành lập một hệ thống riêng. Bộ này cũng
như Độc Tử bộ, thành lập một thứ “Ngã” gọi là “Thắng nghĩa ngã” (Paramàrth
pudhala) và tư tưởng “Nhất vị uẩn” cùng “Vô lậu chủng tử”.
Tư tưởng
nhất vị uẩn.
- Nhất vị uẩn nghĩa là một loại không thay đổi, ngoài ngũ uẩn
sát na sinh diệt ra, còn có “Vi tế ngũ uẩn” là căn bản cho “Sinh diệt ngũ
uẩn”, nó liên tục trong quá khứ, hiện tại, vị lai. Vi tế ngũ uẩn này trở thành
chủng tử, sinh ra phần thô ngũ uẩn. Thô ngũ uẩn thì sát-na sinh diệt, liên tục
mãi mãi, không để cho đến chỗ diệt mất. Thô ngũ uẩn đối với “Nhất vị uẩn” thì
gọi là “Căn biên uẩn” (Chi mạt uẩn). Sở dĩ gọi là “Nhất vị uẩn” là vì từ vô
thủy trở lại đều luôn luôn tương tục, nhất vị hòa hợp với Thọ uẩn, Tưởng uẩn,
Hành uẩn, Thức uẩn, và Sắc uẩn thì bao hàm chủng tử của tâm và chủng tử của
sắc, tâm thì bao hàm chủng tử của sắc và chủng tử của tâm, vì vậy nên có tên
“Sắc tâm hỗ trì thuyết” và “Sắc tâm hỗ huân thuyết”.
Thắng
nghĩa ngã.
- Thắng nghĩa ngã là một thực thể của vô thủy vô chung, thông
với tất cả các pháp hữu vi và vô vi, thông với nhân vị và quả vị, thông với
tất cả các pháp hữu lậu và vô lậu.
Vô lậu
chủng tử.
- Tuy còn ở địa vị phàm phu, nhưng cũng đã sẵn có cái chủng tử
xuất thế vô lậu từ đời vô thủy lại đây, bản lai có cái thế lực giải thoát.
Thuyết “Vô lậu chủng tử” là một giáo nghĩa đặc biệt của Tiểu thừa.
Ngoài ra, tư tưởng tương tự với thuyết chủng
tử của Kinh Lượng bộ là tư tưởng thuộc chi phái của các bộ. Như chi phái thuộc
hệ thống Đại Chúng bộ đề xướng ra thuyết “Hữu lậu pháp chủng tử” và “Đa tâm
hòa hợp”, tương tự với thuyết “Nhất vị uẩn” của Kinh Lượng bộ; chi phái của
Hóa Địa bộ chủ trương thuyết “Cùng sinh tử ấm”, cũng tương tự với thuyết “Nhất
vị uẩn” của Kinh Lượng bộ.
Như trên đã
thuật khái quát giáo nghĩa của mạt phái và chi phái trong các bộ, có thể nói
tư tưởng của các bộ phái đó là tư tưởng “Duyên khởi luận”. Tư tưởng “Thắng
nghĩa ngã” và “Vô lậu chủng tử” rất tương tự với tư tưởng “Như Lai tạng” của
Đại thừa; tư tưởng “Nhất vị uẩn” tức “Hữu lậu chủng tử”, là tiền đề cho tư
tưởng “Căn bản thức”; “Vô lậu chủng tử cũng là tư tưởng tiền khu cho “Phật
tính luận”; tư tưởng “Tam thừa đồng nhất giải thoát” là căn nguyên cho tư
tưởng “Nhất thiết giai thành Phật” của Đại thừa.
CHƯƠNG THỨ TƯ. PHẬT
GIÁO Ở VƯƠNG TRIỀU KANISKA
I. PHẬT GIÁO SAU TRIỀU ĐẠI A
DỤC VƯƠNG
Vì A Dục Vương nhiệt tâm bảo hộ Phật giáo,
nên Phật giáo đã trở thành một đại tôn giáo của thế giới. Và sau đó một khoảng
thời gian 300 năm, Phật giáo lại được sự bảo hộ của quốc vương Kaniska (Ca Nhị
Sắc Ca), vị anh quân của một đại đế quốc từ nửa Bắc Ấn Độ đến Trung ương Á Tế
Á, và mở một đường lối truyền bá Phật giáo tới Đông phương.
Tại Trung Ấn, sau khi A Dục Vương tạ thế,
Khổng Tước vương triều nối nghiệp, nhưng uy thế của vương triều này không được
như xưa, hơn nữa các vua nối nghiệp phần nhiều lại tin theo Bà La Môn giáo và
Kỳ Na giáo, không thực tâm bảo hộ Phật giáo. Đến khoảng đầu thế kỷ thứ II
trước Tây lịch, có võ thần là Pusyamitra (Bổ Sa Mật Đa La) nổi lên cướp ngôi
vua và lập ra vương triều Sunga, vương triều này cũng thiên tín về Bà La Môn
giáo, bức hại Phật giáo. Tới đầu thế kỷ thứ I sau Tây lịch, vương triều Kànva
được thành lập thay thế vương triều Sunga, cũng tin theo Bà La Môn giáo, nên
Phật giáo Trung Ấn bị sút kém dần dần.
Nhưng vì thế
lực của các vương triều kể trên chỉ cục hạn trong phạm vi Trung Ấn mà các bậc
thạc học cao đức ở Trung Ấn phần nhiều đi truyền đạo ở nước ngoài, nên các
nước ngo