CHƯƠNG V : VĂN VẬT PHẬT GIÁO TÂY TẠNG
TIẾT I: TÂY TẠNG ĐẠI TẠNG KINH
Mục Lục Tạng Kinh. “Tây Tạng Văn
Đại Tạng Kinh” tuy đã được hoàn thành vào nhưng năm đầu triều
nhà Nguyên, nhưng được khởi sự phiên dịch từ đời nhà Đường.
Những kinh luận được dịch ở thời kỳ đầu đều được chép vào “Bàng
Đường Mục Lục” (Hphan-thanh dkar-Chag). Đây là “Đệ nhất bộ kinh
lục” của Tây Tạng. Đó là căn cứ vào thuyết nói rằng ở thời đại
của Tạng vương Mâu Đề Tán phổ (Ma-tig-btsan-pa) vào cuối thế kỷ
thứ tám Tây lịch do các vị dịch sư như: Ca-Bạch Phổ Tử kết
(ka-ba-dpal-brtsegs) phiên dịch, và Tịnh Xá Ca-Di (Ka-Me) ở địa
phương Bàng Đường (Hphan-than) là nơi lưu giữ những kinh Phật
sau khi liên tục được dịch hoàn thành. Hiện nay bản Biên-Lục nầy
đã bị thất lạc nên không thể biết được nội dung.
Đến bán thế kỷ thứ chín, do Tạng vương Lại
Ba Thiệm dốc toàn lực hộ pháp, nhờ vậy mà việc phiên dịch kinh
Phật cực thịnh một thời và dịch được rất nhiều kinh. Những vị
dịch sư như: Phổ Tử Kết (Dpal–brtsegs) v.v. già lam Đăng Cát –
Nhĩ Mã (Ldan–dkar-ma) ở Thổ Đường là nơi lưu giữ những kinh Phật
sau khi đã chỉnh lý và biên chép thành kinh lục, lấy tên là
“Đăng Cát Nhĩ Mã Mục Lục” (Ldan-dkar-madkar-chag). Bản mục lục
hiện nay được đưa vào “Đan Châu Điển Tập”. Đây bản kinh lục dựa
theo thứ tự của tam tạng Kinh, Luật, Luận mà phân làm mười bảy
mục loại sau :
1.Đại thừa kinh gồm có: bộ Kinh Bát Nhã, bộ
Kinh Hoa Nghiêm, bộ kinh Bảo Tích. Bộ Kinh Tập và bộ Kinh Đại
Niết Bàn được dịch từ Hán Văn ra Tạng Văn và v.v…
2.Tiểu thừa kinh gồm có: “Chánh Pháp Niệm Xứ
Kinh” v.v… sau có thêm bộ “Pháp Tập Yếu Tụng”.
3.Bí Mật kinh gồm có: “Bất Không Quyên Sách
Đà La Ni” v.v…
4.Từ mục loại thứ 4 đến thứ 7, gồm có: Danh
Hiệu, Tán Nguyện, Cát Tường Tụng.
8.Luật Tạng gồm có: Giới Bổn và Tỳ Nại Da
v.v…
9.Đại thừa kinh thích gồm có: “Thập Vạn Bát
Nhã Đại Sớ”, “Bát Nhã Quảng Trung Lược Sớ”, “Hiện Quán Trang
Nghiêm Luận Thích”.
10.Trung Quán Luận gồm có: “Căn Bản Trung
Luận Thích Luận”, “Bát Nhã Đăng Bản Thích”, “Phật Hộ Thích
Luận”, “Vô Uý Thích Luận”, “Trung Quán Trang Nghiêm Luận Bản
Thích”.
11.Thiền Định Thư gồm có: “Tu Hành Tam Thứ
Đệ”
12.Duy Thức Luận gồm có: “Du Già Sư Địa Luận
Bản Thích”, “Nhiếp Đại Thừa Luận Bản Thích”, “Tập Luận Bản
Thích”, “Kinh Trang Nghiêm Luận Bản Thích” v.v…
13.Đại Thừa Luật Tập gồm có: “Tập Bồ Tát Học
Luận”, “Tập Nhất Thiết Kinh Luận”, “ Bảo Man Luận” v.v…
14.Tiểu Thừa Luận gồm có: “Cu -Xá Luận Bản
Thích”, “Cu Xá Sớ” của Nguyệt Xứng và Thắng Hữu v.v…
15.Nhân Minh Luận gồm có: “Quán - Nhân Quả
Tương Thuộc Bản Thích”, “Chánh Lý Nhất Đích Luận Bản Thích”v.v…
16.Tạng Thổ Tuyển Thuật gồm có: “Thánh Giáo
Chánh Lượng”, “Từ Bi Đại Tán” v.v…
17.Đãi Khảo gồm có: “Lượng Thích Luận Bổn
Thích”, “Nhiếp Chân Thực Nghĩa Bản Thích” v.v…
Sự phân ra mười bảy mục loại vừa nêu cho thấy
thời kỳ nầy kinh điển Đại thừa được dịch ra Tạng văn gần như đầy
đủ, chỉ có Duy Thức học còn thiếu rất nhiều. Về Trung-Quán thì
thiếu các sớ giải của Nguyệt-Xứng, về Nhân-Minh thì không thấy
“Tập Lượng Luận” của Trần-Na, về Mật bộ chỉ có ba bộ là Tác Mật,
Tu Mật, Du Già Mật, chưa có Vô Thượng Du Già Mật. Những thiếu
khuyết trên mãi sau nầy mới được bổ sung. Điều đó cho thấy các
học giả Tây Tạng ở thời kỳ ấy đa số xuất thân từ Hiển giáo.
Đến đầu triều nhà Nguyên (cuối thế kỷ mười ba
Tây lịch), do sự xương thịnh của Phật giáo Hậu truyền cực mạnh
nên việc phiên dịch kinh Phật mới được hoàn bị và dẫn đến việc
khắc bản Đại Tạng Kinh bằng Tạng văn. Đây là khắc bản lần thứ
nhất và có tên gọi là Nại Đường Cổ Bản, hay còn có tên là Cựu
Nại Đường Tạng. Tạng bản nầy do ngài Thế Tôn Kiếm
(Mchom-Idan-ral-Khri) và người đệ tử là Nhuyến Ngữ Ẩn Phúc
(Hjam-nag gan-sis) sưu tập thêm nhiều tư liệu từ đất Hán mang về
Tạng thổ và khởi sự khắc bản tại chùa Trát Thập Luân Bố, chùa
này tọa lạc ở về phía tây Già lam Nại Đường (Snar-thari) khoảng
năm mươi dặm. Thế Tôn Kiếm là người viết mục lục cho lần khắc
bản này–và gọi là “Nhật Quang Mục Lục” (Nĩ–mahi hod–jer dkarblo
gros). Đấy cũng là bản kinh lục thứ ba.
Ít lâu sau lại có Sách Ba (Tshal-pa) của Kết
Bạch La –Cách (Dges-bahi blo gros) tại Tịnh xá Cống Đường
(Guri-than) cách Lạp Tát năm mươi dặm về phía đông đứng ra biên
lục kinh tạng. Kinh tạng nầy so với Nại Đường Cổ Bản về nội
dung có gia tăng đầy đủ hơn và gọi tên là “Sách Ba Mục Lục”
(Tshal-pa dkar-chag). Đây là bộ Kinh lục thứ tư.
Vào hậu bán thế kỷ mười bốn tây lịch, đại sư
Bố Đốn hiệu đính Sách Ba Mục Lục và tự ông biên tập một bộ Đại
Mục Lục. Bộ Đại Mục Lục nầy bao gồm “Tùng Lạp Lâm Bảo Thiết
(Gsun-rab rin-che Cam Châu Nhĩ) Mục Lục” và “Giá Nhỉ Bão Phần Ba
(Rgyal-po phren-ba Đan Châu Nhĩ) Mục Lục”. Đây là bộ kinh lục
thứ năm và cũng là bộ mục lục được thẩm định đầy đủ nhất của Tây
Tạng Đại Tạng Kinh. Thực ra bộ kinh lục nầy chỉ là phụ lục nhằm
giúp đại sư Bố Đốn viết bộ Thiện Thệ Giáo Pháp Sử (Bde-gsegs
bstan-pahi chos hbyun).
Đại sư Bố Đốn-người đem toàn bộ Đại Tạng
Kinh bằng tiếng Tạng phân ra thành Cam Châu Nhĩ (Bkah-hgyur –
hay còn gọi là Giáo Sắc Bộ hoặc Phật bộ) và Đan Châu Nhĩ
(Bstan-hgyur, còn gọi Luận Thuật bộ hoặc Tổ bộ) đó là sự phân
loại giáo pháp vô cùng đặc biệt và độc đáo của Tây Tạng. Bố Đốn
lấy những kinh, luật do Phật thuyết quy về bộ Cam Châu Nhĩ;
những thích luận, chú sớ do lịch đại tổ sư trước tác quy thành
bộ Đan Châu Nhĩ. Từ đó về sau việc phân loại nầy trở thành định
thức của Tạng Văn Đại Tạng Kinh.
Phân Loại Pháp Của Bố Đốn.
-------
Bố–Đốn là một vị đại học vấn của Phật giáo
Tây Tạng. Đối với toàn bộ Đại Tạng Kinh được dịch ra Tạng văn
Ông đều phân loại và chú thích. Ông hoàn toàn dựa vào khả năng
học thuật của mình mà cân nhắc, phán đoán. Hầu hết các học giả
Phật giáo Tây Tạng hậu lai đều tuân thủ tư tưởng của ông. Đại sư
Tông Khách Ba là người chịu ảnh hưởng nơi ông rất nhiều.
Xin giới thiệu kiến giải về việc phân loại
Đại Tạng kinh của Bố Đốn thành hai loại như sau:
I.Phân loại Cam Châu Nhĩ: Bố Đốn đem Cam Châu
Nhĩ chia thành Hiển thừa và Mật thừa. Về Hiển thừa, ông lại phân
“Nhất đại thuyết giáo” của đức Phật ra làm Sơ –Trung- Hậu tam
pháp luân. Sơ pháp luân là thời
đức Phật thuyết giảng Tứ -Đế và những giới luật căn bản tại
vườn Lộc Dã. Trung pháp luân là thời đức Phật thuyết giảng pháp
vô tướng như Bát Nhã Kinh v.v… tại núi Linh Thứu. Hậu pháp luân
là thời đức Phật thuyết giảng phân biệt pháp, như những kinh
Pháp Hoa, Bảo Tích v.v…Ở các xứ như thành Tỳ Xá Ly v.v… có thể
lập biểu đồ sau:

II.Phân
loại Đan Châu Nhĩ:
Cam Châu Nhĩ là những kinh thuộc
Phật bộ, được chia ra ba thời chuyển pháp luân. Đan Châu Nhĩ là
sự xiển dương và thích nghĩa của lịch đại Tổ sư đối với những
kinh do Phật thuyết. Đan Châu Nhĩ cũng được chia thành ba môn.
1)Những bộ luận thích ở thời Sơ
pháp luân được coi là những bộ luận Tiểu thừa.
2) Những bộ luận thích ở thời
Trung pháp luân được coi là những bộ như Trung Quán, Bát Nhã.
3) Những bộ luận thích ở thời Hậu
pháp luân là những bộ luận về Du Già.
Ông lại đem ba môn này phân ra
hai chi là: “Quán” và “Hạnh”. Xin đưa ra biểu đồ sau:

Bố Đốn đại sư bất đồng về nội dung luận giải trong các bộ luận
nên ông phân Đan Châu Nhĩ làm ba loại:
1.Những luận điển nói về thế tục đế.
2.Những bộ luận thuyết về thắng nghĩa đế.
3.Những luận điển nói về giải thóat đạo đế.
Xin liệt ra cương yếu như sau:
1.Những luận nói về tục đế cũng được chia
thành ba:một la, những luận điển đề cập có tính cách thế đạo,
như: “Bách Trí Huệ Luận”, “Nhiếp Sanh Luận”v.v…
hai là, những luận điển chuyên nói về lợi tha
và được chia thành bốn khoảnh.
a.Nhân Minh: giải thích hiện lượng, tỷ lượng
v.v… gồm sáu việc như “Tập Lượng Luận” của Trần Na. Thất Chi
Thất Quán, Bát Thành, Thất Trùng Sớ v.v… của Pháp Xứng.
b.Thanh Minh: giải thích chữ Giới, chữ Tượng,
ba việc hài hoà như “Ba Nhị Ni Kinh” v.v… lại nữa, cần có luật
về âm vận, lời hay và thi ca cũng được đưa vào đây (Thanh Minh).
c.Y Minh: giải thích về y dược học, như “Bát
Kinh Phần Tâm Yếu Luận” v.v…
d.Công xảo minh: giải thích những việc như
luyện kim trong “luyện kim luận” v.v…
Ba là, những luận điển nói về lợi ích tự
thân, có một thứ đó là “Nội Minh”, thích nghĩa về tướng của các
pháp Uẩn, Xứ, Giới v.v… như Tỳ Đàm và “Tập Đại Thừa Tướng Luận”
v.v…
2.Những luận điển nói về Thắng nghĩa đế, tức
giải thích Tứ-đế theo nguyên lý “Năng Sở Vô Biệt, Vô Sở Đắc”
v.v…như trong “Phân Biệt Nhị Đế Luận”, “Tam Thập Luận” …v.v
3.Những luận điển nói về Đạo giải thóat, như
“Bồ Tát Địa” trong Du Già Sư Địa Luận, hay “Nhập Bồ Tát Hạnh
Luận” của Tịch Thiên v.v… là lấy phần chính yếu từ “Tập Luận” và
“Cu Xá Luận” để sáng tác.
Bản Gốc của Tạng Văn Đại Tạng Kinh
Bản gốc của Đại Tạng Kinh Tây
Tạng thì có nhiều; đó là do Phật giáo Tây Tạng kéo dài từ thời
Tiền Truyền đến thời Hậu Truyền. Trong khoảng thời gian của hai
thời cộng lại có hơn ba trăm năm mươi vị dịch kinh Phật từ Phạn
văn và Hán văn ra Tạng văn. Cả trước sau họ dịch được hơn năm
nghìn bộ kinh, chưa nói là nội dung các khắc bản giữa các thời
cũng có khác nhau.
Nay xin nêu các danh xưng của các khắc bản
qua các thời kỳ.
1- .Cựu Nại Đường Tạng:đầu thế kỷ mười ba Tây
lịch, khắc bản nầy là do Thế Tôn Kiếm và đệ tử là Nhuyến Ngữ Ẩn
Phúc sưu tập tư liệu ở nội địa Trung Quốc mang về Tây Tạng rồi
cùng với các vị dịch sư như: La Tát Nhĩ Tang Kết Bồng (Blo-gsal
sans-rgyas kbum), Toả Nam Hoắc Tài Nhĩ (Bsod –nams hod-jez),
Ngân Tước Bách Bồng (Byan –Chuc-hbum) v.v… và còn có nhiều vị
dịch sư khác hướng về các địa phương trong nội địa Tây Tạng để
sưu tập tất cả những kinh, luật, luận của Hiển và Mật giáo. Họ
dịch và khảo chính lại rồi khắc bản in thành bộ Đại Tạng Thư lấy
tên là Nại Đường Cổ Bản. Hiện nay cả khắc bản và ấn bản của Đại
Tạng Kinh nầy đều không còn.
2.- Lý Đường Tạng: tên ban đầu là Lý Đường
Bản (Li-Thari). Khắc bản nầy có được là do các vị như Thích- Ca-
Dã- Tán ( Sà-Kya rgyal-mtsyul) v.v… và được khởi công khắc bản
tại địa xứ Cần Ưu (Hjan-Yul).
Vào đời nhà Thanh, năm Quang Tự thứ ba mươi
bốn (1908). Quân Thanh sau khi vào Tây Tạng đã thiêu huỷ toàn bộ
tạng bản nầy.
3.- Đức Cách Tạng: tên ban đầu là Đức Cách
(Sác-dge) bản. Đây là tạng bản được chuẩn bị từ năm Ung Chính
thứ bảy, nhà Thanh (1729). Năm sau đó mới khởi sự khắc bản,
nhưng mãi đến đời Thanh Cao Tông, năm Càn Long thứ chín (1744)
mới hoàn thành, trải mất mười sáu năm. Về nhân lực phải sử dụng
đến 320 vạn người vào công cuộc khắc bản và in ấn. Chiếm đi một
nửa dân số của Tây Tạng.
Một địa xứ như Tây Tạng mà hoàn thành nổi
một bộ Tạng Văn Đại Tạng Kinh như vậy. Nếu sánh với Hán Văn Đại
Tạng Kinh của Trung Quốc, thì đấy quả là một sự nghiệp vô cùng
vĩ đại! Bởi, nhân lực, vật lực đảm trách công việc khắc bản, in
ấn là rất nặng. Nếu so với các khắc bản và in ấn của Hán Văn Đại
Tạng Kinh của một nước lớn như Trung Quốc, thì đây đúng là
“Thiên Nhưởng Chi Biệt” (điều đặc biệt nhất trong trời đất). Nếu
dân Tây Tạng không một dạ kiền thành kính ngưỡng Pháp Bảo, thì
sao họ có thể làm nổi việc này! Đây là một Đại Tạng Kinh mà nội
dung của nó có sự tham cứu và sử dụng cả bộ phận Cam Châu Nhĩ
của Lý Đường Tạng, thêm vào còn có Sắc- La- Xá- Nhĩ- Cang
(Sha-lugser-Khan) đưa cả bản gốc của toàn bộ Đan Châu Nhĩ vào.
Ngoài ra còn y chiếu bộ kinh lục của Bố Đốn, coi như tất cả đều
được tăng bổ vào mà thành bộ Tạng Văn Đại Tạng Kinh. Hiện tại
chùa Đức-Cách còn lưu giữ đầy đủ toàn bộ khắc bản của tạng kinh
nầy. Đông Dương Văn Khố của Nhật Bản, Huệ Hải Thị Văn Khố của Hà
Khẩu và Đại Học Cao-Dã Sơn là những nơi mà hiện nay còn lưu giữ
được năm bộ ấn bản của Tạng kinh nầy.
4.- Tân Nại Đường Tạng: ban đầu có tên là Nại
Đường Tân Bản. Đây là khắc bản vâng theo giáo sắc của đức Đạt
Lai Lạt Ma là Bố Cách Tang Gia Mục Thố mà khởi công khắc bản vào
năm Ung Chính thứ tám (1730). Tạng bản nầy lấy Nại Đường Cổ Bản
làm bản gốc, đồng thời có tham khảo Sách Ba Mục Lục và Mục lục
của Bố Đốn cũng được tăng bổ vào. Khắc bản của tạng kinh nầy
hiện được lưu giữ tại Nhật Khách-Tắc cách chùa Nại-Đường năm
mươi dặm về hướng tây nam. Đại học Đại Chính của Nhật Bản, Hà
Khẩu Huệ Hải Thị Văn Khố, Đại học Kinh Đô Đế Quốc và đại học
Đại-Cốc là những nơi còn lưu giữ được năm bộ ấn bản của tạng
kinh nầy.
5.- Trác Ni Tạng: tên ban đầu là Trác Ni
(CoNe) bản; Trác Ni thuộc địa phương Triệu Châu của tỉnh Cam
–Túc, cũng là nơi ngụ cư của đồng bào Tây Tạng hệ An-Đa (trích:
Nghiên cứu Tây Tạng-trang 57). Có thuyết cho rằng địa phương
Trác Ni thuộc nội cảnh tỉnh Thanh Hải (Phật giáo Đại Từ Điển của
Vọng Nguyệt Thị-trang 6318; Đông Á Phật Giáo Sử của Kim Sơn
Chánh Hảo-trang 429). Có thuyết nói tạng bản nầy hiện vẫn còn
nhưng không rõ là được khởi công khắc bản vào năm nào, có người
nói là có sau Đức Cách Tạng Bản.
6.- Bố Na Khắc Tạng: ban đầu có tên là Bố Nã
Khắc Bản. Tạng bản nầy hiện còn tại Bố Na Khắc (Punakha) thủ phủ
của Bất Đan. Đây là Tạng Văn Đại Tạng Kinh nằm bên ngoài đất
nước Tây Tạng, và chỉ có bộ phận Cam Châu Nhĩ.
7.- Kiệt Côn Bành Tạng: tên ban đầu là Kiện
Côn Bành (Rjes rku-hbum) Bản. Được khắc bản tại chùa Côn Bành
(Rku-hbum) thuộc tỉnh Cam Túc, kinh bản nầy nay đã bị thất lạc
và cũng chỉ có bộ phận Cam Châu Nhĩ.
8.- Khước Mổ Đà Tạng: tên gốc là Khước Mổ Đà
(Cha-mdo) Bản. Trước còn lưu tại chùa Khước Mổ Đà. Nhưng nay thì
kinh bản nầy đã bị mất và cũng chỉ có bộ phận Cam Châu Nhĩ.
9.- Vĩnh Lạc Tạng: tên gốc là Vĩnh Lạc Bản.
Đây là khắc bản Tạng Văn Đại Tạng Kinh tại Trung Quốc, vào năm
Vĩnh Lạc thứ tám (1410) đời nhà Minh. Khắc bản nầy dựa theo Nại
Đường Cổ Bản để khắc bản và chỉ khắc được bộ phận Cam Châu Nhĩ.
Kinh bản hiện nay không còn.
10.- Vạn-Lịch Tạng: tên gốc là Vạn-Lịch Bản.
Tạng bản nầy lấy bản Vĩnh Lạc làm gốc để khắc bản thêm lần nữa
vào năm Vạn Lịch thứ ba mươi (1602), đời vua Minh Thần Tông.
Khắc bản hiện đã bị mất, ấn bản thì còn nhưng rất ít.
11.- Bắc Kinh Tạng: tên ban đầu là Bắc Kinh
Bản. Khắc bản được khởi công tại Bắc Kinh đời Thanh Thành Tổ,
năm Khang Hy hai mươi hai (1602). Tạng bản nầy y cứ theo khắc
bản gốc của bộ Cam Châu Nhĩ, và được lưu giữ tại chùa Sắc Lạp;
năm Ung Chính thứ hai (1724) có khắc bản thêm bộ Đan Châu Nhĩ.
Tiếc là vào năm Quang Tự hai mươi sáu (1900) toàn bộ khắc bản
nầy bị nạn binh hoả thiêu cháy tất cả. May là đại học Đại-Cốc ở
Kinh đô nước Nhật còn lưu giữa được ấn bản của Tạng Bắc Kinh
nầy. Trong những năm gần đây Nhật Bản cho in lại ấn bản của Tạng
Bắc Kinh và cho lưu thông. Ở Đài Loan hiện có được ba bộ của
tạng kinh nầy. Hai bộ dành cho viện nghiên cứu Trung ương, bộ
còn lại sung vào Trung Ương Đồ Thư Quán.
12.- Lạp Tát Tạng: tên ban đầu là Lạp Tát
(Lhasa)Bản. Đây là khắc bản do đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ mười
ba cho khởi công khắc bản, nhưng cũng chỉ hoàn hành bộ phận Cam
Châu Nhĩ, kinh bản hiện vẫn còn.
Ngoài những khắc bản vừa nêu, tại địa
phương Sài –Hoắc (Sa-hor) thuộc vùng Hạ-Bố-Tạp-Nhĩ
(Bshah-pa-rtsal) vào thời đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm cũng có
khắc bản tạng kinh Cam Châu Nhĩ. Đồng thời ở Mông Cổ cũng có bộ
Tây Tạng Đại Tạng Kinh được dịch ra tiếng Mông-Cổ. Ở Mãn-Châu
cũng có bộ Tây Tạng Đại Tạng Kinh được dịch ra tiếng Mãn-Châu.
Trong số mười hai khắc bản trên, có sáu khắc bản chỉ có bộ phận
Cam Châu Nhĩ; đó là các bộ: Bố Na Khắc, Kiệt Côn Bành, Khước Mổ
Đà, Vĩnh-Lạc, Vạn-Lịch và Lạp Tát. Số còn lại đều đủ cả hai là
Cam Châu Nhĩ và Đam Châu Nhĩ.
NỘI DUNG KINH TẠNG:
Điểm đặc biệt của Tạng Kinh Tây Tạng là có
hai bộ là Cam Châu Nhĩ và Đan Châu Nhĩ. Tất cả các khắc bản đều
nhất trí như thế, nhưng về nội dung thì có nhiều tiểu mục không
đồng nhất. Xin nêu ra đây ba khắc bản tiêu biểu cho sự không
đồng nhất về phần nội dung.
I.Tạng Đức Cách. Về nội dung, Tạng Đức
Cách được chia ra thành hai phần với hai mươi loại.
-Phần Cam Châu Nhĩ thì: 1-Luật bộ có mười ba
pho, 2-Bát Nhã bộ có hai mươi mốt pho, 3-Hoa Nghiêm bộ có bốn
pho, 4-Bảo Tích bộ có sáu pho, 5- Kinh bộ có ba mươi mốt pho,
6-Bí Mật bộ có hai mươi pho, 7-Tổng Mục Lục có một pho. Về kinh
bộ lại phân ra Đại thừa và Tiểu thừa kinh. Về Bí Mật bộ thì chia
ra thành mười vạn Đát Đặc La Bộ, Cổ Đát Đặc La Bộ. Còn có thêm
chú thích Thời Luân kinh “Đà La Ni Tập”, mỗi thứ hai pho. Tổng
cộng có một trăm pho với hơn bảy trăm bộ.
-Phần Đan Châu Nhĩ thì: 1- Tán tụng bộ mật
pho, 2-Bí Mật bộ có bảy mươi tám pho, 3-Bát Nhã bộ có mười sáu
pho, 4- Trung Quán bộ có mười sáu pho, 4-Trung Quán bộ có mười
sáu pho, 5-Kinh Sớ bộ có mười một pho, 6-Duy Thức bộ có mười sáu
pho, 7-Cu-Xá bộ có mười một pho, 8-Luật bộ có mười tám pho,
9-Phật truyện (bản sinh) bộ, 10-là Thư Hàm bộ, cả thảy có sáu
pho, 11-Nhân Minh bộ có hai mươi pho, 12-Thanh Minh bộ có bốn
pho, 13 -Y Minh bộ có một pho, 14-Công Xão Minh bộ có năm pho,
15-Tây Tạng Tuyển Thuật bộ, 16-Bổ Di Kinh Luận bộ có chín pho,
17-Tổng Mục Lục có một pho. Tổng cộng có hai trăm mười ba pho
với hơn ba nghìn bốn trăm bộ.
II.Tân Nại Đường Tạng
Nội dung của tạng bản nầy cũng được phân ra
thành bộ.
1.Cam Châu Nhĩ bộ: Cam Châu Nhĩ bộ lại phân
thành hai môn:
a.Nhân Thừa Bát Nhã Bộ thì có:1- Mục lục một
pho, 2-Giới Luật Bộ mười ba pho, 3-Bát Nhã Bộ hai mươi mốt pho,
4-Hoa Nghiêm Bộ sáu pho, 5-Bảo Tích Bộ sáu pho, 6-Tạp Kinh Bộ ba
mươi mốt pho, 7-Niết Bàn Bộ hai pho, tổng cộng là tám chục pho
với ba trăm bộ.
b.Quả Thừa Bí Mật Bộ:Bí Mật Bộ cũng chia ra
thành Vô Thượng Du Già Bí kinh, Du Già Bí kinh, Tu Bí kinh, Tác
Bí kinh cả thảy có bốn thứ, gom cả lại có hai mươi hai pho với
ba trăm bộ. Tính luôn hai môn có một trăm lẻ hai pho với hơn sáu
trăm bộ.
2.Đan Châu Nhĩ, thì có:1-Tán Tụng Bộ- một
pho, 2-Bí Mật Bộ tám mươi bảy pho, 3- Kinh Thích Bộ một trăm ba
chục pho, 4-Thanh Minh v.v… năm pho, 5-Mục lục một pho, cả thảy
có hai trăm hai mươi bốn pho.
III. Bắc Kinh Tạng
Nội dung tạng kinh nầy cũng phân ra hai bộ
là:
1-Cam Châu Nhĩ : 1-Bí Mật Bộ hai mươi lăm
pho, 2-Bát Nhã Bộ-hai mươi bốn pho, 3-Bảo Tích Bộ sáu pho, 4-Hoa
Nghiêm Bộ sáu pho, 5-Chư Kinh Bộ ba mươi hai pho, 6-Giới Luật
Bộ-mười ba pho, tổng cộng có một trăm lẻ tám pho với một ngàn
bộ.
2-Đan Châu Nhĩ: Đan Châu Nhĩ được chia ra ba
môn: 1- Tán Tụng Bộ nửa pho với sáu mươi tư bộ, 2-Bí Kinh Sớ Bộ,
lại chia ra thành Thời Luân v.v… có hai mươi bốn khoảnh với tám
mươi sáu pho rưỡi, gồm bốn nghìn ba trăm bộ, 3-Kinh Sớ Bộ lại
cũng chia Bát Nhã Bộ ra thành mười hai khoảnh với một trăm hai
mươi hai pho rưỡi , gồm tám trăm bộ. Cạnh đó còn thêm vào mười
bốn pho rưỡi như: Bổ Du Kinh, Tây Tạng Tuyển Thuật, Nguyện Văn
v.v… cả thảy có hai trăm hai mươi bốn pho với hơn năm nghìn một
trăm bộ.
Giá Trị Tạng Văn Đại Tạng Kinh.
Hiện nay trên thế giới, đứng về mặt văn tự và
khắc bản thì Tạng Kinh Phật giáo tối cổ là tạng kinh tiếng Ba-Li
của Ấn Độ. Tạng Ba-Lị được truyền ở các nước như: Tích Lan, Miến
Điện v.v… là những nước có nền văn hóa chịu ảnh hưởng Phật giáo
Tiểu thừa; tiếp đó là Tam Tạng bằng Phạn văn; Tam Tạng Phạn văn
được truyền ở những nước như: Trung Quốc, Tây Tạng v.v… là những
nước có nền văn hóa chịu ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa. Thứ
nữa là Tam Tạng bằng Hán văn do Trung Quốc căn cứ vào Tam tạng
Phạn văn của Ấn Độ mà phiên dịch ra Hán ngữ. Tam tạng Hán văn
nầy không chỉ là nền tảng văn hóa của Phật giáo Đại thừa tại
Trung Quốc mà còn ở Hàn quốc, Nhật Bản v.v…. Sau rốt là Tam tạng
của Tây Tạng. Đây là Tạng kinh mà người Tây Tạng dựa vào Tam
tạng Phạn văn và Tam tạng Hán ngữ để dịch ra thành Tạng kinh
bằng tiếng Tây Tạng. Tạng Văn Đại Tạng Kinh cũng được lưu hành
tại Mông Cổ, vì đó là các khu vực chịu ảnh hưởng của Lạt Ma
giáo. Trong bốn tạng kinh vừa nêu, thì tạng Phạn văn là thiếu
khuyết và bất toàn; Tạng Ba-Li thì chỉ bảo lưu được Tam Tạng của
Thượng Tọa Bộ thuộc thời đại Phật Giáo Bộ Phái có liên hệ với
“Phân Biệt Thuyết”. Tam tạng Hán văn tuy bao gồm các kinh điển
qua các thời kỳ Đại thừa và Tiểu thừa của Phật giáo Ấn Độ, nhưng
đối với kinh chú Mật giáo thời Vãn kỳ của Phật giáo Ấn Độ thì
chưa dịch được bao nhiêu. Độc nhất chỉ có Tam tạng bằng Tạng văn
là đầy đủ các kinh điển của Phật giáo Ấn Độ cả thời Tảo Kỳ cho
đến kinh chú Mật giáo thời Vãn kỳ. Do đó, có những kinh mà Hán
tạng thì đủ nhưng Tạng văn lại thiếu. Nhưng nếu đem Tam tạng
Thánh điển của Hán tạng sánh với Tam tạng Thánh điển của Tạng
ngữ, thì tạng của Tạng văn là hoàn bị hơn cả. Cho nên về phương
diện di sản văn hóa cũng như về mặt nghiên cứu, thì giá trị của
Tạng văn Đại Tạng Kinh có vị trí cực kỳ trọng yếu.
Do đa số dịch bản của Hán tạng có nguồn gốc
từ tam tạng Phạn văn, nhưng có nhiều bản Phạn văn hiện không
tìm thấy, trong khi Tạng văn tam tạng cũng được dịch từ những
nguyên bản Phạn văn và hiện vẫn còn. Hơn nữa, Tạng văn là do
biến cải văn tự Ấn Độ mà thành và, do Tây Tạng có địa lý tiếp
giáp với Ấn Độ nên phần lớn kinh văn được dịch là dịch trực tiếp
từ Phạn văn, không như lúc dịch ra Hán văn có những ngữ ý và
quan niệm bị “cách ngại” nên phải dịch ý chứ không thể trực tiếp
dịch văn như trường hợp Tạng văn. Cho nên đối chiếu hai dịch bản
Hán, Tạng sẽ giúp giới học giả tiếp cận và lý giải được nguyên
nghĩa của nguyên bản Phạn văn, hoặc tương đương với nguyên nghĩa
thì tham khảo kinh tạng Ba-Li, mới may ra khảo sát được diện mạo
Phật giáo Ấn Độ về mặt nghiên cứu và lịch sử.
So Sánh Hai Đại Tạng Kinh, Hán và Tạng văn .
Căn cứ theo kinh mục của Bố Đốn đại sư, có
thể đối chiếu và so sánh giữa hai đại tạng kinh Hán văn và Tạng
văn. Về đại thể mà nói thì Tạng Văn Đại Tạng Kinh có ba nguyên
nhân chịu ảnh hưởng thời đại mà cấu thành đặc điểm:
1.Những thánh điển cựu bản đã qua nhiều lần
biên đính của hậu thế. Như kinh Bát Nhã, kinh Bảo Tích và các
kinh khác v.v…
2.Những thánh điển cựu bản được chú sớ đầy đủ
rồi sau mới lưu hành. Như “Hiện Quán Trang Nghiêm Luận” v.v…
3.Có những kinh mà thời trước chưa được phát
hiện, mãi đến thời Vãn kỳ mới phát hiện và lưu hành như kinh chú
nói về Vô Thượng Du Già của Mật thừa và v.v…
Ba đặc điểm trên, kinh tạng Hán văn không có
được. Để phân biệt, có thể sưu tầm mục lục tam
tạng của bộ Cam Châu Nhĩ và Đan
Châu Nhĩ thuộc tam tạng Tạng văn để đối chiếu với tam tạng Hán
văn.
Xin có biều
đồ sau:

So với bản Hán dịch thì đồng bản
có 334 bộ, trong đó có 245 bộ là dịch bản thời Vãn kỳ thuộc đời
nhà Đường và nhà Tống; nhưng đa phần thuộc kinh bộ Hiển giáo
như: Kinh Bát Nhã, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Bảo Tích và “Căn Bản
Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Luật” v.v… về Mật giáo, bản Hán dịch
thiếu đến 331 bộ. Nếu nói về nhiều bản kinh chủ yếu của bốn bộ
Mật thừa thì bản Hán dịch mới chỉ là đại khái.
1.-Tác Mật có bốn kinh chú căn
bản, nhưng bản Hán dịch chỉ có “Tô Tất Địa Kinh”, bản dịch của
Đường Châu Ca Tha La, “Tô Bà Hô Đồng Tử Kinh” do Thiện Vô Úùy
đời Đường và Pháp Thiên đời Tống dịch. Còn thiếu “Nhất Thiết Mạn
Trà La Bí Mật Chú Kinh” và “Thiền Định Ngoại Thiên Bí Kinh”.
2.-Tu Mật có ba Chú kinh căn bản,
nhưng bản Hán dịch mới có một, đó là “Đại Nhật Kinh”, do Thiện
Vô Úy đời Đường dịch. Còn thiếu ngoại thiên “Đại Nhật Kinh” và
“Kim Cang Thủ Quán Đảnh Chú Kinh”.
3.-Du Già Mật có hai Chú kinh căn
bản, bản Hán dịch chỉ có “Nhiếp Chân Thực Tánh Bí Kinh”, bản
dịch của Thi Hộ đời Tống. Còn thiếu “ngoại thiên” của chú kinh
nầy.
4.-Vô Thượng Du Già Mật được chia
thành hai môn:
a.Phụ Bộ tam loại, thì Thi Hộ đời
Tống mới dịch được “Mật Tập” ra Hán văn, còn thiếu “Xích Hắc Dạ
Ma Kim Cang Bố Úy” và “Kim Cang Đại A La Lê Chú Kinh”
b.Mẫu Bộ tam loại, Pháp Hộ đời
Tống dịch bộ “Hỉ Kim Cang”, còn thiếu bộ “Thắng Lạc” và “Thời
Luân”.
Từ các nhân tố trên cho thấy Phật
giáo Tây Tạng trực tiếp tiếp nhận học phong và thành quả của
thời đại Mật thừa Phật giáo Ấn Độ một cách trọn vẹn và hoàn hảo,
trong khi đó kinh điển Mật
thừa
của Phật giáo Ấn Độ phải đợi đến sau đời nhà Đường Trung Quốc
mới biết đến. Vì thể, Thánh điển Bí Mật Thừa của Tạng Văn Đại
Tạng Kinh có phần hoàn mỹ hơn Hán Văn Đại Tạng kinh của Trung
Quốc. Xin có biểu đồ đối chiếu sau:

Biểu đồ 2 cho thấy truyền bản Tây Tạng có cả
thảy 670 bộ, trong khi bản Hán dịch chỉ có 75 bộ, trong đó có
đến 59 bộ được dịch vào thời nhà Đường và nhà Tống. Vấn đề trên
có thể chia làm bốn khoảnh nhằm giải minh những trọng điểm:
1.Hai bộ luận căn bản của Long-Thọ là “Thất
Thập Không Tánh Luận” và “Trung Quán Luận”; Nhưng Trung Quốc thì
mới dịch bộ Trung Quán Luận. Những chủ sớ của hai đại luận sư là
Phật Hộ và Nguyệt Xứng về cái học của Long Thọ thì Trung Quốc
chưa thấy có. (Năm 1962, Trung Hoa Dân Quốc có xuất bản bộ “Nhập
Trung Luận Giảng Ký” do pháp sư Diễn Bồi dịch của Nguyệt Xứng).
Từ Thị Ngũ Luận là sở tông của Vô Trước,
nhưng Trung Quốc còn thiếu hai bộ (hiện tại còn thiếu một bộ,
xin xem chú thứ tư của tiết nầy).
3.Về phương diện Nhân Minh, Trần Na là người
kế nghiệp Thế Thân, và luận nầy được truyền vào Tây Tạng cả thảy
chín bộ, trong khi Trung Quốc mới dịch được có bốn, là “Nhân
Minh Nhập Chánh Lý Luận”, “Nhân Minh Nhập Chánh Môn Luận”, “Quán
Sở Duyên Duyên Luận Tụng” và một bộ chú thích ba bộ Luận trên.
Hai bộ trước đề là Thương Yết La chủ tạo. Còn về đại gia là luận
sư Pháp Xứng, người kế khởi cái học suy diễn của Nhân Minh, thì
Hán dịch chưa thấy.
4.Còn về sớ giải Thành Tựu Quyết Nghi Quỹ
Thuật Yếu v.v… có quan hệ đến Mật thừa thì bản Hán dịch hãy còn
thiếu rất nhiều.
Từ những đối chiếu, so sánh về sự thiếu đủ
giữa hai tạng kinh Hán văn và Tạng văn cho thấy Phật giáo Tây
Tạng trực tiếp chịu ảnh hưởng những trước thuật của Phật giáo Ấn
Độ vào thời Vãn kỳ là như thế nào. Chỉ riêng Nguyệt Xứng và Pháp
Xứng cùng với Vô Thượng Du Già của Mật thừa, thì vào thời nhà
Đường, ở Trung Quốc vẫn chưa thấy xuất hiện. Kinh điển Mật thừa
nào vừa xuất hiện ở Ấn Độ, thì ngay sau đó được truyền vào Tây
Tạng, diều đó tạo nên một nét đặc sắc cho Phật giáo Mật thừa Tây
Tạng. Về luận điển của các tác giả Hiển thừa của Ấn Độ được
truyền vào Tây Tạng ước có hai mươi bảy nhà (tư liệu dùng trong
mục nầy được lấy từ “Tây Tạng Phật Giáo Nguyên Luận”, trang
51-55.
Phần chú giải:
*Chú 1: Bảy bộ luận Tỳ Đàm. Xem “Ấn Độ Phật
Giáo Sử”, chương 6, tiết 2. Đơn cử như “Phát Trí”, “Lục Túc”
v.v cả thảy bảy bộ.
*Chú 2: “Đại Thừa Nghi” nguyên nghĩa trong
Tạng văn là “Xa Quỹ Khai Cải Giả” chỉ tư tưởng căn bản của các
đại sư khai sáng tông phái Đại Thừa. Xưa nay chỉ có hai vị là
Long Thọ và Từ Thị, Bố Đốn từng theo học phái của Nha-Quân và
Trần Na. Kỳ thực Nha Quân chỉ chú trọng thuyết “Vô tánh vô
tướng” và ông không xuất thân trong phạm vi thuyết Trung Quán
của Long Thọ; Trần Na-người truyền bá cái học của Vô Trước và
ông không lập lại thuyết “Ngoại Cảnh Hữu”. Nhưng ông chính là
hậu duệ của Vô Trước. Vì vậy, trong trước tác của Tông Khách Ba
“Hiện Quán Trang Nghiêm Luận Kim Man Sớ”, ông có vẻ phản đối lại
thuyết Tứ Nghi của Bố Đốn.
*Chú 3: Sáu luận của Long Thọ là: Thất Thập
Không Tánh Luận, Trung Luận, Lục Thập Như Lý Luận, Hồi Tránh
Luận, Quảng Phá Luận, Giả Danh Thành Tựu Luận.(bộ Giả Danh Thành
Tựu Luận chưa được truyền vào Tây Tạng, hoặc có thì đó là bộ Bảo
Man Luận được thay vào).
*Chú 4: 1-Từ Thị Ngủ Luận là chỉ các bộ luận:
Hiện Quán Trang Nghiêm Luận, Biện Trung Biên Luận, Đại Thừa Kinh
Trang Nghiêm Luận, Biện Pháp Tánh Luận, Tục Thượng Sư Luận.
Trong năm bộ luận trên, thì bộ thứ nhất và thứ năm chưa được
dịch ra Hán văn, mới đây-năm 1942, Pháp sư Pháp- Tôn có dịch bộ
Hiện Quán Trang Nghiêm Luận ra Hán văn .
2-Vô Trước Ngũ Địa, tức năm phần; như: Nhiếp
Bổn Địa Phần của Du Già Sư Địa Luận mà bản Hán dịch nói là do Từ
Thị truyền, còn Tây Tạng thì cho là do Vô Trước truyền, và gồm
có: Căn Bản Chư Địa, Nhiếp Quyết Trạch, Nhiếp Sự, Nhiếp Dị Môn,
Nhiếp Thích, còn gọi là Nhị Nhiếp, tức chỉ cho A Tỳ Đàm Đạt Ma
Tập Luận và Nhiếp Đại Thừa Luận.
3-Bát Chi của Thế Trần là chỉ đạo cho Duy
Thức Tam Thập Luận, Duy Thức Nhị Thập Luận, Ngũ Uẩn Luận, Thích
Quỹ Luận, Thành Nghiệp Luận, Đại Thừa Trang Nghiêm Luận Thích,
Biện Trung Biên Luận Thích, Duyên Khởi Luân Thích. Cả tám chi
nầy Hán và Tạng đều dịch đầy đủ.
*Chú 5: 1-Thất Chi của Pháp Xứng là chỉ:
Chính Lý Đệ Nhất Đích Luận, Lượng Quyết Định Luận, Tương Thích
Luận, Nhân Luận Nhất Đích Luận, Quán Tường Thuộc Luận, Luận Nghị
Chính Lý Phẩm Loại Luận, Thành Tha Tương Thuộc Luận, 2-Thất Quán
là chỉ: Quán Sở Duyên Tụng của Trần Na , Quán Tam Thế Tụng cũng
của Trần Na, Quán Văn của Thiện Hộ, Quán Vô Lượng Tụng của Pháp
Thắng, Tiểu Bản Quán Lượng Luận ( vốn là một tiết trong Quán
Lượng Luận). Quán Phá Tha Tụng đều là của Thiện Hộ, Quán Tương
Thuộc Luận Tuỳ Thuận Luận của Thương Yết La Nan Đà.
3-Bát Thành là chỉ Thành Tựu Nhất Thiết Trí
Tụng và Thành Tựu Ngoại Nghĩa Tụng của Thiện Hộ, Thành Tựu Phá
Khiển Luận của Thương Yết La Nan Đà;Thành Tựu Bĩ Thế Gian Luận
của Pháp Thắng, Thành Tựu Sát Na Diệt Luận cũng của Pháp Thắng,
Thành Tựu Duy Thức Tánh Luận của Bảo Tác Tịch, Thành Tựu Tương
Thuộc Luận của Thươnh Yết La Nan Đà, Thành Tựu Nhân Quả Tánh của
Trí Cát Tường Hửu.
4-Thất Trùng Sớ là chỉ cho thích luận của
Pháp Xứng đối với Thất Chi; trong đó ngoài Pháp Xứng viết thích
luận còn có :Đế Thích Huệ, Thích Ca Huệ, Huệ Tác Hộ, Thắng Giả,
Thương Yết La Nan Đà, Nhật Hộ, Dạ Ma Lê, Luận Thiên, Tịch Hộ,
Pháp Thắng, Liên Hoa Giới, Thắng Hửu, A Đê Đà v.v..cùng tham gia
viết thích luận, một số về Nhân Minh Luận Trung Quốc vẫn chưa
dịch và truyền bá.
TIẾT II : Tự Viện Và Pháp Vật Của Phật
Giáo Tây Tạng.
Tây Tạng Tự Viện.
Phật giáo vốn dĩ đã trở thành quốc giáo của
Tây Tạng. Do đó, số lượng tự viện là rất nhiều. Riêng về những
ngôi đại tự nổi tiếng có hơn 3.000. những tự viện bình thường
thì không thể kể xiếc. “Chiêu Đề Lan Nhã” không đâu là không có.
(xem Phật Tây Tạng và Mông Cổ của Lý Dực Chước-trang29). Lối nói
trên có phần khoa đại. Theo “Quản Lý Tây Tạng Tông Giáo Sự Vụ”,
do Đại Trọng dịch lời của Nhiên Ba khẩu thuật; thì toàn cảnh Tây
Tạng có hơn một nghìn bảy trăm (1.700) ngôi tự viện. Nhân số Lạt
ma ước khoảng năm mươi mốt vạn (510.000) người. (Tây Tạng Kỷ Yếu
của Ngô Trung Tín–trang 51). Lúc Nhân Dân Giải Phóng Quân tiến
vào Tây Tạng, bấy giờ Tây Tạng có 2469 toà tự viện và mười một
vạn tăng, ni (Biên Cương Luận Văn Tập-trang 1346).
Kiểu kiến trúc tự viện của Tây
Tạng thông thường là từ cao xuống thấp, sao cho cảnh sắc thích
nghi với sinh hoạt của tăng nhân. Tiền điện thường quay về hướng
đông, tốt nhất là trước mỗi tự viện nên có đầm hay hồ nước.
Những ngôi đại tự viện thường có toà tiểu thành, cách bài trí
phòng thất thường cao từ hai đến ba tầng. Do Tây Tạng cây rừng
rất ít, vì vậy việc xây cất phần lớn là sử dụng đá hoặc gạch
nung; một số ngôi chùa được xây theo kiểu mái bằng không có nóc.
Các tầng dưới cùng không có cửa sổ, thường được dùng làm kho
chứa. Đường dẫn vào tự viện thường treo nhiều tràng phang thành
từng dãy dài, nhiều tháp nhỏ và thạch bản có khắc bài minh.
Nay xin giới thiệu tám ngôi đại
tự viện trứ danh của đất nước Tây Tạng.
1.-Tang Diên Tự, hoặc có nơi
dịch ra Hán tự là Tác-Tang Da Tự. Ngôi đại tự nầy tọa lạc ở bắc
ngạn sông Bố Giang, thuộc địa xứ Nhả-Lổ-Tạng cách Lạp-Tát
(Lasha) ước khoảng ba mươi dặm Anh về hướng đông nam. Ngôi đại
tự viện nầy được kiến tạo vào thời Tạng vương Cật Lật Song Đề
Tán; công trình nầy do hai ngài Tịch Hộ và Liên Hoa Sanh chỉ đạo
xây dựng. Trong khuôn viên chùa gồm có một tòa đại điện, bốn
viện đại học, mỗi học viện có lối kiến trúc riêng. Chung quanh
đều có tường cao và dài, giáp vòng khép kín ước có hơn dặm rưỡi
Anh. Bên trên tường thành có khoảng một nghìn ba mươi toà tiểu
tháp được xây bằng gạch nung, trung tâm chánh điện thờ một tượng
Phật cực lớn, cao đến mười thước Anh. Những tượng Phật thờ trong
chùa đa phần được đúc bằng vàng ròng, đồng thời lại dùng châu
báu trang sức các tượng Phật. Những tự khí dùng để cúng Phật
cũng toàn bằng kim ngân tạo thành. Tăng lữ thường trú ước có một
nghìn vị. Chùa Tang-Diên nguyên là đạo tràng của Hồng giáo, từ
năm Dân quốc hai mươi chín (1940) trở về sau, chùa mới do Hoàng
giáo trú trì.
2- Chùa Bố Đạt Lạp:
Còn có tên là Bố Đạt Lạp Cung, cung thất nầy vốn là do Tạng
vương Tùng Tán Cang Bố (Khí Tông Lộng Tán) kiến lập, nhưng trải
qua nhiều biến loạn nên diện mạo của chùa không còn như trước.
Chùa Bố Đạt Lạp hiện nay do đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ năm đứng
ra đại trùng tu, nhưng không thể hoàn thành trong đời của Ngài.
Bởi nó được khởi công từ đời vua Trang Liệt Đế nhà Minh, năm
Sùng Chính mười bốn (1641) kéo dài đến sáu, bảy mươi năm sau mới
hoàn tất. Chùa được tạo dựng trên một địa cuộc bằng phẳng, tọa
lạc trên một ngọn tiểu phong của dãy núi Bố Đạt Lạp ngay tại Lạp
Tát. Nền chùa thóang rộng và chiếm hết nữa quả núi. Do chùa có
vô số điện-vũ kết thành và dựa vào thế núi mà kiến trúc, nhờ vậy
mà chùa có lầu cao đến mười ba tầng. Ở trung tâm là ba toà kim
điện, trước điện có năm ngôi kim tháp. Đỉnh cao nhất của tầng
thứ mười ba đo được 900 thước Anh[1].
Nếu so với Kim Sắc Thập Tự Giá trên đỉnh đại giáo đường thánh
Bảo La của La Mã, thì cao hơn bảy chục thước Anh. Điều đó cho
thấy một nền kiến trúc bằng tài nguyên đá vô cùng vĩ đại. Vậy,
ai dám nghĩ Tây Tạng là một địa khu có nền văn hóa lạc hậu!
3- Chùa Đại-Chiêu:
Tương truyền Tạng vương là Khí
Tông Lộng Tán vì công chúa Ba-Lợi-Khố-Cơ của xứ Ni Bạc Nhĩ mà
kiến lập chùa nầy nhằm để phụng thờ những kinh, và tượng Phật do
công chúa mang đến Tây Tạng. Chùa Đại Chiêu tọa lạc tại kinh đô
Lạp Tát(Lasha), lưng quay về hướng đông, tiền diện thuộc hướng
tây, chùa có lầu cao bốn tầng, tầng trên cùng có năm toà kim
điện, lan can, điện vũ của năm toà kim điện đều có cấu trúc bằng
đồng có pha vàng nguyên chất. Toà kim điện trung tâm thờ tượng
Phật Thích -Ca-Mâu-Ni, tượng do Văn Thành công chúa thỉnh về từ
Trung Quốc. (những kinh và tượng Phật do hai vị công chúa mang
về Tây Tạng, đời sau vẫn lưu giữ và phụng thờ). Người dân Tây
Tạng còn họa chân dung vua Khí Tông Lộng Tán và hai vị công chúa
để thờ.
4- Chùa Tiểu Chiêu
Tương truyền chùa được tạo lập là
vì Tạng vương Khí Tông Lộng Tán thương cảm công chúa Văn Thành
cứ luôn nhớ về cố hương –nhà Đường. Chùa tọa lạc về phía bắc
chùa Đại Chiêu, lưng quay về hướng tây, tiền điện thuộc hướng
đông. Chùa có lầu cao ba tầng, tầng trên cùng có một toà kim
tháp, chánh điện của chùa thờ tượng phật A- Xúc-Kim-Cang, và
tượng Đa La Tôn Nữ, hai tượng nầy do công chúa của Ni Bạc Nhĩ
mang về Tây Tạng.
5- Chùa Cam-Đan
Đây là ngôi đại tự do đại sư Tông
Khách Ba kiến tạo. Chùa tọa lạc trên núi Vượng Cổ Nhĩ, cách Lạp
Tát khoảng hai mươi lăm dặm Anh về phía đông bắc. Về hình thế,
chùa Cam-Đan giống như chùa Bố Đạt Lạp. Điện thờ Phật và tàng
kinh các vô cùng trang nghiêm như chùa Đại Chiêu và chùa Tiểu
Chiêu. Bên trong nội tự, chùa thờ rất nhiều Thánh tượng trứ
danh. Như tượng Ái Nhiễm Minh Vương có hai thân hình, tượng Phật
An Lạc, tượng Phật Di Lặc tọa thiền, bên cạnh tượng Phật Di Lặc
là tượng Tông Khách Ba được người đời sau điêu khắc thêm vào.
Nơi được chiêm ngưỡng nhiều nhất là tháp thờ Xá Lợi của đại sư
Tông Khách Ba. Những vị hiến cúng tịnh tài để kiến tạo ngôi
chánh điện chùa Cam-Đan là Đại Lý Thạch và Khổng Tước Thạch (tục
danh là Tùng Duyên Thạch). Trên chóp đỉnh của chùa được phủ một
lớp vàng ròng. Trong chùa cũng có bia bằng vàng ròng. Di thể của
đại sư Tông Khách Ba hiện nay vẫn trong tư thế đoan tọa, trên
thân phủ ngủ y có Đà La Ni kệ. Ngoài ra chùa còn có tượng Tử Chủ
Diêm Ma (Yama Ràja), tức vị thần trông coi về tử vong. Để được
kế thế trú trì chùa Cam-Đan, cũng giống như hai ngôi đại tự là
Sắc Lạp và Triết Phong, do ba ngôi đại tự nầy có liên hệ mật
thiết với nhau, do đó để trở thành vị trú trì chùa Cam-Đan, vị
đó phải được đồ chúng của ba đại tự hợp lại suy tuyển một vị Lạt
ma cao đức đứng ra đảm nhiệm, nhưng vị ấy phải là Hô Tất Lặt Hãn
chuyển thế (tái sinh). Tăng thường trú của chùa đạt đến con số
ba nghìn ba trăm vị.
6. Chùa Triết Phong
Chùa do đại sư Tông Khách Ba và
vị đại đệ tử của ông là Liễm Khâm kiến tạo, chùa ở về phía Nam,
cách Lạp Tát ba dặm Anh, lối kiến trúc của chùa là dựa vào thế
núi, bốn bên đều có bài trí lầu các, còn kim tháp thì trùng
trùng điệp điệp. Đây là ngôi đại tự viện mà thế lực của nó được
liệt vào hàng bậc nhất ở Tây Tạng!
Ngày nay, Chùa Triết Phong vẫn là
ngôi tăng viện lớn nhất thế giới. Toàn cảnh chùa được chia thành
bảy ngôi, mỗi ngôi đều có học viện độc lập. Mỗi học viên được
một vị đại Lạt ma Kham Bố (cao đức) đảm trách. Về tài chính của
chùa không do chính phủ Tây Tạng tài trợ. Trụ chúng của chùa có
đến bảy nghìn bảy trăm vị.
7. Chùa Sắc Lạp
Đây là ngôi đại danh tự tọa lạc
dưới chân triền núi, ở về phía bắc Lạp Tát khoảng ba dặm Anh.
Chùa được tạo dựng bởi một vị đại đệ tử của Tông Khách Ba là
Liễm Dạng và các môn đệ của ông nầy. Những tầng lầu và phòng ốc
đều xây dựng bằng đá nằm so le nhau cao chót vót, vì là tầng nầy
xây chồng lên tầng kia và cứ như thế mà xây. Chùa có ba toà đại
điện với đỉnh cao vút như ngọn bút cắm thẳng vào không trung và
được phủ bằng vàng ròng cực kỳ tráng lệ. Toàn cảnh chùa được
chia thành bốn học viện độc lập với nhau. Tăng thường trụ có đến
năm nghìn năm trăm vị. Chùa còn lưu giữ một chày Kim Cang dài
gần hai mét. Chày có hai đầu, một đầu giống như cây Giản có ba
cạnh, đầu kia giống như đầu người. Tương truyền khi chùa đang
xây lở dở bổng đâu chày từ bên Thiên Trúc bay đến. Người dân Tây
Tạng vừa sợ vừa kính thờ, hằng năm cứ vào tháng chạp (vào
khoảng ngày 27) có tục nghinh thỉnh chày về cung Bố Đạt Lạp,
phần có đầu giống đầu người thì do một vị Lạt-ma đội, sau đó
thỉnh chày về lại chùa Sắc Lạp và đặt trước sân chùa để bá tánh
đến chiêm bái.
8. Chùa Trát Thập Luân Bố
Đây là ngôi đại tự được xây dựng
ở Hậu Tạng, vị trí của chùa được nối liền từ đông sang tây thuộc
thủ phủ Nhật Khách Tắc của Hậu Tạng, gồm nam ngạn sông Bố Giang
của Nhã Lỗ Tạng, và giao nhau tại cửa khẩu của sông Sở Niên.
Chùa do một vị Đạt Lai Lạt Ma kiến tạo, lưng dựa vào núi, mặt
hướng ra sông, chánh điện cực lớn.Chùa được chia thành bốn học
viện, trong đó ba học viện tu học theo giáo nghĩa Hiển thừa, một
học viện tấn tu Mật thừa kinh chú. Mỗi học viện lại chia ra bốn
cấp học tuần tự từ thấp lên cao. Từ sau vị Đạt Lai đời thứ năm,
chùa trở thành hệ thống của Ban Thiền. Chúng thường trụ của chùa
có đến ba nghìn tám trăm tăng lữ, vào thời cực thịnh có đến bảy
nghìn vị.
Pháp Khí Phật Giáo Tây Tạng.
Pháp khí là chỉ cho pháp vật, khí
cụ bao gồm cúng cụ và dụng cụ. Điều này khi Phật còn tại thế đã
có chế định; Tỳ kheo có đủ ba y, bình bát, tọa cụ và đãy lọc
nước.
Bồ Tát giới trong kinh Phạm Võng
được lưu truyền tại Trung Quốc cũng có qui định những Tỳ kheo
đầu đà cần có đủ mười tám thứ. Vì là Phật giáo thời nguyên thủy
có tính giản dị phi thường, không như đời sau Mật thừa trọng thị
Nghi Quiû phiền phức và đặc định ra nhiều pháp khí để dùng trong
đàn tràng tu Mật. Nhân đấy mà Phật giáo Tây Tạng rất coi trọng
pháp khí. Tuy nhiên đó cũng là nét đặc sắc của Phật giáo Mật
thừa. Sở dĩ vậy, là vì Phật giáo Ấn Độ thời Vãn kỳ hấp thu những
vật khả thủ từ Ấn Độ giáo, sau đó truyền vào Tây Tạng. Ngoài ra
Phật giáo Mật thừa của Tây Tạng cũng lãnh thọ những khí dụng của
Bổng giáo tại bản địa. Xưa nay Phật giáo ở nội địa Trung Quốc
đối với việc sử dụng pháp khí cũng có rất nhiều dạng, là do chịu
ảnh hưởng của Đạo-giáo và Mật giáo, đặc biệt là từ đời Nguyên
trở lui, danh mục pháp khí của Phật giáo Trung Quốc càng lúc
càng nhiều thêm.
Danh mục pháp khí của Phật giáo
Tây Tạng rất nhiều, nay liệt kê các thứ thường dùng chính yếu
như sau; có sáu loại:
I. Các thứ dùng trong lễ bái.
(1) Ca Sa giống như Y của Trung Quốc. Về ý nghĩa thì “đồng”,
nhưng về hình thức thì “khác”. (2) Quải châu (chuỗi đeo). Châu
có nhiều thứ: Bồ đề tử, Kim cang tử, Liên tử, Thuỷ tinh, Trân
châu, San hô, Hổ phách, Mã não, Pha lê, Thanh kim, Bạch kim, Mộc
hoạn tử, Nhân đầu cốt v.v… tuỳ hành giả tu theo pháp môn nào thì
sử dụng loại châu nấy, và thuờng là đeo nơi cổ. (3) Cáp Đạt là
cái túi lụa trắng, dài và vuông được làm bằng thứ lụa đặc chế.
Trong xã giao, người Tây Tạng cần có cái Cáp Đạt, nó được dùng
trong các việc như: lễ tiễn, chào khách, yết kiến Lạt Ma, và
trong việc thông tin với bằng hữu. Người ta biếu tặng nhau
Cáp-Đạt để biểu lộ sự thành kính. Việc sử dụng Cáp Đạt cũng còn
tuỳ theo thân phận mà có sự to nhỏ, dài ngắn, rộng hẹp chứ không
thể hỗn tạp.
II. Đồ dùng trong tán tụng:
(1) Chuông: chuông có nhiều loại lớn nhỏ khác nhau.(2) Mỏ: có
hai loại là mỏ bằng kim loại và mỏ bằng gỗ. (3) Trống: có trống
lớn, trống mang trên lưng, trống mang trên cổ, trống bằng đồng
thau.(4) Linh – có nhiều loại lớn nhỏ khác nhau. (5) Nao-Việt:
loại lớn gọi là Nao, loại nhỏ gọi là Việt. (6) Tất: giống như
ống tiêu loại nhỏ.(7)Cốt Địch: được chế tác từ xương người chết.
(8) Lục huyền cầm v.v…
III. Các đồ dùng cúng dường:
(1) Lư hương: Có rất nhiều dạng thức. (2) Đăng đài:cũng có nhiều
loại.(3) Thuỷ phồn. (4) Đồ cúng hiến: như bình, mâm, bồn, bát,
uyển v.v…, có trường phang, đoản phang, đại và tiểu phang v.v…
hình thức giống như buồm của ghe thuyền. (6) Tràng: có nhiều
loại như Vũ mao tràng, Bảo hiệp tràng, Ty quyên tràng v.v… hình
thức giống như cờ tiết. (7) Hoa Cái: cũng có nhiều loại khác
nhau, (8)Anh-Lạc: thứ đội trên đầu gọi là Anh, thứ mang ở thân
gọi là Lạc. Cả hai đều dùng châu báu xâu lại mà thành. (9) Hoa
Man: có nhiều chủng loại như: dài, tròn, vòng, thêu v.v… dùng
các loại như quyển, điều, hoa quí mà tạo thành.(10) Hoa Lung: là
loại giỏ dùng đựng hoa, được chế tác từ vàng, bạc, tre, gỗ v.v….
IV. Các đồ dùng để trì nghiệm:
(1) Mạn Đồ La: được dùng trong đàn tu Mật pháp. Có ba thứ là
vuông, tròn, tam giác. (2). Niệm châu: không như Quải châu
(chuỗi đeo) vì hạt có phần nhỏ hơn. Quải châu có 108 hạt, Niệm
châu có loại 108 hạt, có loại 1080 hạt. (đây là loại châu mà
phái Thấp Bà trong Ấn Độ giáo thường dùng. Phật giáo chỉ dùng
loại 108 hạt). (3) KimCang Chữ, có ba loại: loại nhất cổ, loại
nhị cổ và loại ngũ cổ. Chất liệu dùng để chế tác có thể là kim
cang, hoặc hương mộc. (4) Chữ Linh: cũng có ba loại: nhất cổ,
nhị cổ và ngũ cổ. (5) Luân: có nhiều dạng thức. (6) Cổ: có hai
thứ là Đại cổ và Kê lâu cổ. (7) Dẫn khánh: khánh của Trung Quốc
và Tây Tạng đều sử dụng giống nhau.(8)Mộc-ngư: cách dùng Mộc ngư
giữa Trung Quốc và Tây Tạng tương đồng. (9) Quán đảnh hồ, là hồ
nước bí mật được các vị Lạt ma sử dụng trong lúc làm phép Quán
đảnh cho các đệ tử.
V. Đồ dùng hộ ma
(Ma ở đây là danh từ riêng chứ ma
không phải là ma quiû): (1) Mạn trà la: có nhiều thứ loại. (2)
Lư : có lư vuông, lư tròn và lư hình tam giác, tuỳ theo đàn pháp
mà dùng. (3) Hộ Thân Phật là tượng Phật đúc bằng đồng, tượng
được đựng trong hộp bằng kim loại bạc, dùng để đội trên đầu,
hoặc đeo trước ngực. (4)Bí Mật Phù Chú Ấn: có ba loại là vuông,
tròn, tam giác, lại phân ra có loại dùng để hộ thân, có loại để
hộ gia trạch, có loại để hộ quốc, có loại để đuổi tà, để trừ
tai và để tăng phúc v.v…
VI. Đồ dùng để khuyến đạo:(1) Ma Ni
Luân (Mani-hkhor), hình dáng giống cái thùng tròn, giữa có một
trục để dùng tay cầm mà quay nó sẽ xoay tròn, bên trên có khắc
Lục Tự Đại Minh Chú (còn gọi là Lục Tự Quan Âm Chú, Quan Âm Lục
Tự Minh Chú, Lục Tự Minh Chú). (2) Kỳ Đảo Đồng, hình dáng cũng
giống như Ma Ni Luân nhưng lớn hơn đôi chút, nhờ vào sức gió,
sức nước hoặc cơ khí mà chuyển động xoay tròn. (4) Kỳ Đão Bích:
được khắc vào bảng gỗ sáu chữ Lục Tự Đại Minh Chú, dùng treo
trên vách tường. (5) Kỳ Đảo Trạch khắc “Lục Tự Đại Minh Chú” lên
phiến đá đặt dưới chân núi, hoặc trí ở giữa đường. Tất cả những
pháp khí vừa nêu được dân gian Tây Tạng – người người, nhà nhà
đều sử dụng trong sinh hoạt thường nhật.
Phật Giáo Tây Tạng – Trai
Tiết và Pháp Hội
Phật giáo Tây Tạng có rất nhiều Pháp hội, xin
đơn cử những Pháp hội chính yếu:
1- Truyền Chiêu Đại Pháp Hội. Đây là
Pháp hội được tổ chức vào ngày rằm tháng giêng hằng năm tại
trung tâm của toàn khu Tiền Tạng, có tính cách một Đại Pháp Hội.
Từ ngày mùng ba, mùng bốn, chậm lắm không quá ngày mùng năm
tháng giêng, toàn thể tăng chúng của ba ngôi đại tự tại Lạp Tát
đều vân tập về thị khu Lạp Tát; thứ đến theo định kỳ, giờ ngọ
hôm sau toàn thể tăng lữ tại các tự viện thuộc Tiền Tạng đều vân
tập về tại chùa Đại Chiêu để sáng hôm sau thực hành các thời
khóa, mỗi ngày có bốn thời tụng kinh. Sau thời kinh sáng, tăng
chúng được dùng cháo và uống trà, kế tiếp là lễ Bố tát tụng
giới. Sau lễ Bố tát là phần mở hội biện luận để khảo thí lấy học
vị Cách Tây. Mỗi ngày chỉ lấy một người, tiếp theo là khóa lễ
cúng ngọ, sau lễ cúng ngọ tăng chúng chỉ được phép uống trà chứ
không thọ thực, tiếp nữa là hội biện luận nhằm khảo thí những
vị kế tiếp để tuyển chọn học vị Cách Tây, biện luận kéo dài đến
nửa đêm. Đại Pháp Hội Truyền Chiêu mỗi kỳ tổ chức kéo dài liên
tục đến ngày hai mươi tháng giêng mới kết thúc.
2. Tiểu Chiêu Tự Tập Hội:
Pháp hội được cử hành vào tháng hai (âm lịch)
hằng năm. Về nghi thức, nhân số, trình tự cũng giống như Pháp
hội của chùa Đại Chiêu. Chỉ có điều ở pháp hội nầy các vị Lạt-ma
cao đức, tôn quí không tự tham gia mà phải lễ thỉnh. Cũng có
khảo thí chọn lấy học vị Cách Tây, nhưng so với học vị Cách Tây
của chùa Đại Chiêu thì học vị Cách Tây của chùa Tiểu Chiêu thuộc
hàng đệ nhị cấp.
3. Lễ hội tắm Phật
Hằng năm vào ngày mùng 8 tháng
4 âm lịch, người Tây Tạng cử hành lễ tắm Phật cực kỳ long trọng.
4. Bảo Bối Phật Niết Bàn Đại Pháp Hội:
Bảo Bối Phật là cách tôn xưng của người Tây
Tạng đối với đại sư Tông Khách Ba. Đại sư viên tịch ngày 25
tháng 10, tuy nhiên không tập hợp tăng chúng của các ngôi đại tự
về một trú xứ nhất định để tụng kinh, thay vào đó mỗi tự viện
đều cử hành đại pháp hội nầy, với tình huống long trọng hơn cả
lễ hội tắm Phật. Trong lễ hội nầy, các chùa thuộc phái Hoàng
giáo không chùa nào là không tổ chức một cách cực kỳ trang
nghiêm và trọng thể. Chùa nào cũng trần thiết đèn dầu hết sức
tinh xảo, sáng lạng, được tạo nên bởi các nghệ nhân vô cùng
thiện nghệ đến độ không một ngọn đèn nào lại không phóng ra cả
nghìn màu sắc! Ngay cả “mọi nhà khắp nơi” trong dân gian Tây
Tạng, nhà nào cũng đều treo một ngọn đèn dầu ở vào vị trí cao
nhất. Vì thế dân gian Tây Tạng gọi pháp hội nầy là Đăng Tiết.
5. Trai Nguyệt (tháng chay):
Hằng năm, dân gian Tây Tạng lấy tháng giêng
và tháng hai làm “Đại trai nguyệt” (tháng tất cả đều ăn chay),
lấy ngày tết nguyên đán làm ngày “Khiêu vũ tế”, mùng hai tết là
ngày “Phi thằng tế”, mùng ba tết là ngày “Phiên chủ tế”, tất cả
đều cử hành tại cung Bố Đạt Lạp. Từ ngày mùng 6 đến ngày 21
tháng giêng là lễ “Đại thí tế”. Trong lễ nầy, tăng chúng các
chùa tại Lạp Tát đều vân tập về chánh điện của bản tự mình để
tụng kinh, đồng thời cũng để tiếp nhận phẩm vật cúng dường. Ngày
rằm tháng giêng là lễ cúng đèn, ngày 18 tháng giêng là lễ đuổi
tà, ngày 20 tháng giêng là lễ duyệt binh, ngày 25 tháng giêng
là lễ đua ngựa, ngày 30 tháng giêng là lễ trừ quiû. Tháng hai,
ngày 17 là lễ Dậm chân (vũ đạo). Tây Tạng đã là một “Phật quốc”.
Do đó, không có bất kỳ lễ chay nào người ta không mời thỉnh tăng
lữ và không làm các Phật sự nhiêu ích. Bất luận là nam phụ lão
ấu vào tháng chay tịnh không ai là không chí thành niệm tụng Lục
Tự Đại Minh Chú. Trên thân thể, không ai là không đeo các Pháp
khí như: Phật hộ, Xá lợi, Kinh quyển, Niệm châu, Hộ phù v.v…,
tay người nào cũng cầm Ma Ni Luân xoay tròn không ngớt.
*Lục Tự Đại Minh Chú.
Tương truyền khi đức Thế Tôn còn tại thế Ngài
có di chúc cho Bồ Tát Quán Thế Âm là hãy cứu độ chúng sinh nơi
Núi Tuyết ( tức Tây Tạng). Huyền kỳ nầy được trích từ “ Văn Thù
Sư Lợi Chơn Thực Danh Nghĩa Kinh”. Do đó, người Tây Tạng cho
rằng đất nước họ là “hóa thổ” của Bồ Tát Quán Thế Âm. Về mặt
lịch sử, thì từ khi Phật giáo được truyền vào Tây Tạng đồng thời
cũng
truyền luôn Lục Tự Đại
Minh Chú của đức Bồ Tát Quán Thế Âm vào xứ nầy. Đó là sáu chữ
phạn được khắc trên “Bảo Ngọc”.
Nay xin
đem sáu chữ bằng Phạn ngữ, Hán ngữ và Tạng ngữ đối chiếu với
biểu đồ sau:

Dạng chữ Phạn và chữ Tạng trong biểu đồ là sự
mô phỏng của Lý Dực Chước trong sách “ Phật giáo Tây Tạng và
Mông Cổ” –trang 11. Trong kinh tạng Hán văn cũng có một số tự
dạng “Lục Tự Minh Vương Kinh”, nhưng không giống tự dạng của
Phạn tự và Tạng tự. Vì vậy có thể nói đây là nét đặc sắc của
Phật giáo Tây Tạng. Bản Hán văn dịch âm đọc là “Úm ma ni bát di
hồng”, đúng ra phải đọc là “Um Ma Ni Bát Đặc Di Hồng”. Ngữ ý của
sáu chữ nầy là tỏ sự mong cầu được về Liên Hoa Tạng thế giới của
đức Phật. Có học giả người Nhật Bản ví sáu chữ nầy giống như
người phương Tây khi cầu nguyện thường đọc “Cha ở trên trời”
vậy. Ở Tây Tạng người ta xem sáu chữ nầy là nguyên lí của vạn
pháp. Theo họ các pháp thế gian và xuất thế gian, không pháp nào
là không lưu xuất từ sáu chữ nầy. Chữ “Úm” là Phật bộ tâm, chữ
“Ma-Ni” là Bảo bộ tâm, chữ “Bát-Đặc-Di” là Liên Hoa bộ tâm và
chữ “Hồng” là Kim Cang bộ tâm. Vì rằng “ Lục Tự Đại Minh Chú”
bao nhiếp toàn bộ hoặc lý sự, hoặc bi trí. Người tu hành muốn
“Cụ túc vạn đức, thành tựu vạn hạnh” chỉ cần chuyên niệm Lục Tự
Đại Minh Chú sao cho niệm niệm bất tuyệt, lâu dần tâm thể sẽ
hiển hiện, khi ấy sẽ chứng nhập vô lượng pháp môn, thành tựu
nhất thiết đại công đức tụ. Đây là thần chú lấy ba chữ “Bát Đặc
Di” làm tâm chú, Bát Đặc Di hàm ý là Liên Hoa, mà Liên Hoa là
“bản nguyên tâm hải” của chúng sinh. Điều đó cho thấy uy đức của
Minh Chú là bất khả tư nghì, hàm chứa một triết lý cực thâm. Do
đó cho nên tại Tây Tạng đi đến đâu cũng nghe thấy người Tạng
luôn miệng đọc tụng Lục Tự Đại Minh Thần Chú. Người dân Tây Tạng
không ai là không đọc tụng chú nầy và thường niệm chú nầy. Giống
như ở Hán thổ, người người đều niệm danh hiệu Phật A Di Đà .
Mật thừa Tây Tạng coi trọng Chú pháp, vì vậy
bình thường người ta vận dụng cách niệm chú vào việc hô hấp như
hít vào, ngưng lại rồi thở ra. Cứ mỗi lần như vậy người ta niệm
ba chữ Ọm, àh, hùm; ba chữ nầy âm Hán đọc là “Úm ách hồng”, thực
thì nên đọc là “Ông A Hồng”. Bởi ba tự âm này có tính cực kỳ
thần thánh. Như có người cứ theo sự hô hấp mà niệm tụng không
ngưng nghĩ, niệm đến khi không cần vận tâm để niệm mà vẫn cứ tự
nhiên niệm, đến lúc giữa niệm và không niệm không còn có sự sai
biệt, cả ngày lẫn đêm tuyệt nhiên không gián đoạn, niệm được như
vậy gọi là “kim cang niệm tụng”. Kim cang niệm tụng là trong
thời gian một ngày đêm có thể niệm đến con số 21.600 lần. Niệm
được như vậy sẽ hiệp nhất với “Bản tôn”, khế nhập được với “
Pháp tánh lý thể”. Vì ba chữ nầy là đại biểu cho Bản tôn, mà Bản
tôn thì luôn thường tại trong sự hô hấp của chúng ta thông qua
hơi thở ra vào, qua lại, tức chúng ta trụ vào pháp thân của Bản
tôn và rồi từ đó nhập vào chân lý đệ nhất nghĩa đế.
Trên đây là đơn cử hai Chân Ngôn
Chú mà người Tây Tạng lấy đó làm pháp môn phổ biến. Trong khi
Phật giáo thuộc hệ Hán văn, tuy không thường dùng hai mật chú
trên, những lại đưa vào Diệm Khẩu. Vì thế hai Mật chú nầy cũng
chẳng thông dụng ở Trung Quốc, nhưng đồng thời do Trung Quốc
cũng hiểu rõ năng lực của hai Mật chú trên nên chỉ ứng dụng vào
các đàn tràng Diệm Khẩu. Đó cũng do chịu ảnh hưởng không ít từ
Phật giáo Tây Tạng, tuy nhiên điều đó cũng mới ứng dụng chứ
không xưa lắm.
Phật giáo Tây Tạng có rất nhiều nét đặc sắc,
tôi xin giới thiệu ở chương sau.
---o0o---