Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Lịch Sử Phật Giáo


...... ... .



 

HỘI THẢO KHOA HỌC

300 NĂM PHẬT GIÁO

GIA ĐỊNH - SÀI GÒN - TP HỒ CHÍ MINH


---o0o---

phần iV

các phong trào phật giáo

 

Từ phong trào chấn hưng Phật giáo - một số suy nghĩ về Phật giáo Việt Nam

với tiến trình thống nhất dân tộc

 

Hòa thượng THÍCH THANH TỨ

Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN

Trong buổi tiếp xúc với đại biểu Hội nghị Thống nhất Phật giáo (PG) Việt Nam ngày 8-11-1981, tại Phủ Chủ tịch, ngài Phạm Văn Đồng (khi đó là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) đã nói: “Trong quá khứ, PG Việt Nam đã gắn chặt với dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Lịch sử đã xác nhận PG Việt Nam là một tôn giáo, từ bản chất bản sắc, từ trong thực tiễn hoạt động của mình biểu hiện truyền thống yêu nước, gắn bó chặt chẽ với dân tộc, với Tổ quốc” (1). Thật xác đáng và ý nghĩa sâu sắc lời nhận định của một vị nguyên thủ về PG Việt Nam, trong bối cảnh lần đầu tiên trong 2000 năm lịch sử PG Việt Nam, 6 năm sau khi nước nhà thống nhất, đại biểu của đủ các tổ chức, giáo hội, hệ phái PG từ khắp ba miền vân tập về thủ đô Hà Nội với một quyết tâm chung xây dựng hoàn thành ngôi nhà chung Giáo hội PG Việt Nam.

Nhân ý đó, trong khuôn khổ của cuộc Hội thảo “300 năm PG Gia Định-Sài Gòn-TP Hồ Chí Minh”, tôi có đôi dòng suy nghĩ về phong trào vận động chấn hưng PG ở Nam Kỳ trong những thập niên đầu của thế kỷ XX, đặt nó trong cảm thức chung về PG Việt Nam với tiến trình thống nhất dân tộc trong lịch sử.

Như chúng ta đã biết, từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ II sau Tây lịch, theo chân các Tăng sĩ và thương nhân người Ấn, những hạt giống bồ đề đầu tiên đã được gieo trồng và kết quả trên đất Giao Châu. Luy Lâu đã nhanh chóng trở thành trung tâm PG sầm uất của cả khu vực.

Năm 43 sau Tây lịch, đất nước ta rơi vào tay nhà Hán, bước vào thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc. Trong bối cảnh nước mất nhà tan, tư tưởng - văn hóa - lối sống PG đã hòa quyện với văn hóa - đạo lý truyền thống của người Việt cổ, trở thành vũ khí tinh thần chống lại sự xâm lược, nô dịch tinh thần bằng Hán Nho của các triều đại phong kiến phương Bắc. Sự tích Tứ pháp (ở Dâu - Keo) là một hình ảnh đẹp về sự hội nhập một cách tự nhiên, hài hòa mà sâu sắc giữa PG và dân tộc ngay từ buổi đầu gặp gỡ.

Cùng với quá trình trưởng thành của dân tộc, sự truyền bá của các dòng thiền (như Tỳ Ni Đa Lưu Chi năm 580, Vô Ngôn Thông năm 820), PG đã trở thành lực lượng vật chất và tinh thần quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Không phải ngẫu nhiên mà Lý Nam Đế (544-548) - vị “đế” đầu tiên của nước ta - ngay sau khi lên ngôi, việc đầu tiên là cho dựng chùa Khai Quốc (chùa Mở nước) ở giữa kinh đô. Vị vua tiếp theo lại lấy hiệu là Lý Phật Tử (người con Phật họ Lý). Thần tích, thần phả cung cấp cho ta một danh sách dài những vị tướng ở thời kỳ này có liên quan đến PG. Cho dựng chùa “Mở nước” ở giữa kinh đô, từ thuở đó, phải chăng Lý Nam Đế đã nhận thức rõ vai trò của PG trong việc xây dựng và củng cố khối đoàn kết thống nhất dân tộc, mà ngày nay, chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn đánh giá cao “chức năng liên kết của tôn giáo”.

Trong buổi đầu xây dựng quốc gia phong kiến độc lập dân tộc Ngô - Đinh - Lê, các Thiền sư cao tăng đồng thời cũng là những nhà chính trị - quân sự - ngoại giao xuất sắc của thời đại. Thiền sư Vạn Hạnh thực sự là “người cha tinh thần”, “người kiến trúc sư” của vương triều Lý, là người “trụ tích trấn vương kỳ” (chống gậy thiền bảo vệ quốc gia - thơ truy tán của Lý Nhân Tông). Chính văn hóa PG là nguồn sức mạnh tinh thần quan trọng tạo nên những chiến công hiển hách “phạt Tống, bình Chiêm, sát Thát” của thời đại Lý-Trần, tạo nên thần thái, bản sắc văn hóa Thăng Long - văn minh Đại Việt huy hoàng. Các Thiền sư - hoàng đế thời Trần đã lập nên thiền phái Trúc Lâm, một thiền phái - hệ tư tưởng đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam.

Thế kỷ XVII, lịch sử dân tộc và lịch sử PG Việt Nam bước sang một trang mới. Do điều kiện địa - chính trị (Géo - Politique) cụ thể, cùng với “giữ nước”, “mở nước” là yêu cầu bức thiết đặt ra lúc bấy giờ. Cùng với những đợt di dân có tổ chức và tự do, PG cũng từ Đàng Ngoài lan truyền vào Đàng Trong, tới tận cùng miền đất mới Nam Kỳ, xen cư và phát triển bên các tín ngưỡng - tôn giáo bản địa. Tuy nhiên, biên giới chính trị sông Gianh nghiêm ngặt đã chia cắt hai miền (xem hành trạng Thiền sư Hương Hải).

Năm 1802, Nguyễn Ánh thống nhất ba miền đất nước. Tuy nhà Nguyễn coi Nho giáo là hệ tư tưởng chính thống, nhưng các vua, vương phi, công chúa và đại thần cũng không kém phần sùng Phật. Vùng đất Gia Định-Sài Gòn xưa - từng là hậu phương tin cậy của Nguyễn Ánh - có nhiều chùa được “sắc tứ”. Bằng hệ thống các chính sách về kinh tế và chính trị, các vua đầu triều Nguyễn đã tích cực và có hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng một nền văn hóa thống nhất, trong đó có Phật giáo. Năm 1858, thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược nước ta, sự nghiệp đó bị dang dở.

Hòa ước Pa-tơ-nốt ký ngày 6-6-1884, thực chất là một hàng ước, đã chính thức thừa nhận nền thống trị của thực dân Pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Thực dân Pháp chia nước ta làm 3 kỳ, với 3 hình thức cai trị, 3 thể chế chính trị khác nhau. Hậu quả của chính sách khai thác thuộc địa cùng với sự du nhập xô bồ lối sống thực dụng theo kiểu tư sản phương Tây xa lạ với truyền thống văn hóa phương Đông, thái độ bảo thủ và bất lực của nhà Nguyễn đã gây nên một làn sóng đấu tranh để “phản đế, bài phong”, đòi hỏi duy tân đất nước ở khắp ba miền Trung-Nam-Bắc. Hệ tư tưởng Nho giáo đã tỏ ra bất lực trước yêu cầu mới của lịch sử, của nhu cầu duy tân đất nước. Câu hỏi cần thiết đặt ra là : Vậy đâu là nền tảng đạo lý của công cuộc duy tân ? Ngoài những câu hô hào chung chung như “đồng bào, đồng tâm, ái quốc”..., bằng cách nào tập hợp được quần chúng, cố kết được đồng bào? Trước tình hình đó, những sĩ phu Nho học có đầu óc tân tiến, những thiền sư - học giả giàu lòng yêu nước đã quay lại lục tìm những di sản của truyền thống, những triều đại huy hoàng thuở trước, hy vọng tìm được câu trả lời, và họ đã tìm đến PG, như là một lực lượng tinh thần chống lại sự nô dịch tinh thần, bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân tộc, như là một phương thức hữu hiệu để cổ động, tập hợp lực lượng dân tộc.

Cùng với ảnh hưởng của phong trào chấn hưng PG ở Trung Quốc, xuất phát từ yêu cầu của bản thân các tổ chức PG trong nước, theo tôi, đây là một nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự bùng nổ và quy định mục tiêu của phong trào chấn hưng PG ở Việt Nam - một phong trào tuy diễn ra trong một thời gian ngắn nhưng có sức lan tỏa rất rộng, có ảnh hưởng to lớn trên mọi mặt của đời sống xã hội và tinh thần của lịch sử Việt Nam nói chung, lịch sử PG Việt Nam nói riêng thời cận đại (2).

Phong trào chấn hưng PG xuất phát từ Nam Kỳ nhanh chóng nở rộ khắp cả ba miền. Hội “Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học” chính thức ra đời ngày 26-8-1931 tại Sài Gòn, Hội “Phật học Kiêm tế”, Hội “Lưỡng Xuyên Phật học” của vùng sông Tiền, sông Hậu. Trung Kỳ có Hội “An Nam Phật học” ở Huế được thành lập năm 1932. Bắc Kỳ có Hội “Bắc Kỳ PG” thành lập ngày 18-11-1934 tại chùa Quán Sứ, và Hội “Cổ sơn môn” của tổ đình Hồng Phúc.

Dù nội dung của phong trào rất rộng lớn, trên hầu hết các lĩnh vực của giáo lý - giáo luật - giáo hội đều có rất nhiều vấn đề được nêu lên để thảo luận nhằm cải cách hoặc chấn hưng, nhưng có một nội dung cực kỳ quan trọng có tính nhất quán ở cả ba miền là : nhằm xây dựng một tổ chức PG Việt Nam thống nhất chung trong toàn quốc và phổ cập hoằng pháp bằng chữ quốc ngữ. Từ những cuộc thăm viếng cá nhân hoặc giữa các tổ đình hệ phái cho đến những tranh luận nhiều khi khá gay gắt trên các cơ quan ngôn luận của các Hội, dù hữu thức hay vô thức, kết quả khách quan đưa lại đã góp phần tìm ra tiếng nói chung, xóa đi những bất đồng, tạo ra bầu không khí hiểu biết nhau hơn giữa các sơn môn hệ phái trong từng miền và trên phạm vi toàn quốc. Tiếp bước của phong trào “Đông Kinh nghĩa thục” trong việc truyền bá chữ quốc ngữ, một khối lượng Tam tạng Thánh điển bằng chữ Hán và các tài liệu nghiên cứu Phật học được biên dịch viết bằng chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Nếu khẳng định chữ quốc ngữ là yếu tố quan trọng trong công cuộc xây dựng và củng cố nền thống nhất quốc gia dân tộc, thì trên lĩnh vực này, đóng góp của phong trào chấn hưng PG vượt trội phong trào Đông Kinh nghĩa thục cả về bề rộng lẫn chiều sâu.

Có thể coi cuộc vận động của Thiền sư Khánh Hòa dẫn tới sự ra đời của một “Thích học đường” và một “Phật học thư xã” đầu năm 1928, với sự tham gia của Thiền sư Huệ Quang và nhiều vị tôn túc khác, là khúc nhạc dạo đầu của phong trào chấn hưng PG ở Việt Nam, với mục tiêu tiến tới xây dựng một Tổng hội PG toàn quốc, chùa Linh Sơn ở Sài Gòn - “một giao điểm động... luôn nhạy bén với phong trào cách tân...” (trích báo cáo đề dẫn của Ban Tổ chức Hội thảo), là nơi châm ngòi nổ cho phong trào.

Từ trước đó, năm 1927, đọc tin trên báo Thực Nghiệm xuất bản ở Hà Nội, được biết Thiền sư Tâm Lai có ý nguyện chấn hưng PG, Thiền sư Khánh Hòa lập tức cử người đồng chí nhiệt tình là Thiền sư Thiện Chiếu ra Bắc, gặp Tăng cang Thiền sư Đỗ Văn Hỷ ở chùa Bà Đá để đến tổ đình Tiên Lữ bàn với Thiền sư Tâm Lai về việc xây dựng một Hội PG toàn quốc và chấn hưng PG. Trên đường về Nam, Thiền sư Thiện Chiếu ghé qua Huế trao đổi vấn đề này với các Thiền sư tôn túc ở miền Trung. Bởi nhiều lý do, tuy mục đích chuyến đi của Thiền sư Thiện Chiếu không thành, nhưng nó đã có tác dụng lớn trong việc cổ xúy cho phong trào chấn hưng PG ở cả ba miền, chuẩn bị một Hội PG toàn quốc. Từ đây, việc trao đổi Tăng sinh - giảng sư giữa các tổ đình, giữa các thiền đường, thiền viện của các miền diễn ra thường xuyên là chuyện bình thường.

Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương ngày càng lên cao. Sẵn tinh thần Lục hòa vô ngã, là Phật tử trên đất Việt, hơn ai hết, hiểu rõ về nghĩa “Tứ ân” không phân biệt sơn môn, hệ phái các miền, những người con Phật trong phong trào chấn hưng nhanh chóng hòa chung vào dòng chảy cách mạng. Chùa Tam Bảo, trụ sở Hội Phật học Kiêm tế của Thiền sư Thiện Chiếu trở thành cơ sở cất giấu vũ khí, nuôi giấu cán bộ kháng chiến. Bản thân Thiền sư bị bắt đày ra Côn Đảo tra tấn dã man. Nhiều Thiền sư, cư sĩ là yếu nhân của phong trào chấn hưng PG đã trở thành những cốt cán của các tổ chức kháng chiến kiến quốc trên khắp mọi miền đất nước. Đạo hạnh và tấm gương dấn thân cùng dân tộc của những vị như Thiền sư Thiện Chiếu, Thiền sư Thích Trí Độ, cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám... đã có ảnh hưởng lớn tới các thế hệ Thiền sư kế tiếp, mà tiêu biểu là các cố Hòa thượng (HT) Thích Mật Thể, Thích Thiện Hoa, Thích Trí Thủ, Thích Minh Nguyệt, Thích Thiện Hào...

Giới tuyến 17 tạm thời chia cắt đất nước ta làm hai miền ; một lần nữa, ý nguyện của các Thiền sư thời chấn hưng về một Giáo hội chung của PG Việt Nam tạm thời chưa được thực hiện. Tuy hai miền phân cách, nhưng những người con Phật trên đất Bắc vẫn luôn dõi về miền Nam thân yêu, chia sẻ và cổ vũ phong trào đấu tranh chống Mỹ-ngụy của đồng bào miền Nam nói chung và những người anh em đồng đạo nói riêng, làm hết sức mình để có ngày đất nước thống nhất, Giáo hội một nhà. Được tin HT Thích Quảng Đức noi gương hạnh nguyện đại hùng đại lực, tự nguyện thiêu thân cúng dàng Tam bảo, phản đối chế độ độc tài phát-xít Ngô Đình Diệm, ngày 20-7-1963, Thành hội PG Hà Nội đã kịp thời dựng “Bảo tháp Ấn Quang” tại tổ đình Hồng Phúc - Hòe Nhai, có bài minh tán thán công đức xả thân hộ pháp của Ngài.

Thắng lợi mùa Xuân năm 1975 mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộc, một vận hội mới cho PG Việt Nam. Theo lời bậc cổ đức đã chỉ bày: “tùy thời, tùy quốc độ”, ngay từ đầu PG đã gắn bó chặt chẽ, đã là người bạn đồng hành đáng tin cậy của dân tộc. Thực thú vị và sâu sắc, lại chính tại thành phố Sài Gòn-Hồ Chí Minh ngày 12-2-1980 đã diễn ra cuộc gặp mặt lịch sử giữa chư tôn giáo phẩm tiêu biểu Bắc-Trung-Nam và các hàng nhân sĩ Phật tử để tiến tới sự nghiệp thống nhất PG Việt Nam, dưới sự chủ tọa của cố Hòa thượng Thích Trí Thủ. Sau thời gian khẩn trương chuẩn bị, ngày 4-11-1981, lần đầu tiên trong lịch sử PG Việt Nam, 165 đại biểu của 9 tổ chức, giáo hội, hệ phái PG vân tập về thủ đô Hà Nội với một ý hướng chung hoàn thành ngôi nhà Giáo hội PG Việt Nam. Sau hơn nửa thế kỷ, ý nguyện của các nhà chấn hưng Phật giáo đã được thực hiện trọn vẹn.

Lịch sử là một tấm gương trung thực và hàm chứa trong nó bao bài học sâu sắc. Với PG Việt Nam, lịch sử đã chứng minh rõ ràng: thực hành chính pháp và gắn bó cùng dân tộc là lẽ sống còn. Lịch sử đã cho phép tôi xác tín rằng: Dưới ngôi nhà chung Giáo hội PG Việt Nam, tinh thần “Lục hòa vô ngã” và phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, mọi người con Phật trên đất Việt thân yêu sẽ cùng nhau xây dựng ngôi nhà chung đó ngày thêm tố hảo.

Chân thành cảm ơn quý vị để tâm theo dõi.

 

 

(1) Kỷ yếu Hội nghị Thống nhất PG Việt Nam - 1981

(2) Trong thời gian vận động bắt đầu từ những năm 20 ở Nam Kỳ và dư âm còn kéo dài tới giữa những năm 40, nhưng chính thức các Hội PG ở các miền trong phong trào chấn hưng PG chỉ tồn tại từ năm 1931 đến năm 1941.


 

Đoàn Sinh viên Phật tử Sài Gòn đấu tranh cho tự do tôn giáo (1963)

 

lương hữu định

Năm 1963, sau khi hay tin Hòa thượng (HT) Thích Quảng Đức đã tự thiêu để bảo vệ chánh pháp, toàn thể các giới ở trong nước, nhất là giới trí thức, thanh niên, sinh viên, học sinh, Phật tử hay không phải Phật tử, đã sôi nổi, ồ ạt đứng lên, tham gia tích cực vào phong trào chống chế độ “gia đình trị” của ông Ngô Đình Diệm. Động cơ của sự tham gia này có nhiều, nhưng riêng đối với tôi, thì khi tham gia vào sự kiện này, qua Đoàn Sinh viên Phật tử Sài Gòn thời ấy, thì động lực duy nhất là đòi hỏi tự do tôn giáo. Tôi chỉ xin trình bày các sự kiện dưới con mắt chủ quan của tôi, còn việc đánh giá đúng sai sẽ không nói tới.

1- Sinh viên và Phật giáo:

Gia đình tôi vốn theo đạo Phật, nên thời thơ ấu của tôi đã đậm mùi khói hương, kinh kệ. Cứ mỗi buổi chiều, khoảng 5 giờ, bà ngoại tôi và bà dì tôi lại lên một thời kinh (vì mẹ tôi mất khi tôi mới 4 tuổi). Dì tôi tụng kinh gõ mõ, bà ngoại tôi ngồi lim dim lần tràng hạt. Những ngày lễ, Tết, tôi được theo bà lên chùa. Hình ảnh những ngôi chùa to, những pho tượng đẹp, những tu sĩ trang nghiêm và đáng kính, đã trở thành quen thuộc với tôi. Đến độ bây giờ, chỉ cần nghe tiếng chuông chùa từ xa vọng lại, tôi lại nhớ thấy cảnh kẻ ra người vào tấp nập, miệng luôn chào nhau “A Di Đà Phật”.

Khi ấy, đạo Phật đối với tôi chỉ là những nghi lễ dành cho người lớn, một cách sống của người già. Đối với tuổi trẻ thì chùa là loại thắng cảnh để rủ nhau đi chơi vào những ngày nghỉ, kiểu như “hôm nay em đi chùa Hương, hoa cỏ còn mờ hơi sương” để rồi “em không dám đi mau, sợ chàng chê hấp tấp, số gian nan không giàu”. Còn đối với con nít như tôi hồi đó, thì đức Phật là đấng ban lộc oản chuối, xôi chè.

Cái quan niệm ấy tôi giữ cho tới thời kỳ đi vào đại học, là sinh viên. Khi ấy, đến với Đoàn Sinh viên Phật tử Sài Gòn, tôi chỉ muốn tìm được những người bạn cùng trang lứa, cùng làm việc xã hội: đi thăm các cô nhi viện, các viện dưỡng lão, các làng tình thương, và khi xảy ra thiên tai bão lụt thì đi quyên góp tiền bạc, quần áo, đi cứu trợ. Việc lễ Phật chỉ là một nghi lễ mở đầu hay chấm dứt cho một buổi sinh hoạt.

2- Sinh viên và tự do tín ngưỡng:

Dần dần, việc đi lễ mỗi sáng Chủ nhật trở thành thói quen: sáng Chủ nhật được nghỉ học, ở nhà buồn, đi lễ cho vui. Khi ấy ở chùa Xá Lợi, sau mỗi khóa lễ từ 8 giờ tới 9 giờ, là có một lớp giáo lý ở giảng đường, từ 9 giờ tới 11 giờ. Về sớm cũng chẳng có việc gì làm, tôi vào dự nghe. Từ từ, những bài giảng của đức Thích Ca đến với tôi: Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên, Bát chánh đạo... Nhất là khi ấy tôi lại học Đại học Văn khoa, được giới thiệu các vấn đề triết học, tôn giáo, triết Đông, triết Tây, nên tôi càng tin tưởng hơn ở một tôn giáo đã có lịch sử 2.500 năm.

Tôi có được biết là ông Diệm theo đạo Thiên Chúa. Ông tin tưởng ở những người Công giáo hơn, người Công giáo được ưu đãi hơn. Nhưng chưa có gì lộ liễu, cho tới đầu năm 1963.

Tháng Tư năm ấy, ông Diệm tuyên bố không thừa nhận Phật Đản là ngày lễ chính thức và không cho phép treo cờ tôn giáo ngoài phạm vi cơ sở tôn giáo, đúng vào dịp sắp tới lễ Phật Đản. Cuộc tranh đấu của Phật giáo (PG) bắt đầu, đòi bình đẳng tôn giáo. Còn đối với tôi, đó là đòi tự do tín ngưỡng, một trong những quyền căn bản của con người. Tôi chỉ còn nhớ được vài sự kiện chính :

Ngày 8-5-1963, đêm trước Phật Đản, tại Huế, các đồng bào Phật tử tụ tập trước Đài Phát thanh để đợi nghe phát đi bài thuyết pháp của thầy Trí Quang đã được ghi âm từ buổi sáng. Nhưng bài ấy đã không được phát thanh, có thể là vì trong đó thầy đòi treo cờ PG. Đồng bào Phật tử tụ tập càng lúc càng đông, chính quyền Huế cho xe tăng ra đàn áp. Đồng bào không chịu giải tán, kết quả có 8 người bị xe tăng cán chết. Những tấm hình chụp được gửi đi các nơi, mọi người phẫn uất.

Ngày 25-5, Ủy ban Liên phái Bảo vệ PG được thành lập để lãnh đạo cuộc tranh đấu đòi tự do tôn giáo. Nguyên tắc tranh đấu là bất bạo động : chỉ tổ chức những buổi thuyết pháp, tuyệt thực, biểu tình, phổ biến thông tin... Đoàn Sinh viên Phật tử đặc biệt đóng góp vào việc thông tin trong giới học sinh, sinh viên, để mọi người biết rõ sự thực, vì khi ấy chính quyền miền Nam kiểm duyệt chặt chẽ báo chí, chỉ đưa ra những tin tức có lợi cho Nhà nước.

Ngày 11-6, HT Thích Quảng Đức tự thiêu. Một hình thức tranh đấu đặc biệt của Phật giáo để bảo vệ chánh pháp.

Ngày 20-8, chính quyền miền Nam bắt đầu một cuộc bắt bớ rộng khắp, đầu tiên là các Tăng Ni ở trong chùa, sau tới các Phật tử ở nhà. Nhiều đoàn viên sinh viên Phật tử đã bị bắt vào dịp này, trong đó có tôi. Đầu tiên, chúng tôi bị tạm giữ ở Tổng nha Cảnh sát đô thành để lấy lời khai. Vì chẳng có gì phải giấu diếm, nên việc lấy cung rất nhanh. Sau đó, chúng tôi được đưa qua trại Lê Văn Duyệt, gọi là để học tập, cho tới ngày 1-11. Đối với chúng tôi, những ngày tháng ở trại Lê Văn Duyệt chỉ lưu lại những kỷ niệm vui nhiều hơn là buồn.

3- Bi, Trí và Dũng:

Nhìn lại thời kỳ sinh hoạt với Đoàn Sinh viên Phật tử và nhất là qua cuộc tranh đấu cho tự do tôn giáo, tôi thấy rõ ba giai đoạn thể hiện ba mức độ mà tôi đến với Đoàn:

Đầu tiên chỉ là một ước muốn được đóng góp một cái gì đó cho xã hội, cho những người nghèo khổ; vì biết riêng mình chẳng làm được gì, nên tôi đã đến với Đoàn Sinh viên Phật tử để gặp những người bạn cùng ước mơ ấy. Đó là Bi.

Rồi trong thời gian học ở Đại học Văn khoa, tôi được biết về các vấn đề nhân sinh quan, vũ trụ quan, bản thể luận, cũng như các hệ thống triết học nhằm giải quyết những vấn đề căn bản ấy. Nên khi theo các lớp giáo lý PG, tôi thấy đó là cả một hệ thống triết học toàn diện, chứ không chỉ là những nghi thức trong đời sống hàng ngày. Theo Phật không chỉ là tụng kinh, gõ mõ, lễ Phật, ăn chay... dành cho ông già bà cả hay giới Tăng sĩ, mà còn là cả một quan niệm sống, một cách sống dành cho giới trẻ, giới trí thức. Càng biết nhiều càng say mê, đó là Trí.

Còn Dũng thì thật là khó khăn. Dũng không phải là khỏe mạnh để đi đánh nhau với người khác, mà Dũng là sức mạnh để tự thắng mình. Ngồi yên đó để cho bị đánh đập, bị giam cầm, nhịn đói để biểu lộ sự phản đối, tự thiêu để cảnh tỉnh. Tôi nhìn hình ảnh HT Quảng Đức ngồi giữa ngọn lửa bốc lên, tôi nhớ tới hình ảnh Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập giá. Người ta nói trái tim của HT không cháy vì khi ấy tâm trí Ngài tập trung về trái tim với ước nguyện cầu cho nhà cầm quyền thức tỉnh, cầu cho PG đồ mau qua cơn pháp nạn. Tôi liên tưởng tới lời cầu xin của Chúa Giê-su trước khi tắt thở: “Lạy Cha, xin Cha tha thứ cho những người này vì họ không biết việc họ đang làm”.

l   Kết luận: Khế lý và khế cơ

Thì ra, nếu chỉ hiểu PG qua các biểu hiện ở bên ngoài thì dễ hiểu lầm PG. Nếu chỉ tụng kinh và y kinh chú giải, thì dễ oan tam thế Phật lắm. Còn có vị thiền sư chỉ giác ngộ khi ông thầy chẻ pho tượng Phật bằng gỗ, bỏ vào đống lửa để sưởi ấm một đêm giá lạnh, tuyết rơi trong hang đá. Tìm trong kinh không thấy, tìm trong ảnh tượng lại càng bị trói buộc. Vậy mà khi đi vào đời, tới với người nghèo khổ, những lúc bản thân hay gia đình gặp khó khăn, hoạn nạn, thì lời dạy của đức Thế Tôn lại vang lên, chỉ đường giải thoát. Người ta đã nói về đạo Phật cho giới cư sĩ, cho giới trẻ, cho ngày nay. Khi biết khế lý và khế cơ, thì PG sẽ là của mọi người, mọi thời đại.

Sau năm 1964, tôi hết là sinh viên và cũng vì bị lôi cuốn theo dòng đời, tôi đã rời Đoàn Sinh viên Phật tử, chúng tôi ít có dịp gặp lại nhau, nhưng chắc chắn là ở bất cứ nơi nào, chúng tôi vẫn nhớ đến nhau vì lòng cùng hướng về một đấng Từ Phụ.

Tháng 4-1998

 

Về phong trào Phật giáo Sài Gòn năm 1963

 

PTS LÊ CUNG

(Đại học Sư phạm Huế)

Trong lịch sử phát triển gần 2000 năm của Phật giáo (PG) Việt Nam, phong trào PG miền Nam năm 1963 có một dấu ấn hết sức quan trọng. Đối với đất nước, phong trào này “đã ghi đậm nét trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân miền Nam” (25, 64). Có thể nói rằng, từ sau thời đại Lý - Trần đến nay, trong nhiệm vụ phục vụ dân tộc và đạo pháp của PG Việt Nam, chưa có sự kiện nào có qui mô và tiếng vang rộng lớn như phong trào PG miền Nam năm 1963. Tuy nhiên, phải khách quan mà thừa nhận rằng, trong suốt 35 năm qua, cả giới sử học Việt Nam và phía PG vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào ngang tầm với phong trào này. Trong ý hướng tiến đến việc nghiên cứu phong trào PG miền Nam năm 1963 một cách có hệ thống và toàn diện, bài viết này xin được góp phần tìm hiểu phong trào PG Sài Gòn năm 1963.

* * *

Ngày 6-5-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm (NĐD) ra lệnh cấm treo cờ PG thế giới trong dịp lễ Phật Đản 2507-1963 bằng công điện số 9159. Tiếp theo, chính quyền NĐD gây ra vụ thảm sát tại Đài Phát thanh Huế đêm 8-5-1963 làm 8 Phật tử thiệt mạng và nhiều người khác bị thương. Tin “tình trạng bi đát” ở Huế lan nhanh vào Sài Gòn khiến cho phong trào PG ở đây phát khởi. Mở đầu, ngày 9-5-1963, dưới hình thức của một “lá tâm thư” gởi toàn thể Tăng tín đồ, giới lãnh đạo PG Sài Gòn đã vạch trần những tội ác của chính quyền NĐD trong suốt gần 9 năm thống trị, rằng “Phật tử chúng ta (cả xuất gia và tại gia) có nơi bị chôn sống, bị vu khống, bị tù đày, bị thiên cư, bị nhục mạ, ngày nay lại thêm một cái tát đau đớn nữa là lá cờ PG quốc tế - linh hồn của PG - bị hủy bỏ ngay ngày kỷ niệm đấng Giáo chủ của chúng ta, đến nỗi cuộc hy sinh vì đạo đã phải diễn ra tại Huế”, đồng thời kêu gọi “toàn thể Phật giáo đồ, không phân biệt xuất gia hay tại gia, người Việt hay ngoại kiều, hễ ai còn nhiệt tâm vì đạo, chúng ta hãy tự bình tĩnh, luôn luôn muôn người như một, sẵn sàng bảo vệ đạo, chết vì đạo” (16).

Ngày 10-5-1963, trong cuộc mít-tinh của Tăng Ni, Phật tử tại chùa Từ Đàm - Huế, giới lãnh đạo PG miền Nam đã đưa ra Tuyên ngôn gồm 5 nguyện vọng tối thiểu (*), khẳng định mục tiêu và quyết tâm tranh đấu của mình: “Chúng tôi sẵn sàng hy sinh cho đến lúc nào những nguyện vọng hợp lý trên đây được thực hiện” (1).

Trong khí thế phong trào ở Huế đang lên mạnh, ngày 14-5-1963, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN) ra tuyên bố vạch rõ: “Cuộc đàn áp đẫm máu của chính quyền phát-xít Mỹ-Diệm đối với đồng bào biểu tình tay không ngày 8-5 ở Huế là một hành động tội ác tày trời không thể tha thứ được đối với nhân dân ta nói chung và đối với đồng bào theo đạo Phật nói riêng... Cuộc đàn áp đẫm máu lần này đã bóc trần lời của Mỹ-Diệm vẫn thường vỗ ngực xưng là hữu thần, là tôn trọng tự do tín ngưỡng, và nhất định nó sẽ càng nung nấu thêm lòng căm thù và chí kiên quyết tiêu diệt chúng của tín đồ các tôn giáo ở miền Nam Việt Nam” (9, 227). Trong tình hình đó, ngày 15-5-1963, NĐD phải chịu tiếp phái đoàn PG, gồm các vị Tăng già, cư sĩ cao cấp của Nam tông và Bắc tông tại Sài Gòn. Tại cuộc gặp mặt này, ngoài 5 nguyện vọng đã nêu trong bản Tuyên ngôn ngày 10-5-1963, phái đoàn PG Sài Gòn còn ghi thêm 2 nguyện vọng sau:

“1- Chính phủ đảm bảo an ninh cho một phái đoàn ra thăm PG đồ tại Huế và an ủi các gia đình nạn nhân.

“2- Ra lệnh cho các cấp quân dân chính đừng làm điều gì trở ngại những buổi lễ cầu siêu cho vong linh nạn nhân ở khắp các chùa toàn quốc theo chỉ thị của Tổng hội PG” (43, 66).

Cuộc gặp hai bên kéo dài hơn 3 tiếng đồng hồ, nhưng không một nguyện vọng nào của PG được giải quyết; ngược lại, NĐD cho rằng thủ phạm tại Đài Phát thanh Huế là do phía những người cộng sản gây ra.

Khi phái đoàn PG trở về chùa Xá Lợi, họ đã bị Tăng Ni, Phật tử phản ứng dữ dội. Điều này thể hiện rõ trong văn thư ngày 17-5-1963 của trưởng phái đoàn PG gởi cho Bộ trưởng Công dân vụ Ngô Trọng Hiếu: “Chúng tôi trở về tới chùa Xá Lợi được một số Tăng Ni chừng vài trăm vị đã túc trực tại đó để chào đón phái đoàn và yêu cầu chúng tôi cho biết kết quả cuộc tiếp kiến Tổng thống... Thuyết trình xong thì Tăng chúng nhao nhao phát biểu ý kiến, cho rằng phái đoàn đã không đem lại kết quả nào cụ thể cả, chỉ có vấn đề cờ được thỏa mãn một phần nào mà thôi. Rồi phái đoàn chúng tôi bị chỉ trích kịch liệt” (38).

Không chịu lùi bước trước những ngang ngược của chính quyền NĐD, ngày 16-5-1963, giới lãnh đạo PG Sài Gòn tổ chức họp báo tại chùa Xá Lợi, chính thức công bố bản Tuyên ngôn ngày 10-5-1963. Về cuộc hội ngày hôm trước, giới lãnh đạo PG cho biết không một ai thỏa mãn. Tiếp theo, ngày 17-5-1963, tại chùa Ấn Quang, một cuộc trưng bày những hình ảnh về vụ thảm sát tại Huế cũng được tổ chức. Tất cả đã có một sức thuyết phục to lớn đối với dư luận về cái lý mà PG phải đứng dậy đấu tranh.

Ngày 21-5-1963, một cuộc lễ cầu siêu cho các nạn nhân bị thảm sát tại Huế được tổ chức trên toàn miền Nam, thu hút hàng triệu tín đồ tham gia. Tại chùa Ấn Quang, từ sáng sớm có rất đông PG đồ tập trung để dự lễ cầu siêu. Số người tham gia đông ngoài sức dự kiến của Ban tổ chức. Sau lễ cầu siêu, dưới hình thức “rước linh”, gần 1.000 Tăng Ni đã tổ chức một cuộc biểu tình hòa bình từ chùa Ấn Quang về chùa Xá Lợi. Họ chỉ mang theo một biểu ngữ viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh: “Tưởng nhớ những Phật tử Việt Nam đã chết vì chính nghĩa ở Huế”. Đoàn biểu tình đi lặng lẽ, không hô khẩu hiệu, nhưng một hệ thống loa phóng thanh gắn ở dọc đường đã phát đi những khẩu hiệu đòi thực hiện những yêu sách của PG. Nhân dân Sài Gòn đã làm đúng yêu cầu của giới lãnh đạo PG là ủng hộ cuộc đấu tranh nhưng không tham gia tuần hành. Lần đầu tiên, tại Sài Gòn, PG đã chính thức đưa cuộc đấu tranh từ trong nhà chùa ra ngoài đường phố, tới các công trường.

Ngày 25-5-1963, một hội nghị đại biểu của 11 tông phái và các đoàn thể PG được tổ chức tại chùa Xá Lợi để thảo luận kế hoạch đấu tranh. Hội nghị cho thành lập Ủy ban Liên phái Bảo vệ PG (UBLPBVPG). Sự kiện này có ý nghĩa rất quan trọng, nó thể hiện sự thống nhất ý chí và lực lượng của PG Sài Gòn trong cuộc đấu tranh. Hội nghị ra Tuyên ngôn “ủng hộ toàn diện 5 nguyện vọng tối thiểu... Nguyện đoàn kết đến cùng trong cuộc tranh thủ bất bạo động và hợp pháp để thực hiện những nguyện vọng ấy” (43, 73).

Trước những yêu sách của PG, chính quyền NĐD trước sau vẫn không thay đổi. Thái độ này đã làm cho giới lãnh đạo PG nhận thức rằng các cuộc điều đình và những yêu sách nhất định không thể đưa lại kết quả, mà cần phải có những biện pháp quyết liệt hơn. Điều này được tỏ rõ trong thư văn ngày 24-5-1963 của Hòa thượng (HT) Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội PG Việt Nam gởi NĐD: “Để cho những nguyện vọng tối thiểu và hoàn toàn thuộc phạm vi tín ngưỡng ghi trong bản Tuyên ngôn và bản Phụ đính của chúng tôi được thấu hiểu và chấp thuận, tôi thiết nghĩ PG đồ - mà Tăng sĩ PG là phần chính - phải có một cách nào hơn những việc đã làm. Do đó, tôi đã chỉ thị cho các vị lãnh đạo thuộc sáu tập đoàn PG Việt Nam sẽ tuyệt thực 48 giờ đồng hồ, có bác sĩ giám hộ, kể từ 14 giờ 30 ngày 30-5-1963” (43, 78).

Chấp hành chỉ thị trên đây, ngày 30-5-1963, từ 14 giờ 30, cuộc tuyệt thực của giới lãnh đạo PG được tiến hành trên toàn miền Nam. Tại Sài Gòn, trước giờ tuyệt thực, gần 400 Tăng Ni đã biểu tình ngồi trước trụ sở Quốc hội Diệm. Chính quyền NĐD đã huy động lực lượng cảnh sát, công an mật vụ, lực lượng đặc biệt chống biểu tình và chỉ cần đoàn biểu tình có một bạo động nhỏ nhoi để “bạo động” gấp ngàn lần. Nhưng đoàn biểu tình chỉ có những đầu trọc và những bàn tay chắp, khiến bạo lực phải khoanh tay và thất bại trước sức mạnh tinh thần (29). Cùng với Sài Gòn, những cuộc biểu tình phản đối chính quyền NĐD đàn áp PG diễn ra trên khắp miền Nam, đặc biệt tình hình ở Huế trở nên hết sức căng thẳng. Các chùa Từ Đàm, Báo Quốc, Linh Quang đều bị lực lượng Diệm phong tỏa.

Trong lúc đó, khắp nơi trên thế giới đưa tin về cuộc đấu tranh chính nghĩa của PG, phóng viên cùng quan sát viên quốc tế đổ tới Sài Gòn càng lúc càng đông. Để giảm bớt tình hình căng thẳng, ngày 1-6, Diệm cách chức các viên chức cao cấp trong bộ máy chính quyền ở Thừa Thiên-Huế. Tới ngày 4-6, chính quyền NĐD cho thành lập Ủy ban Liên bộ (UBLB) để “nghiên cứu và đề xuất từng bước nhằm giải quyết những vấn đề đang tồn tại từ ngày 8-5” (45, 126).

Mặc dầu ý thức được rằng đây chỉ là một âm mưu hoãn binh của chính quyền NĐD, song tuân thủ đúng đường lối bất bạo động, phía PG vẫn chấp nhận “hợp tác” với UBLB. Ngày 5-6, cuộc hội đàm hai bên được tiến hành. Cuộc hội đàm kéo dài 6 giờ đồng hồ, nhưng không đem lại một kết quả cụ thể nào, trừ việc thỏa thuận cử một phái đoàn ra Huế để giải quyết tình trạng đang căng thẳng tại đây. Tuy nhiên, chính quyền NĐD đã tìm cách đánh lừa dư luận bằng cách phát đi một “Thông cáo chung” nói rằng “hai bên đã gặp gỡ trong bầu không khí thân ái và hiểu biết lẫn nhau” (20). Giới lãnh đạo PG đã vạch rõ rằng họ không hề ký một bản tuyên bố chung nào cả: “Chúng tôi từ chối không ký vào bản tuyên bố chung và việc công khai rằng bản tuyên bố chung đó đã được ký kết là một biểu hiện của sự thiếu thiện chí của Chính phủ” (20).

Trước thái độ cương quyết của giới lãnh đạo PG, chính quyền NĐD buộc phải rút bỏ lệnh phong tỏa các chùa ở Huế, để được xem như là một “thiện chí” trong cách giải quyết. Tuy nhiên, trên thực tế, chính quyền NĐD vẫn ngấm ngầm bắt cóc, thủ tiêu Tăng Ni, Phật tử, vu khống họ là “cộng sản nằm vùng”, cho công an mật vụ len lỏi vào các quán ăn, tiệm cà-phê để theo dõi và bắt giam những người bàn tán về cuộc đấu tranh của PG. Tại Huế, chính quyền NĐD xúi giục các gia đình có con em tử nạn trong vụ đàn áp tại Đài Phát thanh, xin rút ra khỏi danh sách Phật tử, danh sách Thánh tử đạo. Tại Sài Gòn, Diệm cho mật vụ giả danh Phật tử, Tăng Ni vào các chùa để do thám và xúi giục nhằm chia rẽ hàng ngũ Phật giáo. Nổi bật nhất là chính quyền NĐD tìm cách làm mất uy tín Tổng hội PG Việt Nam, coi nó như là một nhóm phân liệt, bằng cách cho khánh thành một ngôi chùa mới ở Sài Gòn cho phái PG Cổ sơn môn, một giáo phái không được Tổng hội PG Việt Nam thừa nhận. Jerrold Schecter viết: “Cách lập luận của Chính phủ là phái Cổ sơn môn sẽ chia rẽ hàng ngũ những người PG và sẽ làm mất giá trị và uy tín phong trào của họ. Đó là một chiến thuật quen thuộc của Diệm nhằm làm chia rẽ lực lượng chống đối ông (46,176). Ngày 8-6-1963, Phong trào Phụ nữ Liên đới ra thông cáo lên án những người PG. Trong tình thế ấy, giới lãnh đạo PG bị bắt buộc phải đưa cuộc đấu tranh lên một mức độ cao hơn.

Ngày 11-6-1963, tại ngã tư đường Lê Văn Duyệt-Phan Đình Phùng (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám-Nguyễn Đình Chiểu), HT Thích Quảng Đức đã anh dũng tự thiêu trước sự chứng kiến của hàng chục ngàn Tăng Ni, Phật tử cùng những quan sát viên quốc tế. Lực lượng Diệm được điều động đến để hòng phá tan cuộc tự thiêu, nhưng bị thất bại vì Tăng Ni, Phật tử đã kiên quyết bảo vệ bằng cách vây quanh nhiều vòng. Có người nằm lăn trước xe cứu hỏa, xe cảnh sát không cho can thiệp. “Cuộc hy sinh phi thường và dũng cảm của HT Thích Quảng Đức, hình ảnh cụ ngồi ngay thẳng như tượng đá trong ngọn lửa rực hồng đã nhanh như một làn sóng điện làm sôi nổi dư luận trong cả nước Việt Nam và trên thế giới. Ảnh của vị HT Việt Nam Thích Quảng Đức ngồi trong ngọn lửa được đăng trên hầu hết các báo khắp năm châu, với những dòng chữ nói lên sự khâm phục” (9, 342).

Thật vậy, ở trong nước, “cái chết vô úy của HT Quảng Đức là một hồi chuông cảnh tỉnh cho mọi người, một tiếng gọi đàn cho hàng tứ chúng” (4). Hành động cao cả của Thích Quảng Đức đã làm tăng thêm sự công phẫn của nhân dân miền Nam, kể cả tín đồ Thiên Chúa giáo, đối với chính quyền NĐD. Nó được xem như là một lời kêu gọi khẩn thiết đối với tất cả những ai có lương tri hãy đứng lên chống lại chế độ độc tài gia đình trị NĐD. Ngày 12-6, tại chiến khu, Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN đã long trọng tổ chức lễ truy điệu Thích Quảng Đức. Xã luận báo Nhân Dân, số ra ngày 13-6 viết: “Gương hy sinh anh dũng của HT Thích Quảng Đức là một sự tố cáo, lên án trước dư luận toàn thế giới chế độ độc tài cực kỳ tàn bạo của bọn Mỹ-Diệm. Chế độ ấy phải bị đánh đổ. Mười bốn triệu đồng bào miền Nam quyết đánh đổ chế độ ấy” (19).

Về phía Giáo hội Thiên Chúa giáo, ngay từ đầu của cuộc đấu tranh, có người đã lên tiếng tố cáo Diệm và bày tỏ sự ủng hộ đối với cuộc đấu tranh của PG. Sau cái chết của Thích Quảng Đức, ngày 16-6-1963, Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình, cai quản giáo khu Sài Gòn, đã chính thức lên tiếng trong một bức thư luân lưu. Bức thư xác định rõ: “Giáo hội Thiên Chúa giáo Việt Nam hoàn toàn đứng ngoài cuộc tranh chấp, mặc dù vai trò chủ động gây ra cuộc tranh chấp là tín đồ Thiên Chúa giáo” (33, 166). Trong bức thư thứ hai gởi cho các hàng tu sĩ và tín đồ Thiên Chúa giáo trước lúc lên đường đi La Mã tham dự Công đồng Vatican II, Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình nhấn mạnh: “Giáo hội không những không gây nên biến cố, mà còn đau đớn vì những tai họa đã và còn là ác quá của biến cố” (33, 167).

Đối với thế giới, sự hy sinh của Thích Quảng Đức là “một hành động tiêu biểu vĩ đại. Nó không chỉ chống lại chế độ Diệm, để chỉ sự hiện hữu của PG và được để ý tới, mà nó còn có ý nghĩa chống lại sự bất công, bất chính của toàn thế giới... Với một hành động lặng thinh, không nói một lời, một vị HT Việt Nam đã nêu ra một tấm gương sáng rùng rợn, một kháng nghị cao đẹp, lộng lẫy, chống lại mọi xấu xa, đê hèn của loài quỷ sứ đang còn tồn tại trong thế giới này” (7, 37-38). “Đây là một trạng thái mới lạ và huyền ảo của bất bạo động. Nó chứng tỏ rõ rệt cái uy quyền tối thượng của tinh thần. Không một bạo lực nào có thể làm suy giảm được tâm hồn, sức chịu đựng của một cá thể đối với mọi ức chế đàn áp chính trị độc tài thật vô biên” (26, 93).

Ngày 30-6-1963, trong một bài giảng tại một nhà thờ lớn ở New York, mục sư Donalds Harrington đã xem cái chết của Thích Quảng Đức giống như cái chết của Chúa Giê-su, Michel Servetus, Jeanne d’ Arc. Ông cho rằng hành động mổ bụng của người Nhật cũng không thể nào so sánh nổi với sự tự thiêu của Thích Quảng Đức, tuy rằng gan dạ như nhau, bởi vì “sự tự thiêu của Ngài đã cứu vớt bao nhiêu sinh linh đang chìm đắm trong khổ hận, kẻ đàn áp cũng như kẻ bị đàn áp đều bừng tỉnh. Ngài đã tô đậm nét vàng son vào trang sử huy hoàng của PG và dân tộc” (26, 112).

“Tại Hoa Thịnh Đốn ngày 12-6-1963, nhân dân Mỹ đã đón nghe một cách xúc động tin cuộc biểu tình tranh đấu của giới Phật tử miền Nam” (11). Vụ tự thiêu đã gây nên một chấn động mạnh, đặc biệt làm cho dư luận Mỹ quay sang chống NĐD và gia đình y. “Uy thế của Mỹ-Diệm bị một cú đánh tinh thần mạnh như trời giáng” (9, 343).

Trên thực tế, cái chết của Thích Quảng Đức đã “có một tầm quan trọng rất lớn và đã chuyển mạnh cuộc vận động của PG sang một thế mới, trên cả hai bình diện quốc nội và quốc tế... Nó thúc đẩy cuộc vận động cho PG ở Việt Nam cũng như ở quốc tế tiến mạnh, tiến nhanh” (28).

Thật vậy, cái chết của Thích Quảng Đức đã làm rung chuyển chính quyền NĐD. Chiều ngày 11-6-1963, chính quyền NĐD ra lệnh phong tỏa các chùa, nhất là chùa Xá Lợi, nơi đang đặt thi hài của Thích Quảng Đức. Khắp các nẻo đường dẫn về chùa Xá Lợi, cảnh sát được huy động để ngăn chặn làn sóng người đang đổ xô về đây. Buổi tối cùng ngày, qua đài truyền thanh, NĐD đọc thông điệp lên án vụ tự thiêu của Thích Quảng Đức là do “một số người bị đầu độc gây án mạng” (37) và “kêu gọi đồng bào hãy bình tĩnh nhận định tình thế” (37). Lời lẽ trong thông điệp một lần nữa bộc lộ bản chất độc tài của Diệm, khi y tuyên bố: “ Sau lưng PG trong nước còn có Hiến pháp, nghĩa là có tôi” (37).

Mặc dầu vậy, những con đường dẫn về chùa Xá Lợi, cảnh sát đã bị làn sóng người tràn ngập. Ngày 12-6-1963, giới lãnh đạo cao cấp của PG từ Huế vào Sài Gòn trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh ở đây. Đám tang của Thích Quảng Đức được ấn định vào ngày 16-6 và giới lãnh đạo PG dự định sẽ tổ chức vào dịp này một cuộc biểu tình lớn để phản kháng chính quyền NĐD không chịu giải quyết các nguyện vọng đã đề ra. Lo sợ một sự bùng nổ lớn vào ngày 16-6, chính quyền NĐD cấp tốc mở cuộc điều đình với giới lãnh đạo PG. Buổi họp đầu tiên được tổ chức từ ngày 14-6. Sau 4 buổi họp, một bản Thông cáo chung được ký kết vào lúc 2 giờ sáng ngày 16-6-1963.

Nội dung bản Thông cáo chung về cơ bản thỏa mãn được 5 nguyện vọng mà giới lãnh đạo PG đã đề ra trong bản Tuyên ngôn ngày 10-5-1963. Đứng về phương diện thương thuyết, việc ký kết bản Thông cáo chung là một thắng lợi lớn của phía PG.

Dĩ nhiên, giới lãnh đạo PG quá thừa hiểu bản chất của chính quyền NĐD, nên họ không tin tưởng một cách ngây thơ rằng bản Thông cáo chung sẽ được thực hiện một cách nghiêm chỉnh. Trong Thông bạch gởi toàn thể Tăng Ni, Phật tử ngày 17-6, HT Thích Tịnh Khiết, lãnh đạo tối cao của UBLPBVPG, viết: “Một điều quan trọng mà tất cả Tăng Ni và Phật tử đều thắc mắc tự hỏi : Liệu những lời cam kết được ghi trong bản Thông cáo này có được thực thi đúng đắn khắp nơi trong nước hay không ? Điều đó còn đợi thời gian trả lời, tuy nhiên chúng ta tin tưởng ở những lời tuyên bố của Tổng thống và UBLB, nếu những lời cam kết không được thực thi đúng thì đó không phải là trách nhiệm của chúng ta” (43, 143-144).

Để tỏ thiện chí, giới lãnh đạo PG còn ra lệnh hoãn đám tang Thích Quảng Đức và kêu gọi quần chúng ở nhà (vì đám tang đã được hoãn lại) và “hãy trở lại nếp sống bình thường, thành tâm cầu nguyện cho bản Thông cáo chung, một văn kiện được cam kết long trọng giữa Chính phủ và PG được thi hành nghiêm chỉnh” (43, 144).

Về phía quần chúng Phật tử, mặc dầu có lời kêu gọi của giới lãnh đạo PG, nhưng sáng ngày 16-6, một khối lượng quần chúng 700.000 người đã đổ ra đường phố kéo về chùa Xá Lợi, nơi đặt thi hài của Thích Quảng Đức. Cuộc xô xát giữa quần chúng và lực lượng cảnh sát đặc biệt của Diệm xảy ra ở ngã tư Lê Văn Duyệt và Phan Thanh Giản. Thanh niên, học sinh, phụ nữ, bà già đã hăng hái chiến đấu hàng mấy giờ đồng hồ. “Quần chúng hòa với nhau như những giọt nước trong đại dương và trong tình yêu, người ta tự thấy mình lớn lên và không còn sợ hãi nữa” (28). “Đây là cuộc đấu tranh chính trị quyết liệt nhất ở Sài Gòn trong mấy năm nay. Nó đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa nhân dân ta với chế độ độc tài phát-xít Mỹ-Diệm, đẩy chúng vào tình trạng bị cô lập hơn bao giờ hết” (24).

Thái độ hòa hoãn của giới lãnh đạo PG đã làm nhiều người nóng nảy bất mãn. Họ sợ rằng giới lãnh đạo PG chỉ quan tâm đến việc thỏa mãn 5 nguyện vọng, chứ không nghĩ đến nguyện vọng của quần chúng về tự do, dân chủ và công bằng. Để cho quần chúng khỏi ngộ nhận về mục tiêu đấu tranh, trong lần giải thích về bản Thông cáo chung ngày 23-6 tại chùa Ấn Quang, giới lãnh đạo PG đã chỉ ra rằng: “Có người đã đi tới chỗ cho rằng các nhà lãnh đạo PG đã bị mua chuộc”. Về nguyện vọng của quần chúng, giới lãnh đạo PG cho rằng: “Có bình đẳng tôn giáo sẽ có bình đẳng về mọi mặt. Bình đẳng chẳng phải là thực chất thiết yếu của dân chủ, tự do ư ? PGViệt Nam đã hiểu rõ nhu cầu của dân tộc và đã đặt cuộc vận động trong cuộc đấu tranh của dân tộc” (28).

Về phía chính quyền NĐD, chúng ra lệnh loan truyền bản Thông cáo chung ngay khi vừa được ký kết bằng xe phóng thanh của Bộ Thông tin. Điện tín đánh đi các tỉnh loan tin về nội dung của bản Thông cáo chung. Đài Phát thanh Sài Gòn loan tin trên ngay khi trời chưa sáng. Thực ra, đối với chính quyền NĐD, việc ký kết Thông cáo chung chỉ là một kế hoãn binh, một sự nhượng bộ tạm thời để chuẩn bị cho một cuộc đàn áp đại quy mô nhằm đè bẹp phong trào. Âm mưu này được tiết lộ trong một bức mật điện mang số 13242/VP/TT ngày 19-6-1963 của Văn phòng Phủ Tổng thống đánh đi cho các Đại biểu Chính phủ các miền, Tư lệnh các vùng, nguyên văn như sau: “Để tạm thời làm dịu tình hình và khí thế đấu tranh quá quyết liệt của bọn Tăng Ni và PG phản động, Tổng thống và ông Cố vấn ra lệnh tạm thời nhún nhường họ. Các nơi hãy theo đúng chủ trương trên và đợi lệnh. Một kế hoạch đối phó thích nghi sẽ gởi đến sau. Ngay từ bây giờ, hãy chuẩn bị dư luận cho giai đoạn tấn công mới, hãy theo dõi, điều tra, thanh trừng những phần tử PG bất mãn và trình thượng cấp, kể cả sĩ quan và công chức cao cấp” (15, 421). Trong một cuộc họp của 18 tướng tá vào đầu tháng 7-1963, Ngô Đình Nhu tuyên bố: “Nếu chính phủ này không giải quyết vấn đề PG, nó sẽ bị lật đổ vì một cuộc đảo chánh quân sự” (46, 197). Theo Nhu, “bất cứ chính phủ nào thay thế chính phủ này trước hết phải đập tan những người PG” (46, 182).

Vạch trần những âm mưu trên đây của chính quyền NĐD, ngày 21-6, Ủy ban Trung ương MTDTGPMNVN ra lời kêu gọi đồng bào miền Nam và tín đồ theo đạo Phật hãy nâng cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh. Lời kêu gọi viết: “Hiện nay, tuy ngoài mặt bọn Mỹ-Diệm chịu nhận giải quyết một số yêu sách của đồng bào theo đạo Phật, nhưng cuộc đấu tranh chưa kết thúc. Với bản chất ngoan cố và xảo quyệt, Mỹ-Diệm vẫn tìm đủ mọi cách để hãm hại và đàn áp đồng bào... Vì vậy, đồng bào theo đạo Phật cũng như các tầng lớp nhân dân quyết không vì những lời hứa hẹn xảo quyệt của bọn Mỹ-Diệm mà buông lơi và bỏ dở cuộc đấu tranh. Ngược lại, chúng ta cần tăng cường đoàn kết hơn nữa để kịp thời vạch trần mọi mưu đồ xảo quyệt của chúng, buộc chúng phải tôn trọng những lời chúng đã hứa, trả lại tự do cho những người bị bắt, bồi thường cho những người bị thương, những gia đình có người chết và chấm dứt ngay những hành động khủng bố trả thù đối với đồng bào theo đạo Phật và các tầng lớp nhân dân” (21).

Đúng như nhận định trên đây, ngay sau khi Thông cáo chung được ký kết, bằng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau, chính quyền NĐD liên tiếp gây ra những vụ vi phạm Thông cáo chung. Sau đây là một số vụ vi phạm tiêu biểu tại Sài Gòn:

- Ngày 18-6, chính quyền NĐD cho phái Lục hòa Tăng thành lập Tổng hội PG, lấy tên là Tổng hội PG Cổ sơn môn để chống lại phong trào PG. Tổ chức này mới xuất hiện đã bị đồng bào Sài Gòn đả kích mạnh mẽ. Ngày 29-6, Tổng hội PG Cổ sơn môn đánh điện cho Hội PG Sri Lanka, tố cáo Tổng hội PG Việt Nam, “một chi nhánh của Hội PG Sri Lanka”, đang lợi dụng danh nghĩa của Hội để hoạt động chính trị và yêu cầu Hội PG Sri Lanka lên tiếng phản đối.

Ngay sau khi nhận được điện văn, ông W.P.Daluwatte, Tổng Thư ký Hội PG Sri Lanka, đã có điện tín trả lời cho PG Cổ sơn môn rằng: “Hội chúng tôi không có chi nhánh nào ở Việt Nam cũng như ở nơi khác... Mặt khác, chúng tôi cũng biết rằng tại Việt Nam có một Tổng hội PG, và theo như chỗ chúng tôi biết, Tổng hội này có đủ uy tín để đại diện và thay lời cho Phật tử Việt Nam. Chúng tôi tin chắc rằng Tổng hội PG Việt Nam này không bao giờ làm những điều gì trái hoặc thái độ nào có thể gọi là phản PG... Hơn nữa, PG Sri Lanka đã tỏ thái độ rõ rệt của họ về những biến cố vừa rồi ở Việt Nam và họ đã phản đối mạnh mẽ những hành động kỳ thị tôn giáo và những đối xử có tánh cách lăng nhục. Chúng tôi đã yêu cầu Chính phủ chúng tôi và Hội PG Thế giới dùng mọi biện pháp khả dĩ xoa dịu và cải thiện những lỗi lầm đã xảy ra. Chúng tôi đang tiếp tục công việc này, quý Ngài có thể phổ biến bức thư này theo ý muốn của quý Ngài” (33, 66-67).

- Ngày 1-7, trong một lần giải thích về Thông cáo chung tại trụ sở Thanh niên Cộng hòa, Ngô Đình Nhu ra sức công kích, nhục mạ PG, gán cho những người biểu tình đấu tranh chống đối từ ngày 8-5 là những “phần tử phiến loạn”. Đối với giới lãnh đạo PG, Nhu cho là “rất hăng hái lợi dụng xuyên tạc một cách trắng trợn và ngoan cố để đầu độc một số tín đồ và gây áp lực với các vị đại đức từ bi, hầu phát động một chiến dịch bất tuân pháp luật”, rằng “sự nguy hiểm trong việc thiếu giáo dục, thiếu học tập, thiếu cảnh giác nhân dân, để một số bất cứ lúc nào cũng trở thành cuồng tín” (43, 150)... Về sự hy sinh của Thích Quảng Đức, Nhu cho là “một vụ làm chết người có tổ chức, bằng cách tưới xăng đốt một vị HT” (43, 151).

Trong lúc phía PG đang ở trong thế hòa hoãn thì chính quyền NĐD quyết định đem các nhân vật tham gia “vụ đảo chánh hụt 11-11-1960” và “nhóm Caravelle” ra xử trước Tòa án Quân sự đặc biệt vào ngày 8-7, trong ý đồ để cảnh cáo và “dằn mặt” những phần tử lăm le đảo chánh; đồng thời để đánh lệch sự chú ý của quần chúng, đưa họ ra khỏi phong trào. Để phản đối chính quyền NĐD, trước đó một ngày (7-7-1963), nhà văn Nhất Linh uống thuốc độc tự tử. Cái chết của Nhất Linh gây xúc động mạnh trong quần chúng và là một đòn nặng đánh vào chế độ Diệm. Deepe, đại diện báo Newsweek  tại Sài Gòn lúc đó nhận định rằng: “Sau vụ tự thiêu của HT Thích Quảng Đức, cái chết của Nhất Linh sẽ đóng thêm một cái đinh vào quan tài của ông Tổng thống Diệm” (15, 203).

Mặt khác, để đề phòng một cuộc tấn công quân sự trong nội bộ chống lại chính phủ, Diệm cách chức một số sĩ quan giữ những nhiệm vụ quan trọng, thuyên chuyển vòng quanh để các sĩ quan không liên kết được với nhau, đồng thời ra sức ve vãn mua chuộc, như tặng huân chương cao nhất cho hơn 100 sĩ quan cao cấp hoặc lập ra cái gọi là Quốc gia Nghĩa tử cuộc để đảm bảo quyền lợi cho những binh lính, sĩ quan tử trận. Chính Mỹ cũng thừa nhận Diệm là “một tên gian ngoan, nhất mực bênh vực quyền lợi cho gia đình, hay đàn áp một cách thô bạo những khuynh hướng công kích lại” (10).

Tiếp theo, ngày 9-7, bằng Nghị định số 358-BNV/KS, chính quyền NĐD quy định thể thức treo cờ PG chỉ dành riêng cho Tổng hội PG Việt Nam. Tiếp theo, ngày 11-7, UBLB gởi văn thư số 16/UBLB cho giới lãnh đạo PG, trong đó nói rõ trách nhiệm về vụ thảm sát tại Đài Phát thanh Huế (8-5-1963) không thuộc trách nhiệm của chính quyền NĐD, mà là thuộc những người cộng sản: “Những nạn nhân chết đều do chất nổ “plastic” của Việt cộng (chất này, các lực lượng võ trang Việt Nam Cộng hòa không có), chớ không phải bị xe tăng hay xe thiết giáp đằng, như đã có trong luận điệu trước đây” (3).

“Chiến tranh một phía” của chính quyền NĐD không cho phép giới lãnh đạo PG hòa hoãn được nữa, buộc họ phải phát động trở lại cuộc đấu tranh. Trong văn thư số 83 ngày 14-7 gởi NĐD, HT Thích Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội PG Việt Nam, khẳng định rằng: “Vì sự tồn vong của PG, tôi kính thưa Tổng thống tường, kể từ hôm nay, với tư cách là lãnh đạo tối cao, tôi thấy có bổn phận chỉ thị cho Tăng Ni và thiện tín phát động một phong trào đòi hỏi sự thực thi bản Thông cáo chung dưới mọi hình thức bất bạo động và trong sự tôn trọng các điều khoản của bản Thông cáo chung ấy” (39). Cũng trong ngày hôm đó, ông gởi Thông bạch kêu gọi toàn thể Tăng tín đồ “nhất tề thực hiện phong trào” (35).

Hưởng ứng lời kêu gọi của giới lãnh đạo PG, cuộc đấu tranh của Tăng Ni, Phật tử trên toàn miền Nam tiếp tục trở lại với quy mô và cường độ cao hơn trước. Tại Sài Gòn, chiều ngày 16-7, gần 200 Tăng Ni biểu tình trước tư dinh Đại sứ Mỹ. Họ đòi Mỹ và các nước khác không được viện trợ cho chính quyền NĐD. Chính quyền Mỹ phải chịu trách nhiệm trước chính sách áp bức PG tại miền Nam. Sau cuộc biểu tình, họ trở về chùa Xá Lợi và tham gia cuộc tuyệt thực.

Ngày 17-7, nhịp độ cuộc đấu tranh gia tăng, chỉ trong buổi sáng đã có tới 2 cuộc biểu tình. Cuộc biểu tình thứ nhất xuất phát từ chùa Giác Minh với mục đích như biểu ngữ đã viết: “Chúng tôi đi thăm thầy chúng tôi đang tuyệt thực để đòi thực thi bản Thông cáo chung”. Tuy nhiên, trước lúc cuộc biểu tình xuất phát, chùa Giác Minh đã bị chính quyền NĐD bao vây với các lớp hàng rào kẽm gai. Nhiều xe phun nước và lực lượng cảnh sát được huy động để mở cuộc đàn áp. Quần chúng phẫn nộ đã vượt qua hàng rào kẽm gai, tràn ra đường phố, nhiều biểu ngữ có nội dung cứng rắn xuất hiện, như: “Chúng tôi đã bị lường gạt quá nhiều”, “Cờ PG phải là cờ của tất cả PG đồ”, “Yêu cầu Chính phủ giữ đúng lời thành tín đã hứa”, và khi không còn vượt qua được nữa, đoàn người ngồi xuống tụng niệm. Cuộc biểu tình đã bị đàn áp dữ dội làm nhiều người bị thương. Đoàn biểu tình rút trở lại chùa Giác Minh. Chính quyền NĐD cho phong tỏa chùa, làm trên 600 Tăng Ni bị vây hãm phải chịu đói khát trong suốt 54 giờ đồng hồ.

Cuộc biểu tình thứ hai xuất phát từ chùa Xá Lợi. Bằng cách “đánh lừa” sự cản đường của lực lượng cảnh sát Diệm, Tăng Ni từ chùa Xá Lợi đã từ nhiều ngả đường khác nhau, đến tập hợp trước chợ Bến Thành. Họ đã căng lên nhiều biểu ngữ đòi chính quyền NĐD phải thi hành đầy đủ và nghiêm chỉnh các thỏa thuận ghi trong Thông cáo chung. Đại diện của đoàn biểu tình đã lên tiếng tố cáo: “Chúng tôi tới đây để tỏ cùng quốc dân đồng bào biết rằng : Bản Thông cáo chung đã ký kết hơn tháng nay nhưng Chính phủ đã không thực thi nghiêm chỉnh, mà còn dùng đủ mọi cách để khủng bố, bao vây, bắt bớ, đàn áp, xuyên tạc PG đồ” (15, 440). Đông đảo quần chúng từ chợ đổ ra và từ các ngả đường kéo đến nhập cuộc tham gia đấu tranh, khí thế hết sức sôi nổi. Giám đốc Cảnh sát của Diệm trực tiếp chỉ huy cuộc đàn áp. Tăng Ni bị cảnh sát bắt quẳng lên xe bịt bùng và họ đã chống lại quyết liệt bằng cách xiết chặt lấy tay nhau.

Không khuất phục được ý chí đấu tranh của Tăng Ni, Giám đốc Cảnh sát bày trò thương lượng, bằng cách hứa sẽ chở Tăng Ni về chùa Xá Lợi. Nhưng khi Tăng Ni lên xe, chúng lại cho xe chạy về hướng Lục tỉnh. Biết mình bị lừa, Tăng Ni đã sử dụng rất nhiều biện pháp (như đập cửa xe, đạp thắng, gạt tay lái, mở cửa xe phóng xuống đường). Kết cục, xe phải dừng lại, Tăng Ni thoát ra khỏi xe, tập hợp lại để tiếp tục đấu tranh. Chính quyền NĐD đã điều động một lực lượng lớn cảnh sát để đàn áp. Tăng Ni bị đánh đập, bị bắt quẳng lên xe chở về An dưỡng địa Phú Lâm. Tường thuật về cuộc đàn áp này, tờ Star and Stripes số ra ngày 18-7-1963, viết : “Với sự trợ lực của lính mũ sắt, cảnh sát chiến đấu đã dùng báng súng và gậy gộc đánh các người biểu tình rồi túm cổ họ vất lên xe camion của nhà binh đang đậu bên cạnh. Tăng Ni, đàn bà và trẻ con bị cảnh sát đánh ngã lăn ra đường. Rất nhiều người đổ máu. Cà sa vàng của Tăng Ni và áo dài của đàn bà bị xé rách tả tơi trong khi họ bị dồn lên xe” (8, 220). Và khi về An dưỡng địa, Tăng Ni vẫn tiếp tục đấu tranh. Chính quyền NĐD buộc phải trả họ về chùa Xá Lợi sau 4 ngày giam giữ, chịu đủ mọi thứ ngược đãi.

Trước sự phục hồi phong trào, ngày 18-7, NĐD ra “hiệu triệu” chấp thuận việc treo cờ PG “sẽ được áp dụng cho tất cả môn phái nào tự ý công nhận PG kỳ”, đề nghị giới lãnh đạo PG hợp tác “để cùng nghiên cứu, điều tra và giải quyết tại chỗ, nếu cần, những khiếu nại liên quan đến sự thực thi Thông cáo chung” và kêu gọi “quốc dân đồng bào ghi nhận ý chí hòa giải tột bực của Chính phủ trong vấn đề Phật giáo” (12).

Trên thực tế, “ý chí hòa giải tột bực của Chính phủ...” cũng chỉ là sự tiếp nối những thủ đoạn chính trị như trước đây nhằm đánh lừa dư luận. Ngay khi Diệm ra lời “hiệu triệu”, các chùa Ấn Quang, Xá Lợi, Giác Minh vẫn tiếp tục bị phong tỏa. Ngày 19-7, giới lãnh đạo PG gởi văn thư số 94 cho chính quyền NĐD, khẳng định: “Toàn thể Tăng Ni chúng tôi trong Ủy ban Liên phái thà cam chịu chết chứ không chịu để cho lòng tin tưởng của chúng tôi nơi thành tín của Chính phủ bị thực tế đánh đổ một lần nữa” và yêu cầu giải quyết hết thảy những vấn đề đã xảy ra từ ngày Phật Đản (8-5-1963), họ “mới có thể hợp tác với UBLB mà nghiên cứu, xem xét những vấn đề khác, để cho cuộc hòa giải được hoàn toàn tốt đẹp” (40).

Ngày 21-7, một nhóm thanh niên mặc thường phục len lỏi vào đám đông quần chúng Phật tử tại chùa Xá Lợi, phân phát tài liệu giả mạo. Một người trong nhóm họ bị bắt quả tang, y khai nhận lệnh cấp trên đến chùa Xá Lợi để phát những tài liệu giả mạo nói trên. Tiếp theo, ngày 23-7, trong lúc Sư bà Diệu Huệ đang tổ chức họp báo tại chùa Xá Lợi, để công bố ý nguyện tự thiêu của bà để góp phần bảo vệ PG, thì bên ngoài, chính quyền NĐD tổ chức một cuộc biểu tình mạo danh thương phế binh, lên án và xuyên tạc cuộc đấu tranh của PG. Tuy vậy, việc làm của chính quyền NĐD không đánh lừa được dư luận, ngày hôm sau (24-7), một nhóm thương phế binh gởi thư cho giới lãnh đạo PG, lên án cuộc biểu tình và bày tỏ sự ủng hộ của họ đối với phong trào: “Chúng con nguyện xin chung góp một phần nào cuộc đấu tranh hợp pháp với tinh thần bất bạo động của đồng bào Phật tử cho đến khi nào sự bình đẳng tôn giáo và tự do tín ngưỡng được hoàn toàn thực thi trên lời nói cũng như việc làm trên toàn lãnh thổ Việt Nam” (43, 238).

Trong lúc phong trào đang được đẩy mạnh thì tín đồ các tôn giáo khác cũng lên tiếng tố cáo chính quyền NĐD đàn áp PG và bày tỏ sự ủng hộ của họ đối với cuộc đấu tranh của PG.

Ngày 20-7-1963, Đoàn Sinh viên Liên giáo tại Sài Gòn ra lời hiệu triệu, nói rằng: “Việc tàn sát PG đồ tại Huế trong ngày lễ Phật Đản vừa qua, việc giở trò lừa bịp giả ký kết, thỏa thuận để xoa dịu những lúc lòng công phẫn trong nhân dân lên quá cao rồi lại tiếp tục bắt bớ, tra tấn, tàn sát đẫm máu, tất cả những việc ấy đã đem lại lợi ích gì cho quốc gia, dân tộc ? Phải chăng chỉ để thỏa mãn lòng đố kỵ nhỏ nhen, óc kỳ thị tôn giáo hẹp hòi của một vài cá nhân?... Các tôn giáo trong nước đều tố cáo hành vi hạn chế tín ngưỡng phản hiến pháp của chính quyền. Ngay cả những tín đồ Thiên Chúa giáo vô tư cũng lên án hành động của chính quyền là hẹp hòi, bẩn thỉu” (17) và khẳng định rằng: “Đoàn Sinh viên Liên giáo chúng tôi gồm đủ thành phần của các tôn giáo: PG, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Tin Lành giáo, Cao Đài giáo, Bahai giáo... được thành lập với mục đích ủng hộ PG đấu tranh ôn hòa đòi tự do tín ngưỡng và hành giáo” (17).

Ngày 24-7, đại diện một nhóm sinh viên và thanh niên Thiên Chúa giáo tại Sài Gòn gởi thư đến đức Khâm sứ Tòa thánh Vatican ở Việt Nam. Bức thư viết: “Sau khi theo dõi những biến cố xảy ra tại Sài Gòn cũng như ở Huế từ 8-5 đến nay, cũng như sau khi đã chứng kiến tận mắt cái chết vô cùng can đảm của nhà sư Thích Quảng Đức và các cuộc biểu tình bất bạo động mới đây của Tăng Ni, chúng con là một nhóm sinh viên Công giáo yêu chuộng tự do và công lý không thể nhắm mắt làm ngơ trước cảnh đau khổ, bị đánh đập, bị bắt bớ của những người dù rằng khác tín ngưỡng nhưng cũng là đồng bào anh em với chúng con.

“Hành động đàn áp nói trên của chính phủ Công giáo đối với PG đồ đã làm tổn thương nhiều đến thanh danh của hàng giáo phẩm Việt Nam nói riêng và Giáo hội nói chung. Không những thế, nó còn gây ra những phản ứng vô cùng bất lợi cho Giáo hội Công giáo trên khắp các quốc gia Á châu... Chúng con tin chắc rằng Đức cha cũng đã khách quan nhận xét, đã phê phán và phúc trình về Tòa thánh những sự việc đã diễn ra” (41).

Ngày 25-7, một nhóm tín đồ Thiên Chúa giáo gồm nhiều thành phần xã hội khác nhau đã gởi thư cho giới lãnh đạo PG. Bức thư viết: “Mặc dầu chúng tôi là đồng bào Công giáo, nhưng ngay từ khi xảy ra những cuộc tàn sát, đàn áp dã man của nhà cầm quyền đối với đồng bào PG, chúng tôi rất đau lòng vì chính những kẻ xuẩn động đã gây ra thảm cảnh và những tiếp diễn của những thảm cảnh đó là những người đã được ánh sáng Phúc âm rọi tới như chúng tôi. Còn đâu trong người của họ tinh thần công bằng, bác ái, kính Chúa, yêu người như mình ta vậy? Họ đã phản bội tinh thần Công giáo của chúng tôi” (43, 239).

Ngày 30-7, nhân ngày lễ chung thất của Thích Quảng Đức, giới lãnh đạo PG đã ra Thông bạch vạch rõ thực trạng xã hội miền Nam dưới chính quyền NĐD: “Sự suy đồi của nền đạo đức dân tộc... nền đạo giáo vẫn bị hăm dọa, quốc gia lâm vào tình trạng chia rẽ đổ nát, người làm kẻ hưởng, nỗi bất bình oan khúc không sao kể xiết” (36), và kêu gọi mọi giới đồng bào hãy đình công bãi thị để phản đối thái độ ngoan cố và độc ác của chính quyền NĐD đối với PG.

Hưởng ứng lời kêu gọi trên, tại Sài Gòn, từ 5 giờ sáng, đồng bào đã tấp nập đổ về chùa Xá Lợi, “ngoài thanh niên ra, hầu hết những người đến dự lễ đều là đàn bà. Họ đều trẻ, khá hấp dẫn và duyên dáng trong bộ áo dài và quần trắng, hoặc cả bà già nhăn nheo, răng bị nhuộm đen vì ăn trầu. Tất cả đều có đính băng nhỏ màu vàng trước ngực, một biểu hiện thương tiếc HT Thích Quảng Đức” (46, 193).

Sau buổi lễ, giới lãnh đạo PG ra Tuyên ngôn tố cáo chính quyền NĐD không chịu thi hành Thông cáo chung và khẳng định lại một lần nữa quyết tâm tranh đấu của mình “để đưa cuộc đấu tranh đến thành công” (34, 112).

Trong lúc cuộc đấu tranh của PG được phục hồi và đang phát triển mạnh mẽ khắp trên các đô thị miền Nam, nhất là ở Huế và Sài Gòn, thì Đại sứ Mỹ Frederick E.Nolting, trong một cuộc phỏng vấn của Don Baker, ký giả của Hãng thông tấn UPI, đã bào chữa cho chính quyền NĐD. Nolting nói: “Hơn hai năm tôi sống ở Việt Nam, tôi chưa bao giờ nhận thấy dấu hiệu nào chứng tỏ có sự kỳ thị tôn giáo” (43, 298).

Tiếp theo, ngày 3-8, trong cuộc nói chuyện với phụ nữ bán quân sự, Trần Lệ Xuân lên tiếng công kích và mạ lỵ PG, rằng “hoạt động của PG là một hình thức phản bội xấu xa...” (46, 196). Về sự tự thiêu của Thích Quảng Đức, Trần Lệ Xuân cho là sư "nướng sư". Trả lời phỏng vấn của ký giả báo New York Times, Trần Lệ Xuân nói: “Tôi còn đánh sư gấp 10 lần như thế nữa à. Phương pháp giải quyết vấn đề PG là phớt tỉnh, không cần biết tới” (43, 307).

Trước thái độ ngang ngược của Mỹ-Diệm, mức độ phong trào đột ngột gia tăng. Trong vòng chưa đầy nửa tháng (4 đến 16-8) đã có tới 4 cuộc tự thiêu. Riêng Huế, phong trào lên rất mạnh, đã có 2 cuộc tự thiêu. Ngày 17-6, Linh mục Cao Văn Luận từ chức Viện trưởng Viện Đại học Huế, các khoa trưởng và giáo chức và giáo sinh đại học từ chức tập thể, sinh viên đồng loạt bãi khóa. Tại Sài Gòn, ngày 12-8, nữ sinh Mai Thị Tuyết An tự chặt tay trái của mình để phản đối chính quyền NĐD; ngày 18-8, một cuộc lễ cầu siêu cho tất cả các vị tử đạo được tổ chức tại chùa Xá Lợi. Sau lễ cầu siêu, Đoàn Sinh viên Phật tử Sài Gòn kêu gọi quần chúng tham gia tuyệt thực tại chỗ, có tới 10.000 người tham gia. Suốt ngày hôm đó, đông đảo đồng bào Sài Gòn kéo đến chùa Xá Lợi để ủng hộ cuộc tuyệt thực, khí thế đấu tranh của quần chúng hết sức sôi nổi.

Để cứu nguy cho chế độ, chính quyền NĐD đã cho thực hiện “kế hoạch nước lũ”, “cương quyết thanh trừng các phần tử phản bội và quá khích trong các giới Tăng Ni, công chức, giáo sư, sinh viên, cũng như trong các đoàn thể nhân dân” (13) nhằm giải quyết dứt điểm “vụ PG”. "Thời gian ấn định cho việc thực hiện xong kế hoạch là từ 21-8 đến 30-8-1963" (13). Đêm 20 rạng ngày 21-8, chính quyền NĐD cho quân tấn công đồng loạt hầu hết các ngôi chùa được dùng làm cơ sở đấu tranh trên toàn miền Nam.

Tại Sài Gòn, cảnh sát dã chiến và lực lượng đặc biệt của Ngô Đình Nhu mặc quân phục (âm mưu của lối cải trang này nhằm để đánh lừa dư luận rằng chính quân đội đã ủng hộ Diệm trong việc “thanh trừng những phần tử phản bội và quá khích”, làm cho phía PG tập trung mũi nhọn về phía quân đội, như vậy quân đội sẽ đứng về phía Diệm) tấn công các chùa và bắt giữ Tăng Ni, Phật tử. Tại chùa Xá Lợi, trụ sở của UBLPBVPG, cuộc tấn công diễn ra rất ác liệt. Mặc dầu có mật báo cho biết chính quyền NĐD sẽ mở cuộc tấn công, nhưng giới lãnh đạo PG vẫn không một ai chịu lùi bước. Tăng Ni, Phật tử đã chống trả mãnh liệt, cho đến lúc kiệt sức thì bị bắt tống lên xe chở vào trại giam. Hầu hết các nhà sư trong giới lãnh đạo PG đã bị bắt trong cuộc tấn công này.

Ở chùa Ấn Quang, theo Phiếu đệ trình số 0289 ngày 22-8-1963 của Tư lệnh Quân đoàn III của Diệm, thì cuộc tấn công của lực lượng Diệm cũng vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của Tăng tín đồ Phật tử: “Việc khám xét chùa Ấn Quang cũng gặp trở ngại vì chùa đã tổ chức phòng thủ và báo động. Khi lực lượng an ninh tiến vào chùa thì gặp một hàng rào kẽm gai có truyền điện nên một số nhân viên ta bị điện giật và bị thương. Một số Tăng Ni canh gác trong chùa dùng gậy định chống trả lúc đầu, nhưng sau đó lại rút lui lên lầu. Các sư liền sử dụng máy phóng thanh kêu gọi đồng bào quanh vùng thức dậy để chứng kiến quân đội tấn công chùa. Trong chùa, trống đánh ầm ĩ để báo động và sử dụng điện thoại để liên lạc với các chùa khác.

“Các Tăng Ni tiếp tục ném đá và ve chai vào các toán an ninh. Đặc biệt là các Tăng Ni có ném một chất hóa học cay mắt và một chai a-xít vào trung đội an ninh trong lúc tiến công vào chùa, nhưng may không có nhân viên nào bị thương” (27).

Cùng lúc với “kế hoạch nước lũ”, Diệm đọc tuyên cáo và ban hành sắc lệnh giới nghiêm, công khai đặt miền Nam trong sự cai trị của chế độ quân phiệt. Sắc lệnh giới nghiêm cho phép quân đội có quyền “xét các tư gia bất cứ giờ nào, bắt giữ những người xét có hại cho an ninh công cộng” (Điều 3), “Tất cả mọi sự vi phạm đến trật tự công cộng đều thuộc thẩm quyền của Tòa án Quân sự” (Điều 4) (31). Ngày 21 và những ngày kế tiếp, chính quyền NĐD đã cho người đi bắt thêm khoảng 2.000 người khác tại nhà riêng của họ, trong đó đa số là giáo sư, luật sư và sinh viên, đông nhất là ở Sài Gòn và Huế.

Bằng việc đánh phá chùa chiền, bắt giữ Tăng Ni và ban hành lệnh giới nghiêm, chế độ gia đình trị NĐD đã “thực sự dẫm trúng vỏ chuối do PG quăng ra” (30), đã tự chọn cho mình một tuyệt lộ.

Sau “kế hoạch nước lũ”, chính quyền NĐD thi hành một loạt âm mưu gian xảo nhằm đánh lừa dư luận, hòng tránh được sự nổi dậy của quần chúng. Ngày 22-8, chính quyền NĐD ra thông cáo cho biết đã khám xét và tịch thu được một số khí giới và dụng cụ bất hợp pháp tại chùa Xá Lợi, Ấn Quang... Ngày 24 và 25-8, anh em Diệm tạo ra một số thư giả mạo của giới lãnh đạo PG gởi cho NĐD, như thư của HT Thích Tịnh Khiết nói rằng HT ủy nhiệm cho một số Thượng tọa (TT) trong Giáo hội Tăng già toàn quốc để trông nom Phật sự, hoặc kiến nghị của 5 vị TT ở Huế nói rằng “trong chế độ cộng hòa nhân vị do Tổng thống NĐD lãnh đạo, chúng tôi xác nhận PG được tùy duyên phát triển tự do tín ngưỡng và hành đạo. Tổng thống và Chính phủ không chủ trương đàn áp và kỳ thị tôn giáo”, rằng “trong cuộc đấu tranh cho 5 nguyện vọng của PG Việt Nam đệ đạt lên Tổng thống, chúng tôi xác nhận đã được Tổng thống giải quyết, thực thi và hòa giải tột bực” (14).

Ngày 26-8, chính quyền NĐD thành lập Ủy ban Liên hiệp Bảo vệ PG thuần túy. Tổ chức này họp báo lên án giới lãnh đạo PG và tán thành cuộc đại khủng bố của chính quyền NĐD. Ngày 10-9, Trần Lệ Xuân lên đường đi châu Âu và châu Mỹ để làm cái nhiệm vụ mà y gọi là “giải độc” cho thế giới. Nhưng đến đâu, Lệ Xuân cũng đều bị nhân dân thế giới tẩy chay, đặc biệt là người Việt Nam ở hải ngoại đã chống lại y một cách quyết liệt, có nơi y đã bị nhân dân ném trứng thối và cà chua vào mặt.

Bằng tất cả những biện pháp trên đây, chính quyền NĐD vẫn không tài nào dập tắt được phong trào. Thật vậy, sau cuộc tấn công vào chùa chiền, phong trào không những không bị đè bẹp mà còn phát triển sâu rộng trong hầu hết các tầng lớp nhân dân. Liền sau “kế hoạch nước lũ”, ngày 22-8, MTDTGPMNVN ra tuyên bố chỉ rõ: “Điều quan trọng bậc nhất hiện nay là tín đồ PG cũng như nhân dân các đô thị kiên quyết giữ vững tinh thần, giữ vững đội ngũ, giữ vững đấu tranh... Tinh thần bất khuất trước sau vẫn là võ khí bất khả chiến thắng của chúng ta. Với ý chí và tinh thần ấy, chúng ta sẽ làm cho Mỹ-Diệm bị thất bại nhục nhã” (6).

Thật vậy, những ngày sau 21-8, cả Sài Gòn rung động trước sự phát triển của phong trào. Nhiều bộ trưởng, khoa trưởng, giáo sư đại học từ chức. Ngày 22-8, một nhóm giáo chức rải truyền đơn lên án chính quyền NĐD tấn công chùa và kêu gọi trí thức vùng dậy đấu tranh: “Chúng ta phải làm gì trong khi khắp nơi, đồng nghiệp của chúng ta thẳng thừng từ bỏ chức vụ để đòi hỏi sự giải quyết vấn đề kỳ thị tôn giáo của Chính phủ. Hơn thế nữa, mới đây, khoảng 1 giờ đêm 20 rạng ngày 21-8-1963, để xác định tính chất tàn ác, vô nhân đạo, Chính phủ NĐD đã cho quân đội tàn phá tất cả chùa chiền ở thủ đô và toàn quốc, bắt giết các vị Tăng Ni và các cấp lãnh đạo PG một cách dã man.

“Quý vị nghĩ sao trước lời kêu gọi này?

“Chúng tôi đang đợi phản ứng của quý vị, là những thức giả có nhiệm vụ tiên phong trong giai đoạn đấu tranh này” (32).

Về phía sinh viên, ngày 22-8, Ủy ban Chỉ đạo Sinh viên Liên khoa được thành lập, hai hôm sau (24-8) đổi tên là Ủy ban Chỉ đạo Sinh viên và Học sinh. Ủy ban này “tuyên bố bãi khóa, nghỉ học để đấu tranh cho tự do tín ngưỡng” (42). Hầu hết các trường đại học, cao đẳng đều bãi khóa. Ngày 24-8, tại Trường Đại học Khoa học có tới 1.200 sinh viên tới trường để thi vào năm dự bị, nhưng không chịu vào phòng thi, họ xé phiếu báo danh, hô các khẩu hiệu: “Đả đảo Chính phủ” và hô hào bãi khóa. Tại Trường Đại học Dược khoa, 700 sinh viên đến trường nhưng không chịu vào lớp. Truyền đơn của UBLPBVPG dán trên bảng đen kêu gọi đình công, bãi thị, bãi khóa để đấu tranh bảo vệ cho sự sống còn của đạo pháp và dân t