Nhà Xuất Bản Tổng
Hợp TP. Hồ Chí
Minh
LƯỢC SỬ
PHẬT GIÁO
TRUNG QUỐC
(Từ thế kỷ
thứ I sau CN đến thế kỷ thứ X)
Soạn giả: Viên Trí
---o0o---
Chương Bảy
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA TĂNG ĐOÀN PHẬT GIÁO
I. Thành phẦn và nguỒn gỐc xã hỘi cỦa Tăng đoàn
Ở Ấn Độ, Tăng già
Phật giáo là một tổ chức với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho những ai
muốn theo đuổi con đường xuất thế của đức Phật Thích Ca. Khi gia nhập vào
Tăng đoàn, thành viên của nó không còn lo lắng đến phương tiện sinh sống,
hoặc ước ao về gia đình và xã hội. Sống trong môi trường như thế, tăng ni
có thể dành hết thời gian và năng lực cho việc huấn luyện tâm linh của tự
thân. Theo dòng thời gian, khi Phật giáo chia thành hai phái Thượng Toạ bộ
(Nguyên Thủy) và Đại Chúng bộ (Phát Triển), Tăng đoàn vẫn không có nhiều
thay đổi. Hằng ngày họ vẫn tu tập và hành trì tất cả giới luật do đức Phật
quy định với một số thay đổi hoặc khác nhau nhưng không mấy quan trọng.
Tuy nhiên, lúc đạo
Phật truyền vào Trung Quốc, tổ chức cũng như sinh hoạt của tăng ni tại đây
có nhiều thay đổi đáng kể. Ở Ấn Độ, xuất gia là công việc của cá nhân,
hoàn toàn tùy thuộc vào ước muốn của cá nhân và gia đình; nhưng ở Trung
Hoa, đặc biệt là thời nhà Đường, xuất gia và thọ giới lại liên quan đến
luật pháp xã hội. Ai muốn thế phát xuất gia đều phải tuân thủ các quy định
và sự kiểm soát của triều đình. Trong những triều đại trước, chức vụ trong
tổ chức Tăng đoàn thường do triều định chỉ định, và số tăng quan ấy có
trách nhiệm điều hành cũng như giám sát mọi hoạt động của Tăng già. Triều
đại nhà Đường không những tiếp tục duy trì các điều luật trên, mà còn can
thiệp rất sâu vào mọi hoạt động của tổ chức Tăng đoàn. Nói khác đi, vua
chúa nhà Đường quản lý quyền tự do tu hành của cá nhân với mục đích hạn
chế số lượng người đi tu. Mặc dầu pháp luật triều đình không hoàn toàn phù
hợp với tổ chức của nó, nhưng để có thể tồn tại và phát triển trong một
môi trường văn hoá mang đậm màu sắc Khổng giáo, Phật giáo buộc phải chỉnh
lý để thích nghi với điều kiện như thế.
Hệ thống chính trị
Trung Hoa, đặc biệt là dưới thời nhà Tùy và Đường, phân chia tu sĩ Phật
giáo thành ba loại. Thứ nhất là giới tăng nhân hay còn gọi là tăng quan,
sống trong chùa viện do triều đình xây dựng, nhận sự hỗ trợ từ triều đình
và làm công việc được triều đình ủy thác. Thứ hai là số Tỷ-kheo được giai
cấp quý tộc và giàu có trong lãnh thổ ủng hộ, còn gọi là Tư Tăng. Cuối
cùng là giới tu sĩ bình dân, sống trong chùa chiền hoang vắng, xa xôi;
cuộc sống của họ chủ yếu nhờ vào sự hỗ trợ của quần chúng tín đồ.
Theo “Cao Tăng
Truyện”, phần lớn Tỷ-kheo xuất thân từ các gia đình giàu có nên trình độ
học vấn của họ rất cao, vì lúc chưa xuất gia họ đã được học hành chu đáo.
Do vậy, họ không gặp nhiều khó khăn trong việc học và hiểu giáo lý nhà
Phật. Tuy nhiên, có nhiều quan điểm cho rằng “Cao Tăng Truyện” chỉ ghi lại
tiểu sử của những danh tăng như Pháp Hiển, Huyền Trang, Tông Mật…, và tất
nhiên không phản ảnh được nguồn gốc xã hội của toàn bộ tăng ni;
vì trong cả ba tác phẩm trên, tên tuổi của tăng sĩ Phật giáo chỉ có 1.818
vị. Rõ ràng, đây là một con số quá nhỏ khi đối chiếu với bức tranh thực
của Tăng già Trung Hoa từ đời Hán đến năm 987. Tuy nhiên, người ta cho
rằng trong ba loại Tỷ-kheo được đề cập ở trên, tăng quan và tư tăng rất có
thể xuất thân từ các gia đình quan quyền và giàu có; nhờ vậy họ có được
một nền tảng giáo dục tốt. Nhưng số lượng của hai loại tăng sĩ này thì quá
ít so với tăng sĩ trong toàn bộ lãnh thổ bằng cách đối chiếu số lượng chùa
chiền của từng nhóm. Theo tài liệu của Pháp Lâm, dưới đời nhà Tùy có 47
đại tự của hoàng triều, 839 chùa của các vương công và gia đình thế lực,
và 30.000 chùa của nhân dân.
Tuy chưa có nghiên cứu cụ thể nào về nguồn gốc xã hội của nhóm thứ ba,
nhưng người ta nói rằng số tăng sĩ ở chùa của nhân dân xuất thân từ tầng
lớp nông thôn. Trong cuốn hồi ký chống đối Phật giáo biên soạn vào thời
nhà Đường, Phó Dịch nhấn mạnh rằng thành phần theo Phật giáo chủ yếu thuộc
gia đình nông dân. Nhận sự hỗ trợ từ quần chúng, số tăng sĩ này chỉ đảm
trách những nhu cầu đơn giản về tôn giáo của số người thất học ở nông
thôn; vì thế có lẽ trình độ học vấn của họ cũng không cao. Sử liệu không
đề cập gì đến điều kiện gia nhập Tăng đoàn và chương trình huấn luyện về
số tăng sĩ bình dân này. Có lẽ họ chỉ được học một ít kinh sách, nghi lễ
và không thuần thục lắm về toàn bộ văn điển Phật giáo.
Cần lưu ý, vào đời
nhà Đường, số lượng tăng quan rất lớn, quốc tự được xây dựng ở tất cả đơn
vị huyện, trấn. Đạo Phật chính thức được quyền lực của triều đình bảo trợ,
nhưng vào thời này sinh hoạt của Phật giáo chỉ giới hạn trong lãnh vực
nghi lễ tôn giáo. Đường triều lập nên hệ thống kiểm kê danh bộ tăng ni,
bắt đầu từ năm 729. Công tác thống kê này được giao phó cho tăng quan địa
phương thực hiện, ba năm một lần. Sau khi hoàn tất, danh bộ được sao thành
ba bản, một bản giữ tại văn phòng của huyện, một gửi cho Nha Lễ Bộ của
tổng trấn và một gửi cho Bộ Lễ của triều đình. Số lượng thay đổi do chết,
mới xuất gia, hoàn tục hay chuyển chỗ ở sẽ được chú thích rõ ràng. Mục
đích của việc đăng ký danh bộ tăng ni là giúp triều đình nắm rõ chính xác
số lượng tăng ni và sinh hoạt của họ.
Tăng đoàn Phật giáo
tại Trung Hoa được chia thành tám loại, gồm (a) nam và nữ tập sự hay còn
gọi là đồng hành, (b) sa di và sa di ni, (c) Tỷ-kheo và Tỷ-kheo ni, (d)
cận sự nam và cận sự nữ. Không biết loại đồng hành được hình thành từ năm
nào, nhưng đến đời Đường hình thức này khá phổ biến. Theo quy định của nhà
Tống, ai muốn trở thành tập sự (đồng hành) trước hết người ấy phải nộp một
tờ đơn cho tu viện trưởng, ghi rõ tên tuổi, xuất xứ, không vi phạm pháp
luật, được phép của cha mẹ vào chùa tập sự. Sau đó, tu viện trưởng sẽ gọi
người ấy đến để xác định có thật sự muốn gia nhập Tăng đoàn hay không, hay
chỉ vì muốn vào chùa để trốn tránh một số nghĩa vụ xã hội nào đó. Bên cạnh
ấy, người tập sự phải đáp ứng năm điều kiện sau đây: (1) Nam phải dưới 19
tuổi và nữ dưới 14; (2) Chưa từng gia nhập Tăng đoàn và hoàn tục; (3)
Không phải là tội phạm; (4) Không có chuyện rắc rối với pháp luật; (5)
Không phải là con trai một trong gia đình.
Nếu hội đủ các điều
kiện trên, đương sự trở thành đồng hành. Trong thời gian tập sự, người ấy
phải làm một số bổn phận, học kinh sách và hầu hạ chư tăng. Cần lưu ý rằng
tăng sĩ Phật giáo được miễn đóng thuế và làm công tác xã hội; nhưng giới
tập sự vẫn phải tuân thủ các nghĩa vụ trên. Gia đình của họ phải gánh vác
nghĩa vụ ấy cho đến khi trở thành sa di. Đây là lý do chính tạo nên sự
tranh đua dữ dội trong giới đồng hành.
II. ThỦ tỤc xuẤt gia - thỌ giỚi
Ở Ấn Độ, việc thế
phát xuất gia và truyền trao giới pháp hoàn toàn là công việc riêng tư của
cá nhân và Tăng đoàn. Trái lại, ở Trung Hoa, tiến trình này bị triều đình
giám sát nghiêm ngặt. Chính sách này không phải bắt đầu từ nhà Đường, mà
nguồn gốc của nó được tìm thấy từ thời Nam Bắc triều, đặc biệt là dưới
thời hoàng đế Thái Tổ của Bắc Ngụy.
Mục đích của nó là giới hạn số lượng thành viên của Tăng già, đồng thời
hạn chế các phần tử bất hảo lợi dụng tôn giáo. Hiệu quả của chính sách ấy
được thấy rõ, vì sử liệu ghi rằng số lượng tăng ni Phật giáo vào triều đại
nhà Tùy là 230.000 người, nhưng thống kê tăng tịch vào kỷ nguyên Khai
Nguyên (713-741) của nhà Đường cho thấy số lượng tăng ni đã giảm rõ rệt
với 75.524 tăng và 50.576 ni.
Vào thời kỳ đầu nhà
Đường, thế độ và truyền giới cho Tỷ-kheo rất được nhiều tầng lớp quan tâm.
Bên cạnh việc Tăng đoàn được phép tiến hành lễ xuất gia, thọ giới cho
những ai hội đủ điều kiện do chính quyền quy định, nhiều thành phần khác
trong giới quý tộc, hoàng tôn, công chúa của triều đình cũng được ban đặc
quyền tiến hành nghi lễ xuất gia. Họ thường tranh đấu với nhau trong việc
chủ trì các buổi lễ ấy. Hậu quả là số lượng người xuất gia, thọ giới gia
tăng đáng kể, bởi vì những thành phần bất hảo của xã hội cũng lợi dụng cơ
hội này gia nhập Tăng đoàn, trốn tránh luật pháp. Do vậy, triều đình phải
tìm mọi cách để loại trừ số người ấy ra khỏi cộng đồng tăng lữ. Vào thời
đại Khai Nguyên, khoảng 12.000 tu sĩ bị cưỡng bách hoàn tục; trong khi ấy,
khoảng 30.000 người khác lại tách khỏi giáo hội. Vì lý do trên, vào giữa
đời nhà Đường, tiến trình truyền thọ giới pháp theo truyền thống giới luật
Phật giáo không còn được tôn trọng. Chính quyền kiểm soát hoàn toàn thủ
tục này qua việc ban hành giới điệp thọ giới cho những ai được phép tu
hành. Giấy chứng nhận này do Nha Tương Tế của triều đình cấp. Người ta nói
rằng vào thời Nam Bắc triều, một loại thẻ chứng nhận tăng ni như là giấy
thông hành bao gồm tên tuổi, quê quán…, cũng đã được áp dụng. Mặc dầu
người ta không thể xác định được việc cấp phát độ điệp (giấy chứng nhận)
này bắt đầu từ thời đại nào, thủ tục thế độ, truyền giới và cấp phát độ
điệp được ghi nhận theo một số phương thức sau:
1. Khảo thí:
Theo sử liệu, thủ
tục khảo thí trong thời kỳ Nam Bắc triều bao gồm năm bài thi: (1) Thuyết
giảng một bộ kinh; (2) Thực hành thiền định; (3) Đọc thuộc một bản kinh;
(4) Viết luận giải về một đoạn kinh; và (5) Bình phẩm một đoạn trích từ
kinh. Tuy nhiên, vào thời đại nhà Hậu Châu và Tống, việc khảo thí đơn
giản hơn. Nam đồng hành phải đọc thuộc lòng 100 tờ và trùng tuyên 500 tờ
kinh; trong khi ấy, nữ đồng hành chỉ 70 tờ và trùng tuyên 300 tờ kinh.
Nhưng bước sang triều đại nhà Đường, thủ tục thi tuyển lại được thay đổi,
bao gồm tụng đọc thuộc lòng và giải thích một số kinh sách được quy định.
Ví dụ, sắc lệnh năm 757 quy định một cư sĩ có khả năng đọc thuộc lòng 700
tờ từ một bộ kinh thì đủ tư cách thọ giới và thọ nhận độ điệp; nhưng vào
năm 758, số tờ kinh được giảm xuống còn 500 tờ. Số lượng tiếp tục được
giảm xuống vào năm 825 dưới thời trị vì của Tĩnh Tông; lúc này, nam đồng
hành phải đọc thuộc lòng 150 tờ và nữ đồng hành 100 tờ.
Nếu người dự thi
vượt qua được cuộc khảo hạch, quan chức triều đình sẽ cấp phát cho cho họ
một giấy chứng nhận (độ điệp), sau đó đương sự đến gặp vị thầy của mình để
được làm lễ xuống tóc (thế phát) và thọ nhận giới pháp. Trong tiến trình
này, người ấy phải trả một số lệ phí như tiền cạo tóc và bút mực, giấy,
viết của độ điệp. Cần lưu ý rằng cấp phát chứng điệp là việc của triều
đình; trong khi ấy, thế độ truyền giới là việc của Tăng già.
2. Đặc ân của Hoàng
đế
Bên cạnh hệ thống
thi cử ở trên, việc xuất gia thọ giới cũng có thể được chấp nhận nhờ ân
huệ vua ban, còn gọi là “ân độ”. Nghĩa là Tỷ-kheo được phép thọ giới nhờ
ân điển của nhà vua vào những ngày lễ đặc biệt, ví dụ triều đình chính
thức công nhận một ngôi chùa nào đó là quốc tự, sinh nhật của nhà vua,
ngày tưởng niệm hoàng đế hay hoàng hậu quá cố, hay vào dịp triều đình xây
dựng một ngôi chùa mới. Trong những dịp như thế, vị trụ trì trình báo danh
sách các vị đồng hành (tập sự) hội đủ tiêu chuẩn cho quan chức địa phương
để họ giới thiệu lên Nha Tương Tế của triều đình. Số giới tử này không cần
phải thi khảo hạch, vì họ được nhà vua chấp thuận. Thể thức này xuất hiện
trước đó khá lâu, nhưng lại rất thịnh hành trong thời nhà Đường. Ví dụ
điển hình sớm nhất về lễ xuất gia thọ giới theo hình thức này xảy ra vào
năm 635 khi Thái Tông hoàng đế ban chiếu chỉ cho phép 3.000 tăng ni được
thọ lãnh giới pháp. Lý do chiếu lệnh ấy được ban hành là vì có quá nhiều
chùa viện không có tu sĩ điều hành và quản lý. Vào năm 648, sau khi tương
ngộ và đàm luận Phật pháp với Huyền Trang, một lần nữa Thái Tông lại “ân
độ” cho một số lượng lớn tăng ni theo lời thỉnh cầu của vị danh tăng này.
Theo tinh thần của chiếu lệnh, mỗi ngôi chùa trong kinh thành được phép
thế phát và truyền giới cho năm vị. Sử liệu ghi rằng tổng số tăng ni được
xuất gia trong đợt này là 17.500 vị.
Nói chung, thể thức này được duy trì khá phổ biến vào thời đại nhà Đường.
3. Mua bán chứng
điệp
Cuối cùng, người ta
cũng có thể được phép xuất gia thọ giới bằng việc mua chứng điệp. Thể thức
này bắt đầu được áp dụng từ năm 757 vì một biến cố chính trị. Việc cung
ứng binh khí và lương thực cho quân đội nhằm đàn áp và triệt tiêu cuộc nổi
loạn của An Lộc Sơn dấy lên vào năm 755 đã làm quốc khố triều đình cạn
kiệt. Phương sách có hiệu quả nhanh nhất để phục hồi nguồn tài chánh cho
quốc khố là việc buôn bán độ điệp Tỷ-kheo. Triều đại nhà Đường cho mọi
người dân được phép xuất gia với điều kiện phải trả cho triều đình một
ngân khoản là 100 xâu tiền (string). Việc làm trên sớm giúp ngân khố nhà
Đường nhanh chóng phục hồi, vì sử liệu ghi rằng ngay khi chính sách ấy
được công bố, người ta đổ về Lạc Dương và Trường An tranh nhau mua chứng
điệp. Tổng cộng, có khoảng 10.000 tăng ni Phật giáo và đạo sĩ của Lão giáo
gia nhập giáo hội bằng cách ấy. Quốc khố cũng gia tăng được 1.000.000 xâu
tiền mặt.
Thực chất, kế sách
trên chỉ là phương án tạm thời của nhà Đường nhằm phục hồi quốc khố, nhưng
sau khi được đưa vào áp dụng việc làm ấy trở nên rất thịnh hành. Giới quan
chức từ trung ương đến địa phương đã chụp cơ hội ấy để làm giàu cho cá
nhân. Sử ghi lại rằng một vị quan tên là Wang-Chih-hsing ở Anhui, vào năm
824, mỗi ngày bán hơn 100 chứng điệp xuất gia cho người dân. Mỗi độ điệp
trị giá 200 xâu tiền. Người ta nói rằng việc mua bán độ điệp xuất gia đã
trở thành một phần trong chính sách quốc gia vào thời đại nhà Tống với mục
đích xây dựng ngân khố. Chính sách ấy có lẽ được áp dụng vào triều đại
Tống Thần Tông (1068-1075). Tuy nhiên, vào thời trị vì của Tống Thái Tông,
một chiếu lệnh ban hành cấm quan chức địa phương lấy độ điệp của một nơi
đem bán một nơi khác. Sắc chỉ này chứng tỏ rằng việc mua bán chứng điệp
rất phổ biến từ lúc nó ra đời.
III. HỆ thỐng tỔ chỨc cỦa Tăng đoàn
Ở Ấn Độ, Tăng đoàn
Phật giáo là một cộng đồng vượt ra ngoài quyền lực và kiểm soát của xã
hội. Đây là một tổ chức bao gồm những thành viên dứt bỏ mọi sự ràng buộc
của gia đình, xã hội để sống một cuộc sống tu hành. Các hình thức tổ chức
tôn giáo như thế ở Ấn Độ không còn bị luật pháp và hệ thống chính trị của
xã hội kềm chế và quản lý như các tổ chức xã hội thông thường khác. Nhưng
ở một đất nước như Trung Quốc với hệ thống quan lại quá sâu rộng, nơi mà
các hoàng đế được xem là tối cao, thì không có gì ngạc nhiên khi hoạt động
của Tăng đoàn Phật giáo bị đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền thông qua
một hệ thống tăng quan từ địa phương đến trung ương. Bộ phận hành chính
đầu tiên, gọi là Giám Phước Tào, được thành lập để kiểm soát Tăng đoàn, do
triều đình Bắc Ngụy chủ trương, có lẽ vào năm 396. Theo tập Thích Lão Chí,
ban đầu cơ quan này được gọi là Giám Phước Tào, về sau nó được đổi là
Chiêu Huyền Ti (?). Để lãnh đạo bộ phận này, Thái Tổ hoàng đế bổ nhiệm
Tỷ-kheo Pháp Quả chức vị lúc đầu gọi “Đạo Nhân Thống” để giám sát tăng ni
và đạo sĩ, và về sau đổi thành “Sa Môn Thống”.
Bên cạnh chức “Sa
Môn Thống”, triều đình còn bổ nhiệm một “Đô Duy Na” để quán sát công việc.
Dưới sự giám sát và hỗ trợ của chính quyền trung ương, “Tăng Tào” hay “Văn
phòng Tăng Sự” được thành lập khắp nơi. Đứng đầu tổ chức Tăng đoàn của mỗi
địa phương là vị tăng trưởng do “Đạo Tăng Thống” ở trung ương bổ nhiệm.
Tăng trưởng mỗi huyện tổng có quyền tuyển chọn một vị phụ tá giúp việc gọi
là “Duy Na”,
còn được gọi là “Tri Sự” (Tăng quản lý việc chùa), hay “Duyệt chúng”
(Người có bổn phận phục vụ chúng tăng).
Hệ thống hành chánh
này do triều đình Bắc Ngụy khởi xướng và các triều đại về sau như Tề
(550-577), Tùy (581-618) duy trì nhưng với một vài thay đổi, bổ sung. Cụ
thể vào thời nhà Tề, tại trung ương, hội đồng lãnh đạo Tăng đoàn gồm một
vị Tổng Thủ Lĩnh Tăng, một Thủ Lĩnh, và ba Đô Duy Na, làm việc dưới sự
giám sát của “Thái Thường Tự”, một bộ phận chuyên lo việc cúng tế trong
nội cung. Trong khi ấy vào thời nhà Tùy, tổ chức Tăng già lại đặt dưới sự
kiểm soát của “Hồng Lô Tự” (Nha Lễ Bộ). Lãnh đạo tối cao của Tăng đoàn là
một danh tăng do triều đình bổ nhiệm.
Vào thời kỳ đầu của
nhà Đường, hệ thống này lại tiếp tục thay đổi. Vua quan nhà Đường bắt đầu
áp đặt luật lệ của xã hội lên tổ chức Tăng đoàn. Đứng đầu Tăng già lúc này
không phải là một Tỷ-kheo mà là một quan lại triều đình. Tất cả tăng ni
nằm dưới sự kiểm soát của Hồng Lô Tự. Nhiệm vụ của Hồng Lô Tự là quản lý
và giám sát người nước ngoài, coi sóc việc tiếp giao, cúng tế… Phật giáo
được xem là tôn giáo ngoại nhập, do vậy bị đặt dưới sự giám sát của tổ
chức trên. Tuy nhiên, vào năm 694, nữ hoàng Võ Tắc Thiên chuyển sự giám hộ
này sang Nha Cúng Tế trực thuộc Bộ Lễ, vì nữ hoàng muốn biểu lộ sự yêu
thích của bà đối với Phật giáo; đồng thời bà cũng muốn khẳng định một yếu
tố quan trọng là triều đình của bà không còn xem Phật giáo là một tôn giáo
ngoại lai nữa. Điều quan trọng ở đây là, vào thời điểm ấy, Bộ Lễ bắt đầu
áp dụng chính sách kiểm tra số lượng tăng ni, biên soạn sổ đăng ký Tăng
bộ; triều đình tổ chức khảo thí để tuyển chọn thành viên muốn gia nhập
Tăng đoàn và cấp phát chứng điệp.
Vào giai đoạn thứ
hai của nhà Đường, một cơ quan mới với tên gọi là “Công Đức Sứ” được hình
thành. Bổn phận của nó liên quan đến các hoạt động như tạc tượng, xây
chùa, lập đàn chay, bố thí,v.v… Nhiệm vụ này có lẽ được thành lập dưới
thời trị vì của vua Thái Tông (763-779), vì tài liệu đề cập đến nó sớm
nhất được tìm thấy vào năm 774. Sau khi Thái Tông băng hà vào năm 779, cơ
quan ấy bị đình chỉ một thời gian. Vào năm 788, “Công Đức Sứ” được tái lập
trở lại, nhưng được chia thành ba văn phòng: (a) Công đức sứ đặc trách
phần trái của Trường An; (b) Công đức sứ đặc trách phần phải của Trường
An; (c) Công đức sứ đặc trách phía đông kinh thành Lạc Dương.
Vào thời điểm này Công Đức Sứ đặc trách luôn quyền lực giám sát Tăng đoàn
mà trước kia thuộc về Nha Cúng Tế. Đến năm 807, giới đạo sĩ thuộc Lão giáo
cũng bị sự quản thúc của bộ phận quyền lực này. Vào khoảng thời gian từ
841-846 lúc Phật giáo mất đi sự ân sủng của triều đình, việc kiểm soát tôn
giáo lại được chuyển giao sang Nha Chủ Khách thuộc Bộ Lễ. Vụ này giám sát
các hoạt động ngoại giao và sứ quán. Vì Phật giáo lại được xem là ngoại
nhập nên phải chịu sự quản lý của nó. Tuy nhiên, sự thay đổi ấy kéo dài
cũng không bao lâu, vì vào năm 846 Tăng đoàn lại tiếp tục nằm dưới sự giám
sát của “Công Đức Sứ”. Cần lưu ý, trong thời điểm ấy, việc kiểm tra hộ
tịch tăng ni và cấp phát chứng điệp xuất gia thọ giới vẫn thuộc về Nha
Cúng Tế. Điểm đặc biệt quan trọng là những người nắm giữ chức vụ quan
trọng trong các Bộ, Nha như thế thông thường không phải là tu sĩ, hay quan
lại mà là giới hoạn quan đầy quyền lực. Số hoạn quan ấy thường lợi dụng
quyền lực để tham ô, tích lũy tài sản cho cá nhân. Theo nghiên cứu của học
giả người Nhật tên là Ennin,
tài sản của hoạn quan Ch’iu Shih-liang, đứng đầu một trong những Bộ Nha
tại kinh thành, bị tịch biên sau khi bị bãi chức bao gồm sừng voi chất đầy
một căn phòng; vàng, bạc, đá quý chất cứng một kho, riêng tiền bạc, lụa là
và thực phẩm không thể nào đếm hết…
Sau khi Công Đức Sứ
được thành lập, văn phòng Tăng Lục (Thư Ký Tăng Đoàn) cũng lần lượt ra đời
tại Trường An và Lạc Dương. Chức vụ thư ký được giao cho Tỷ-kheo đảm
nhiệm và các thư ký ấy có trách nhiệm trực tiếp với quan chức của Công Đức
Sứ. Đặc biệt vào thời kỳ này, mỗi địa phương của đế chế nhà Đường đều có
một văn phòng của Tăng già gọi là Tăng Chánh (Monk Administrator). Dưới sự
giám sát của quan chức triều đình như tổng trấn, quan huyện, vị tăng đảm
trách văn phòng này có trách nhiệm quản lý tu viện, chùa miếu và tăng lữ ở
khu vực của mình. Thông thường, chức vụ Tăng Chánh được giao cho những
Tỷ-kheo có năng lực và phẩm hạnh tại chính địa phương ấy. Dường như “Tăng
Chánh” được áp dụng vào thời kỳ cuối của nhà Đường sau cuộc nổi loạn của
An Lộc Sơn, khi quyền lực của chính quyền trung ương bắt đầu suy đồi và
giới quan chức địa phương nổi lên đòi quyền tự trị. Mặc dầu vị trí Tăng
Lục và Tăng Chánh đều do hàng Tỷ-kheo đảm trách, nhưng quyền lực kiểm soát
Tăng già thật sự nằm trong tay của quan lại từ địa phương đến trung ương.
Cần lưu ý một số
triều đại, như Bắc Ngụy, Bắc Tề, và Tùy, thường bổ nhiệm các Tỷ-kheo ở vị
trí thủ lĩnh của Tăng già và giao phó cho họ trách nhiệm giám sát sinh
hoạt của tăng ni thay triều đình. Nhưng đến triều đại nhà Đường, quyền lực
giám sát tổ chức và sinh hoạt của cộng đồng tăng ni nằm trong tay của quan
lại. Điều này biểu thị rằng Phật giáo không được tự do hoạt động và phải
lệ thuộc hoàn toàn vào luật pháp của xã hội phong kiến Trung Hoa.
IV. HỆ thỐng quẢn lý trong các tỰ
viỆn
V. HoẠt đỘng cỦa Tăng đoàn
1. Thuyết giảng
VI. Công tác tỪ thiỆn
Sử liệu
ghi rằng để hiện thực tinh thần nhập thế của Phật giáo Đại thừa, một vài
Tỷ-kheo còn thành lập bệnh viện để cứu giúp nhân dân.
Bệnh viện không chỉ dành cho người bệnh mà còn để chăm sóc giới hành khất.
Vì người ta nói, vào tháng mười năm 734, triều đình cấm người ăn xin vào
kinh thành, đồng thời ra lệnh cho các bệnh viện thu gom số người lang
thang ấy lại và chăm sóc cho họ. Thông qua các chương trình từ thiện trên,
giới tăng sĩ Phật giáo có thể săn sóc, phục vụ cho người già yếu, bệnh
tật, và những người nghèo không chỗ nương tựa, không người cứu giúp. Đặc
biệt, trong những lúc bão lụt, hạn hán, mất mùa, giới tăng sĩ Phật giáo
trực tiếp tham gia công tác cứu tế để xoa dịu nỗi đau của xã hội… Có thể
nói rằng đây là một trong những chương trình không chỉ đem đến lợi ích
thiết thực cho xã hội, mà còn tạo nên nhiều ảnh hưởng cho Phật giáo Trung
Hoa.
[1] “Cao
Tăng Truyện”, khởi biên từ thời Hậu Hán đến năm 520, bao gồm tiểu sử
của 257 Tỷ-kheo và thỉnh thoảng đề cập đến 200 vị khác. Hậu Cao Tăng
Truyện bắt đầu từ đời Lương đến năm 667, bao gồm tiểu sử của 485 Tỷ
kheo và thỉnh thoảng đề cập đến 219 vị khác. Trong khi ấy, Tống Cao
Tăng Truyện, bắt đầu từ năm 667-987 chứa đựng tiểu sử của 532 vị
Tỷ-kheo và đề cập đến 125 vị khác (Xem Buddhism in China, Kenneth K.S.
Ch'en, tr. 248).
[2]
Kenneth K.S. Ch’en, Sđd , tr. 242.
[3]
Xem The Chinese Transformation of Buddhism, Kenneth K.S. Ch’en,
tr. 82.
[4]
Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch’en, tr. 241- 242.
[5]
Xem The Chinese Transformation of Buddhism, Kenneth K.S. Ch’en,
tr. 89.
[6] Thuật
ngữ “Duy Na” thường
được xem là tương đương với Karmadàna của Sanskrit, trách nhiệm của vị
Duy Na là coi sóc toàn bộ sinh hoạt của chúng tăng trong một ngôi
chùa. “Đô
Duy Na” được xem như là Tổng quản lý, và ngày nay gọi là Tri sự.
[7] Lưu ý
rằng có hai kinh đô vào thời đại nhà Đường, đó là Lạc Dương và Trường
An. Kinh thành Trường An lại được chia thành hai phần, một ở phía Tây
gọi là phải và một ở phía Đông gọi là trái. Hai miền này lấy con sông
làm ranh giới.
[8]
Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch’en, tr. 265.
[9]
Xem Buddhism in China, Kenneth K.S. Ch’en, tr. 274.
[11]
master lecturer
3 Repeat lecturer
[14]
Xem The Chinese Transformation of Buddhism, Kenneth K.S. Ch’en,
tr.265.
[15] Kenneth
K.S. Ch'en, Sđd, tr. 266.
[16] Kenneth
K.S. Ch'en, Sđd, tr. 300.7
---o0o---
Mục Lục
|
Chương 1
|
Chương 2
|
Chương 3
|
Chương 4
Chương 5
|
Chương 6
|
Chương 7
|
Chương 8
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật : 01-07-2004