Nhà Xuất Bản Tổng
Hợp TP. Hồ Chí
Minh
LƯỢC SỬ
PHẬT GIÁO
TRUNG QUỐC
(Từ thế kỷ
thứ I sau CN đến thế kỷ thứ X)
Soạn giả: Viên Trí
---o0o---
Chương Hai
THỜI KỲ TRUYỀN BÁ VÀ
HỘI NHẬP
1. Tại Ấn Độ
Theo nhiều nguồn sử
liệu, hai thế kỷ đầu sau ngày đức Phật Niết-bàn, địa bàn hoạt động của
Phật giáo chỉ giới hạn quanh lưu vực sông Hằng của Ấn Độ; nhưng vào nửa
thế kỷ thứ III T.CN, Phật giáo bắt đầu vượt biên giới và truyền bá sang
nhiều quốc gia lân cận. Theo Kenneth K.S. Ch’en,
từ phía cực Nam, một phái đoàn truyền giáo vượt đại dương và đưa Phật giáo
vào đảo Srilanka (Tích Lan); từ hướng Tây Bắc Phật giáo truyền vào
Gandhàra, Kashmir và Tây Bắc Ấn. Hầu hết học giả đều đồng ý rằng năng lực
ẩn tàng nằm sau sự phát triển mang tính lịch sử này là lòng mộ đạo và sự
ủng hộ Phật pháp của vị vua thuộc triều đại Mauryan, tức đại đế Asoka
(A-dục-vương), trị vì đất nước Ấn Độ khoảng từ năm 274 đến 236. T.CN. Sau
một thời gian khát vọng quyền lực, tranh đất chiếm dân, gươm vấy đầy máu,
nhờ diệu dụng của Phật pháp, Asoka tỉnh cơn mộng vàng, trở về quy y Phật
giáo, nguyện suốt đời dùng chánh pháp trị nước thay vì vương pháp. Một
trong những cống hiến vĩ đại nhất của Asoka đối với Phật giáo là làm cho
tôn giáo này từ một tôn giáo địa phương thành tôn giáo toàn cầu qua việc
gửi các phái đoàn truyền giáo đi khắp mọi nơi. Nhờ vào nỗ lực của nhà vua,
Phật giáo vượt khỏi ranh giới của Ấn Độ và nhập vào dòng chảy của các nền
văn minh nhân loại. Từ Gandhàra và Kasmir, Phật giáo trải dài tận vùng
Trung Á, rồi cuối cùng đến Trung Quốc, Nhật Bản. Từ Tích Lan và khu vực
Nam Ấn, Phật giáo vượt qua đại dương truyền bá vào Miến Điện, Indonesia,
Thái Lan và vùng Đông Dương.
Ở phía bên kia biên
giới của Gandhàra về Tây Bắc Ấn Độ là bang Bactria do người Ionina-Hy Lạp
xây dựng nên sau chiến dịch của đại đế Alexander. Sự nổi dậy của dân
Pathians tại Persia (Ba Tư) đã chia cắt số dân này khỏi quê hương Hy Lạp
cổ và số người ấy hướng đến các trung tâm văn hóa của Ấn Độ. Với sự suy
tàn của triều đại Mauryan ở Ấn Độ vào đầu thế kỷ thứ II T.CN, người Hy Lạp
bắt đầu cuộc chiến xâm lăng phía Bắc Ấn Độ. Ở đỉnh điểm của cuộc xâm lăng,
họ mở rộng cuộc chiến xuyên suốt toàn bộ thung lũng Indus thuộc Tây Bắc Ấn
Độ và nhiều vùng thuộc các tỉnh thống nhất ở phía Tây. Nổi tiếng nhất
trong những vị vua Hy Lạp xâm lăng Ấn Độ thời bấy giờ là vua
Menander
(Di-lan-đà), trị vì mảnh đất này trong thế kỷ thứ II. T.CN. Những đồng
tiền cổ xưa được khai quật lên, một mặt khắc tên và hình của vua Menander,
và mặt kia là bánh xe chuyển pháp luân của Phật giáo, là biểu tượng của
việc truyền bá Phật pháp. Tuy nhiên, ở Ấn Độ, Menander không phải được dân
tộc này nhớ đến như là một tướng viễn chinh thắng trận, mà là một triết
gia với những cuộc đàm luận thời danh về triết lý Phật giáo với vị Tỷ-kheo
tên là Nagasena (Na Tiên). Một triết gia Hy Lạp cổ đại tên Plutarch
(46-120) ghi lại một truyền thống rằng các thành phố của Ấn Độ đã tranh
giành nhau để có được một ít tro tàn của Menander sau khi nhà vua qua đời.
Tất cả các đề mục trên đều hướng đến kết luận rằng vào thế kỷ thứ II T.CN
Phật giáo rõ ràng đã du nhập vào Bactria và đã đâm chồi mọc rễ tại đây.
Về sau, vương quốc
Bactria bị một bộ tộc người Yueh-chih, còn gọi là Scythians, chinh phục.
Quê hương của bộ tộc này tọa lạc ở phía Tây Bắc Trung Quốc nhưng bị người
Hung Nô tức Thổ Nhĩ Kỳ đuổi khỏi địa phương ấy; do vậy họ phải di trú đến
vùng Trung Á vào khoảng năm 175 T.CN. Sau khi chinh phục được Bactria vào
khoảng năm 130 T.CN, người Scythians định cư tại đây và trong vòng một thế
kỷ họ thiết lập được một vương quốc hùng mạnh, đủ để chinh phục toàn bộ
thung lũng Indus, các địa phương thuộc phía Bắc và Trung Ấn xuống tận
Mathura và Banares. Một trong những vị vua nổi tiếng và đầy quyền lực của
Scythians trị vì toàn bộ đế quốc này là Kanishka (Ca-nị-sắc-ca) thuộc
triều đại Kushan, lên ngôi vào khoảng năm 78 hoặc 144. Bằng chứng khắc
trên đá lẫn những đồng tiền cổ đều chứng minh rằng nhà vua quy y Phật
giáo. Tiền đúc của triều đại Kushan mang hình ảnh đức Phật với câu viết
trên đó là “Boddo”.
Dưới sự bảo trợ của
vị vua đầy quyền lực trên, Phật giáo nhanh chóng bành trướng khắp toàn bộ
vương quốc Scythians. Một trong nhiều sự kiện quan trọng nhất nối kết với
Phật giáo trong triều đại Kanishka là cuộc kiết tập kinh điển tại Kasmir
để sưu tập số lượng kinh điển đang lưu hành và biên soạn luận giải về
chúng. Việc chọn Kasmir làm địa điểm của cuộc kiết tập kinh điển trong
thời đại Kanishka nói lên tầm quan trọng của địa phương này như là một
trung tâm của Phật giáo lúc bấy giờ.
Khi Phật giáo được
thiết lập một cách ổn cố tại Gandhàra và Kasmir, các phái đoàn truyền giáo
của đạo Phật bắt đầu dùng địa phương này làm bàn đạp để truyền bá sang
vùng Trung Á như Parthia (An Tức), Khotan (Vu Điền), Sogdia (Khang Cư),
Kuccha (Khâu Tư)...Trong số này, Khotan và Kuccha là hai trung tâm quan
trọng nhất vì chúng toạ lạc tại địa điểm mang tính chiến lược dọc theo
những con đường bộ xuyên suốt vùng Trung Á và Viễn Đông.
2. Du nhập vào Trung Hoa
Về phương diện địa
lý, người ta có thể từ Ấn Độ đến Trung Quốc bằng cả đường bộ lẫn đường
thủy. “Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc”
viết rằng, trước hết, từ Ấn Độ Phật giáo được truyền vào nước Đại Nhục Chi
(Tukhàra), An Tức (Parthia) thuộc Bắc Ấn, sau đó phát triển sang vùng Tây
Vực và cuối cùng đến Trung Quốc. Theo tác phẩm trên, các nước thuộc Tây
Vực nằm rải rác quanh sa mạc Takla-makan, dọc theo chân của ba dãy núi
Thiên Sơn, Côn Lôn, và Thông Lĩnh mà hợp thành. Con đường xuyên qua vùng
này là lộ trình trọng yếu nối kết hai nền văn hóa Trung-Ấn. Từ Tây Vực
người ta có thể đi đến Ấn Độ bằng hai con đường, một từ phía Bắc, và một
từ phía Nam. Nếu đi từ phía Nam, người ta sẽ khởi hành từ Đôn Hoàng và
Ngọc Môn thuộc địa phận Trung Hoa, dọc theo phía Bắc núi Côn Lôn đi qua
các nước như Lop-Nor, Khotan, Yarkand và đến Kashgar. Từ Kashgar người ta
đi dọc theo phía Tây núi Thông Lĩnh, rẽ về phía Nam nối kết với ngả đường
Bắc Ấn Độ. Nếu đi từ phía Bắc người ta cũng khởi hành từ Đôn Hoàng, Ngọc
Môn rồi đi dọc theo chân núi phía Nam của dãy Thiên Sơn, xuyên qua các
nước Hàmi
(Y Ngô), Turfan (Cao Xương), Karashar (Yên Kỳ), Kuccha (Khâu Tư), Aksu (Cô
Mặc), Ush (Ôn Túc), đến Kashgar, nối liền với con đường ở phía Nam Ấn Độ.
Henri Maspero
viết rằng, vào cuối thế kỷ thứ II. T.CN, Trung Quốc đã chinh phục được một
số nước thuộc vùng Trung Á và có mối quan hệ với Bactria, Parthia và Ấn
Độ. Vào thời điểm này, vua chúa của triều đại Kushan thường phái sứ giả
đến các xứ ấy. Giới thương nhân cũng mang ngọc từ xứ Khotan cũng như thảm
xứ Parthia và Kasmir đến Trung Hoa; sau đó họ lại mua hàng tơ lụa của
Trung Quốc và vận chuyển về đất nước mình bằng con đường này. Cần lưu ý
rằng trong đoàn của giới thương nhân thường có các nhà truyền giáo của
đạo Phật tháp tùng để cầu nguyện và đem sự bình yên đến cho họ trong suốt
cuộc hành trình. A.C. Banerjee
cũng cho rằng có cả đường bộ lẫn đường thủy đi từ Ấn Độ đến Trung Quốc vào
thời bấy giờ, nhưng khả năng có thể tin cậy nhất là Phật giáo được truyền
vào Trung Hoa bằng con đường Trung Á.
Cũng theo “Lịch Sử
Phật Giáo Trung Quốc”,
nếu đi bằng đường thủy người ta sẽ khởi hành từ hải cảng thuộc tỉnh Quảng
Đông, băng qua các ốc đảo ở phía Đông Á, Tế Á rồi đến Ấn Độ. Đường thủy
rất tiện cho việc giao thông buôn bán nhưng lúc đầu đường thủy ít được sử
dụng, và nó chỉ trở nên phổ biến trong thời đại Đông Tấn.
Trong khi ấy, nghiên
cứu của Kenneth K.S. Ch’en cũng cho thấy rằng Phật giáo có thể từ Kasmir
sang Trung Quốc bằng cả đường bộ lẫn đường thủy. Vào thế kỷ thứ II và thứ
I. T.CN, nếu chọn cuộc du hành bằng đường bộ, người ta thường khởi hành từ
phía Bắc Ấn Độ. Đầu tiên, họ bắt đầu cuộc hành trình đến Bamiyan thuộc
Afghanistan và vượt dãy Hindukush đến Balkh. Từ Balkh lộ trình này sẽ dẫn
người bộ hành băng qua vùng Pamirs để đến Kashgar (Sớ-lặc). Tại chỗ dừng
chân này có rất nhiều tu viện Phật giáo để khách du hành có thể nghỉ ngơi
sau một chuyến hành trình dài vượt núi trèo đèo từ Ấn Độ. Khi muốn rời
Kashgar, khách bộ hành phải chọn lựa một trong hai con đường đi vào Trung
Hoa. Nếu chọn hướng Nam, họ sẽ dọc theo mép rừng thuộc phía Nam và Nam lộ
này sẽ đưa khách bộ hành đi qua một loạt các địa phương phồn thịnh, trong
số đó Khotan là trung tâm quan trọng hơn hẳn các vùng khác. Nếu chọn lộ
trình hướng Bắc, họ sẽ đi dọc ven rừng phía Bắc của sa mạc Takla-makan.
Chuyến hành trình này sẽ băng qua một số nước như Kuccha, Karashar và
Turfan. Tuy nhiên, hai con đường Nam và Bắc này đều đổ về Đôn Hoàng, một
tỉnh thuộc biên giới phía Tây Bắc Trung Quốc. Vì vị trí chiến lược như
thế, Đôn Hoàng đã trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng nhất. Để cung
cấp chỗ ở cho Tỷ-kheo và lữ khách đã mệt mỏi sau chuyến du hành, nhiều
hang động được khai phá bên cạnh những ngọn đồi; và trong số hang động ấy,
giới Tỷ-kheo đến từ các nước Phật giáo của vùng Trung Á đã hội tụ lại với
nhau để đàm luận Phật pháp, phiên dịch thánh điển và đẩy mạnh sự phát
triển ngành mỹ thuật và điêu khắc Phật giáo.
Cần lưu
ý rằng không chỉ có tu sĩ Phật giáo là những khách bộ hành duy nhất trong
tuyến đường trên; thậm chí trước khi các phái đoàn truyền giáo xuất hiện ở
đó, giới lái buôn, thương gia và đặc sứ ngoại giao đã để lại nhiều vết
tích trên những con đường ấy. Thật sự, đây là một con đường chính mang
tính quốc tế trải qua hàng ngàn năm, bắt đầu với Chang Ch’ien (Trương
Khiên), một đặc phái Trung Hoa, được cử đến Scythians (Yueh-chih) vào thế
kỷ thứ II. T.CN; tiếp đó là Marco Polo, một du khách thuộc thành phố
Venetian, trong thời kỳ Mông Cổ. Nếu người ta kiểm chứng những vết tích do
số du khách ấy để lại thì rõ ràng vùng Trung Á là nơi có thể đã diễn ra
nhiều sinh hoạt trong thiên niên kỷ đầu của kỷ nguyên Thiên Chúa giáo hơn
là ngày nay.
Bên cạnh trục lộ
chính thuộc vùng Trung Á, còn có hai đường bộ khác; tuy nhiên các Tỷ-kheo
hiếm khi đi những con đường này. Con đường thứ nhất băng qua tiểu bang
Assam của Ấn, xuyên phía trên của nước Miến Điện dẫn vào địa phận của
Yunna ở phía Tây Bắc Trung Quốc. Đường thứ hai đi qua hai nước Nepal và
Tibet. Trong một khoảng thời gian ngắn vào triều đại nhà Đường, giới tu sĩ
Trung Quốc đã đi bằng con đường này để đến Ấn Độ.
Các đoàn thương gia
và truyền giáo cũng có thể từ Ấn Độ đến Trung Quốc bằng đường biển. Những
hải cảng chính ở Vịnh Bengal là cảng Kaveripattanam nằm tại cửa sông
Cauvery, và cảng Tamralipti nằm ở cửa sông Hằng. Vào thời điểm đó, tàu đi
Trung Quốc sẽ khởi hành từ Bharukaccha (ngày nay là Broach) nằm ở bờ Tây
Ấn Độ. Sau khi rời các cảng trên, tàu ghe có thể xuôi buồm thẳng đến Java,
hoặc đi theo bờ biển dọc quanh bán đảo Malay cho đến khi đến Tonkin hoặc
Canton thuộc phía Nam Trung Quốc. Vào đầu nửa thế kỷ thứ VII khi quyền lực
của Trung Hoa không còn ảnh hưởng lớn đến vùng Trung Á, ngày càng có nhiều
Tỷ-kheo chọn đường biển làm phương tiện chính trong việc qua lại giữa hai
nước Ấn-Hoa. Ví dụ, vào năm 671 Nghĩa Tịnh rời Trung Hoa để chiêm bái Ấn
Độ bằng đường biển; rồi vào năm 695 ngài cũng trở về lại quê hương bằng
con đường này.
Vào
khoảng thế kỷ thứ I T.CN Phật giáo thật sự đã định hình một cách ổn cố ở
vùng Trung Á. Sau đó, nhiều phái đoàn truyền giáo vượt qua dải sa mạc đầy
hiểm nguy để đưa Phật giáo vào các trung tâm văn minh và thịnh vượng của
Trung Hoa. Vào thời điểm đó, đế chế hùng cường và bành trướng Hán Triều
đang trị vì đất nước Trung Quốc. Trong khi ấy, tận miền Tây của đại lộ
giao thông thuộc châu Á, dân tộc Scythians đang củng cố lãnh địa của họ;
tại đây Phật giáo đã có một nền tảng vững chắc. Giới lái buôn, thương nhân
thường có những chuyến du hành qua lại giữa hai trung tâm văn minh này.
Vào đầu kỷ nguyên Thiên chúa giáo, một số đoàn truyền bá Phật giáo cũng
hiện diện trong số đó và cuộc giao thoa ấy đã mở ra một trong những bước
chuyển động văn hóa vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Hoa.
3. Niên đại du nhập
Phật giáo du nhập
vào Trung Hoa chính xác vào thời điểm nào vẫn còn là một ẩn số. Có rất
nhiều giả thuyết liên quan đến sự kiện quan trọng và đầy ý nghĩa trên. S.
Beal
cho rằng Phật giáo có thể đã hiện diện ở Trung Quốc vào thời Hán Võ đế
(140-86 T.CN), vì vào thời gian này sự giao hảo giữa nhà Hán và lãnh chúa
các bộ tộc phía Tây, đặc biệt với vua Mithridates của nước Parthia và nước
Yueh-chih, thông qua việc viên tướng Ch’ang-k’ien (Trương Khiên) đem về
Trung Quốc một tượng Phật bằng vàng vào năm 126 T.CN. Theo “Bách Khoa Phật
Học”,
truyền thống ghi lại sự du nhập của Phật giáo có thể xảy ra vào năm 217
T.CN
khi các phái đoàn truyền giáo do vua Asoka gửi đi trải dài khắp khu vực
phía Nam và Đông Nam châu Á, vì như Johnston đã trình bày, sự thật có thể
là Phật giáo đã được đưa vào Trung Quốc rất nhiều lần trước khi nó có thể
bắt rễ chắc chắn tại mảnh đất này. Do đó, người ta có lý do để tin rằng có
thể Phật giáo được truyền vào Trung Quốc vào thế kỷ thứ III T.CN như là
kết quả của các phái đoàn truyền giáo do vua Asoka gửi đi, nhưng sau đó
tôn giáo này không thể tồn tại được qua sự kiện xây dựng Vạn Lý Trường
Thành và thiêu đốt kinh sách của Tần Thủy Hoàng thuộc triều đại nhà Tần.
Sau đó, Phật giáo dường như lại xuất hiện vào thế kỷ thứ II T.CN. Theo
Henri Maspero,
Phật giáo là một tôn giáo do các nhà truyền giáo từ Ấn Độ và vùng Trung Á
đưa vào Trung Quốc trong khoảng thế kỷ thứ I. T.CN. Tuy nhiên, dưới đây là
một số thuyết thường được nhiều sử sách đề cập
.
Huyền thoại liên hệ
đến việc du nhập của Phật giáo tại Trung Hoa ghi rằng đức Khổng Tử đã biết
đến sự hiện diện của đức Phật. Thuyết này được sách “Liệt Tử” ghi lại;
nhưng phần lớn các học giả Trung Hoa cho rằng đó chỉ là sự giả mạo ‘ăn
gian vì đạo’ của thế kỷ thứ III, hoặc trễ hơn.
Một giả thuyết khác
đề cập rằng đạo Phật thật sự được biết đến ở Trung Hoa vào năm 317. T.CN
khi một ảo thuật gia ngoại quốc mang theo dụng cụ, bình bát khất thực
viếng thăm triều đình của thái tử Chao của nước Yên và biến tạo ra một cái
tháp cao 0,9m (3 bộ Anh) ở trên đỉnh ngón tay của ông ta. Tuy nhiên,
thuyết này cũng không đủ cơ sở để tin, vì vào lúc ấy Phật giáo vẫn chưa ra
khỏi ranh giới
Ấn Độ.
Một giả thuyết được
nhiều sách sử cố gắng chứng minh để nối kết sự du nhập của đạo Phật ở
Trung Hoa với những hoạt động tôn giáo của đại đế Asoka trong khoảng thế
kỷ thứ III. T.CN. Người ta nói rằng trong số 84.000 ngôi tháp được vua
Asoka xây dựng, một số được phát hiện ở Trung Hoa và xá lợi của đức Phật
cũng được tìm thấy trong các tháp ấy. Cũng vậy, người ta cho rằng vị tu sĩ
ngoại quốc tên là ‘Shih-li-fang’ (Thích Lợi Phòng), mang kinh sách Phật
giáo đến Trung Quốc vào triều đại của Tần Thủy Hoàng. Theo nguồn tin này,
ông vốn là một trong những người truyền giáo được vua Asoka gửi đi. Hai
giả thuyết vừa nêu là do giới Phật tử Trung Quốc nêu ra, nhưng bia ký của
Asoka cũng như biên niên sử Tích Lan không hề để lại bất cứ dấu tích nào
về việc truyền bá Phật giáo của Asoka ở Trung Hoa cả. Một số học giả Phật
giáo cũng nêu thêm một giả thuyết khác; đó là đặc phái viên đời nhà Tiền
Hán tên là Trương Khiên du hành xuyên suốt vùng Trung Á đến tận Parthia
trong thế kỷ thứ II T.CN, trên đường đi ông này nghe đến đạo Phật, và đưa
tin đó về nước. Nhưng thật ra, chỉ có tài liệu Phật giáo của triều đại nhà
Đường ghi lại thông tin trên; trong khi ấy, các tài liệu trước đó không có
tài liệu nào nhắc đến đức Phật.
Sau khi đánh thắng
Hung Nô ở các tỉnh biên giới phía Bắc Trung Hoa vào năm 120-121 T.CN,
tướng Ho ch’u tìm thấy một số tượng hình người được làm bằng vàng. Số
tượng ấy từng được xem như là tượng Phật và là những chứng cớ đánh dấu sự
khởi nguyên của Phật giáo tại Trung Hoa. Tuy thế, ngày nay người ta chứng
minh được rằng các tượng vàng ấy không phải là hình tượng đức Phật, mà là
biểu tượng của một số thần thánh của Hung Nô.
Nói chung, hiện nay
người ta kết luận rằng những nguồn tài liệu liên quan đến niên đại du nhập
của Phật giáo được nêu ra ở trên chỉ là huyền sử, không thể tin được. Có
lẽ, chúng được giới Phật tử nhiệt thành của đạo Phật thêu dệt nên, bởi vì
sau khi Phật giáo đã bắt rễ ở Trung Hoa, hàng tín đồ muốn chứng minh sự
hiện hữu lâu đời của Phật giáo ở mảnh đất này.
Tuy nhiên, giả
thuyết được nhiều sử gia Phật giáo quan tâm trong các thập niên gần đây
là câu chuyện liên quan đến Hán Minh Đế (58-75). Theo thuyết này, vào một
đêm nọ Minh Đế nằm mộng thấy vị thần sắc vàng bay liệng trong không gian;
sáng hôm sau ông kể lại câu chuyện ấy cho quần thần nghe. Trong số ấy, vị
quan tên Phó Nghị trả lời rằng ông ta nghe kể có một vị thánh ở Ấn Độ đã
chứng ngộ giải thoát và được tôn xưng là Phật, người có thân thể bằng vàng
và có thể bay liệng giữa không trung. Vua đồng ý với giải thích của Phó
Nghị và sai một phái đoàn ra nước ngoài để tìm hiểu về vị thánh này, đồng
thời sưu tập giáo lý của ngài. Khi trở về, phái đoàn ấy mang về cuốn kinh
“Tứ Thập Nhị Chương”. Hán Minh Đế ra lệnh xây dựng một ngôi chùa ngoài
thành Lạc Dương để tôn trí kinh. Nhưng thuyết này cũng bị giới học giả Âu
Mỹ đặt nhiều nghi vấn, vì họ thắc mắc không hiểu Phó Nghị đã nghe tin tức
ấy lúc nào, ở đâu và làm thế nào để tin đó đến tai của vị quan này. Vả
lại, khoảng thời gian khởi hành và trở về nước của đoàn đặc sứ trên cũng
không thống nhất. Nhưng người ta cũng có câu hỏi rằng nếu câu chuyện trên
không có thật, nếu Phó Nghị không nghe được sự xuất hiện của đức Phật,
chuyện Hán Minh Đế và phái đoàn đặc sứ kia không có thật, vậy chúng khởi
sinh từ đâu? Dưới đây là một vài giải thích.
Vào triều đại nhà
Hán, bên cạnh cộng đồng Phật tử ở Lạc Dương còn có một số trung tâm khác
của Phật giáo. Một số trong đó có trước cả cộng đồng Lạc Dương. Với ước
mong dành được uy tín và thẩm quyền, các thành viên của cộng đồng Phật tử
Lạc Dương bịa đặt ra câu chuyện trên để tuyên bố tổ chức của họ có trước
những tổ chức Phật giáo khác. Trong thực tế, người ta không dễ dàng gì để
có câu trả lời thoả đáng cho vấn đề trên. Luận thuyết có tính hiệu quả
ngược lại với giải thích về sự du nhập của Phật giáo vào Trung Quốc thông
qua giấc mộng của Hán Minh Đế nằm ở sự kiện Phật giáo thật sự đã có mặt
tại đất nước này trước thời điểm câu chuyện được cấu thành.
Bằng chứng khác
khẳng định sự hiện diện của Phật giáo dưới triều đại nhà Hán trước giấc
mộng của Minh Đế là tiểu sử của Sở Anh Vương. Anh Vương là anh em cùng cha
khác mẹ với Hán Minh Đế, được phong hầu năm 39 và phong vương vào năm 41.
Lúc đầu, Anh Vương cư trú tại kinh đô nhà Hán, nhưng vào năm 52 chuyển về
sống tại Bành Thành, kinh thành nước Sở, nằm phía Bắc của Kiang-su. Tại
đây Sở Anh Vương tổ chức một đại tiệc chay để cúng dường cho các Tỷ-kheo
và cư sĩ Phật tử sống tại Bành Thành để sám hối những nghiệp xấu đã làm
trong quá khứ. Chính việc ấy là bằng chứng rõ ràng về sự hiện hữu của một
cộng đồng Phật giáo tại Trung Hoa vào năm 65. Điều quan trọng ở đây là
cộng đồng này bao gồm cả tu sĩ lẫn cư sĩ, không phải trong thành Lạc Dương
mà là ở một vùng xa xôi hẻo lánh. Tuy chúng ta không biết giới tu sĩ là
người ngoại quốc hay Trung Hoa, nhưng hàng cư sĩ đích thực là dân bản
xứ. Thú vị hơn nữa là vào thời điểm ấy người ta đã ăn chay, và chắc chắn
Sở Anh Vương đã quy y Phật giáo. Sự kiện này cũng chứng tỏ rằng các gia
đình hoàng gia và quan chức hẳn cũng là Phật tử. Sự hiện diện của hàng
ngũ Tỷ-kheo và cư sĩ Phật tử tại địa phương này cho thấy rằng cộng đồng
Phật giáo đã hiện diện trước năm 65; nghĩa là Phật giáo du nhập vào trước
đó khá lâu, có thể vào những năm đầu công nguyên.
4.
Kinh Tứ Thập Nhị Chương và Lý Hoặc Luận của Mâu Tử
Theo giải thích về
giấc mộng của Hán Minh Đế của tập “Mâu Tử Lý Hoặc Luận”, đoàn đặc sứ Trung
Hoa đã đến Scythians và sao chép bản kinh “Tứ Thập Nhị Chương” đem về
nước. Do thế, người ta cho rằng kinh này là bản kinh có sớm nhất trong văn
điển Phật giáo Trung Quốc. Theo nhiều nguồn sử liệu, Kàśyapa Mantaga
(Ca-diếp Ma-đằng) và Dharmarakśa (Trúc-pháp-lan) người Ấn Độ là hai dịch
giả đầu tiên của bộ kinh trên. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến khác nhau về
xuất xứ và nội dung của kinh. Một số người cho rằng “Tứ Thập Nhị Chương”
thật sự xuất hiện vào thế kỷ thứ IV hoặc thứ V.Trong khi ấy, một số ý kiến
khác lại cho rằng “Tứ Thập Nhị Chương” không phải là một bản kinh, mà chỉ
là sự biên tập những điểm căn bản trong giáo lý nguyên thủy rồi được dịch
ra Hoa ngữ, vì nội dung của kinh cho thấy rằng nó là bản tóm tắt của nhiều
tác phẩm khác nhau.
Mặc dầu còn nhiều
vấn đề khúc mắc liên quan đến tác phẩm trên chưa được giải quyết, giới học
giả hiện nay hầu như đều tin rằng, trong một hình thức nào đó, kinh “Tứ
Thập Nhị Chương” đã có mặt trong thời đại Hậu Hán. Chứng cứ rõ ràng nhất
đối với niềm tin trên là cuốn “Hồi Ký” của Hsiang K’ai được viết trong năm
166, trong ấy có nhiều đoạn kinh của “Tứ Thập Nhị Chương” được Hsiang K’ai
trích dẫn để giải thích mối quan hệ giữa Phật giáo và Lão giáo.
Điều ấy cho thấy một số đoạn của kinh “Tứ Thập Nhị Chương” đã lưu hành
trước năm 166 khi Hsiang K’ai biên soạn cuốn “Hồi Ký”. Chúng là những dấu
vết sớm nhất về nội dung của bản kinh trên. Một cách tình cờ, Hsiang K’ai
là người sinh ở phía Đông Trung Quốc, nơi Phật giáo thật sự có mặt vào năm
65. Điều này cũng hàm ý rằng kinh “Tứ Thập Nhị Chương” đã phổ biến rộng
rãi ở địa phương đó. Cần lưu ý rằng tập “Hồi Ký” của Hsiang K’ai khẳng
định một cách chắc chắn rằng đạo Phật Ấn Độ được quần chúng Lạc Dương tu
tập và nhiều gia đình hoàng gia cũng là Phật tử.
Trong
thực tế, bản kinh đầu tiên này của văn điển Phật giáo Trung Hoa cũng trải
qua nhiều lần được bổ sung thêm bớt trong lịch sử lâu dài của nó. Vì vậy,
bản gốc được lưu giữ trong kinh tạng Trung Hoa có rất nhiều chỗ khác nhau
với bản của triều đại nhà Đường. Cũng vậy, từ vựng và nhiều đoạn trong bản
nhà Đường không tìm thấy trong bản của nhà Tống. Đặc biệt, bản của Thiền
Tông thuộc đời Đường là sai khác nhiều nhất, trong ấy những thuật ngữ như
bồ đề (bodhi), hay bồ đề tâm (bodhicitta)... bị thay đổi hoàn toàn, nhưng
số thuật ngữ ấy lại xuất hiện trong bản nhà Tống.
Một tác phẩm quan
trọng khác chứa đựng nhiều dữ kiện có liên quan đến những hoạt động ban
đầu của Phật giáo tại Trung Hoa là cuốn “Mâu Tử Lý Hoặc Luận”. Như trong
trường hợp của kinh “Tứ Thập Nhị Chương”, nguồn gốc và tính xác thực của
“Lý Hoặc Luận” cũng là vấn đề gây nhiều tranh cãi.
Có ý kiến cho rằng
Mâu Tử tên thật là Dung, hiệu Tử Bác, người gốc Thương Ngô, sinh khoảng
năm 160. Ông viết tập Lý Hoặc Luận tại đất Giao Chỉ vào cuối thế kỷ thứ II.
Tuy nhiên giả thuyết này không được sự đồng tình của nhiều nhà sử học, ví
dụ Henri Maspero, Tokiwa Daijo, Zurcher, Kenneth. K.S. Ch’en v.v...
Học giả Lê Mạnh Thát
cho rằng đầu tiên “Mâu Tử Lý Hoặc Luận” được ghi lại trong “Pháp Luận” do
Lục Trừng (425-494) biên soạn theo lệnh của Minh Đế nhà Tống vào khoảng
465-470. Tuy nhiên, “Pháp Luận” cũng như giả thuyết trên ít được giới học
giả Đông Tây nhắc đến.Theo
Kenneth K.S. Ch’en, bản “Lý Hoặc Luận” được lưu giữ trong “Hoằng Minh Tập”
do Tăng Hựu (Seng-yu) biên soạn vào năm 518.
Bản này chứa đựng một lời tựa với những dữ kiện lịch sử chi tiết và dựa
vào nó mà Paul Pelliot và Henri Maspero rút ra niên đại ra đời của nó, từ
225-250, khi đề cập đến tính xác thực, đáng tin của lời tựa đó; bởi vì nội
dung của tác phẩm này chứa đựng nhiều đoạn giống với nhiều phần của tiểu
sử đức Phật được phiên dịch vào năm 222-228. Về sau, Fukui Kojun cũng đồng
ý với Maspero khi ông kết luận rằng “Lý Hoặc Luận” được trước tác vào năm
250. Trong khi đó, một vài học giả như Liang Ch’i-chao và Matsumoto
Bunzaburò lại chủ trương rằng thời điểm biên soạn không nhất thiết được
xác định bởi nội dung của lời tựa, mà bởi bản chất của tác phẩm. Theo họ,
“Lý Hoặc Luận” có lẽ được biên soạn vào thế kỷ thứ V. Kenneth K.S. Ch’en
cho rằng ý kiến của hai nhóm trên đều có phần đúng, nhưng cũng không hoàn
toàn chính xác, vì theo ông “Lý Hoặc Luận” không phải là một cuốn sách
được biên soạn một lần mà nó được hình thành trong một quá trình dài,
trong ấy những phần được biên soạn sớm nhất có lẽ vào cuối triều đại nhà
Hán rồi được bổ túc dần dần. Lời tựa của tập sách này cũng không có vấn đề
vì tất cả dữ kiện trong ấy đều chỉ đến giai đoạn cuối của Hán triều. Vả
lại, thuật ngữ, sự diễn đạt, và cách nói bóng gió thịnh hành trong thời
Hậu Hán cũng xuất hiện trong đó. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng “Lý Hoặc
Luận” cũng chứa đựng nhiều yếu tố chỉ xuất hiện vào các đời sau, có lẽ
thuộc thế kỷ thứ IV hoặc thứ V.
Lời tựa của “Lý Hoặc
Luận” đề cập đến một sự kiện rất quan trọng liên quan đến nghiên cứu của
chúng ta; đó là có một cộng đồng Phật giáo rất phồn thịnh đã tồn tại ở
vùng Nam Trung Hoa trong thời kỳ nhà Hán, bên cạnh các trung tâm Phật giáo
ở Đông Trung Quốc và Lạc Dương, mặc dù nguồn gốc và các giai đoạn phát
triển ban đầu của tổ chức này vẫn còn bí ẩn. Theo một vài học giả,
trong thời Hậu Hán giới thương nhân Ấn Độ thường du hành đến các hải cảng
phía Nam Trung Quốc; thậm chí các thương nhân từ đế quốc La Mã cũng đã
xuất hiện và tham gia trong việc mua bán tại đó. Dĩ nhiên, trong số thương
nhân ấy chắc chắn có tín đồ Phật giáo, gồm cả cư sĩ lẫn tu sĩ vì họ được
miêu tả trong tập “Lý Hoặc Luận” là đầu không có tóc, mặc y phục màu vàng
nghệ, ăn một ngày một bữa, kiểm soát sáu căn, sống đời sống không nhà, từ
bỏ vợ con, v.v...
“Mâu Tử Lý Hoặc
Luận” là một tác phẩm được biên soạn theo hình thức vấn đáp, bao gồm các
luận lý minh họa lý do tác giả quy ngưỡng Phật giáo, trình bày và giải
thích một số ý niệm quan trọng liên quan đến tiểu sử đức Phật, đến các vấn
đề giáo lý, lý tưởng cũng như giới luật của đời sống xuất gia. Một phần
chính nội dung tác phẩm nhắm đến phản bác các luận điệu chống phá và bài
khích của Khổng giáo và Lão giáo đối với Phật giáo, đặc biệt liên quan đến
quan niệm đạo đức gia đình và xã hội của người Trung Hoa, như vấn đề hiếu
đạo, chuyện sống chết, luân hồi sinh tử, vv...
“Lý Hoặc
Luận” có được một vị trí quan trọng trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa, bởi
vì nó không chỉ cung cấp nhiều thông tin quý giá liên quan đến quá trình
du nhập và hình thành của Phật giáo tại Trung Quốc, mà vì nó còn là cuốn
sách Phật học đầu tiên do chính người Trung Hoa biên soạn. Qua tác phẩm
này chúng ta biết được tình trạng tôn giáo và xã hội thời bấy giờ; phương
cách để Phật giáo có thể tồn tại và phát triển tại vùng đất thật sự văn
minh không chỉ về lãnh vực vật chất mà cả phương diện tinh thần.
5. Những trung tâm
Phật giáo
Nhiều nguồn sử liệu
cho thấy rằng ít nhất có ba trung tâm Phật giáo hoạt động dưới thời nhà
Hán. Trung tâm Bành Thành thuộc vùng hạ lưu Dương Tử ở phía Đông Trung
Hoa; trung tâm Lạc Dương tại kinh đô nhà Hán, và trung tâm Luy Lâu
(Tonkin) thuộc địa phận Giao Châu (Việt Nam ngày nay) về phía Nam Trung
Hoa.
Trung tâm Luy Lâu
ra đời là nhờ vào giới tăng sĩ đến bằng đường thủy. Trong khi ấy, Bành
Thành và Lạc Dương là hai trung tâm ra đời do sự hiện diện của các phái
đoàn truyền giáo bằng đường bộ. Tuy nhiên, người ta nói rằng có mối liên
kết giữa các trung tâm Phật giáo phía Đông và phía Nam, vì từ Tonkin đến
Canton (Nam Hải) giới tu sĩ có thể đi bằng đường thủy; rồi từ Canton họ đi
về phía Bắc, vượt qua dãy núi ở đó và tiến vào vùng hạ lưu của thung lũng
Dương Tử
.
Sạ Dung (Chai Jung)
là nhân vật có liên quan nhiều đến trung tâm Bành Thành. Theo Hán sử, vào
thập niên cuối của thế kỷ II, Sạ Dung, người Đơn Dương, được cử làm quan
giám lương ở miền hạ lưu Dương Tử. Ông ta tạo phản và chiếm giữ lương thực
để dùng vào mục đích riêng. Sau khi hùng cứ một phương, Sạ Dung cho xây
một ngôi chùa rất lớn và đúc tạc một bức tượng Phật bằng đồng mạ vàng để
an trí trong đó. Trong khuôn viên ngôi chùa, một toà nhà có sức chứa
khoảng 3.000 người cũng được xây dựng. Sau khi công trình hoàn tất, Sạ
Dung tổ chức tụng kinh, thuyết pháp và lễ tắm Phật rất trọng thể. Ông
thông báo đến Phật tử các vùng lân cận và mời họ đến nghe thuyết giảng
kinh. Người ta nói rằng hơn 5.000 người đã tham gia lễ hội đó. Khách thập
phương được phục vụ rượu và thức ăn. Do vì phạm vi của tu viện này không
thể dung chứa số lượng người quá đông như thế nên thức ăn được bày biện lộ
thiên, dọc theo đường cái để người dự lễ hội có thể ăn uống no đủ. Đoạn
sử liệu này thật sự rất có ý nghĩa vì nó không những là sử liệu đầu tiên
đề cập đến hình tượng đức Phật trong tài liệu sử Trung Quốc, mà còn minh
họa ảnh hưởng của Phật giáo đối với quần chúng.
Tuy nhiên, Lạc Dương
mới là trung tâm Phật giáo quan trọng nhất, vì sự ảnh hưởng của nó thâm
nhập cả đến triều đình và hoàng tộc. Cuốn “Hồi Ký” của Hsiang K’ai chỉ rõ
rằng hình tượng đức Phật được giới hoàng tộc triều đình thờ phụng ngay
trong phạm vi cung điện nhà vua. Theo tài liệu trên, vua Hoàn Đế đã tôn
trí đức Phật và Hoàng Lão chung một bàn thờ. Vào thời điểm này, tại Lạc
Dương có hai ngôi chùa: Bạch Mã và Hứa Xương. Sự khởi nguyên của cộng đồng
Phật giáo tại Lạc Dương có liên quan đến chùa Hứa Xương, vì chùa Hứa Xương
mang tên của người anh em họ hoàng tử Ying. Nguyên do là vì sau khi hoàng
tử Ying tự tử vào năm 71, một số thuộc hạ của ông là Phật tử đã chuyển về
thủ đô và xin lưu trú tại nhà của Hứa Xương, và vị này đã tặng một phần
gia sản của mình để làm chỗ ở cho số người trên. Về sau, trú xứ ấy được
xây dựng thành chùa và mang tên người cúng dường. Sự nối kết đó giữa cộng
đồng Phật giáo tại Hứa Xương và Bành Thành cũng minh họa đôi nét về việc
vua Hoàn Đế thờ Hoàng Lão và Thích Ca chung một bàn thờ. Cần lưu ý rằng
nhóm thuộc hạ của hoàng tử Ying ở Bành Thành trước khi theo Phật giáo có
mối quan hệ mật thiết với đạo Lão; do vậy họ cũng mang theo một ít ảnh
hưởng Lão giáo đến Lạc Dương. Trên cơ sở này người ta giả thuyết rằng cộng
đồng Phật giáo ở Lạc Dương do số Phật tử từ trung tâm Bành Thành đến và
thành lập trong khoảng 25 năm cuối của thế kỷ thứ I.
Trong quá trình du
nhập và phát triển tại Trung Hoa, giới truyền bá Phật giáo phải đối mặt
với nhiều dị biệt khách quan giữa tâm lý, tư tưởng, ngôn ngữ, văn hoá và
xã hội Trung Hoa. Theo nghiên cứu sơ bộ của Arthur F.Wright, bảng so sánh
sau đây hy vọng sẽ minh họa một số trở ngại chủ yếu đối với các phái đoàn
truyền giáo trong việc truyền bá tư tưởng Ấn Độ vào đất nước này:
Bên cạnh ấy, giới
Phật tử truyền giáo hoàn toàn không biết tiếng Trung Hoa và số tân tín đồ
của đạo Phật cũng không biết ngôn ngữ nước ngoài. Đây là khó khăn quan
trọng thứ hai mà các phái đoàn truyền giáo phải đối mặt.
Để tìm ra giải pháp
làm cầu nối cho những khoảng cách ngôn ngữ và tư tưởng của hai nền văn
minh lớn nhất châu Á này, các phái đoàn Phật giáo phải vận dụng nhiều bước
trong quá trình giới thiệu Phật giáo vào Trung Hoa bằng một số nét căn bản
được trình bày dưới đây. Rõ ràng, những bước đi này đều phụ thuộc vào hoàn
cảnh xã hội, tín ngưỡng, tri thức và tâm lý quần chúng đương thời. Nói
khác đi, đây chỉ là giai đoạn “bản địa hóa” hay “Trung Quốc hóa”
Phật giáo để tìm kiếm sự chấp nhận và ủng hộ của quần chúng địa phương, từ
đó chuẩn bị cơ sở cho những bước đi mang tính độc lập về giáo lý cũng như
tổ chức đối với sự hiện hữu của Phật giáo.
1. Công tác phiên
dịch
Một trong những hoạt
động của Phật giáo vào thời kỳ đầu ở Trung Quốc là công tác phiên dịch.
Danh tăng ngoại quốc nổi tiếng nhất, sống và làm việc tại trung tâm dịch
thuật do tu sĩ ngoại quốc thành lập tại kinh đô Lạc Dương, là An Thế Cao,
người nước Parthia (An Tức). Trước khi xuất gia, An Thế Cao, phiên âm của
chữ Arsakas, là hoàng tử của An Tức. Ngài học cao biết rộng và được đồn là
hiểu được tiếng chim và động vật. Ngài rất thành thạo về y học và thiên
văn học. An Thế Cao được thừa kế ngôi vị sau khi vua cha băng hà, nhưng
ngài nhường ngai vàng lại cho người chú, sau đó xuất gia tu học. Đến Trung
Hoa trong thời Hoàn Đế (khoảng năm 147 hoặc 148), An Thế Cao xúc tiến việc
phiên dịch và truyền bá đạo Phật hơn 20 năm. Có tài liệu ghi rằng
tổng số kinh do ngài dịch sang Hán ngữ là 34 bộ, gồm 40 cuốn; nhưng hiện
nay trong kinh tạng chỉ còn ghi lại một số kinh do ngài dịch đều thuộc Nam
tạng, như “Tứ Đế Kinh”, “Chuyển Pháp Luân Kinh”, v.v... Tuy nhiên, người
ta cho rằng nghiên cứu về thành quả phiên dịch của ngài là một công việc
phức tạp. “Xuất Tam Tạng Ký Tập” do Tăng Hựu biên soạn trong năm 518 liệt
kê tổng cộng là 35 tiêu đề; “Bảng Mục Lục” đời Tùy của Phí Trường Phòng
(Fei Ch’ang fang) nâng lên tới 166 tác phẩm; trong khi ấy “Khai Nguyên
Lục” (Catalogue of the Kai yuan Era) vào năm 73 lại ghi 90 tác phẩm. Sự
chênh lệch về số lượng trên rõ ràng do đời sau tạo nên, và chắc chắn rằng
trong khoảng 20 năm An Thế Cao không thể phiên dịch một số lượng khổng lồ
kinh sách như thế, nhưng có thể do tập thể của ngài thực hiện. Cần lưu ý
rằng Ch’en Hui, Han Lin và P’i Yeh, người Trung Quốc, là đệ tử tại gia của
An Thế Cao. Bị cuốn hút bởi tinh thần giáo lý mới mẻ của tôn giáo ngoại
quốc, họ trở thành những tín đồ nhiệt thành của Phật giáo, tự nguyện làm
phụ tá hoặc người sao chép, biên tập các kinh sách đã được phiên dịch.
Kinh sách do An Thế
Cao phiên dịch chủ yếu tập trung vào các chủ đề thiền định (dhyàna) như
hành thiền và rèn luyện sự tập trung, chú ý, kỹ thuật kiểm soát hơi thở,
v.v... Bên cạnh ấy, ngài cũng có khuynh hướng phiên dịch kinh sách liên
quan đến các loại giáo lý Tứ Đế, Bát Thánh Đạo... Dù thế nào đi nữa, An
Thế Cao cũng được xem là một trong những nhà phiên dịch đầu tiên và danh
tiếng nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc.
Cộng sự của ngài còn
có một vài người ngoại quốc như An Huyền, Chi-ca-lâu-sấm, v.v... An Huyền
thật ra là một thương nhân nước Parthia, nhưng khi đến Lạc Dương trở nên
ham thích nghiên cứu Phật giáo. An Huyền tham gia tổ chức phiên dịch của
An Thế Cao và dành trọn thời gian còn lại của cuộc đời mình để xiển dương
Phật pháp. Trong khi ấy, Chi-ca-lâu-sấm, người nước Scythians,
đến
Lạc Dương năm 167,
cũng sống và làm việc tại trung tâm dịch thuật. Thiên hướng của ngài có
phần khác với An Thế Cao, vì Chi-ca-lâu-sấm chú trọng đến kinh Bát-nhã
ba-la-mật (Prajnàparamità-sutra). Ngài thâu nhận hai người Trung Quốc
làm đệ tử tại gia và đồng thời là biên tập viên. Trong thời gian này còn
có một số tăng nhân ngoại quốc cùng làm việc tại trung tâm dịch thuật với
An Thế Cao là Khang Mạnh Tường (K’ang Meng-hsiang) và Khang Cự (K’ang Chu)
người nước Sogdian (Khang Cư), Trúc Phật Điều (Chu-fo-shuo), người Ấn
Độ... Kết quả của công tác phiên dịch do trung tâm dịch thuật này đem lại
đã đặt nền tảng vững chắc để Phật giáo có thể hội nhập và phát triển tại
Trung Hoa. Theo thống kê của một nguồn tài liệu,
trong khoảng 160 năm thời kỳ Hậu Hán (60-220), số lượng dịch giả sống và
làm việc trong thời kỳ ấy là 13 vị, đề mục kinh sách được phiên dịch vào
khoảng 409 đơn vị, nhưng phần lớn đều đã thất lạc.
Theo “Xuất Tam Bảo
Ký Tập”, danh sách các dịch giả và dịch phẩm từ lúc du nhập đến thời đại
Tây Tấn được liệt kê như sau:
THỜI HẬU HÁN
- An Thế Cao: 34
danh mục gồm trong 40 cuộn (trong đó có 02 danh mục của 02 cuộn bị thất
lạc).
- Trúc Phật Sóc: 01
danh mục, gồm 02 cuộn.
- Lokaksema: 24 danh
mục, gồm trong 27 cuộn (năm danh mục đã bị thất lạc).
- Nghiêm Phật Điều
và An Huyền: 02 danh mục gồm trong 02 cuộn (tuy nhiên, 01 danh mục trong
ấy, tức Thập Tuệ (Ten Wisdoms), thật ra do Nghiêm Phật Điều dịch một mình
nhưng vẫn chưa hoàn tất).
GIAI ĐOẠN BA VƯƠNG
TRIỀU
a/. Ngô
- Vighna, Trúc Luật
Đường, Chi Khiêm: 01 danh mục, gồm trong 02 cuộn.
- Chi Khiêm: 36 danh
mục, gồm trong 48 cuộn (trong đó 07 danh mục đã bị thất lạc).
- Khương Tăng Hội:
02 danh mục, gồm trong 04 cuộn.
b/. Ngụy
- Bạch Đình: 03 danh
mục, gồm trong 04 cuộn (toàn bộ đã bị thất lạc).
-
Châu Sĩ Hành: 01 danh mục, gồm trong 20 cuộn...
THỜI TÂY TẤN
- Dharmaraksa: 95
danh mục, gồm trong 206 cuộn hiện còn, 64 danh mục, gồm trong 106 cuộn đã
thất lạc; tổng cộng 159 danh mục, gồm 312 cuộn.
- Nhiếp Thừa Viễn:
01 danh mục, gồm trong 02 cuộn (tuy nhiên, chúng chỉ là phần duyệt sửa lại
từ bản dịch của Dharmaraksa).
- An Văn Tuệ và Bạch
Nguyên Tín: 01 danh mục, gồm trong 02 cuộn (thật ra do Dharmaraksa đọc
dịch và hai vị này ghi chép lại).
- Trúc Xoa Lan: 02
danh mục, gồm trong 05 cuộn (thật ra 03 danh mục bao gồm trong 25 cuộn nếu
người ta tính cả ‘fang-kuang po-jo dài 20 cuộn...).
- Bạch Pháp Tổ: 01
danh mục, gồm trong 01 cuộn (bị thất lạc).
- Pháp Tụ và Pháp
Lợi: 04 danh mục, gồm trong 12 cuộn ...
Cần lưu ý rằng dường
như người Trung Hoa không được phép xuất gia kể từ lúc Phật giáo du nhập
cho đến tận thế kỷ thứ IV. Cơ sở chủ yếu của vấn đề này là cuốn “Hồi Ký”
của Vương Độ năm 355. Theo tác phẩm ấy, mặc dù Phật giáo được truyền đến
Trung Hoa vào triều đại nhà Hán, vua chúa nhà Hán cũng như nhà Ngụy chỉ
cho phép người ngoại quốc xây cất tu viện, tịnh xá và xuất gia tu hành.
Tuy nhiên, đến triều đại Hậu Triệu của Thạch Hổ (Shih-hu -334-349) luật ấy
bị bãi bỏ, vì trước khi tiến vào Trung Quốc, Thạch Hổ cũng là người ngoại
bang và ông tuyên bố rằng không có lý do gì để cấm người Trung Quốc thờ
phụng thần thánh của tôn giáo ngoại quốc cũng như trở thành tu sĩ của các
tôn giáo ấy.
Trái với “Hồi Ký”
của Vương Độ, có một vài bằng chứng cho thấy, trong triều đại nhà Hán, ít
nhất đã có một người Trung Hoa tên là Liu Chun, hầu tước thành Lạc Dương,
trở thành Tỷ-kheo dưới thời Minh Đế (56-75), mặc dầu người ta không thể
chứng minh được rằng vào thời điểm ấy có đủ túc số Tỷ-kheo là mười người
để tổ chức nghi thức truyền giới hay còn gọi là “Pháp Thập Nhân Thọ” cho
Liu Chun. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ II, số lượng Tỷ-kheo ở Lạc Dương khá
đông. Vả lại, bản luật Pàtimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa) cũng đã được lưu hành
tại đây, ít nhất là bằng khẩu truyền nếu như không nói là chữ viết. Vào
cuối thế kỷ thứ II, người Trung Quốc không những xuất hiện để giúp đỡ tăng
nhân ngoại quốc phiên dịch, mà còn trực tiếp tham gia công tác phiên dịch
kinh sách. Điển hình cho giới tu sĩ Phật tử Trung Quốc thời điểm này là
Sa-môn Nghiêm Phật Điều, đệ tử của An Thế Cao. Nghiêm Phật Điều người đất
Lâm Hoài, tỉnh An Huy, có thể được xem là vị Tỷ-kheo Trung Hoa đầu tiên
hiểu được kinh sách viết bằng Phạn ngữ và trực tiếp tham gia công tác
phiên dịch kinh sách. Ngài cũng có biên soạn tác phẩm với tên gọi “Thập
Giới Sa Di”. Tuy cuốn này đã thất lạc nhưng lời tựa của nó vẫn còn được
lưu giữ.
2. Bản chất giáo lý
Nội dung chính của
giáo lý Phật giáo trong thời kỳ đầu mới du nhập là thuyết nghiệp báo luân
hồi và linh hồn bất tử. Trong giai đoạn đầu, người Trung Hoa không thể
hiểu được việc luân hồi tái sinh mà không có một linh hồn bất tử nối kết
các đời sống lại với nhau. Dù rằng tư tưởng linh hồn bất tử rõ ràng là
trái ngược với giáo lý duyên sinh vô ngã của Phật giáo, nhưng để vượt qua
trở lực này và để quần chúng có thể chấp nhận đạo Phật, giới tu sĩ phải
chuyển tải khái niệm thần linh hay linh hồn bất tử chuyển sinh từ kiếp này
sang kiếp khác vào trong giáo lý. Họ giải thích rằng con người bao gồm
thân thể vật lý và một linh hồn. Thân thể hình thành trong lúc ra đời và
hoại diệt vào lúc chết, nhưng linh hồn thì thường hằng và bất hoại. Do ảnh
hưởng của nghiệp, linh hồn này sẽ mãi mãi lưu chuyển trong vòng luân hồi
sinh tử. Thuyết này được tập “Hậu Hán Thư” ghi lại rõ ràng.
Cần lưu ý rằng quan điểm vừa nêu của Phật giáo rất phù hợp với tín ngưỡng
thịnh hành của đạo Lão thời Hậu Hán. Tín đồ của Khổng giáo cũng tin tưởng
như thế.
Về phương diện tu
dưỡng, giáo lý Phật giáo thời Hậu Hán nhấn mạnh việc đè nén và kềm chế dục
vọng. Kinh Tứ Thập Nhị Chương thật sự nhấn mạnh đến tội lỗi của dục vọng
không được kềm chế: “Ai đắm chìm trong dục vọng thì giống như người cầm
đuốc chạy ngược gió; tay họ chắc chắn bị bỏng... Từ dục vọng khởi sinh lo
lắng, và lo lắng gây ra sợ hãi. Tránh xa dục vọng, lo âu biến mất và sợ
hãi cũng không còn tồn tại”. Tinh thần của giáo lý này tương đối mới mẻ
với tư duy của người Trung Hoa, vì nó chưa được các tôn giáo bản địa đề
cập đến. Phương pháp kềm chế dục vọng được Phật giáo giới thiệu là thiền
định và giữ gìn đức hạnh qua việc tuân giữ 250 giới của giới bổn
Pàtimokkha. Vì vậy, vào thời kỳ này nhiều kinh sách liên quan đến chủ đề
trên được phiên dịch và truyền bá rộng rãi giữa quần chúng. Phổ biến và có
ảnh hưởng nhiều nhất là kinh An Ban Thủ Ý do An Thế Cao dịch.
Bên cạnh nhấn mạnh việc đè nén
dục vọng, giới Phật giáo còn chú tâm đến giáo lý bố thí và từ bi. Hàng tín
đồ tại gia được dạy rằng họ có thể đoạn trừ lòng tham dục bằng việc cúng
dường, bố thí tài sản vật chất cho cộng đồng tu sĩ. Họ có thể đoạn trừ ác
tâm, phát triển từ tâm và thiện tâm qua việc nuôi dưỡng lòng thương tưởng
đồng loại. Người ta cũng tin rằng đức Phật có khả năng cứu độ tất cả chúng
sinh khổ đau. Thờ phụng hình tượng Ngài có thể giúp tín đồ đạt được sự gia
hộ. Điều đó giải thích cho việc Hoàn Đế xây dựng đền thờ ngay trong hoàng
cung để tôn thờ đức Phật.
3. Phối hợp với
truyền thống và tôn giáo bản địa
Trong quá trình
truyền bá giáo lý đến các vùng văn hoá khác nhau, phần lớn các tôn giáo
thường gặp phải sự kỳ thị và sức đối kháng của tư tưởng truyền thống và
tôn giáo bản địa. Phật giáo cũng không ngoại lệ khi du nhập vào Trung Hoa.
Hai trở lực chính mà Phật giáo phải đối mặt ở vùng đất thật sự văn minh
này là Khổng giáo và Lão giáo. Nói khác đi, để được quần chúng tiếp thu và
ủng hộ, Phật giáo phải tìm ra tiếng nói hòa hợp với hai nguồn tư tưởng chủ
đạo trên. Đây là chủ đề mà giới triết gia Phật giáo phải vận dụng để đạt
được sự thành công trong tiến trình xây dựng thành trì cho tôn giáo này.
Một số yếu tố sau đây được họ vạch rõ nhằm tạo ra tiếng nói hoà hợp đối
với Lão giáo
sẽ minh họa cho nỗ lực trên.
1/. Đối với nghi lễ
quần chúng, cả hai hệ thống đều chủ trương thờ cúng nhưng không sát sanh
để cúng tế.
2/. Trong việc tu
dưỡng thân tâm, Lão và Phật đều nhấn mạnh đến thiền định, rèn luyện sự tập
trung, kiểm soát hơi thở, kiêng cữ một số loại thức ăn.
3/. Nội dung chính
của giáo lý Phật giáo nhắm đến việc thanh tịnh tư duy và hành động, kềm
chế dục vọng, và tránh xa cuộc sống xa xỉ. Mặc dù có một số đạo sĩ tu
luyện ‘thuật trường sinh’, nhưng phần lớn ưa thích giáo lý Phật giáo trong
vấn đề kiểm soát dục vọng. Phật giáo nói đến linh hồn bất tử và tái sanh
về cõi trời Phạm Thiên, Lão giáo tin vào thế giới bất tử ở bên kia biển
Đông hoặc kiếm tìm sự bất tử ở cõi trời Đại Thanh Tịnh...
4/.Một yếu tố quan
trọng khác liên kết hai tôn giáo lại với nhau là công tác dịch thuật.
Trong tiến trình này, những người phụ tá hoặc biên chép cho các danh tăng
truyền đạo thời ban sơ được chọn lựa ra từ tín đồ đạo Lão. Điều này có thể
nhận thấy qua việc chọn lựa kinh sách để dịch và thuật ngữ được dùng. Đây
là lý do giải thích tại sao phần lớn các dịch phẩm được chọn dịch đều tập
trung vào một số chủ đề có liên quan đến Lão giáo và sở thích của người
Trung Hoa thời bấy giờ như rèn luyện sự chú ý, kiểm soát hơi thở, kềm chế
dục vọng v.v...; thay vì các giáo lý trọng tâm của Phật giáo như Tứ Đế,
Duyên Khởi, Niết-bàn,Vô Ngã... Người ta tin rằng những người phụ tá và
biên tập trong công tác dịch thuật, vốn bị ảnh hưởng Lão giáo, là những
người chọn lựa nội dung kinh sách để truyền bá, chứ không phải các Phật tử
làm việc trên, vì các chủ đề ấy đáp ứng đúng nguyện vọng của họ. Cũng có
thể rằng sở dĩ số kinh điển mang nội dung trên được giới Tỷ-kheo truyền
giáo chọn để dịch và phổ biến vì chúng có thể làm cho nhân dân dễ dàng
tiếp cận và đón nhận giáo lý của một tôn giáo ngoại quốc. Trong cái nhìn
của người Hán, Phật giáo chỉ là một hình thức khác của Lão giáo, vì giáo
lý và sự thực hành của nó tương tự Đạo giáo. Phật giáo là một phương thức
mới để đạt được bất tử. Họ cảm thấy rằng Niết-bàn của Phật giáo không khác
với giải thoát của Lão Tử, A-la-hán thì giống với Chân Nhân hay Người
Thanh Tịnh...
Trong cái nhìn của
người Trung Quốc thời nhà Hán, đức Phật có mối quan hệ chặt chẽ với thần
thánh của đạo Lão. Trải qua hằng trăm năm, Phật giáo và Lão giáo đan quyện
vào nhau khiến người ta thường suy nghĩ rằng Phật giáo chỉ là phần phát
triển của Lão giáo. Do bởi một số yếu tố có vẻ giống nhau rõ ràng như thế,
hai hệ thống tôn giáo này đan quyện vào nhau hằng trăm năm. Điều này lý
giải nguyên nhân tại sao trong nhiều thế kỷ Phật giáo không hiện ra như là
một tôn giáo độc lập. Tuy nhiên, đối với Phật giáo sự nối kết này là một
điểm thuận lợi vì nó có thể có được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân.
Bằng cách xiển dương Phật giáo như là một khía cạnh của Lão giáo, giới
Phật tử tránh được sự thù nghịch, đối kháng của người bản địa, và có thể
vượt qua những thành kiến cực đoan đối với tín ngưỡng ngoại lai.
Một nỗ lực trong
việc nối kết Lão-Phật lại với nhau để quần chúng nhân dân chấp nhận tôn
giáo ngoại quốc là cuốn “Hoá Hồ Kinh”.
Theo thuyết này, sau khi biệt tăm tại miền Tây, Lão Tử đi thẳng đến đất Hồ
(Ấn Độ); tại đây Lão Tử truyền giáo, cải đạo cho người Hồ và sau đó trở
thành đức Phật. Do vậy, giáo chủ của đạo Lão và Phật giáo chỉ là một, vì
đức Phật Thích Ca chỉ là hiện thân của Lão Tử. Vì hai tôn giáo bắt nguồn
từ một mối, do vậy, không có gì khác nhau giữa việc thờ Phật hay Lão Tử.
Đây là lời giải đáp cho việc Hán Hoàn Đế xây bàn thờ chung cho Hoàng Lão
và Thích Ca ngay trong hoàng cung. “Hoá Hồ Kinh”
có lẽ
được ngụy tác ở một địa phương thuộc Đông Trung Quốc (nay là Kiang và
Shang tung), nơi Phật giáo và Lão giáo hợp lại với nhau. “Hồi Ký” của
Hsiang K’ai (biên soạn năm 166) có đề cập đến chuyện này. Tập “Ngụy Sử”
của Yu Huan cũng bàn luận đến chuyện Lão Tử du hành về phương Tây, đến Ấn
Độ và cải hóa người man di ở đó quy y Phật giáo. Có truyền thuyết cho rằng
“Hoá Hồ Kinh” do Vương Phù thuộc triều đại Tây Tấn (265-316) biên soạn.
Tuy nhiên, mối liên
hệ chặt chẽ giữa hai hệ thống tôn giáo này cũng tạo ra nhiều trở lực đối
với Phật giáo trong tiến trình độc lập của mình, vì quần chúng bình dân
cũng như vua chúa Hán triều có khuynh hướng xem Phật giáo chỉ là một với
Lão giáo. Vì lý do này khiến Henri Maspero phát biểu rằng nếu sự bang giao
giữa Ấn Độ và Trung Quốc chấm dứt vào cuối thời Hậu Hán, có lẽ Phật giáo
đã bị đồng hóa vào trong đạo Lão và biến mất khỏi văn hóa và văn minh
Trung Hoa. Nhưng điều ấy đã không xảy ra. Vào cuối đời nhà Hán, càng ngày
càng có nhiều phái đoàn truyền giáo từ Ấn Độ đến Trung Quốc. Họ phiên dịch
nhiều bản kinh mới, xiển dương mạnh mẽ giáo lý Phật giáo và thu nhận rất
nhiều tín đồ. Một làn sóng độc lập dần dần phát sinh, Phật giáo đồ bắt đầu
tách khỏi Lão giáo. “Mâu Tử Lý Hoặc Luận” là tác phẩm tiêu biểu đầu tiên
chống lại giáo lý Lão Trang và học thuyết thần bí. Điều này cũng có nghĩa
rằng từ đây Phật giáo thực sự là một thực thể riêng biệt, tồn tại song
hành với các tôn giáo bản địa tại Trung Hoa.
---o0o---
Mục Lục
|
Chương 1
|
Chương 2
|
Chương 3
|
Chương 4
Chương 5
|
Chương 6
|
Chương 7
|
Chương 8
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật : 01-07-2004