Sau đó là bản dịch từ tiếng
Trung Hoa của tác phẩm nói về nói về mười tám phái ở Ấn Ðộ của luận sư
Vasumitra (Thế Hữu) bởi giáo sư J.Masuda, giảng viên Ðại học Calcutta và
đồng nghiệp của tác giả quyển sách này, đăng trong tạp chí “Asia major”
tập II (1925) kèm theo là hai văn bản Tây Tạng về mười tám phái được viết
bởi Bhavya và Vinitadeva, có tên là “Nikaya-bhedavibhanga” và
“Samayabhedoparanacakia”, theo thứ tự. Nên ghi nhận là tác phẩm của
Vasumitra, có ba bản dịch tiếng Trung Hoa:
1. “Shi pa pu lun” được coi là của Kumarajiva (401-413)
hoặc Paramatra (546-569).
2. “Bộ Chấp Dị Luận” của Paramartha (chân đế), được
Masuda coi là chính xác hơn.
3. “Dị bộ tông luận” của Huyền Trang (662), được Masuda
coi là bản dịch khá nhất.
Có bốn
luận sư cùng mang tên Vasumitra: 1. Vasumitra của cuộc kết tập kinh điển
thời vua Kaniska và là một trong các tác giả của luận thư “Mahavibhasa”.
2. Vasumitra, của phái Sautrantika (Kinh Lượng bộ); 3.Vasumitra, của phái
Sarvativada, xuất hiện khoảng một trăm năm sau khi Ðức Phật nhập niết bàn.
4. Vasumitra của Sarvastivada (Nhất thiết hữu bộ), người trình bày cho
Huyền Trang giáo thuyết của phái này
Có
điều lạ là không có quyển sách hay bài báo nào nói tới một quyển sách quan
trọng của Luận Tạng Pali như “Kathavattha” (Luận Sự) được xuất bản năm
1897 và bản bình luận năm 1889 và bản dịch tiếng Anh của bà C.A.F. Rhys
Davids có tên là “Những Ðiểm Tranh Luận” (1915).
Quyển “ Rathavatthu” được coi là có từ thời Vua A-Dục (
Asoka), người bảo trợ cuộc Kết tập Kinh Ðiển lần thứ ba với sự chủ tọa của
ngài Mục Liên Ðế Tu ( Moggliputta Tissa). Những đặc điểm của quyển này là:
(i). Trình bày giáo thuyết của các phái khác, thí dụ
như nói về giáo thuyết của một phái ngoài phái Trưởng Lão ( Theravada).
(ii). Ðể cho phái khác phát biểu luận điểm của họ.
(iii). Hỗ trợ luận điểm của mình bằng cách trích dẫn
lời Ðức Phật trong các Kinh hệ Nikaya và các kinh khác.
Sau khi cho các phái khác trọn quyền trình bày giáo
thuyết của họ, vị chủ tọa Mục Liên Ðế Tu (Moggaliputta Tissa) dùng quan
điểm của phái Trưởng Lão bác bỏ ý kiến của họ, và cũng trích dẫn từ “
Buddhavacanas”.
Tác giả quyển sách này không chỉ nghiên cứu phân tích
những luận thư của Vasumitra, Bhavya và Vinitadeva, mà còn cả
“Kathavatthu” và quyển bình luận “ Kathavatthu” của Ngài Phật Âm
(Buddhaghosa) cũng như “ Abhidharmakosa-vyakhya”, mà một bản tuyệt hảo đã
dược giáo sư Wogihara xuất bản ở Nhật Bản, và “Sammitiya Nikaya Sastra”
( Tương Ưng Bộ Kinh ?) được giáo sư Venkataraman dịch từ bản chữ Hán và “Thủ
bản Gilgit III” do tác giả quyển sách này biên soạn và xuất bản, chứa
giới luật văn bản nguyên thủy của Mulasarastivada Vinaya (Căn Bản Nhất
Thiết Hữu Bộ), và Jnanaprasthana Sutra được phục hồi một phần từ tiếng
Trung Hoa bởi Tỷ kheo Santi cũng thuộc Visvabharati.
Quyển sách này chấm dứt với phần kết luận, cố gắng cho
thấy PG Ðại Thừa đã phát triển như thế nào như một hệ quả tự nhiên của
quan điểm Ðại Chúng Bộ và như một sự phát triển của ý niệm Bồ Tát và Phật
Thân trong “Thiên Nghiệp Thí Dụ”(Divyavadana) và “Soạn Tập Bá
Duyên” (Avadana-sataka) được coi là của phái Nhất Thiết Hữu Bộ và cũng
như một phản ứng đối với tính hiện thực Nhất Thiết Hữu Bộ và cho thấy Ðại
Thừa đã vượt qua Tiểu Thừa ở cả hai mặt phổ thông và truyền bá như thế
nào.
Phần phụ lục là bản tóm lược địa lý cổ Ấn Ðộ theo lời
mô tả của Pháp sư Huyền Trang ( Hiuen-Tsang), và cũng trình bày sự phân
tán của địa điểm Phật Giáo ở Ấn Ðộ cùng với phần
tường thuật sơ lược về các bộ phái Phật Giáo theo lời kể của pháp sư Nghĩa
Tịnh (I-tsing) và những nơi có sự hiện diện của những phái này trong khi
ngài có mặt ở Ấn Ðộ, tức là khoảng nữa thế kỷ sau khi ngài Huyền Trang tới
Ấn Ðộ.
Tôi muốn cảm ơn người bạn tri thức của tôi là Sri K.
L. Mukhopadhay, người đã đề
nghị tựa đề thích hợp cho tập sách này, giúp tôi giới hạn sự chú tâm của
mình riêng vào các bộ phái ở Ấn Ðộ. Tôi đã rút tỉa được nhiều lợi ích từ
quyển: Lịch sử Phật giáo Ấn Ðộ (Historie du Bouddhisme indien) của
Giáo sư E.Lamotte, ông cũng đã xuất bản nhiều tác phẩm giá trị khác về
Phật Giáo Ðại Thừa, tận dụng những bản dịch tiếng Trung Hoa của các văn
bản tiếng Sanskrit vốn đã thất lạc. Tôi cũng cảm ơn sinh viên của tôi là
nữ Tiến sĩ Ksanika Saha, đã soạn phần từ vựng.
NALINAKSHA DUTT