| ...... ... |
. |
TỪ SỰ KIỆN THÀNH VESALI ĐẾN BIẾN ĐỔI DÒNG
PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA CHĂMPA
Thông Thanh Khánh
---o0o---
Ấn
tượng nhất trong nền văn hoá cũng như trong đời sống xã hội của cộng đồng
Chăm là vai trò nổi bật của tín ngưỡng tôn giáo với các tôn giáo như
Bàlamôn, Bà Ni, Isalam… cùng với các tôn giáo đã tác động mạnh mẽ đến
nhiều mặt trong cuộc sống cũng như giá trị tinh thần. Tôn giáo ở đây đã
trở thành một yếu tố đặc trưng văn hoá cộng đồng.
Nếu bây giờ ta thấy
sự chiếm ưu thế của Bàlamôn hay Ấn giáo thì cách đó hàng chục thế kỉ được
xem như là vương quốc của một quốc gia phồn thịnh, của những dòng vua sùng
bái đạo Phật. Cũng chính từ sự phát triển của xã hội, lúc bấy giờ cùng với
dòng tư tưởng của Phật giáo do Đại chúng bộ chủ tương, Phật giáo Đại thừa
từng bước chiến ưu thế tạo nên một thời vàng son của nước Chămpa.
Ngược lại dòng thời
gian từ sự phát triển sơ khai của nền văn hoá bản địa tiêu biểu là văn hoá
Sa Huỳnh, sự truyền bá của văn hoá Ấn Độ được tiếp nhận một cách tích cực
và sự có mặt của Phật giáo tại quốc gia này. Năm 605 quân nhà Tuỳ do tướng
Lưu Phương chỉ huy đánh chiếm kinh thành Lâm Ấp mang về những chiến lợi
phẩm trong đó có 1.350 pho kinh phật. Phật giáo Chămpa cũng được người
Trung Hoa biết đến và đề cập, ghi chép từ thế kỷ VII với quốc gia kính mến
học thuyết Phật Thích Ca. Các sử gia khi xếp chămpa là quốc gia theo phật
giáo cho rằng trong kì này phần lớn là tín đồ phật giáo Chămpa thuộc hệ
phái Arya Samiti – Nikaya và một ít theo phái Sarvastivada. Hai hệ phái
này liên quan đến Phật giáo nguyên thuỷ Theravada cùng với một số kì bí,
di vật ít ỏi tìm được cho ta thấy nếu xét về điều kiện kinh tế trong những
giai đoạn này cùng với sự giao lưu ngành biển, vương quốc Chămpa đã có một
nền kinh tế phồn thịnh. Nhiều học thuyết từ những lục địa khác được truyền
bá sang tạo nên một cửa ngõ giao thông thông thoáng. Sự xuất hiện ngày
càng nhiều những trí thức trẻ đương đại. Với chủ trương của tư tưởng củ là
y luật không được thêm bớt là những điền kiện tiến đến hình thành và vận
dụng một chủ trương mới. Mặt khác đối với cộng đồng Chămpa là một cộng
đồng tư duy và thuần hoá có óc tiến thủ nên có một sự luân chuyển không
ngừng về sự tiếp nhận và đào thải. Nhưng trên bình diện của Phật giáo sau
này, sự kiện ở thành Vesali cùng với sự xuất hiện hai tư tưởng của hai
bộ phái chính là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ đã làm thay đổi Phật giáo
Chămpa. Sự kết hợp hài hoà giữa Phật, giáo và Ấn giáo loà những gì chứng
minh về sự nắm bắt linh động và vận dụng tôn chỉ của Đức Phật, phù hợp với
thời đại, điều kiện của xã hội của một dân tộc ưa sống tâm linh, thần
thánh hoá. Với thiên niên kỷ I sau Công Nguyên, dòng Phật giáo Đại thừa
tiên biểu là bồ tát tìm thấy ở quảng khê. Từ thế kỷ IX theo các kỳ bí thì
vị Bồ Tát mới được đề cập đến nhiều hơn và trong vòng thời gian này sự
hình thành tu viện Phật giáo Đông Dương mang tính ưư thắng của dòng Phật
giáo Đại thừa mới bắt đầu khẳng định và giữ vai trò chủ đạo trong Phật
giáo Chămpa. Một điều chứng minh về tính ưu việt của dòng Phật giáo Đại
thừa là tượng bồ tát bằng đồng được tìm thấy ở Phú Yên. Tượng ngồi trên
khúc cuộn của rắn Nagar, bảy đầu rắn che lấy tượng. Tượng mặc trang phục
cao, xếp bằng hình nón, và vành đầu, vòng cổ, vòng đeo tay, thắt lưng có
tua viền, áo chừa tay mặt để lộ vai trần quấn lên cánh tay trái và vai
trái. Gan bàn chân có chữ “Cakra”, bàn tay phải trong tư thế để mở, và
chống đỡ cầm một bông sen, gan ban tay nhô cao tuỳ lên cánh tay phải, bàn
tay trái trong tư thế tay thiền. Tượng không có dấu “ Uma” nhưng biểu thị
rõ ràng là Bồ Tát. Tượng Bồ Tát thứ hai gồm nhiều cánh tay tạc trên hình
lá nhĩ, mỗi cánh tay với lòng ban tay của Bồ Tát là mỗi vật khí khác nhau
gồm bông sen, chuỳ, ốc, đĩa trượng trưng cho đất, nước, gió, lữa vầ thuyết
Tứ đại, một học thuyết tiêu biểu và trí tuệ của Phật giáo. Hiện nay tượng
được lưu giữ ở Cổ viện Chàm. Nhắc đến các quần thể cấu trúc của Phật giáo
Đại thừa, ta không thể không nói đến tu viện Đồng Dương, một tu viện lớn
nhất ở Đông Nam Á trong triều đại Indrapura vào khoảng cuối thế kỷ IX đầu
thế kỷ X. đó là những tổng thể kiến trúc đồ sộ có vòng thành chu vi 2 km.
Phật viên mang tên Laksmindru – Lokesvera (875) vốn là một vị thần bảo hộ
nhà vua lúc bấy giờ. Các di tích hiện vật thu được trong đó có tượng Phật
bằng đồng nổi tiếng. Đặc biệt nhất trong các hiện vật tìm được, các nhà
khảo cổ học phát hiện ra một điều lý thú là trong những điện thờ chính
ngoài các tượng Phật còn có những tượng thuộc Bàlamôn giáo vẫn tiếp tục
xu hướng “Chăm hoá” đặc điểm nhân chủng Chăm được nhấn mạnh gần như một
sự cố tình. Với phong cách Đồng Dương về nghệ thuật điêu khắc để lại ấn
tượng sâu đậm nhất, không chỉ vì this độc đáo, tạo nên vẻ đẹp kì vị đường
bệ bởi ảng hưởng của Phật giáo mà đây còn là sự đạt đến cực đỉnh trong sự
phát tiển những yếu tố bản địa tìm với con người Chăm đang được hoàn
thiện, yếu tó nhận bản, gắn bó với cuộc sống trần thế, đây còn chứa một tư
trưởng mới chủ trương kế thừa tinh thần đức Phật, lấy ý đại chúng mà vận
dụng, phát triển giáo lý phục vụ đại chúng bằng hình tượng Bồ Tát vào đời
hoá độ chúng sanh.
Với tinh thần Đại
thừa chủ trương của Đại chúng với tinh thần phóng khoáng dung hoà thu
nhiếp những gì Phật dạy cho đạo Bàlamôn và tầng lớp cư sĩ tựu trưng cho xã
hội phát triển. Tính ưu thắng của dòng Tiểu thừa chỉ còn hiện hữu đến thế
kỷ VII và từ đây trở đi với dòng Đại thừa (thế kỷ IX, X) giữ vai trò chủ
đạo trong Phật giáo Chăm. Vì vậy giáo nghĩa Đại thừa được Bàlamôn tiếp
nhận và biến thể phù hợp với tôn giáo còn hữu hạn rất ít trong cộng đồng
Chăm vì nhiều lý do nhưng với tư tưởng vẫn man mác một tinh thần Phật giáo
Đại thừa tạo thành một tập quán của người Chăm đương đại.
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-06-2004
|
|