Không
rõ Bà sinh vào năm nào, thông qua truyền thuyết của người Chăm cho rằng Bà
là con của một người giàu có và danh tiếng thuộc làng Văn Lâm – ninh phước
– ninh thuận ngày nay. Do hôn nhân trắc trở vì Bà không chấp nhận sinh
sống khi chồng người Gaigrai nên Bà một mình bỏ lên núi Chà Bang tìm hang
núi và lập nguyện xuất gia (Tapad) tu hành. Do khả năng tu hành tinh tấn
Bà đã chứng đạo đồng thời thiện hiện nhiều phép thần thông cứu giúp dân
làng. Về sau tưởng nhớ đến công ơn của Bà, người Chăm làng Văn Lâm đã lên
núi nơi Bà ẩn thân tu tập lập nên đền thờ và hàng năm cứ vào thấng giêng
lịch Chăm người làng lại sắm đủ các lễ vật chay tịnh lên núi cúng cho Bà.
Trong hệ thống thần linh Chăm tại Ninh Thuận tên Bà được nhân dân tôn xưng
với danh hiệu là Pô Nai. Một truyền thuyết khác lại đề cập Bà là em ruột
Pôramê (1627 – 1651) Pôramê buộc gả nàng cho vị tướng người Gaigrai có tên
là Kẽo Mao nhưng Bà không chấp nhận cuộc hôn nhân này nên bỏ ra chốn kinh
kì phồn thịnh, lụa là gấm vóc lập nguyện xuất gia tinh chuyên đơn độc tu
niệm tại núi Chà Bang và đã chứng nghiệm nghĩa lý nhiệm màu thường hay
hiện thân cứu giúp và che chở cho người thân mỗi khi gặp phải hoạn nạn.
Tuy hai truyền thuyết đã đề cập đến hai thân thế khác nhau nhưng qua đó
chúng ta có thể thấy rằng nai tang ya bia tapad lên núi Chà Bang để tu
hành là hai truyền thuyết và nơi thờ tự tôn trí Bà tại đỉnh núi Chà Bang
(Ninh Phước – Ninh Thuận) một điều khiến ta có thể khẳng định rằng Bà đã
tu theo tinh thần phật giáo vì bởi cho đế ngày nay từ trong tiềm thức cộng
đồng người Chăm Ninh Thuận mỗi khi dâng lễ đến Bà vẫn thường sắm sữa vật
thực chay tịnh và mỗi khi tìm đến dâng lễ thân tâm phải thanh tịnh không
được bàn đến việc thế sự, đặc biệt là chuyên nam nữ. Điều này được người
Chăm Ninh Thuận mỗi khi hướng về Bà luôn tự mình tuyệt đối tuân thủ, chấp
hành một cách thành kính. Như vậy có thể xem rằng Bà là Ni giới cuối cùng
của Ni Bộ Chăm còn lại hiện diện của tư tưởng Phật gíáo đã có nhiều cuộc
biến chuyển lớn lao. Từ một quốc gia sùng kính Phật giáo đến giai đoạn này
sự hiện diện của tư tưởng Phật giáo đã không còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến
cộng đồng tộc người Chăm. Cùng lúc này sự du nhập nở rộ của tư tưởng Hồi
giáo từ Mã Lai thâm nhập qua cùng việc đưa quân hỗ trợ cho triều đình
trong việc mở mang và giữ yên lãnh thổ, bản thân triều đình lúc này lại
this cực ủng hộ vấn đề truyền giáo của các giáo sĩ Hồi giáo nên những tôn
giáo chủ đạo như Phật giáo, Bàlamôn ngày càng thu hẹp dần trong đời sống
cộng đồng. Một tính năng khá quan trọng để tác động đến việc Phật giáo
Chămpa đã không còn hiện diện và phát triển như những giai đoạn của thiên
niên kỷ khác : tính chất mở rộng của tinh thần Phật giáo Đại Thừa qua
mạnh, sự thể nhập và dung hoá giữa Phật giáo và Bàlamôn đến lúc khó phân
biệt đi vào trạng thái đồng nhất. Chính vì vậy cho đến bây giờ như cấu
trúc tỏ chức của Bà La Môn hiện nay chúng ta khó tìm thấy dáng dấp của hệ
tư tưởng Bà LaMôn chánh phái. Sự phát sinh của các hệ phái như Mư Duôn
(Thầy Võ) Kadhar (Thầy kéo đàn Kanihi… có thể chứng minh rõ hơn hết cho
vấn đề này. Tacù nhân thứ ba chúng tôi muốn đề cập đến là sự gắn bó Phật
giáo với các triều đại, các vùng phật giáo được xem như là tôn giáo cho
những hạng quí tộc tôn xưng vả quy ngưỡng, đối với dân chúng tuy ảnh hưởng
Phật giáo chính thức đi vào cuộc sống nhưng có tính chất tự do không theo
một hệ phái hay tổ chức giáo hội rõ ràng. Do sự bảo trợ hết mình của các
vua chúa, vấn đề thành lập Giáo đoàn tăng lữ không được chú trọng, việc
Xương minh giáo pháp chủ yếu tập trung vào các tầng lớp quí tộc, các bậc
thức giả cho nên mõi khi các triều đại ấy suy sụp dẫn đến hệ thống tổ chữ
tăng lữ lung lay. Từ ba yếu tố vừa nêu trên có thể thấy rằng , vào giai
đoạn của thế kỷ XVI – XVII điểm giao thoia à giai đoạn các triều đại Chiêm
Thành đi vào cuộc chiến liên miên với quân chúa Nguyễn đang ngự ở Thuận
Hoá và chính sách Nam tiến luôn đặt mục tiêu phát triên vê phía Nam của
chúa đã gây cho Chiêm Thành những ứng phó liên tục. Cuộc chiến sảy đến
liên tục đã tạo nên đời sống kinh tế- tín ngưỡng đi vào trạng thái suy
kiệt hoàn toàn. Đứng trước những vấn đề đó, với tinh thần thế nhập của
Phật giáo cùng khả năng tu luyện của mình, Bà đã có những sự trợ giúp đáng
kể đối với cộng đồng người Chăm. Chính vì vậy trở về sau này nghĩa là sau
khi Bà viên tịch cộng đồng người Chăm đã sáng tác bài sử ca đểû tuyên đọc
mỗi khi hành lễ dâng cúng p hẩm vật lên Bà được Ôn Như Duôn (Thầy Võ)
hay Ôn Ka Dhak (thầy kéo đàn Kanhi) xướng lên trong nghi lễ đã phản ánh
đầy đủ về tinh thầnPhật giáo trong các đoạn của sử ca trên ngôn ngữ Chăm,
đây là một tư liệu rất quí có liên quan đến phật giáo còn,lại có tính chất
văn bản chép tay được lưu giữ chưa được chú ý khai thác.
TÍNH CHẤT NGÔN NGỮ
PHẬT GIÁO TRONG BÀI SỬ CA
Bài sử ca tuyên
dương công trạng của Bà được sáng tác theo thể lục bát Chăm gồm 82 câu
được nhà nghiên cứu Trương Văn Món – Trung tâm nghiên cứu văn hoá chăm -
Ninh Thuận phiên âm và dịch nghĩa dựa trên bản chép tay sách cổ của ông Bá
văn Có người thôn Như Bình – Ninh Thuận. Đây được xem như bài sử ca tuyệt
diệu, mang chất liệu thi từ độc đáo đem đến giá trị xuất sắc về một tsc
phẩm thơ của văn học Chăm. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ xin đề
cập đến những ngôn ngữ Phật giáo trong các đoạn của bài sử ca. Trong câu
thứ ba của bài sử ca có đề cập đến “ Patau Adi Tiak” theo quan niệm của
người Chăm cho rằng đó là Thần Mặt Trời. Theo chúng tôi đây không phải chỉ
đề cập đến Thần Mặt Trời nó được phiên âm từ nguồn gốc Phạn ngữ của chữ
Amitaba – A di đà có nghĩa Việt là Bất Đoạn Quang, Diệm Vương Quang, Hoan
Hỷ Quang,Nan Tư Quang, Siêu Nhật Quang, Viên Vương Quang, Vô Lượng Quang,
Vô Lượng Thọ, Vô Ngại Quang, Vô Xưng Quang. Chữ Quang ở đây có nghĩa là
luồng sáng trong hay sự phát sáng. Đây là 12 danh hiệu của Đức Phật
Amitaba. Về tiền thân của Đức Phật nhày xa xưa, ngài là vua của một nước
sau đi tu phát nguyện 48 lời nguyện để giúp chúng sanh, trong đó nếu ai
thành tâm yin chắc rằng muốn sanh về nước tôi, tức là Tây Phương cực lạc
thế giới, chỉ cần đem tất cả công đức tu hành hồi hướng cầu xin về nước
tôi nhất định sẽ thành công mãn nguyện. Hạnh nguyện của Đức Phật A di đà
đã được cộng đồng xem như là hiện thân về sự cứu giúp cho nên xem Bà như
là “ Thần Mặt Trời sai Nàng xuống trần gian” hầu gởi gắm moot tư tưởng cứu
độ – trợ giúp của một tinh thần xuất thế. Từ những câu 4 đến câu 81 thật
sự đã toát lên tinh thần Phật giáo trên ngôn ngữ mô tả những ẩn ý của câu
chuỵên Thiền quán và tính chất buôn xã trên một không gian – thời gian hết
sức độc đáo. Để hưởng thụ phương pháp này không gì khác hơn là phải thưởng
thức bằng tính chất nguyên bản, chất chứa đầy Thiền vị trong giọng ngâm
Ariya (truyện thơ) của các lão nghệ nhân Chăm. Để khẳng định tính chất này
trong câu kết thứ 82 “ Mưng Dowh Di Hagou Ngak Ka Bwol – Tâm Nàng tỉnh
thức điều lành giúp dân” tính chất giác ngọ chứng thành đạo quả khi trải
quan việc thiền quán của Bà thật thụ đã ban đến cho dân làng những hy vọng
lớn lao và tôn kính.
Tóm lại: Từ truyên
thuyết cho đến sử ca mà người Chăm Ninh Thuận đề cập đến Bà, cho chúng ta
thấy rằng Bà là đại diện Ni giới Phật giáo Chămpa cuối cùng được cộng đồng
người Chăm còn tôn thờ đồng thời theo quan niệm chung đã xem như là một vị
thần chính thống của cộng đồng, nhưng thông qua sử ca đề cập đến thời gian
tu tập chúng ta lại thấy tuy Phật không còn tồn tại trong giai đoạn của Bà
nhưng tinh thần Phật giáo đã được các thức giả vẫn bảo lưu gìn giữ rồi kết
tinh thành bản sử ca mang đậm tính chất của ngôn ngữ Phật giáo với cộng
đồng người Chăm trong giai đoạn cuối cùng này.
Phiên âm :
NAI TANG YA BIA
TAPAH
1. Alwah Crauk
ka nai Brai tal
2. RiBâu Bwơl
Nugar pok khway paya Nai
3. Đa Ka Nưgar
dwio sak
4. Patau
aditiak Nai mưng rai
5. Nai Klak
paley Nai mai
6. Đwa gaun
parai dwah cowh tapah
7. Crok din
ripan lâu lâu
8. Nai ôh likâu
dwah cơk tapah
9. Crok din
tamư dwa gah
10. Nai ôh tapah
dwah cơk tapah
11. U rang nau
tapah Bwol Ba
12. Tha trey Jata
Kanâu Klơn nai tapah
13. U rang nau
tapah Bwol lâu
14. Tha trey Kanâu
Klơn nai tapah
15. Mưyom Nai hunit
ginrơh
16. Nai Rwah tanơn
Boh cơk Palin
17. Nao dok tha
trey nai hamit
18. Bok cơk Palin
lilek tanah
19. Alwah Crauk Ka
nai Brak tal
20. Krơp Nưgar pok
khway limah
21. Huăp ia harey
glơh kiah
22. Nai khein likah
mong jawa riyok
23. Amek thong amư
đun rowl
24. Pakran Nưgar Ka
gaun naBi
25. Thang prong Nai
dak dok
26. Nai Rwah danok
Bok cơk BiSa
27. Gail war
Tanhrak ala
28. Gail răm BiSa
Bok cơk mưng yâu
29. Nai dok tapah
They Thâu
30. Ka ing Thong
pajâu lac nai tapah
31. Ka ing Thong pa
yaau dwa gah
32. Ô Kơl nai dang
ligah rup nai sunit
33. Nai dok tapak
tok thit
34. Tapak tok sunit
Băng Blăng mưng nâu
35. Nai pajương di
kayâu
36. Cơk prong di
tau glai răm di BiSa
37. Nai dok the
trey nai jwa
38. Ta wwaw thong
jata klơn pamưng yok
39. Ô kal nai
tapah thauh
40. Đwa gawn patau
mai suan Nưgar
41. Ô kal nai tapah
thauh Ô
42. Đwa gaun pô Ka
Bwol liwak
43. Cơk prong tali
Biđan
44. Bwol poh libăng
ka nai likâu
45. Da Crok Cơk dak
Bitâu
46. Dak pa mưng
yaau mong nai Rikit
47. Rikì thong
Riki tha tian
48. Dwa năn tha
wan atey sa ai
49. Amek thong amư
taip mai
50. Klău aicey srai
taBiak mưng in
51. Nai Biđan Klao
nhi
52. Mong nai mưng
in di krưh riyak
53. Ia poh danac
aran
54. Thit nai riđan
nai dok mưng in
55. Wat ia harey
glơn nhi
56. Nai dok mưng in
tom jawa riyak
57. Binan yawa
riyak Blan Blan
58. Nai doh di
jaban mong jawa riyak
59. Binan yawa
riyak lâu lâu
60. Nao dok likâu
mong di yawa riyak
61. Binan jaya
riyak ul ul
62. Nai tok tăk năn
mong yawa riyak
63. Hăup ia harey
Biên ni
64. Hađơn mưng nhi
riyak rathrok
65. Riyak tathrot
nai thrơt
66. Nai Khin talơn
dom yawa riyak
67. Khar haluh mưng
ran jih piah
68. Binan yawa
riyak nai Brak mưng in
69. Khar haluh mưng
ran jih Bhing
70. Nai Binan dom
yawa riyak
71. Khar haluh mưng
ran jih chuk
72. Nai thin Blak
tom yawa riyak
73. Tanhrak Blong
hala nai đun
74. Nai khin mưng
in tom yawa riyak
75. Hala cih
tanhrrak nai Ba
76. Jan di adhwa
nai khin mưng liêng
77. Nai nau mưng in
sơh
78. Hachar dê di
thrơh taip nai mưng rai
79. Nai dok mưng in
dak wan
80. Bwol eu padong
di rim harey
81. Di rim harey
Bwol eu
82. Mưng dơn di
hagow nghak Dhak ka Bwol
(Phiên âm và dịch từ
tư liệu sách cổ củ Bá Văn Có – thôn Như Bình – Ninh Thuận)
Từ vựng:
- Bwơl :thần
dân
- Khwai :
phủ phục
- Patrai
:thái thịt (thời vận)
- Binan :
rừng rậm
- Hâu hâu
:hớn hở, tươi vui
- klơn
:theo
- grinrak
:đầy bụng, đầy
- kiah
:ngang bằng
- đung ran :
cưu mang
- pakrong
Nưgar : ka gaun nư bi
(sau khôn lớn ) trị
nước theo lệnh ngài
- Pakran :
trị nước
- Tok thik :
nhờ ảnh hưởng
- Bi Đan :
ngủ (nằm) , nhìn
- aran :
tiếng sâm biển
DỊCH NGHĨA :
NAI TANG YA BIA
TAPAH
1. Tìm khắp
chốn mới thấy Nàng
2. Hàng ngàn
dân chúng phủ phục suy tôn
3. E rằng đất
nước lâm nguy
4. Thần Mặt
Trời sai nàng xuống trần gian
5. Nàng bỏ làng
sớm ra đi
6. Thế thời,
thời vận nàng tìm núi tu
7. Sông sâu
rừng lá sum sê
8. Nàng không
tu lại đi tìm núi cao
9. Sông sâu
đường rẽ lối hai
10. Nàng không tu
lại tìm đồi cao rừng dày
11. Người ta đi tu
có dân theo
12. Nàng đi tu chỉ
một mình Jata (*)
13. Người ta tu dân
hớn hở
14. Nàng đi tu vắng
vẻ chỉ một bồ câu
15. Nàng đã từ lâu
định sẳn
16. Lần tìm đến đó
thấy núi Palin
17. Nàng ở một mình
lắng nghe
18. Thấy núi Palin
rơi xuống nơi đây
19. Tìm kiếm khắp
nơi thấy nàng
20. Khắp xứ sở kính
hiền dâng phủ phục
21. Mặt trời phủ
bóng chiều tà
22. Nàng nhìn sóng
biển nhấp nhô dập dềnh
23. Công lao cha mẹ
cưu mang
24. Tuân theo lệnh
thần lớn lên trị nước
25. Nhà cao nàng
cất để ở
26. Chọn đất tu
thấy núi cao rừng già
27. Nàng bỏ quên
túi đựng trầu
28. Rừng sâu mới
thấy núi non chập chùng
29. Nàng đi tu
chẳng ai biết
30. Thầy bóng, Bà
bóng nói rằng đi tu
31. Thầy bóng, Bà
bóng cả hai
32. Chẳng biết Nàng
đang lặng mình luyện phép
33. Nàng ngồi luyện
phép tu hành
34. Ưùng linh hiệu
nghiệm phép bùa thần thông
35. Nàng sinh ra từ
gỗ cây
36. Núi cao đá lớn
rừng sâu chập chùng
37. Nàng ngồi một
mình vắng vẻ
38. Nhờ con chim ti
hú Jata mới vui
39. Nàng đi tu
không khó
40. Thừa lệnh, nàng
xuống phò vua giúp nước
41. Nàng đi tu
không khó
42. Thừa lệnh, thần
giúp nước cho dân thương
43. Núi cao đá sắp
chồng chồng
44. Thần dân gõ cữa
cho nàng cầu xin
45. Núi cao đá tận
ở rừng sâu
46. Chấp cây đứng
ngắm nhìn nàng Rikit
47. Rikì ,Rikit (*)
cùng mẹ cùng cha
48. Hai chị em như
hsai giọt nước
49. Rikì ,Rikít mẹ
cha xua đến
50. Ba chị emm cùng
vui chơi hớn hở
51. Nàng nằm cười
khucs khích
52. Nhìn nàng chơi
với sóng biển bao la
53. Dập dềnh tiếng
sóng vỗ bờ
54. Nàng vẫn nằm
yên, say với sóng nước
55. Mặt trời ngã
bóng sang chiều
56. Nàng vẫn còn
mãi mê nơi sóng biển
57. Sóng biển vỗ
tung trắng xoá
58. Nàng ngửa mình
trên tấm ván nhìn sang
59. Từng cơn sóng
vỗ ào ào
60. Nàng ngồi ngắm
mãi từng cơn sóng trào
61. Tiếng sóng bỉên
vỗ rì rào
62. Nàng ngồi ở đó
mãi mê ngắm nhìn
63. Nhớ những lúc
chiều xa vắng
64. Ngồi một mình
lại nghe từng cơn sóng
65. Tiếng sóng xô
nàng thoả thích
66. Không sao nở bỏ
từng cơn sóng dềnh
67. Khăn Nàng dệt
bằng vải trắng
68. Trắng xoá như
cơn sóng Nàng chạy ra
69. Khăn Nàng dệt
bằng chỉ đỏ
70. như nghe sóng
bỉên vỗ tung trắng bờ
71. khăn Nàng dệt
bằng chỉ đen
72. Nàng không quên
từng con sóng vỗ
73. Trầu nàng tem
Nàng gói mang theo
74. Cùng đi thưởng
thức từng cơn sóng về
75. Trầu tem Nàng
gói mang đi
76. Nửa đường dứt
bỏ về nơi sóng gần
77. Nàng đi chơi
cho thả thích
78. Chớ quên luyện
phép thần thông giúp đời
79. Nàng đi chơi
suốt ngày
80. Thần dân kêu
cứu mỗi ngày lâm nguy
81. Ngày mọi ngày
dân kêu cứu
82. Tâm nàng tỉnh
thức đều lành giúp dân
Trượng Văn Món
(phiên âm và dịch
nghĩa)
Rikì, Rikit. Tên
riêng của người thị giả Pô-Nai