VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ
LUẬN
Nguyễn Lang
---o0o---
TẬP II
CHƯƠNG XXI
THIỀN SƯ HƯƠNG HẢI
TỪ THIỀN TÍNH VIỆN ÐẾN ÐẠO
TRÀNG NGUYỆT ÐƯỜNG
Trong lúc Chân
Nguyên thiền sư đang chủ trì đạo tràng ở Long Ðộng và Quỳnh Lâm thì tại
lưu vực sông Xích Ðằng tỉnh Hưng Yên, thiền sư Hương Hải cũng đang chủ trì
một đạo tràng lớn: đó là đạo tràng của chùa Nguyệt Ðường. Thiền sư Hương
Hải vốn xuất gia tu học ở Ðàng Trong, nhưng vì có sự hiểu lầm hớn giữa ông
và chúa Nguyễn Phúc Tần nên ông đã lấy thuyền đi ra Ðàng Ngoài để hành
đạo.
Tài liệu về Hương Hải phần lớn được lấy từ
trong sách Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quý Ðôn. Hương Hải vốn là người
làng Áng Ðộ huyện Chân Phúc (sau đổi là Chân Lộc rồi Nghi Lộc) tỉnh Nghệ
An. Ông tổ bốn đời của thiền sư là Trung Lộc Hầu đã theo Doãn Quốc Công
Nguyễn Hoàng vào trấn thủ miền Nam từ giữa thế kỷ thứ mười sáu. Hương Hải
sinh năm 1627;
ông vốn là người thông minh, năm mười tám tuổi đã đậu cử nhân và được
tuyển vào làm trong phủ chúa Nguyễn. Sau đó ông được bổ đi làm tri phủ
Triệu Phong, Quảng Trị. Năm hai mưoi lăm tuổi ông được làm quen với một vị
thiền sư Trung Hoa tên là Viên Cảnh lúc bấy giờ đang hành đạo tại Quảng
Trị, và bắt đầu để thì giờ học hỏi về đạo Phật với thiền sư này. Ba năm
sau, tức là năm 1655, ông từ quan xuất gia với Viên Cảnh, được thiền sư
này đạt cho pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự là Minh Châu Hương
Hải. Hương Hải còn được học Phật với một vị du tăng Trung Hoa khác tên là
Ðại Thâm Viên Khoan.
Sau đó ông lấy thuyền ra đảo Tiêm Bút La
(tức là cù lao Ðại Lãnh) ở biển Nam Hải, cắt tranh chặt tre làm một cái am
ba gian để tu thiền. Ông ở đây được tám tháng; sau đó vì có những chướng
ngại địa phương nên ông bỏ Tiêm Bút La; trở vào lục địa, về quê cũ là làng
Bình An Thượng, phủ Thăng Hoa, định cất am tu ở đây. Nhưng dân chúng ở đảo
Tiêm Bút La đã phái người đi tìm ông, thỉnh ông trở về đảo. Hương hải và
các đệ tử lại trở ra đảo, và trụ trì ở đây được tám năm, đạo hạnh được
nghe biết khắp nơi. Quan trấn thủ Thuần quận công thỉnh ông về đất liền để
tụng kinh cầu an cho phu nhân và để cho cả gia đình được quy y. Lễ quy y
xong ông lại trở ra đảo. Năm 1665, quan tổng thái giám Hoa Lễ Hầu lại cho
thuyền ra thỉnh ông về đất liền để làm đàn tràng sám hối, cầu cho hết bệnh
lao mà ông mắc phải trong ba năm. Chúa Nguyễn Phúc Tần nghe tiếng Hương
Hải liền cho người đi đón. Lúc ông đến phủ, chúa ra đón vào, hỏi thăm, úy
lạo rồi truyền lập một thiền viện trên núi Quy Kính để ông ở, tên là Thiền
Tĩnh Viện. Quốc Thái phu nhân và ba công tử là Phúc Mỹ, Hiệp Ðức và Phúc
Tộ đều đến quy y học đạo với ông. Các quan trong triều, nhân dân các tỉnh
và những người trong quân ngũ đến xin quy y rất đông cả thảy hơn 1.300
người. Thiền Tĩnh Viện trở nên một trung tâm Phật Giáo nổi tiếng ở Ðàng
Trong.
Trong số những người đến quy y học Phật tại
Thiền Tĩnh Viện có quan thị nội giám Gia quận công. Ông này vố là người
Ðàng Ngoài, theo quân Trịnh vào Nam bị chúa Nguyễn Phúc Tần bắt, nhưng
được chúa tha cho và cho vào dạy học trong phủ chúa. Ông đến Thiền Tĩnh
Viện rất đều để nghe thuyết pháp. Có người ghét ông mới vu cáo cho ông là
đang cùng thiền sư Hương Hải âm mưu trốn về Bắc. Chúa Nguyễn Phúc Tần nghi
ngờ liền đem Hương Hải ra tra khảo, nhưng tra khảo không ra. Chúa bèn đưa
ông vào Quảng Nam, cách Thuận Hóa ba ngày đường.
Vì sự đối đãi ấy của chúa Nguyễn, thiền sư
Hương Hải mới quyết định ra Bắc thực. Năm 1682, ông chuẩn bị một chiếc
thuyền cùng năm người đệ tử vượt bể ra Bắc. Thuyền ông ghé bến, ông đến
trình diện ở đồn Trấn Lao với Yên quận công Trịnh Gia.
Yên quận công báo về triều. Chúa Trịnh (có lẽ là Trịnh Căn mới lên thay
Trịnh Tạc) cho Ðường quận công mang thuyền vào đón hết thầy trò về kinh
sư. Ðiều tra lý lịch của Hương Hải xong, Chúa Trịnh cho thầy trò ông tạm ở
dinh trấn thủ Sơn Tây tám tháng, rồi đưa ông về dinh trấn thủ Sơn Nam.
Chúa sai quan trấn thủ Sơn Nam lấy ba mẫu đất làm chùa cho Hương Hải. Ðó
là vào năm 1683, lúc ông đã được năm mươi sáu tuổi.
Những năm sống gió đã tôi qua, bây giờ có
chỗ ở yên mới, Hương Hải mới nỗ lực tọa thiền. Suốt mười bảy năm ông
chuyên tu và sáng tác. Ông chú giải các kinh, dịch và sáng tác bằng tiếng
Nôm hơn ba mươi tác phẩm truyền cho đời.
Nhiều tác phẩm của ông chưa tìm lại được. Trong số những tác phẩm của ông,
có những đề mục sau đầy:
Một số thơ kệ và thiền ngữ của ông được ghi
lại trong chương Thiền Dật của sách Kiến Văn Tiểu Lục.
Năm 1700.
Thiền sư Hương Hải rời chùa trấn thủ Sơn Nam về mở đạo tràng ở chùa Nguyệt
Ðường, tổng An Tảo, huyện Kim Ðộng, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Người
bốn phương đi về cầu đạo không ngớt. Vua Lê Dụ Tông có lần đón ông về
kinh, vời vào nội điện để lập đàn cầu tự và thuyết pháp. Vua rất tôn kính
ông, thường hỏi ông về phương pháp tu đạo.
Năm 1714, chúa Trịnh Căn
có vào chùa Nguyệt Ðường và cúng dường. Chúa có ngự đề bài thơ sau đây tại
chùa Nguyệt Ðường:
Ðệ tử xuất gia đắc pháp với Hương Hải rất
đông. Thượng túc đệ tử là thiền sư Viên Thông, pháp tự là Chân Lý Ðề Mật.
Những người đệ tử cùng mang pháp tự có chữ Chân đứng đầu như Chân
Lý Ðề Mật có cả thảy là ba mươi người, có người được phong chức Tăng
Thống, Ðó là những pháp tử của ông. Còn những đệ tử thuộc hàng cháu, pháp
điệt, mang pháp tự có chữ tính thì không kể xiết.
Năm Ất mùi (1715), sáng ngày 13 tháng 5,
sau khi tắm, thiền sư Hương Hải khoác y, đội mũ, đeo tràng hạt, ngồi kiết
già, mà tịch, thọ 88 tuổi:
Thiền sư Phương Trượng xây bảo tháp ba từng để thờ ông.
Năm 1724, chúa Trịnh Cương truyền mở rộng
phạm vi chùa Nguyệt Ðường vì cơ sở hành đạo này đã trở nên chật hẹp. Lúc
bấy giờ thiền sư Như Nguyệt, pháp tử của Hương Hải, đứng ra chủ trương sự
xây cất, Chúa Trịnh Cương cho đo đất xung quanh chùa, thêm vào hơn năm
mươi mẫu. Công tác xây dựng kéo dài trong nhiều năm mới hoàn tất.
CON NGƯỜI CỦA HƯƠNG HẢI
Hương Hải có căn bản Nho học trước khi xuất
gia, vì vậy ông vẫn thường nói đến Nho giáo như là một nền học bổ túc được
cho Phật Giáo về phương diện trị thế:
Ông ra đời năm mười tám tuổi, xuất gia năm
hai mươi tám tuổi mà mãi đến năm năm mươi sáu tuổi mới có chỗ yên thân để
thực hiện sự tu tập. Chính từ năm 1683 đời ông mới hết sóng gió, và ông
rất biết ơn đất Ðàng Ngoài đã cho ông khung cảnh thanh tịnh để tu học:
Tuy vậy, ông
vẫn có khi nhớ nhà, nhớ làng, nhớ nơi mình sinh trưởng và lứon lên, nghĩ
rằng nhiều kẻ đã không hiểu được sự ra đi của mình:
Bỏ Ðàng Trong ra Ðàng Ngoài lại còn bị chúa
Trịnh bắt vẽ địa hình sông núi Thuận Quảng, Hương Hải nghĩ rằng sẽ có một
số người chê trách. Ông cho rằng người quân tử có thể hiểu mình còn kẻ
tiểu nhân có thể không hiểu mình. Người ta không hiểu mình, càng chê bai
công kích mình thì đức độ mình càng thêm dày. Ông viết trong Sự Lý Dung
Thông:
Tuy vậy, niềm vui của sự bình an vẫn lớn.
Ông cho sự trở về Ðàng Ngoài của ông với các đệ tử như là một cuộc đoàn
viên:
và khi mùa xuân đầu tiên ở đất Bắc về, ông
đã không ngần ngại ca tụng cảnh thịnh trị ở Ðàng Ngoài.
Thơ ngâm vịnh và thù tạc của thiền sư Hương
Hải với các nhà chính trị không phải là phần xuất sắc trong sáng tác của
ông. Có lẽ lòng của thiền sư không mấy thiết tha đến những chuyên ngâm
vịnh thù tác ấy. Ông đi tu vì đã chán cảnh quan quyền, cho nên đi lại với
quan quyền là chuyện bất đắc dĩ. Thời gian ông đi tu là thời gian mà nhiều
chuyện lộn xộn bạo động xấu xa xẩy ra trong phủ chúa Nguyễn. Phu nhân của
vị trấn thủ Quảng Nam Nguyễn Phúc Kỳ là Tống thị, sau khi chồng mất, đã
đem nhan sắc mê hoặc hai người em chồng là chúa Nguyễn Phúc Lan và chưỏng
cơ Nguyễn Phúc Trung. Tống thị lợi dụng thế lực chúa, bóc lột dân đem về
làm của riêng, tích trữ tiền của như núi, làm các bậc công khanh đều tức
giận. Chúa lại hay giận dữ, hiếu sát; từng sai chém nhiều người bỏ thây
giữa chợ, không cho tra hỏi; kẻ chết oan rất nhiều. chưởng cơ Nguyễn Phúc
Trung sau khi chúa Nguyễn Phúc Lan chết, lại nghe lời Tống thị âm mưu đảo
chính, giết chúa Nguyễn Phúc Tần. Cơ mưu bị vỡ lở, biếùt bao người bị liên
lụy. Tình trạng đó đã ăn sâu vào trí óc của viên tri phủ trẻ tuổi; thêm
vào đó sự nghi kỵ và đối xử tệ bạc của chúa Nguyễn Phúc Tấn đối với vị cao
tăng mà trong triều, ngoài nội, thiên hạ từng tới quy y hàng ngàn người,
đã khiến cho Hương Hải mất hẳn tình cảm với chế độ Ðàng Trong.
TƯ TƯỞNG THIỀN CỦA HƯƠNG
HẢI
Những thi kệ và thiền ngữ được ghi chép
trong sách Kiến Văn Tiẻu Lục chứng tỏ vào giai đoạn từ 56 tuổi trở
về sau, kiến thức và sự tu chứng của thiền sư Hương Hải đã đi tới một
trình độ khá sâu sắc. Tuy nhiên ta phải cẩn thận khi xem xét những thi kệ
và thiền ngữ này. Ít nhất là hai bài thơ đã chép trong Kiến Văn Tiểu
Lục không phải là của Hương Hải. Tắc giả bài:
không khải là Hương Hải mà là thiền sư
Trung Hoa Thanh Nguyên Hành Tư (660-740). Ðó là một trong mười bài Thập
Huền Luận, gọi là Chính vị Tiền. Còn bài
là của thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ
(904-975) cũng người Trung Hoa, làm trong thời gian ở núi Tuyết Ðậu. Lại
còn hai bài thơ khác cũng thấy chép trong sách Kế Ðăng Lục vốn được
trước tác trước Kiến Văn Tiểu Lục mấy chục năm. Bài thứ nhất được
Như Sơn đưa vào, cho là bài kệ truyền pháp của Minh Lương trao cho Chân
Nguyên:
Bài thứ hai cũng nước Như Sơn đưa vào Kế
Ðăng Lục, cho là bài kệ truyền pháp của Chuyết Chuyết trao cho Minh
Lương:
Tuy Kế Ðăng Lục ra đời trước Kiến
Văn Tiểu Lục, ta cũng nên nêu nghi vấn ở đây, bởi vì giá trị sử học
của Kế Ðăng Lục, như ta đã biết, không được bảo đảm cho lắm.
Thiền sư Hương Hải ít ưa lý luận về triết
học. Ông chuyên hết tâm ý vào việc thiền quán và vào những phương pháp
điều tâm ý vào việc thiền quán và vào những phương pháp điều tâm, quán
tâm, giải thoát cho tâm. Căn bản của những phương pháp của ông là những
nhận thức về liên hệ giữa Phật và chúng sinh, giữa tâm và cảnh, mê và ngộ,
thiện và ác.
Liên hệ giữa Phật và chúng sinh
Phật và chúng sinh cùng có chung một thể
tính, giác ngộ thì chứng nhập được thể tính ấy. Nếu Phật để bỏ chúng sinh
thì không bao giờ có thể đạt đạo. Ông nói: “Khi mặt trời lên chiếu sáng
thiên hạ, thì hư không không vì đó mà sáng; khi mặt trời lặn, bóng tối bao
trùm khắp thiên hạ thì hư không không vì đó mà tối. Sự sáng và sự tối
tranh cướp lẫn nhau, còn hư không thì vẫn lặng lẽ tự nó là nó. Tâm Phật và
chúng sinh cũng vậy. Nếu quan niệm Phật là thanh tịnh quang minh, quan
niệm chúng sinh là dơ bẩn mờ tối, thì có tu qua nhiều kiếp như cát sông
Hằng cũng không đạt được giác ngộ”.
Liên hệ giữa mê và ngộ
Nhận thưc về Phật và chúng sinh đưa đến
nhận thức sau đây về mê và ngộ cùng có chung thể tính. Ông nói: “Mê và ngộ
dựa vào nhau. Chân và vọng vì đối đãi với nhau mà có. Nếu tìm chân mà bỏ
vọng thì không khác gì người sợ bóng theo hình mà cứ chạy ở ngoài nắng.
Nếu biết rõ vọng là chân thì cũng như đi vào nơi rợp, tự khắc bóng biến
mất”.
Liên hệ giữa tâm và cảnh
Tâm và cảnh cũng cùng chung một thể tính.
Ðối tượng của nhận thức và chủ thể của nhận thức nương nhau mà hiện hữu.
Khi ta đang thấy một cái hoa chẳng hạn, thì nhờ đối tượng là cái hoa mà ta
biết rằng chủ thể (cái thấy) cũng đang hiện hữu:
Bởi thế cho nên thượng sách là trở về chân
tâm, vốn là cơ bản của cả tâm lẫn cảnh:
Liên hệ giữa
thiện và ác:
Trên căn bản
những nhận thức trên, Hương Hải đề nghị phương pháp sau đây:
1. Không chạy trốn sự vật.
Ðối tượng của giác quan như âm thanh, hình sắc, hương vị v.v... sở dĩ áp
đảo được tâm ta vì tâm ta chưa quán sát và thấu đạt được bản chất của tâm
cũng như của những đối tượng ấy, Cầu sự an tâm bằng cách chạy trốn sự vật
tức là thú nhận sự bất lực của mình. Bản chất của tâm cũng như của sự vật
là chân tâm - nghĩa là thực tại không sinh diệt, mà văn học Bát nhã gọi là
không. Nếu tâm đã trở về chân tâm thì cảnh cũng trở về chân cảnh:
không cần có sự chạy trốn mà giải thoát trở thành hiện thực. Hương Hải
viết: “Phàm người ta phần nhiều vì sự cho nên làm ngăn chặn lý,
vì cảnh mà ngăn chặn tâm, muốn trốn chạy cảnh để tìm sự an
tâm, quên sự giữ lý, mà không biết rằng chính tâm của họ ngăn chặn cảnh,
lý của họ ngăn cản sự. Nếu họ biết làm cho tâm không thì tự nhiên cảnh
cũng không, làm cho lý lặng thì tự nhiên sự cũng lặng, cảnh không còn
khống chế được tự tâm nữa”. Ðể nêu rõ nguyên tắc không trốn chạy sự vật
và không bỏ phàm theo thánh, không bỏ mê theo ngộ, thiền sư Hương Hải đã
viết bài thơ sau đây:
“Vô tâm phiền não hà cư”! Nếu giữ được
trạng thái “vô tâm” thì phiền não không còn chỗ để nương tựa. “Vô tâm”,
theo Hương Hải là bí quyết của sự giác ngộ.
2. Giới luật cao nhất là sự vô tâm. Giới luật không phải là sự cấm
đoán không cho con người tiếp xúc với sự vật. Nếu giới luật chỉ là sự cấm
đoán ấy thì đó chưa phải là phương thuốc căn bản mà có là một sự trốn
chạy. Giới luật cao nhất là sự quan sát thường trực để có thể ở trong
thanh sắc mà thanh sắc vẫn phải phục tòng theo mình: “Biết rằng khi mê thì
người theo cảnh, cảnh thiên sai vạn biệt và người thì không phải là đồng
nhất với mình; khi ngộ thì cảnh đi theo người, người đã nhất trí dung hóa
được vạn cảnh”. Ông lại nói:
3. Thành Phật ngay trong giờ phút này.
“Vô tâm” không phải là sự hờ hững thiếu chú ý. Vô tâm là cái thấy sáng
suốt, không mắc kẹt bởi tư kiến và tư dục, không kỳ thị phân biệt; cái
thấy không còn bị khuynh hướng nhị nguyên điều khiển. Ðối với cái thấy ấy
thì không còn có sự phân biệt chủ thể và đối tượng, tâm và cảnh, mê và
ngộ, có và không. Mở mắt mà nhìn thực tại với cái tâm “vô tâm” ấy thì giây
phút nào cũng là giây phút giác ngộ nơi nào cũng là Phật. ‘Khi sự phân
biệt chủ thể đối tượng đã chấm dứt, và chính ý niệm chấm dứt ấy cũng chấm
dứt nữa, thì trí tuệ có mặt; tâm niệm nào cũng là Phật, không có tâm niệm
nào không phải là Phật, ở đâu cũng thành đạo, không có cõi nào mà không là
cõi Phật” Muốn thực hiện được trí tuệ Bát nhã kia, phương pháp hữu hiệu
nhất là sống cuộc sống hàng ngày với sự thức tỉnh:
“Trong đời
sống hàng ngày không có gì không phải là đạo, hễ tâm an thì đó là thiền”
Thì ra phương pháp của Hương Hải đề nghị
không có gì là rắc rối khó hiểu. Hồi ông được vua Lê Dụ Tông mời vào cung,
vua hỏi ông: “Trẫm nghe lão sư học rộng nhớ nhiều, xin thuyết cho trẫm
được giác ngộ rành rõ”. Ông không thuyết pháp dài dòng, chỉ xin vua nhớ
cho một bài kệ. Bài kệ này có thể tóm tắt được phương pháp của Hương Hải:
Mục đích của sự tu học là giải thoát. Ðức
Quan Thế Âm nhờ quan sát ngoại giới, soi thấu bản chất của ngũ uẩn mà đạt
được tự do, cho nên được gọi là Quán Tự tại.
Hương Hải hường khích lệ các đệ tử thực
hành theo bài kệ sau đây mà ông rất ưa nhắc lại:
“Vô tâm” là danh từ và phương châm rất đắc
ý của Hương Hải. Hình ảnh đẹp nhất về vô tâm là hình ảnh mà ông đã trình
bày cho vua Dụ Tông nghe, khi nhà vua hỏi về thâm ý của đạo Phật:
THƠ NÔM CỦA HƯƠNG HẢI
Ðể có ý niệm về thơ Nôm của Hương Hải, ta
hãy đọc một đoạn trong Sự Lý Dung Thông:
Học sinh
Hương Hải thường được gọi là Tổ Cầu. Ðạo tràng của ông sáng lập và
chủ trì cuối thế kỷ thứ mười bảy và đầu thế kỷ thứ mười tám đã trở thành
một tùng lâm lớn, một thiền phái lớn mà pháp đăng còn truyền lại mãi cho
tới ngày nay.
---o0o---
[ Mục
Lục tập II]
[
Chương XVII ] [
Chương XVIII ] [
Chương XIX ]
[
Chương XX ] [
Chương XXI ] [
Chương XXII ]
[
Chương XXIII ] [
Chương XXIV ] [
Chương XXV
]
---o0o---
[ Mục Lục ] [ Tập I ]
[
Tập II ] [ Tập III ]
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Vi Tính:
Nguyên Trang
Cập
nhật: 01-02-2004