VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ
LUẬN
Nguyễn Lang
---o0o---
TẬP II
CHƯƠNG XX
SỰ PHỤC HƯNG MÔN PHÁI TRÚC LÂM
NGUYÊN DO CỦA SỰ PHỤC HƯNG
Vào
khoảng giữa thế kỷ thứ mười bảy, một số khá đông các cao tăng từ Trung Hoa
đã qua Ðại Việt hành đạo, đây là một nguyên nhân quan trọng khiến cho Phật
Giáo ở nước ta được phục hưng.
Những cao tăng này phần nhiều đã rời bỏ quê hương họ trong thời gian
chuyển tiếp giữa đời nhà Minh và đời nhà Thanh. Hồi đó Ðại Việt đang ở vào
tình trạng Nam Bắc phân tranh, và Trịnh Nguyễn đang ở vào tình trạng Nam
Bắc phân tranh, và Trịnh Nguyễn đã bắt đầu đánh nhau ở Quảng Bình và Hà
Tĩnh.
Sau gần một thế kỷ loạn lạc, đầy dẫy bạo động, đức tin của các nhà chính
trị nơi triết học Tống Nho đã lung lay. Nhiều sĩ phu đại diện cho Triết
học Tống Nho trong suốt thời gian đó đã chứng tỏ hư hỏng và bất lực. Trong
đau khổ cùng cực, người ta bắt đầu quay về với đạo Phật, một đạo lấy đức
từ bi là gốc và kỹ thuật trị thế là chủ yếu. Các Chúa Trịnh cũng như các
Chúa Nguyễn, không phải là những người học Phật thâm uyên và có ý chí tu
học như các vua Trần, nhưng đã quy hướng về đạo Phật, lấy đó làm nơi nương
tựa tinh thần. Họ không phải là những nhà hành đạo Phật giáo như các vua
Trần. Họ chỉ là những tín đồ Phật Giáo, lấy sự ủng hộ Phật Giáo để tạo
dựng công đức cho dòng họ chứ không biết áp dụng Phật Giáo vào việc dựng
nước. Tuy vậy, đó cũng là một trong những nguyên nhân đưa tới sự phục
hưng.
Với sự nứt rạn dần dần của niềm tin nơi triết học Tống Nho, nhiều nhà trí
thức, sau khi nếm đủ khí vị vô thường và đen bạc của thời đại, cũng đã bắt
đầu xoay sang nghiên cứu Phật học. Ðã thấy một số nho sĩ trí thức bỏ Nho
theo Phật. Thiền phái Lâm Tế lại được truyền vào nước ta một lần nữa: Ðàng
ngoài thì do các thiền sư Chuyết Chuyết và Minh Hành; Ðàng Trong thì do
các thiền sư Nguyên Thiều và Minh Hoàng. Ta nhớ rằng thiền phái Lâm Tế đã
được truyền vào Ðại Việt lần đầu tiên so thiền sư Thiên Phong ở thế kỷ thứ
mười ba: Trần Thái Tông và quốc sư Ðại Ðăng là hai người đệ tử đầu và xuất
sắc. Sau Chuyết Chuyết, Minh Hành, Nguyên Thiều và Minh Hoàng, một số cao
tăng khác từ Trung Hoa qua hành đạo cũng mang theo thiền học Lâm Tế. Ðồng
thời thiền phái Tào Ðộng được truyền sang Ðại Việt lần đầu: ở Ðàng Ngoài
thì do thiền sư Thủy Nguyệt sang du học ở Trung Hoa mang về, ở Ðàng Trong
thì do các thiền sư Hưng Liên và Thạch Liêm đưa tới.
THIỀN SƯ CHUYẾT CHUYẾT
Thiền sư Chuyết Chuyết tên Thiên Tộ, họ Lý, pháp danh là Hải Trừng, pháp
hiệu là Viên Văn, thường được gọi là Chuyết Công, sinh năm 1590, tại quận
Thanh Chương thuộc tỉnh Phúc Kiến. Thuở nhỏ học thông tứ thư ngũ kinh, lớn
lên xuất gia tu học với Tiệm Sơn trưởng lão. Sau lên cầu học với Ðà Ðà Hòa
thượng ở Nam Sơn. Theo sách Kế Ðăng Lục của Như Sơn, Hòa thượng Ðà
Ðà là một danh tăng thường được vua Minh Thế Tông vời vào cung điện để bàn
việc triều đình, và được vua phong cho đạo hiệu là Khuông Quốc Ðại Sư. Sau
khi đắc pháp với Ðà Ðà, Chuyết Chuyết vân du trong quốc nội để giáo hóa,
rồi vào khoảng năm 1630 cùng với số đệ tử dùng thuyền nhỏ rời khỏi Trung
Hoa đi về miền Nam. Ông và các đệ tử đổ bộ lên đất Cao Miên. Rồi rời Cao
Miên ông đi qua Chiêm Thành, vượt Chiêm Thành sang Ðại Việt, Từ Ðàng
Trong, ông cùng các đệ tử khởi hành ra Ðàng Ngoài, dừng chân hoằng hóa tại
các chùa Thiên Tượng, Nghệ An và chùa Trạch Lâm, Thanh Hóa một thời gian.
Ðến năm 1633, thầy trò tới được kinh thành Thăng Long. Thầy trò ông cũng
có mang theo một số kinh điển. Ðến Thăng Long, ông và đệ tử ở lại chùa
Khán Sơn và bắt đầu giảng dạy Phật pháp. Người đến học gồm cả người Trung
Hoa và người Việt Nam. Sau một thời gian, Chuyết Chuyết dời về chùa Phật
Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, cách kinh thành chừng ba mươi cây số.
Trong thời gian hoàng hóa ở đó, Chuyết Chuyết được Chúa Trịnh Tráng biết
đến và hâm mộ, xem như bậc thầy. Vua Lê Huyền Tông và các bậc công hầu
cũng đều kính trọng. Sau đó một thời gian vì Chúa Trịnh Tráng muốn có thêm
kinh điển Phật Giáo để lưu hành trong nước, cho nên Chuyết Chuyết ủy đệ tử
mình là Minh Hành trở về Trung Hoa để thỉnh kinh. Kinh điển thỉnh về được
an trí tại chùa Phật Tích. Một số kinh đã được khắc bản trong thời ấy để
ấn loát và phổ biến. Bản khác đều được tàng trử tại chùa Phật Tích.
Trong số những kinh sách mà Chuyết Chuyết mang theo lần đầu, có một nghi
thức cúng cô hồn dưới nước và trên cạn, gọi làThủy Lục Chư Khoa.
Chuyết Chuyết và các đệ tử đã tổ chức một trai đàn lớn, cầu cho tất cả
vong linh nạn nhân của thời đại. Nghi thức và cách tổ chức trai đàn này
rất được vua Lê chúa Trịnh và các bậc công hầu thời ấy hâm mộ. Thủy Lục
Chư Khoa từ đó được áp dụng rộng rãi tại các chùa Ðàng Ngoài.
Sau khi hoàng thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc và công chúa Trịnh Thị Ngọc
Duyên xuất gia tại chùa Phật Tích, chúa Trịnh Tráng bắt đầu cho trùng tu
lại chùa Ninh Phúc ở Bút Tháp.
Khi việc trùng tu hoàn tất, Chuyết Chuyết được mời sang trú trì chùa Ninh
Phước cho đến khi viên tịch. Ông tới Thăng Long năm 43 tuổi. Ông mất ngày
rằm tháng bảy năm Giáp thân (1644), thọ 55 tuổi. Sau khi Chuyết Chuyết
viên tịch, vua Lê Chân Tông phong hiệu là Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế
Ðại Ðức Thiền Sư. Thiền sư Minh Hành lập tháp Báo Nghiêm để an trí
nhục thân của ông. Trên đỉnh tháp có hình một cây bút do Minh Hành dựng.
Một vị cư sĩ gốc Trung Hoa tên Âu Dương Vựng Ðăng được Minh Hành nhờ viết
một bài văn bia kỷ niệm. Theo bài văn bia thì Chuyết Chuyết khí tượng lạ
lùng và có tài cảm hóa, được vua Lê rước làm thầy và được các bậc công hầu
kính trọng. Ông lại viết: “Tôi học Phật, lánh sang nước Nam, có dịp được
hội đàm với thiền sư Chuyết Chuyết tại chùa Khán Sơn ở Thăng Long. Lúc mới
gặp, ta có thể nghĩ ông là người khùng. Nhưng lâu ngày, tôi thấy ông là
một người rộng rãi thông minh, trong lòng không vướng bận một điều gì. Ông
lại có tài ngôn luận, bởn cợt và cả bậc công khanh. Ông đức độ trung hậu,
biết kính già yêu trẻ, coi bậc thiên tử như bạn thân, khinh tiền của như
cỏ rác...
Chuyết Chuyết thuộc về thế hệ thứ 34 dòng Lâm Tế. Hai vị đệ tử xuất sắc
nhất của Chuyết Chuyết là Minh Hành và Minh Lương; Minh Hành là người gốc
Trung Hoa, còn Minh Lương là người Ðại Việt.
THIỀN SƯ MINH HÀNH
Thiền sư Minh Hành pháp hiệu là Tại Tại, là người phủ Kiến Xương, tỉnh
Giang Tây. Ông từng là cánh tay phải của Chuyết Chuyết. Truyền thống Phật
Giáo Ðàng Trong thường liên hệ ông với Nguyên Thiều, người đem phái Lâm Tế
truyền vào Ðàng Trong, và có khi cho rằng ông là đệ tử của thiền sư Nguyên
Thiều nữa. Nguyên Thiều sang Ðại Việt năm 1665, có nghĩa là sau khi Minh
Hành đã tịch.
Như vậy truyền thuyết cho rằng ông đã làm một trong những danh tăng do
Nguyên Thiều vâng mệnh chúa Nghĩa Vương về Trung Quốc mời sang để tham dự
giới đàn truyền giới tại chùa Linh Mụ là không đúng. Thiền sư Minh Hành
ngày trước đã cùng thầy là Chuyết Chuyết từ Cao Miên đi qua Chiềm Thành
rồi sang Ðại Việt; trước khi ra Ðàng Ngoài đã đi qua Ðàng Trong, và có thể
thầy trò đã dừng chân hoằng hóa tại Bình Ðịnh (lúc bấy giờ Bình Ðịnh đã
thuộc về lãnh thổ Ðại Việt) và Thuận Hóa, và đã ghi dấu chân ở những nơi
đó. Ta biết rằng Chuyết Chuyết và Minh Hành trước khi đến Thăng Long cũng
đã dừng chân hoằng hóa tại Nghệ An, hành đạo tại chùa Thiên Tượng và ở
Thanh Hóa khai sáng chùa Trạch Lâm.
Năm 1643 khi Chuyết Chuyết dời sang trú trì chùa Ninh Phúc ở Bút Tháp thì
Minh Hành trở thành viện chủ chùa Phật Tích. Rồi đến năm 1644 khi Chuyết
Chuyết mất, ông trở thành viện chủ chùa Ninh Phúc. Ông mất vào năm 1659,
thọ 64 tuổi. Hai ngọn tháp được dựng nên để thờ ông: một ngọn ở chùa Ninh
Phúc, một ngọn ở chùa Trạch Lâm, tỉnh Thanh Hóa. Tại ngọn tháp chùa Trạch
Lâm, một pho tượng mà Bezacier cho là “kiểu tượng Việt Nam khéo nhất mà
chúng ta đã thấy”.
Chân trú và Diệu Tuệ là hai người đệ tử của Minh Hành. Chân Trú trù trì
chùa Hoa Yên núi Yên Tử, còn Diệu Tuệ trú trì chùa Phật Tích. Minh Hành có
để lại một bài kệ truyền pháp như sau
nghĩa là
Chữ
của bài kệ này đã được dùng để tự đặt pháp danh cho những thế hệ tiếp của
phái Lâm Tế tại Ðàng Ngoài.
CHÂN NGUYÊN, NGƯỜI CÓ CÔNG PHỤC HƯNG MÔN PHÁI TRÚC LÂM
Một trong những ngọn đuốc sáng của Phật Giáo Ðàng Ngoài là thế kỷ thứ mười
bảy là thiền sư Chân Nguyên, trú trì chùa Long Ðộng. Chính Chân Nguyên và
các đệ tử của ông đã làm phục hưng phái Trúc Lâm, cứu vãn được một số quan
trọng những tác phẩm của các thiền tổ Trúc Lâm bằng cách sưu tầm, hiệu
đính, khắc bản và lưu hành những tác phẩm này.
Thiền sư Chân Nguyên họ Nguyễn tên Nghiêm, quê ở làng Tiền Liệt, huyện
Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Ông sinh năm 1646, xuất gia năm 19 tuổi, học với
thiền sư Chân Trú tại chùa Hoa Yên, được pháp danh là Tuệ Ðăng. Nhưng sau
đó không lâu, Chân Trú qua đời. Bèn cùng với bạn đồng liêu là Như Niệm tu
hạnh đầu đà, du phương để tham vấn thêm Phật pháp. Sau đó Như Niệm đổi ý,
không đi vân du nữa mà về trú trì chùa Cô Tiên, Tuệ Ðăng bèn lên chùa Vĩnh
Phúc ở núi Côn Cương tham học với thiền sư Minh Lương, đệ tử của Chuyết
Chuyết. Minh Lương đặt pháp hiệu cho ông là Chân Nguyên. Chữ chân
là chứ thứ hai trong bài kệ tuyền pháp của Minh Hành, sau chữ minh
của Minh Lương. Ở đây, Chân Nguyên thụ bồ tát giới đốt hai ngón tay
để phát nguyện hạnh đạo bồ tát. Ông xây dựng đài Diệu Pháp Liên Hoa tại
chùa Vĩnh Phúc. Sau đó ông được truyền thừa y bát Trúc Lâm, làm trú trì
chùa Long Ðộng và Quỳnh Lâm, xưa vốn là những trung tâm lớn của phái Trúc
Lâm. Năm 1684, Chân nguyên dựng đài Cửu Phẩm Liên hoa tại chùa Quỳnh Lâm,
theo kiểu mẫu đài Cửu Phẩm Liên Hoa mà Huyền Quang đã dựng ngày xưa tại
chùa Ninh Phúc. Nă 1692, hồi bốn mươi sáu tuổi, ông được vua Lê Hi Tông
triệu vào cung để tham vấn đạo Phật. Khâm phục tài đức ông, bua ban cho
Chân Nguyên mỹ hiệu Vô Thượng Công và dâng cúng áo cà sa cũng những
pháp khí để thờ tự. Năm 1722, hồi 76 tuổi, ông được vua Lê Dụ Tông phong
chức tăng thống và ban hiệu Chính Giác Hòa Thượng. Năm 1726, trong
tư thế kiết già, ông tịch và tháng Mười âm lịch, thọ 80 tuổi. Vua Dụ Tông
truyền dựng tháp Tịch Quang tại chùa Long Ðộng và chùa Quỳnh Lâm.
Sách Ðăng Kế Lục nói rằng một hôm ông tham vấn Minh Lương về một
điều thâm diệu trong Phật pháp thì chỉ thấy Minh Lương nhìn thẳng vào hai
mắt ông một hồi lâu, nhờ đó mà ông giác ngộ. Minh Lương có để lại một bài
kệ phó pháp sau đây cho Chân Nguyên:
Chân Nguyên có nhiều đệ tử xuất sắc, trong số các vị ấy, ta có thể kể Như
Hiện, Như Trừng, Như Sơn và Như Trí. Chữ như là chữ thứ ba trong
bài kệ truyền pháp của Minh Hành. Chân Nguyên để lại hai bài kệ truyền
pháp, bài sau đây được chép trong sách Kế Ðăng Lục:
Còn một bài nữa được chép trong bài Ngộ Ðạo Nhân Duyên do ông sáng
tác:
Những
sáng tác của Chân Nguyên hiện có:
1) An Tử Sơn Trúc Lâm Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh
2) Ngộ Ðạo Nhân Duyên
3) Thiền Tịch Phú
Ông còn hiệu đính và trùng khắc Thánh Ðăng Lục; Các thế hệ sau ông
được phú chúc sự nghiệp phục hồi nền văn học Phật Giáo nước nhà. Như Trí
trùng san sách Thuyền Uyển Tập Anh (1715). Như Sơn soạn Kế Ðăng
Lục (1734). Như trừng và Như Hiện chuyển ra văn Nôm những bản về giới
luật như Sa Di Thập Giới, Hai Mươi Bốn Thiên Uy Nghi, v.v... từ
trước chỉ lưu truyền bằng Hán văn. Tịnh Quang trùng san Thượng Sĩ Ngữ
Lục (1763). Sách Tam Tổ Thực Lục được trùng san 1765 cũng do
người trong pháp phái thực hiện
Thiền Tông Bản Hạnh
Như đã nói trong các chương X và XVIII, tên đẩy đủ của sách là An Tử
Sơn Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh. Ðây là một cuốn sách viết bằng thơ
Nôm lục bát, cùng tài liệu của các sách Thánh Ðăng Lục, Khóa Hư
Lục và Tam Tổ Thực Lục. Bản của chúng tôi được đọc thuộc bản in
năm 17458 do Ni cô Diệu Thuần ở chùa của bổn sư là Liễu Viên. Tuy tài liệu
dùng để viết sách đều lấy ở các tác phẩm cổ, nhưng đoạn đầu và đoạn cuối
sách phản chiếu khá rõ rệt quan điểm thiền học của Chân Nguyên.
Ngộ Ðạo Nhân Duyên
Ðó là một bài văn chữ Hán, cũng nói về quan niệm thiền của Chân Nguyên,
kèm theo nhiều bài thơ và kệ của tác giả. Bài này thấy in trong kỳ trùng
khắc năm 1745 của sách Thiền Tông Bản hạnh.
Thiền Tịch Phú
Ðây là một bài phú Nôm về chùa Long Ðộng, rất giàu từ ngữ thuần túy Việt
Nam. Bài này làm ta nhớ bài Vịnh Hoa Yên Tự Phú của Huyền Quang.
Bài phú này được chùa Long Ðộng duy trì và được Thiền Phổ phiên âm và in
trong Ðuốc Tuệ số 7, ra ngày 21.1.1936 tại Hà Nội.
Ðể có một ý niệm về nghệ thuật phú Nôm của Chân Nguyên, chúng ta hãy đọc
một đoạn trong Thiền Tịch Phú:
TƯ TƯỞNG THIỀN CỦA CHÂN NGUYÊN
Theo
Chân Nguyên, đóa sen mà Phật đưa lên cho đại chúng ở hội Kỳ Viên xem, đóa
sen đã làm cho Ca Diếp mỉm cười, là tượng trưng cho tính giác ngộ có tính
trong sáng tròn đầy (trạm viên) của tất cả chư Phật và tất cả chúng sinh.
Giác ngộ thành đạo tức là phát hiện được tự tính đó: tự tính này hiện hữu
một cách bình đẳng nơi mọi loài và mọi vật, không phân biệt trong ngoài
trên dưới:
Khi một bậc giác ngộ muốn diễn tả nói năng, thì chính đóa hoa ấy của tâm
(tâm hoa) ứng miệng nói ra chứ không phải là do ta vận dụng tri thức, quan
niệm và ngôn ngữ thông thường:
Như vậy đối với Chân Nguyên, tất cả những điều nói năng không phát xuất
trực tiếp từ kinh nghiệm về tự tính đều là những điều trống rỗng. Phương
pháp của thiền khác với phương pháp của giáo. Thiền là sự
trao truyền của tâm qua tâm, còn giáo là sự trao tuyền bằng kinh bằng lục:
Ðọc kinh thì lâu lắm mới hiểu được đạo, trong khi chiêm nghiệm theo lời
chỉ dẫn của tổ thì có thể chứng ngộ trong giây phút:
Chân Nguyên lại khuyên độc giả đừng ngại ngùng khi nghe những mẫu vấn đáp
có tính cách kỳ lạ giữa các tổ và môn đệ của họ. Những mẩu vấn đáp này
đích thị là ngôn ngữ Thiền, nhằm đối trị các trường hợp cao thấp thuận
nghịch khác nhau, là những phương tiện đập vỡ thói quen và thành kiến để
đưa người ra khỏi sự bế tắc:
Ngôn ngữ này lắm khi chỉ là sự giữ lặng thinh, hoặc là giương mắt, hoặc là
nhíu lông mày, hoặc là hét lên một tiếng vang dội như sư tử lớn:
Nhưng lối truyền thông mà Chân Nguyên ưa nói nhất là nhìn thẳng vào hai
mắt cả người mình đối thoại. Ta nhớ hồi còn tu học với Minh Lương, Chân
Nguyên vì được Minh Lương nhìn thẳng vào hai mắt mình mà trong phút giây
giác ngộ. Cho nên ông đã dùng hình ảnh này nhiều lần trong Thiền Tông
Bản Hạnh:
Thầy tớ trao lòng là sự truyền tâm giữa thầy và trò, còn đăng
chúc giao huy là đèn đuốc nối sự sáng cho nhau.
Ông lại cũng dùng những hình ảnh này trong tác phẩm Ngộ Ðạo Nhân Duyên
nữa:
Về
vấn đề ngôn ngữ Chân Nguyên viết: “Sử dụng ngôn thuyết là việc bất đắc dĩ
phải dùng phương tiện để đối trị vọng tưởng của chúng sinh. Nếu không tùy
trường hợp mà đối trị những vọng tưởng ấy, tức là không thể có giáo pháp.
Mà không có giáo pháp nghĩa là không có Phật cũng không có tăng. Tam bảo
đã không thì không có người thuyết pháp, cũng không có pháp được thuyết.
Giáo pháp đã từ nhân duyên mà có thì cũng chỉ là phương tiện để làm trẻ
con nín khóc mà thôi, đâu có chân thực. Người ngu phu thì cần nhiều kinh
điển, nhiều giáo pháp; bậc thượng trí thì chỉ cần một tiếng hét hay một nụ
cười cũng có thể đốn ngộ tự tính”
Chân Nguyên rất hâm mộ đoạn nói về ngôn ngữ thiền trong kinh Lăng Già
và thường hay trích dẫn kinh này trong các tác phẩm của ông. Ông nói:
Công án mà Chân Nguyên đã sử dụng nhiều nhất trong thiền tập có lẽ là công
án mà Bách Trượng ngày xưa đã trao cho Hương Nghiêm: “Hãy nói cho tôi nghe
về mặt mũi của chính ông khi mà ông chưa được cha mẹ sinh ra”. Công án này
có liên hệ tới pháp hiệu Chân Nguyên của ông. Chân Nguyên là nguồn gốc
chân thực. Công án ấy ông đã diễn tả trong sách Thiền Tông Bản Hạnh:
Thì ra mặt mũi ấy là chân không. Chân không cố nhiên không phải là hư vô
-hư vô là giả chứ không phải là cái không chân thực. Cái không chân thực
vượt ra ngoài có và không. Nó là thực tại không thể diễn ra bằng tướng mạo
hình dung. Ông lại còn diễn tả cái thấy của ông về công án này trong hai
bài kệ gọi là ChânNguyên Trạm Tịch nghĩa là “Chân Nguyên vốn là
trong sáng và lặng lẽ” Ðọc bài này ta đừng quên rằng hai tiếng chân
nguyên vừa có nghĩa là “nguồn gốc chân thật” Vừa có nghĩa “ông
thầy tu Chân Nguyên”
(Khi đất trời và cha mẹ chưa sinh, thì chân nguyên lặng yên, chiếu sáng
tròn đầy, trong trẻo. Nếu cái nguồn gốc chân thật ấy mà hiển lộ được thành
hành động tự giác, giác tha thì được gọi là Phật, có thể đem từ bi tâm
thuyết pháp để làm lợi cho cõi người và cõi trời).
(Mọi hiện tượng đều như hoa đốm giữa hư không, không có thực chất. Vì muốn
độ quần sinh cho nên tạm đề cập tới chúng. Giác ngộ được rằng xưa nay
không một hiện tượng đã từng hiện hữu thì Chân Nguyên vắng lặng trong trẻo
trở về nguồn cội của nó).
Về phương diện phương pháp hành đạo, Chân Nguyên chủ trương rằng chìa khóa
của sự đạt đạo là nuôi sáng ý thức mình về sự hiện hữu của tự tính “trạm
viên”, nguồn gốc chân thật của mình. Ý thức được như vậy thì mọi ý nghĩ,
mọi hành động của ta tự nhiên đi vào con đường giác ngộ, và không cử chỉ
nào của ta mà không phải là mầu nhiệm thần thông: mắt thấy, tai nghe, mũi
ngửi, lưỡi nếm, thân xúc và ý nghĩ. Ðó là sự “vận dụng của lục căn” trên
căn bản ý thức về tự tính giác ngộ. Chân Nguyên nhắc lại điều này nhiều
lần. trong Thiền Tông Bản Hạnh:
Và trong bài kệ Thị tịch:
Nhưng dù sao, diễn tả cái thấy của mình vẫn là chuyện khó khăn; Chân
Nguyên biết điều đó, cho nên một lần ông ta viết bài thơ này, coi như bài
thơ đẹp nhất của vị thiền sư đã từng làm cho phát triển chấn hưng vào cuối
thế kỷ thứ mười bảy:
NHỮNG VỊ ÐỆ TỬ XUẤT SẮC CỦA CHÂN NGUYÊN
Chân Nguyên có nhiều đệ tử xuất sắc, trong đó Như Hiện và Như Trừng là hai
người nổi bật nhất. Thiền sư Như Hiện được tiếp nối y bát của truyền thống
Trúc Lâm, còn thiền sư Như Trừng lập được một thiền phái lấy tên là Liên
Tông. Cả hai phái ấy sau này nhập lại làm một, và tăng sĩ của cả hai phái
đều đóng góp tích cực vào việc phục hồi những tác phẩm đời trần.
Thiền sư Như Hiện
Hiệu là Nguyệt Quang, ông sinh ở làng Ðường Hào ở Thanh Hà, tỉnh Hải
Dương. Ông xuất gia năm mười sáu tuổi, tại chùa Long Ðộng ở Yên Tử. trước
khi Chân Nguyên mất, ông được trao y bát Trúc Lâm, kế thế cho chùa Long
Ðộng, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang, Năm 1730, các chùa Quỳnh Lâm và Nguyệt
Quang dưới sự chăm sóc của ông được chúa Trịnh Giang trùng tu. Chúa cùng
dân ba huyện Ðông Triều, Thủy Ðường và Chí Linh góp sức vào việc xây dựng
lại các chùa này. Gần mười ngàn người làm việc trong suốt một năm mới xây
dựng xong hai ngôi chùa lớn của phái Trúc Lâm. Dân chúng ở ba huyện kể
trên được miễn sưu dịch trong một năm, bảy năm sau, chúa Trịnh Giang lại
cho đúc một pho tượng Phật rất lớn để thờ tại chùa Quỳnh Lâm.
Năm 1748, Như Hiện được vua Lê Hiển Tông ban chức tăng cương, và
năm 1757 được sắc phong là Tăng Thống Thuần Giác Hòa Thượng. Ông dạy trên
60 đệ tử xuất gia. Thiền sư Tính Tĩnh là vị đệ tử được ông trao truyền y
bát Trúc Lâm và kế thế các chùa Long Ðộng, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang.
Ông mất ngày mồng sáu tháng chín năm Ất dậu (1756).
Thiền sư Như Trừng
Tự là Lân Giác, hiệu là Cứu Sinh thượng sĩ, ông vốn là một vị vương công
họ Trịnh. Ông tên là Trịnh Thập, con của Phổ Quang Vương, sinh ở tỉnh
Thanh Hóa năm 1696. Lớn lên ông được vua Lê Hy Tông gả công chúa thứ tư
cho. Ông có tư dinh tại phường Bạch Mai, huyện Thọ Xương. Sau tư dinh là
một cái đồi rất cao. Một hôm ông bảo người nhà đào hồ trên ấy để thả cá
vàng; người nhà đào được một cọng sen lớn vào trình ông. Ông cho đó là
điềm xuất gia, liền đổi làm nhà chùa, đặt tên là Viện Ly Trần, chùa Liên
Tông, bắt đầu ăn chạy, học đạo, ngồi thiền. Sau đó ông dâng sớ xin xuất
gia. Ðược vua chấp nhận ông lên thẳng núi Yên Tử làm lễ thiền sư Chân
Nguyên tại chùa Long Ðộng. Lúc đó Chân Nguyên đã tám mươi tuổi. Ông nổ lực
học tập, sau đó được thụ giới, đắc pháp với Chân Nguyên và trở về tĩnh tu
tại chùa Liên Tông. Trong thời gian hoằng hóa, ông có lập thêm chùa Hộ
Quốc ở phường An Xá (cũng tại Thọ Xương) và chùa Hàm Long ở Quế Dương (Bắc
Ninh). Hồi còn làm sa di pháp hiệu là Như Như tại chùa Long Ðộng, ông có
viết các bài Ngũ Giới Quốc Âm và Thập Giới Quốc Âm bằng thơ
Nôm lục bát. Ông tịch năm 1733, lúc mới được ba mươi bảy tuổi, có để lại
bài kệ sau đây:
Thiền sư Tính Dược đệ tử ông, được chỉ định trú trì chùa Liên Tông, còn
thiền sư Tịnh Ngạn trú trì chùa Hàm Long. Ngoài hai vị đệ tử lớn này, ông
có nhiều đệ tử cao tăng khác: Tình Tuyền, Tịch Dự, Vũ Hoa, Chính Tâm, Phổ
Toán và Thông Vinh. Tính Tuyền được ông gửi sang Trung Hoa du học và thỉnh
kinh. Vị này lưu học tại chùa Khánh Vân núi Ðỉnh Hồ ở Quảng Châu sáu năm,
khi về có thỉnh theo được ba trăm bộ kinh và luật, cả thảy hơn một ngàn
cuốn. Gần hai trăm bộ kinh đã được khắc bản và in lại để phổ biến trong
xứ. Nhiều bản gỗ còn được chứa cất tại chùa Sùng Phúc và Kiến An.
Chùa Liên Tông sau này cũng được gọi là chùa Liên Phái, trung tâm
của hệ phái do thiền sư Như Trừng thành lập. Các chùa Hộ Quốc, Hàm Long,
Sùng Phúc, Nghiêm Xá, Thiên Quang, Phúc Ân, Vân Trai, v.v... đều là những
tổ định thuộc phái này.
CÔNG TÁC TRÙNG SAN NHỮNG TÁC PHẨM PHẬT HỌC LÝ TRẦN
Như đã nói, vì rất có ý thức về một nền Phật Giáo dân tộc nên thiền sư
Chân Nguyên đã khuyến khích môn đồ gắng sức phục hưng các tác phẩm Lý
Trần. Ông đã trùng khắc Thánh Ðăng Lục và trước tác sách Thiền
Tông Bản Hạnh. Sau đây ta hãy xét về công tác trùng san những tác phẩm
khác tiếp theo sau đó.
Thuyền Uyển Tập Anh Ngữ Lục
Như đã nói trong chương bốn, sách này do công phu nhiều người biên soạn,
bắt đầu từ đời Lý. Trong số những người có công ta phải kể đến thiền sư
Thông Biện, thiền sư Thường Chiếu, Thiền sư Thần Nghi và thiền sư Ấn
Không. Bản in cổ nhất còn lại là bản in năm 1715 do thiền sư Như Trí thực
hiện. Bản in năm 1859 do Phúc Ðiền thực hiện có ghi là in theo bản cũ chùa
Tiêu Sơn. Bản cũ chùa Tiêu Sơn có thể là bản in năm 1715 của Như Trí. Ta
biết rằng Chân Nguyên tịch 1726, vậy sách Thuyền Uyển Tập Anh dã
được trùng khắc trong khi ông còn sống. Thiền sư Như Trí có thể là pháp tử
của thiền sư Chân Nguyên, nếu không thì cũng là pháp điệt của thiền sư
này. Ðiều lạ là tại sao ông không đến nhờ Chân Nguyên hiệu đính và đề tựa
cho cuốn sách trước khi khắc bản mà lại đi nhờ một nhà nho không mấy thông
hiểu về Phật học. Hay tại chùa Tiêu Sơn ở huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh xa
cách chùa Long Ðộng ở Yên Tử chăng?
Sau đây là một đoạn trích trong bài tựa của nhà nho kia mà tên tuổi cũng
không còn được giữ lại:
“Sau buổi giảng dạy ở Chiên đường, tôi thấy một thiền giả đến đàm luận về
đạo Phật. Những chuyện chúng tôi đàm đạo đều thuộc về những vấn đề của đạo
Phật như biểu tượng lông rùa sừng thỏ. Rồi lấy trong tay áo ra một cuốn
lục tên là Tập Anh nhờ tôi xem và khảo đính để tránh những lỗi lầm
trước khi khắc in lại. Thấy trong bộ lục có nhiều vị cao thiền danh tổ,
sức học cao viễn, đạo đức linh diệu, bất giác tôi thấy trong lòng nảy sinh
ra sự kính phục. Những bậc này đàm luận về Chân Không, thuyết pháp về Giác
Ngộ, đề tài vốn không nằm trong phạm vi nghiên cứu của tôi. Nhưng vì
Kinh Dịch có nói: “không phải ta hỏi đứa bé mà là đứa bé hỏi ta”, cho
nên tôi không thể không chiều lòng. Tôi sửa chữa lại những chỗ sai, bổ túc
những nơi thiếu sót. Trong vòng mười lăm hôm, bộ lục này lấy lại được văn
thể nghĩa lý ngày xưa, như là mặt trăng thêm sáng. Vị tăng lại còn nhờ tôi
viết một bài tựa khắc thêm vào đầu sách để làm sáng cho lời Phật dạy. Tôi
không tiếc công, liền gọi người nhà mang giấy bút tới và viết những dòng
thô sơ này. Vị tăng liền cảm ơn và nhận lấy”.
Dưới bài tựa có câu: “Trùng khắc vào một ngày tháng tư năm Vĩnh Thịnh thứ
11, triều Lê”, nhờ đó mà ta biết được là sách được trùng khắc năm 1715.
Tiếp đó là một danh sách các đệ tử xuất gia và tại gia của Như Trí có lẽ
là những người đã có công trong việc trùng khắc. Những đệ tử xuất gia toàn
là những sa di: Tính Nhụ, Tính Trung, Tính Kiến, Tính Quán, Tính Huy, Tính
Bản. Ðiều này cho ta biết là vào năm trùng khắc Thuyền Uyển Tập Anh,
Như Trí chưa có đệ tử nào thọ Tỳ khưu giới, và do đó ông còn đang trẻ, vào
khoảng bốn mươi tuổi.
Kế Ðăng Lục
Tên đầy đủ của sách này là Ngự Chế Thiền Uyển Thống Yếu Kế Ðăng Lục,
sách do thiền sư Như Sơn chùa Hồng Phúc soạn. Sở dĩ có chữ ngự chế
là vì sách này được soạn thảo dưới sự bảo trợ của vua Lê Thuần Tông. Sách
được khắc bản năm 1734, tám năm sau khi Chân Nguyên viên tịch. Sách viết
theo thể tài của sách Ngũ Ðăng Hội Nguyên bên Trung Hoa, nhưng nội
dung sách phần lớn chỉ để viết về tiểu sử của những vị tổ sư Ấn Ðộ và
Trung Hoa. Về phái Lâm Tế ở Việt Nam, cách chỉ có tiểu truyện của ba vị
thiền sư: Chuyết Chuyết, Minh Lương, và Chân Nguyên. Về phái Tào Ðộng ở
Việt Nam, sách chỉ có tiểu truyện của hai vị thiền sư: Thủy Nguyệt và Tông
Diễn. Ðã vậy, sách không có nhiều giá trị sử học. Tiểu truyện đã không ghi
năm sinh và năm tịch của các thiền sư mà nhiều lúc lại còn ghi chép sai
lạc theo kiểu “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Ví dụ đoạn vấn đáp sau đây
vốn là câu chuyện giữa thiền sư Viên Chiếu (998-1090) và một đệ tử, chép
trong sách Thuyền Uyển Tập Anh mà Như Sơn lại đưa vào sách Kế
Ðăng Lục, cho là cuộc đối thoại của Chuyết Chuyết và Ðà Ðà:
- Nghĩa Phật và Thánh khác nhau thế nào?
- Cúc trùng dương dưới dậu
Oanh thục khí đầu cánh
- Ðệ tử chưa hiểu
- Ngày quạ vàng chiếu rặng
Ðêm thỏ ngọc sáng soi.
Ðoạn đối thoại sau đây vốn là câu chuyện giữa Vân Phong (mất năm 956) và
Thiện Hội (mất năm 950), chép trong Thiền Uyển Tập Anh, đã được Như
Sơn đưa vào Kế Ðăng Lục để làm cuộc đối thoại giữa Minh Lương và
Chân Nguyên.
- Sinh tử đến, làm sao mà tránh thoát?
- Thì tránh vào chỗ vô sanh vô tử.
- Chỗ vô sinh vô tử là chỗ nào?
- Nó nằm ngay trong chỗ sinh tử.
Có lẽ Như Sơn không được đọc sách Thuyền Uyển Tập Anh cho nên mới
phạm những lỗi lầm to lớn trên.
Ðến năm 1859, trước khi trùng khắc Kế Ðăng Lục, thiền sư Phúc Ðiền
thêm vào sách ấy tiểu truyện của năm vị thiền sư Việt Nam nối dòng Chân
Nguyên. Cách thức biên tập của Phúc Ðiền vượt hẳn cách thức của Như Sơn:
Phúc Ðiền có ghi rõ ngày tháng và chi tiết có liên hệ tới đời sống và sự
hành đạo của các thiền sư. Tuy nhiên, Phúc Ðiền đã không chữa lại những
sai lầm mà Như Sơn đã mắc phải, có lẽ vì sợ mang tiếng bất kính đối với
một vị tổ sư. Bài tựa sách Kế Ðăng Lục của Như Sơn không cho ta một
dữ kiện lịch sử nào trừ ngày tháng và địa điểm mà bài tựa ấy đã được viết.
Như Sơn soạn Kế Ðăng Lục tại chùa Hồng Phúc. Một người đệ tử ông là
sa di Tính Chúc giúp về việc thẩm duyệt. Hai người đệ tử khác: sa di Tính
Phái và Tính Hiển hiệu chính. Ba vị đều là sa di. Ðiều này cho ta thấy Như
Sơn hồi đó chưa có đệ tử thọ giới tỳ khưu, do đó tuổi ông còn đọ vào trạc
tứ tuần.
Năm 1907, sách Kế Ðăng Lục lại được chùa Nguyệt Quang ở Ðông Khê
trùng khắc một lần nữa.
Thánh Ðăng Lục
Như đã nói trong chương XVIII, sách này do Chân Nghiêm trùng san năm 1550.
Chân Nguyên trùng san lần nữa năm 1705, và Tính Lương trùng san lại một
lần nữa năm 1750, lần này do Tính Quảng đề tựa. Trong bài tựa, Tính Lương
nói: “Ngày xưa, thầy tôi là Tuệ Ðăng Hòa Thượng...”. Có thể Tính Lương đã
được gặp mặt Chân Nguyên (Tuệ Ðăng) lúc ông này còn sống, nhưng Chân
Nguyên không phải là bổn sư trực tiếp của Tính Lương. Cũng như Tính Quảng,
Tính Lương thuộc về thế hệ của chữ Tính trong bài kệ truyền pháp
của Minh Hành, do đó họ phải thuộc về thế hệ đệ tử của thế hệ mang chữ
Như, như là Như Hiện, Như Trừng, Như Thị...
Thượng Sĩ Ngữ Lục
Tên đầy đủ của sách là Trần Triều Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục. Sách
này do Pháp Loa biên tập, Trúc Lâm Ðiều Ngự khảo đính và Trần Khắc Chung
đề bạt. Sách được in nhiều lần trong đời Trần. Tuệ Nguyên chùa Long Ðộng
núi Yên Tử trùng khắc vào năm 1763, tức là hai năm trước khi thiền sư Như
Hiện qua đời. Tuệ Nguyên có viết một bài tựa, nhưng không cho ta biết sách
được in lại căn cứ vào bản in nào. Ðến năm 1903, sa môn Thanh Cừ chùa Pháp
Vũ in lại, chung với sách Tam Tổ Thực Lục.
Khóa Hư Lục
Sách này của Trần Thái Tông soạn, được in nhiều lần trong đời Trần. Bản in
của Hội Phật Giáo Bắc Kỳ năm 1943 đã căn cứ trên bản in của chùa Quất Tụ
năm 1850; mà bản của chùa Quất Tụ đã căn cứ trên bản in của chùa Hoa Yên
như Tuệ Nguyên (người trùng san Thượng Sĩ Ngữ Lục), có lẽ hai người
là đồng sư với nhau. Vậy có thể là bản in Khóa Hư Lục của chùa Hoa
Yên được Tuệ Hiền thực hiện vào giữa khoảng thế kỷ thứ mười tám.
Tam Tổ Thực Lục
Phần thứ nhất cả sách này nói về đời Trúc Lâm Ðiều Ngự, không đề tên người
biên tập. Theo nguyên tắc thì Bảo Sát hay Pháp Loa phải là người biên tập
phần này, vì họ là người kế thừa của Trúc Lâm Ðiều Ngự. Pháp Loa là đệ nhị
tổ Trúc Lâm.
Phần thứ hai của sách nói về đời Pháp Loa, do thị giả của Pháp Loa là
Trung Minh biên tập và Huyền Quang, đệ tam tổ của Trúc Lâm Hiệu đính.
Phần thứ ba của sách, nói về đời Huyền Quang, không biết do ai soạn
Bản in cổ nhất của Tam Tổ Thực Lục hiện có là bản in năm 1765, sau
ngày Tuệ Nguyên trùng khắc sách Thượng Sĩ Ngữ Lục hai năm, chưa rõ
là do ai thực hiện. Tựu trung, ta có thể nói là người trùng khắc cũng
thuộc về môn phái Trúc Lâm. Sau bản in này là bản in năm 1897, rồi đến bản
in năm 1903 do Thanh Cừ chùa Pháp Vũ thực hiện. Bản này được in chung với
Thượng Sĩ Ngữ Lục và có mang bài tựa của Thanh Cừ.
Ðại Nam Thiền Uyển Truyền Ðăng Lục
Sách này do Hòa thượng Phúc Ðiền chùa Bồ Sơn thực hiện. Sách này
có hai tập: tập thứ nhất in lại sách Thuyền Uyển Tập Anh; tập
thứ hai gồm có các sách Tam Tổ Thực Lục, Thiền Uyển Thống Yếu Kế
Ðăng Lục và một số tài liệu khác mà Phúc Ðiền gọi là “ngoại khoa tạp
lục”
Sách được ấn hành năm 1859. Nhưng trước đó một năm, Phúc Ðiền đã bổ túc
sách Kế Ðăng Lục với tiểu truyện của năm vị thiền sư phái Lâm Tế.
Vì sách Kế Ðăng Lục có ba quyển cho nên khi cộng với sách Thuyền
Uyển Tập Anh và Tam Tổ Thực Lục, tất cả trở thành năm quyển. Vì
vậy bài tựa của Phúc Ðiền được gọi là Truyền Ðăng Ngũ Quyển Tân Tự
(bài tựa mới của sách Truyền Ðăng Năm Quyển).
Có thể nói rằng bài tựa này đã được viết sau khi quyển một của Ðại Nam
Thiền Uyển Truyền Ðăng Lục đã in xong và bản gỗ còn lưu lại chùa Liên
Tông. Sau đó gần một năm thì quyển hai cũng được in xong, bản gỗ lưu lại
chùa Bồ Sơn. Ðầu bài tựa có dòng chữ: “San khắc Truyền Ðăng thủ Trần
gia bản”, có nghĩa là “khắc lại sách Truyền Ðăng mà sách nhà
Trần để đầu”, “sách nhà Trần” đây là Tam Tổ Thực Lục vậy.
Sau đây ta hãy đọc vài đoạn trong bài tựa quan trọng này để thấy sự hình
thành của Truyền Ðăng Tập Lục: “Nước ta xưa kia có bộ lục Thiền
Uyển tên là Tập Anh chép đại khái về các bậc thạc đức cao tăng
của ba triều đại. Tuy vậy nội dung lỗ mỗ bất nhất, văn mạch khó phân, cho
nên {đã} hiệu đính lại, viết cho rõ ra để khắc bản ấn hành mà bảo tồn bản
cũ, làm thành quyển thượng. Ðến Triều Trần, có sách Thánh Ðăng
Lục,
một quyển ghi chép ba tổ đời Trần, có sự tích nhưng không có hình ảnh. Rồi
đến đời Hậu Lê, Như Sơn tổ sư tuân thừa sách Ngũ Ðăng Hội Nguyên,
tuyển thành ba quyển, có hình ảnh có sự tích, từ Phật Uy Âm cho đến bảy
Ðức Thế Tôn, cho đến bốn mươi bảy vị tổ Tây Trúc và hai mươi ba vị tổ
Trung Hoa, cùng pháp phái Lâm Tế tại nước ta, ba vị tổ Chuyết Chuyết, Minh
Lương và Chân Nguyên, sau nữa là tông phái Tào Ðộng với hai thiền sư là
Thủy Nguyệt và Tông Diễn. Về tông phái Lâm Tế, từ Cứu Sinh thượng sĩ trở
về sau chưa được chép vào, do đó lão tăng thuận theo thứ tự truyền đăng,
chép tiếp tiểu sử năm vị tổ sư, có hình ảnh và sự tích....
Lão tăng đau xót nghĩ rằng ngọn đèn của chư tổ đã sắp tàn lụi, cho nên đem
hết tâm lực mình gom góp các lục, từ bộ nói về ba tổ đời Trần, đến bộ nói
về hai phái Lâm Tế và Tào Ðộng, gồm cả chân đế và tục đế, làm thành một
tập, thêm vào đó những tạp lục ngoại khoa, làm thành quyển hạ,
khiến cho pháp được truyền và đèn được nối. Một ngày tháng 11 năm Mậu ngọ,
nhằm năm Tự Ðức thứ mười một, thầy giám tự chùa Bồ Sơn pháp danh là Phương
Viên và tăng chúng môn đồ xin đem về chùa san khắc. Ðêm 13 tháng ấy, thầy
giám tự chùa Liên Phái, pháp danh là Thanh Chiêu, nằm mơ thấy một vị thần
tăng nói: “Nhờ đại đức hãy cùng đi với tôi tới chùa Báo Thiên xem coi sách
Phật Tổ Thống Kỷ
đã khắc xong chưa?” Thầy Thanh Chiêu đáp: “Bộ sách đã khắc xong, hiện nay
bản gỗ được lưu tại chùa Liên Phái”. Vị thần tăng hỏi: “Tôi muốn hỏi bản
sách mới soạn để nối vào sách Thống Kỷ kia. Bản này đã khắc xong
chưa?” Ðáp: “Bản này hiện đang để tại Bồ Sơn tự, đang còn khắc bản, chưa
xong”. Thầy giám tự thức giấc, sáng ấy tới chùa Báo Thiên kể lại chuyện
thần tăng ứng mộng cho tôi nghe. Nghe xong tôi vui mừng quá đỗi. Có thần
tăng chứng minh, tôi xin tất cả các vị có mặt phát tâm hoan hỷ bình đẳng,
đừng sinh tâm hữu vô, đắc thất, thị phi, nhân ngã, tồn vong, bỉ thử, thì
lão tăng này rất lấy làm hy vọng vạn lần vậy.
Tự Ðức năm thứ mười hai, ngày 30 tháng giêng năm Kỷ mùi, chùa Bồ Sơn, hòa
thượng Phúc Ðiền, có giới đao và độ điệp soạn; giám tự pháp danh Phương
Viên thừa lệnh khắc bản; chưởng lãnh binh tỉnh Sơn Tây là Lê Thuận Chiếu
pháp danh Ðại Tuệ hưng công, môn nhân là Văn Ðường vâng lệnh viết ra”.
Bản in Thuyền Uyển Tập Anh năm 1715 còn được giữ lại, tự nó cũng
được chia làm hai quyển thượng và hạ, Tờ thứ tư có đề chữ quyển thượng
và tờ thứ 72 có đề chữ quyển hạ chung (hết quyển hạ). Trong khi
Trùng Khắc Ðại Nam Thiền Uyển Truyền Ðăng Tập Lục thì lấy toàn bộ sách
Thuyền Uyển Tập Anh làm quyển thượng; tờ 1 có ghi hai chữ quyển
thượng, và tờ 65 chó ghi bốn chữ quyển thượng chung tất (hết
quyển thượng).
Trong bản in Thuyền Uyển Tập Anhănm 1715 còn được giữ lại, người ta
cũng đã đóng lộn vào ba tờ vốn thuộc vào Trùng Khắc Ðại Nam Thiền Uyển
Truyền Ðăng Lục quyển hạ. Ba tờ này được đóng chen vào giữa tờ 3 và tờ
4 của sách Thuyền Uyển Tập Anh. Có nhiều lý do khiến ta nói vậy. Lý
do thứ nhất là ngoài lề mỗi tờ, có dòng chữ: Thuyền Uyển Truyền Ðăng
Lục quyển hạ. (Thuyền Uyển Truyền Ðăng Lục là tên gọi tắt của
Trùng Khắc Ðại Nam Thuyền Uyển Truyền Ðăng Tập Lục) dùng để in vào
lề mỗi tờ, quyển thượng cũng như quyển hạ. Lý do thứ hai là kiểu chữ, giấy
in, số chữ mỗi trang và mỗi dòng của ba tờ khác hẳn với Thuyền Uyển Tập
Anhầm lại giống hệt với Thuyền Uyển Truyền Ðăng Tập Lục (mỗi
trang của Thuyền Uyển Tập Anh có 22 dòng, mỗi dòng có 34 chữ, trong
khi mỗi trang Thuyền Uyển Truyền Ðăng Tập Lục có 20 dòng, mỗi dòng
42 chữ). Lý do thứ ba là ba tờ ấy không nằm đúng vị trí của nó trong sách
Thuyền Uyển Tập Anh, từ hình thức đến nội dung. Về hình thức, ba tờ
ấy vốn được đánh số 8, 9, 10, không thể rnằm xen kẻ giữa tờ 3 và 4 của
sách Thuyền Uyển Tập Anh. Về nội dung, ba tờ ấy có hình vẽ và tiểu
dẫn về ba vị tổ Trúc Lâm đời Trần, không dính dấp với nội dung của
Thuyền Uyển Tập Anh vốn chỉ chứa đựng những tài liệu về các thiền sư
trước Trần.
Xem bài tựa của Phúc Ðiền rồi
xét những điểm vừa nêu đó, ta thấy tác phẩm của Phúc Ðiền là một tập đại
thành của những tác phẩm có tính cách truyền đăng do người Việt sáng tác
từ trước tới giờ. Môn phái Trúc Lâm do Chân Nguyên phục hưng đã làm được
những công trình đáng kể, trong đó việc trùng san để duy trì những tác
phẩm Phật Giáo Lý Trần rất đáng để cho chúng ta biết ơn. Trước họ, ta chỉ
thấy có một Lương Thế Vinh đề tựa cho Nam Tông Tự Pháp Ðồ (thế kỷ
thứ mười sáu) và một Tuệ Tĩnh,
phiên dịch Khóa Hư Lục (nữa đầu thế kỷ thứ mười bảy). Tiếc là những
môn đệ của Chân Nguyên đã không tìm ra được những sách như Nam Tông Tự
Pháp Ðồ, Nam Minh Thiền Lục, Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Ðại Hương hải
Ấn Thi Tập... Binh lửa và bàn tay tiêu diệt văn hóa của người Minh đã
làm nghèo đi rất nhiều kho tàng văn hóa Phật Giáo Lý Trần để lại.
---o0o---
[ Mục
Lục tập II]
[
Chương XVII ] [
Chương XVIII ] [
Chương XIX ]
[
Chương XX ] [
Chương XXI ] [
Chương XXII ]
[
Chương XXIII ] [
Chương XXIV ] [
Chương XXV
]
---o0o---
[ Mục Lục ] [ Tập I ]
[
Tập II ] [ Tập III ]
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Vi Tính:
Nguyên Trang
Cập
nhật: 01-02-2004